Tài Liệu tham khảo Di chỉ khảo cổ học Phù Mỹ (Cát Tiên - Lâm Đồng) - Những mối liên hệ văn hóa
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1.1 Lâm Đồng là một trong năm tỉnh của Tây Nguyên, trên vùng đất basalte giàu tiềm năng của Việt Nam Không chỉ thế, Lâm Đồng còn có vị thế địa - chính trị - văn hóa - xã hội quan trọng của đất nước Trước kia cũng như hiện nay, nhân dân Lâm Đồng đã sát cánh cùng với nhân dân cả nước đấu tranh giải phóng dân tộc; thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Nghiên cứu khảo cổ học (KCH) Lâm Đồng là trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng ta, cũng là để góp phần bảo lưu và phát huy bản sắc văn hóa thuần phác của các dân tộc bản địa trên vùng đất cao nguyên miền Trung Việt Nam
1.2 Trước ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975), Lâm Đồng vẫn được coi là vùng trắng trên bản đồ KCH Việt Nam Nơi đây chưa có di chỉ KCH nào được khai quật, ngoài một vài đồ đá
do nhân dân thu lượm được khi canh tác nương, rẫy
Trong những năm gần đây, Viện KCH, Trung tâm nghiên cứu KCH thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ và Trường Đại học Đà Lạt (ĐHĐL) đã phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng triển khai nhiều đợt điều tra, thám sát, khai quật KCH và đã thu được những kết quả nhất định Một số di tích cư trú, công xưởng, mộ táng, đền tháp cũng bắt đầu được biết đến Nhiều di tích và di vật thời đại đá cũ, đá mới, kim khí và thời kỳ lịch sử đã được phát hiện Trong đó, di chỉ Phù Mỹ (Cát Tiên) là di chỉ tiền sử đầu tiên được phát hiện tại Lâm Đồng Tuy nhiên, các phát hiện khảo cổ nằm rải rác ở nhiều nơi, diễn ra trong thời gian dài, lại do nhiều cơ quan, nhiều cá nhân thực hiện, nên việc hệ thống hóa các tư liệu là một yêu cầu cần thiết Việc phác thảo bức tranh tiền sử của Lâm Đồng chưa được
Trang 2thực hiện Hơn nữa, nghiên cứu KCH Lâm Đồng không thể chỉ tiến hành riêng rẽ mà phải đặt trong mối quan hệ khu vực, trên một bình tuyến rộng hơn Mà muốn đạt được cái nhìn toàn diện, một số vấn đề KCH Lâm Đồng đã đến lúc đặt ra và có thể nghiên cứu sâu hơn, ví dụ như các di chỉ KCH Phù Mỹ, Thôn Bốn.v.v
1.3 Từ năm 1989 đến nay, tác giả đề tài đã cùng các đồng nghiệp tham gia hoặc chủ trì một số cuộc điều tra, thám sát hoặc khai quật KCH quan trọng ở Lâm Đồng như: Cát Tiên, Thôn Bốn, Phù Mỹ, Núi Voi và Tuyền Lâm; cũng như tham gia nghiên cứu một số di tích KCH tiêu biểu ở địa bàn các tỉnh: Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Khánh Hoà, Bình Thuận, Đồng Nai và Long An Bản thân tôi cũng đã xây dựng luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ trên cơ sở tư liệu KCH Lâm Đồng
Để tìm hiểu về quá khứ xa xưa của Lâm Đồng, góp phần nhận thức về KCH Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; cũng như phục vụ công tác giảng dạy bộ môn khảo cổ ở Khoa Sử, Trường Đại học Đà Lạt;
chúng tôi đã chọn: Di chỉ KCH Phù Mỹ (Cát Tiên, Lâm Đồng) – Những mối liên hệ văn hóa làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Tổng hợp toàn bộ các tư liệu điều tra, thám sát, khai quật và kết quả nghiên cứu về di chỉ KCH Phù Mỹ, nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu những thông tin đầy đủ, chính xác về di chỉ này
2.2 Trên cơ sở phân tích, đối sánh tư liệu một số di vật của di chỉ Phù Mỹ với các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, chúng tôi xác định vị trí của di chỉ này trong bối cảnh rộng hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các di tích và di vật KCH ở Phù Mỹ qua 3 lần khai quật và thám sát:
Trang 3Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo các di tích và di vật KCH
ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ Những
tư liệu này sử dụng để so sánh, đối chiếu tìm hiểu mối quan hệ văn hóa trong quá khứ
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Về không gian nghiên cứu theo địa bàn phân bố của Phù Mỹ và các di chỉ có liên quan Về thời gian chính là niên đại của di chỉ Phù Mỹ, cách ngày nay khoảng trên 2000 năm
- Nội dung các vấn đề cần đi sâu nghiên cứu trong đề tài là: Xác định đặc trưng cơ bản về di tích và di vật của di chỉ Phù Mỹ; Tìm hiểu mối quan hệ văn hóa giữa di chỉ Phù Mỹ với các di tích đồng đại trong khu vực, làm rõ vị trí của di chỉ
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Đề tài sử dụng các phương pháp truyền thống của KCH như: Điều tra, thám sát, khai quật, phân loại, khảo tả, thống kê, đo, vẽ, phân tích, so sánh những di tích và di vật KCH Đây là phương pháp chính của đề tài nhằm xử lý và khai thác thông tin tư liệu KCH, xác định tính chất, niên đại, vị trí của di chỉ Phù Mỹ
4.2 Sử dụng một cách hợp lý các phương pháp liên ngành: Địa lý học, dân tộc học trong phác thảo nguồn gốc chủ nhân và mối quan hệ văn hóa trong quá khứ
5 Những đóng góp của đề tài
5.1 Đề tài tổng hợp và trình bày đầy đủ kết quả 3 lần khai quật, đặc biệt là các phát hiện mới của mỗi lần khai quật, nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu thông tin chính xác về di chỉ Phù Mỹ
5.2 Đề tài xác định những đặc trưng cơ bản về di tích, di vật của di chỉ Phù Mỹ, từ đó làm rõ nội dung, tính chất, niên đại, chủ nhân và mối liên hệ văn hóa của dư dân Phù Mỹ trong khu vực
Trang 45.3 Đề tài đã xác định vị trí của di chỉ Phù Mỹ thuộc về không gian phân bố của văn hóa kim khí lưu vực sông Đồng Nai, khác biệt với cư dân đồng đại ở Tây Nguyên nói chung
5.4 Từ sự trùng lặp về không gian phân bố, đề tài cũng đặt ra giả thuyết khoa học là có thể hậu duệ của cư dân kim khí Đồng Nai, trong đó có nhóm cư dân Phù Mỹ là chủ nhân của khu di tích Cát Tiên
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu (4 tr.) và kết luận (3 tr.), nội dung đề tài có 2 chương:
Chương một Di chỉ KCH Phù Mỹ qua ba lần khai quật (30 tr.) Chương hai Đặc trưng của di chỉ Phù Mỹ và những mối liên hệ văn hóa trong khu vực (20 tr.)
Ngoài ra, trong đề tài còn có phần mục lục, tài liệu tham khảo (14 tài liệu) và phụ lục minh họa (2 bản đồ, 1 sơ đồ, 3 bảng thống kê,
24 bản vẽ và 34 bản ảnh)
Trang 5
CHƯƠNG MỘT
DI CHỈ KHẢO CỔ HỌC PHÙ MỸ QUA BA LẦN KHAI QUẬT
1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Cát Tiên là tên đơn vị hành chính cấp huyện, nằm ở cực nam của tỉnh Lâm Đồng Cát Tiên về phía bắc giáp huyện Bảo Lộc, phía đông giáp huyện ĐạTẻh, phía nam và phía tây nam giáp 2 tỉnh Đồng Nai và Bình Phước Địa bàn Cát Tiên gồm nhiều kiểu địa hình đa dạng :
- Kiểu địa hình núi cao sườn dốc : Độ cao từ 200 - 600 m so vớimặt biển, độ dốc khá lớn 15o - 20o, có nơi trên 30o Mức độ chia cắt phức tạp tạo nên nhiều nhánh suối nhỏ chảy vào sông Đạ Đờn (một trong hai nguồn chính của sông Đồng Nai)
- Kiểu địa hình trung bình, sườn ít dốc : Độ cao từ 200 - 300 m
so với mặt nước biển, độ dốc từ 15o - 20o, độ chia cắt cao là nơi xuất phát của các con suối lớn đổ vào Đạ Đờn như suối Đạ Lua, Đạ Tapok, suối Pang
- Kiểu địa hình bậc thềm sông Đạ Đờn và dạng đồi bát úp tiếp giáp đầm, hồ : Độ cao từ 100 - 130 mét so với mặt nước biển, chạy dọc theo sông Đạ Đờng
- Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao thấp hơn 130m với mặt nước biển với các bàu nước lớn như: Bàu Chim, Bàu Sấu, Bàu Cá
Chính bởi sự chia cắt mạnh như vậy, kết hợp với các dãy núi cuối cùng của Trường Sơn đổ về tạo ra cho Cát Tiên một loạt các bồn địa mà ở đó được phủ lấp bởi những cánh rừng nhiệt đới ẩm ướt với những đặc trưng của nó Tuy nhiên giờ đây những cánh rừng
Trang 6định cư đông đúc của đồng bào kinh tế mới từ mọi miền đất nước
đến đây
Trước kỷ Đệ tứ, nền địa chất được phủ một lớp trầm tích kiểu đặc trưng bởi phiến thạch sét Sau kỷ Đệ tứ lại được sông Đồng Nai
bồi đắp lên trên nền phiến thạch sét một lớp phù sa cổ Tiếp sau đó
các họat động của núi lửa đã phủ lên một lớp basalte Cùng với quá
trình phun trào, phủ lấp là quá trình bào mòn, bồi tụ tạo nên một lớp
phù sa suối, phù sa sông Trải qua nhiều quá trình phong hóa, xâm
thực, bào mòn, rửa trôi, tích tụ tạo nên nền địa chất đan xen khá
- Đất feralit phát triển trên phù sa cổ, loại này không nhiều
- Đất feralit phát triển trên đá sét Về khí hậu, Cát Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa
- Nhiệt độ trung bình hàng năm : 25,4oC
- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc cuối tháng 10.Tháng có lượng mưa cao nhất : 7, 8, 9 Mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau Tháng khô nhất là tháng 2 và 3
Trang 7Do đặc điểm địa hình, khí hậu như trên nên thuỷ văn ở vùng này khá phức tạp Có rất nhiều hệ suối lớn nhỏ đổ vào sông Đạ Đờn như Đạ Tẻh, Đạm Bri, Đạ Nhor, Đạ Đimbo, Đạ Lua Có nhiều thách ghềnh ở vùng thượng lưu Dòng Đạ Đờn chảy qua khu vực Cát Tiên uốn lượn nhiều khúc quanh co, lưu lượng dòng chảy trung bình 405
m3/giây
Ở những bồn địa ven sông do địa hình khá bằng phẳng nên mùa lũ thường có ngập lụt Đây cũng là vùng được phù sa bồi đắp nên nông nghiệp trồng lúa nước khá phát triển Đặc điểm thuỷ văn khu vực này gồm sông, suối, thác, ghềnh, thung lũng, bàu, đầm lầy và các vùng bán ngập nước đã làm tăng giá trị về tính đa dạng sinh học và phong phú thêm cảnh quan thiên nhiên của khu vực Cát Tiên
1.2 Lịch sử phát hiện
Di chỉ khảo cổ học Phù Mỹ thuộc địa phận thôn Ba, xã Phù Mỹ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng Đây là vùng đất chuyển tiếp giữa địa hình Nam Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ Di chỉ nằm về phía tả ngạn sông Đồng Nai, trên một bãi bồi rộng khoảng 50 – 100m, chạy dài ven sông theo hướng đông tây, giới hạn phía đông chặn bởi núi Đá Mài Sông Đồng Nai chảy xuôi dòng từ thượng nguồn đến đây thì quanh co tạo một doi đất lớn bao bọc bởi con sông mà nơi thắt hẹp nhất rộng khoảng 1km Xa về phía bắc của khu
di chỉ là những ngọn đồi nhỏ nối tiếp nhau rồi đến một cánh đồng lúa rộng Con đường nhựa liên huyện ngăn cách cánh đồng lúa này với khu vực di chỉ Khu vực phân bố của di chỉ nay là xóm làng dân
cư, bị che lấp bởi nhà cửa và vườn tược Hữu ngạn sông Đồng Nai là địa phận xã Đak Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Cao trình của khu vực di chỉ nằm trong khoảng 140 – 170m so với mực nước biển Đoạn sông Đồng Nai ở khu vực này rộng chừng 100m, tốc độ dòng chảy trung bình khoảng 2m/s Mặt đất thềm sông cao hơn mực nước sông khoảng 3,5 – 5m (vào tháng 3 năm 2007)
Trang 8Di chỉ này được phát hiện một cách ngẫu nhiên Tháng 5
-2006, trong quá trình canh tác vườn nhà, ông Nguyễn văn Kiệm thông báo phát hiện một số đồ gốm Cuối năm đó, PGS Hoàng Xuân Chinh cùng với cán bộ Bảo tàng Lâm Đồng tiến hành đào một hố thám sát (4m2 ) tại vườn nhà ông Trần Đình Kha (kế cận nhà ông Kiệm về phía đông) Trong hố thám sát thu được 3 mảnh khuôn đúc,
7 bàn xoa đất nung và 1288 mảnh gốm Kết quả thám sát đã được công bố năm 1997 Bước đầu, di chỉ được xác định tính chất là nơi
cư trú của cư dân cổ, niên đại khoảng 2.700 - 2.500 cách ngày nay
Phát hiện di chỉ Phù Mỹ năm 1996 có ý nghĩa quan trọng, góp phần định hình chuỗi phát triển của lịch sử vùng đất này và bổ khuyết cho những hiểu biết còn ít ỏi của chúng ta về quá khứ khu vực Nam Tây Nguyên Vì vậy, ngay từ khi phát hiện, di chỉ này đã được các nhà khảo cổ học quan tâm nghiên cứu
Tháng 11 – 1998, Viện khảo cổ học Hà Nội phối hợp với Bảo tàng Lâm Đồng khai quật di chỉ Phù Mỹ lần thứ nhất Cuộc khai quật này do TS Trịnh Sinh phụ trách Diện tích khai quật 98m2, gồm hai hố (hố 1 rộng 63m2, hố 2 rộng 25m2)
Nhằm nhận thức rõ nét hơn về di chỉ Phù Mỹ, tháng 6 – 2006, cuộc khai quật di chỉ Phù Mỹ lần thứ hai được tiến hành, dưới sự chủ trì khoa học của TS Bùi Chí Hoàng (Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ – Viện KHXH vùng Nam Bộ) Cuộc khai quật được triển khai với bốn hố khai quật ký hiệu H1, H2, H3, H4 có tổng diện chỉ 224m2 và
7 hố thám sát mở về phía đông, phía nam và phía tây để xác định phạm vi phân bố của di chỉ Kết quả thu được qua đợt khai quật này đã góp phần giải quyết một số vấn đề khoa học của di chỉ như: tính chất, niên đại, các quan hệ văn hóa của di chỉ khảo cổ học kim khí đầu tiên phát hiện được trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Tháng 3 – 2007, được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp giấy phép, khoa Sử trường Đại học Đà Lạt đã phối hợp với Viện khảo cổ học Hà Nội tiến hành khai quật di chỉ Phù Mỹ lần thứ ba Cuộc khai
Trang 9quật này nhằm bổ sung tư liệu cho công trình nghiên cứu về khảo cổ học Lâm Đồng do chủ nhiệm đề tài tiến hành, trong khuôn khổ một luận án Tiến sĩ Trong đợt này, 4 hố thám sát đã được mở để định vị hố khai quật Tổng diện tích khai quật là 75m2, gồm hai hố (hố 1 rộng 25m2, hố 2 rộng 50m2)
1.3 Kết quả khai quật di chỉ Phù Mỹ
1.3.1 Cuộc khai quật lần thứ nhất (1998)
Vị trí hố khai quật 1 mở trong vườn nhà ông Trần Đình Kha, cạnh vị trí hố thám sát năm 1996, diện tích 63m2, hình chữ nhật (9m
x 7m) theo hướng bắc - nam, cách bờ sông Đồng Nai 70m Sau đó, vì lý do kỹ thuật, tiến hành mở hố khai quật 2, cách hố 1 khoảng 4m Hố này cũng có hướng chếch Bắc với diện tích là 25m2 (5m x 5m) Trong đợt này cũng mở một hố thám sát cách hố khai quật khoảng 150m trong vườn nhà anh Nguyễn Văn Thể Hố thám sát cũng có tầng văn hóa, mảnh gốm tương tự như ở các hố khai quật
- Địa tầng di chỉ Phù Mỹ khá đơn giản, vì hai hố khai quật
liền kề nên kết cấu thống nhất, gồm 5 lớp tính từ trên xuống dưới như sau:
+Lớp 1 là lớp canh tác, đất phù sa màu nâu sẫm, có độ dày
trung bình khoảng 20-30cm, không có hiện vật Lớp này được hình thành do phù sa sông Đồng Nai phủ dần lên qua nhiều đợt lũ lụt, giống như lớp bảo vệ, chứng tỏ tầng văn hóa chưa bị xáo trộn
+Lớp 2 là đất phù sa màu nâu, có độ dày trung bình khoảng
40cm Lớp đất này cũng được hình thành giống lớp đất mặt
+Lớp 3 là đất phù sa màu vàng, có độ dày trung bình khoảng
20-30cm trải đều khắp mặt hố, tương đối bằng phẳng
Có thể nhận định rằng, nếu kể cả lớp đất mặt thì 3 lớp đất phía trên phủ lên tầng văn hóa đều là đất phù sa của sông Đồng Nai Tính chung, độ dày của các tầng phù sa khoảng 80cm – 1m,
Trang 10thành sau tầng văn hóa Có nghĩa là sau khi cư dân ở Phù Mỹ không
cư trú nữa thì vùng này thường xuyên chịu ảnh hưởng của ngập lụt Hay chính vì ngập lụt mà người cổ Phù Mỹ không cư trú ở đây nữa mà di dời đi chỗ khác có điều kiện sống tốt hơn?
+Lớp 4 là tầng văn hóa, đất màu nâu đen có độ dày trung
bình 30 - 40cm Tầng này tương đối bằng phẳng, không bị xáo trộn và chứa các hiện vật Tuy nhiên, hố 1 có mật độ hiện vật nhiều hơn hố 2 (112/20)
+Lớp 5 là đất thịt (sinh thổ), laterite nhẹ (Bản vẽ tr 74)
- Di vật
Tổng số di vật thống kê được 132 tiêu bản, (hố 1 có 112 tiêu bản, hố 2 có 20 tiêu bản)
+Đồ đá có 23 hiện vật
Khuôn đúc: 16 tiêu bản, có thể chia làm hai loại Loại khuôn nhiều mang, còn gọi là khuôn “liên hoàn” Người xưa tạo khuôn bằng cách lấy một hòn đá sa thạch hình hộp chữ nhật Ở ruột mặt khoét làm vật đúc Ở mặt đối diện lẽ ra là lưng khuôn thì lại khoét lõm thành vật đúc thứ hai Như vậy, cả 2 mặt của khuôn đều có thể đổ đồng tạo thành một mẫu Cứ ghép liên tục các khuôn như vậy (ít nhất phải có 3 khuôn) thì người ta được một tập hợp khuôn liên hoàn Loại khuôn này ở Phù Mỹ tìm thấy 1 mảnh vỡ, chất liệu sa thạch, vật đúc là vật có mũi (hay góc) nhọn Khuôn có hình gần hình hộp chữ nhật, chiều dài còn lại 5.5cm, chiều rộng 6.6cm, chiều dày 2.4cm
Loại khuôn hai mang có 15 hiện vật, trong đó có 2 chiếc còn nguyên vẹn và 13 mảnh vỡ Loại khuôn này có hình dạng phổ biến là một nửa hình trụ tròn bổ dọc Tiêu bản thứ nhất chiều dài 13.3cm, chiều rộng 6.5cm, dày 2.3cm Mảnh khuôn này là 1 mang trong khuôn 2 mang Vật đúc là một chiếc rìu lạ, thân có hình gối quạ, 2 rìa bên cong lõm Phần đầu rìu có trang trí hình một con chồn, 2 bên
Trang 11góc có hoa văn vòng tròn có đường xuyên giữa là góc rìu Đặc biệt, người xưa tạo ra đậu rót cũng là đậu ngót ở phần rìa của lưỡi rìu
Chiếc khuôn thứ 2 còn một mảnh, là sa thạch, cũng có dạng một nửa hình trụ tròn bổ dọc Chiều dài bằng 13.5cm, chiều rộng nhất 8.3cm, chiều dày 3.3cm Mảnh khuôn cũng là một mảnh trong khuôn hai mang Khuôn đúc loại rìu lạ (rìu nghi trượng?) Rìu có hình gần tứ giác, rìa lưỡi tương đối thẳng, đốc rìu cong lên và 2 góc của đốc có hoa văn móc câu (Bản vẽ 2, tr 75) 13 mảnh vỡ khuôn qua dấu vết mặt âm có thể xác định để đúc loại rìu xòe cân, được trang trí hoa văn một đường chỉ ở phần họng Có mảnh khuôn lại có hình một góc nhọn như góc lưỡi của rìu nghi trượng đã nói ở trên
Bàn mài có 4 tiêu bản đều là loại bàn mài phẳng
Phác vật rìu : 2 tiêu bản Phác vật rìu có số kí hiệu 98PMH 1L1-21 (Bảo tàng Lâm Đồng) được làm bằng đá màu xám, hình khối gần giống hình tứ gác, toàn thân có nhiều vật mài xen lẫn vết ghè đẽo, chiều dài 8cm, chiều rộng nhất 3.9cm, chiều dày nhất 2.6cm Phác vật rìu thứ hai có số kí hiệu là 98PMH1L1 làm bằng đá màu xám, chỉ còn phần chuôi, nhiều chỗ ghè đẽo, chiều dài 3.9cm, rộng 2.3cm, dày 1.5cm
Còn ghi nhận một phác vật của chiếc đục có số ký hiệu là 98PM41L1 tuy nhiên vẫn còn chưa rõ ràng là phác vật đục hay chỉ là một mảnh đá bị vỡ tự nhiên, chiều dài 3.8cm, rộng 1.7cm, dày 1.5cm
Chày nghiền: 1 chiếc, mang số ký hiệu 98PM41L2-46 Chày nghiền bị vỡ còn một đoạn đầu, bằng đá cuội Chày có hình trụ nhưng thuôn đầu về một bên, chiều dài 7.5cm, chiều rộng nhất 3.7cm
+ Đồ gốm: 116 hiện vật, tìm được chủ yếu ở hố khai quật 1
(103 hiện vật)
Trang 12Những hiện vật bằng gốm gồm có bàn đập gốm, dọi xe chỉ, con dấu gốm, bát gốm, nồi gốm vỡ, hiện vật hình sừng bò, con dấu gốm, nhẫn gốm và li gốm
Bàn đập gốm có 95 hiện vật, chiếm đa số trong tổng số hiện vật bằng gốm (81.7%), chủ yếu ở hố khai quật 1 (86 hiện vật) Công dụng của bàn đập gốm vẫn còn đước các nhà nghiên cứu bàn cãi Nhiều người gọi là bàn xoa gốm Tuy nhiên chắc chắn loại bàn đập này liên quan đến nghề làm gốm thủ công Dường như bàn đập gốm
ở Phù Mỹ có chung một hình dáng Đó là hiện vật hình chóp cụt dài, phía dưới bè ra như chiếc bánh dày Một số tiêu bản một đầu có lỗ (đầu chóp nhỏ) Toàn bộ không được trang trí hoa văn Tuy nhiên có thể phân loại: loại có xuyên lỗ ở đầu, loại không xuyên lỗ Hay loại phần dưới có mặt cong vồng hay mặt ít cong vồng hơn…(Bản vẽ 21-
22, tr 85)
Dọi xe chỉ: 11 chiếc, chủ yếu tìm được trong hố khai quật 1 (10 chiếc) Nhiều chiếc dọi xe chỉ đều cùng một loại, có hình chóp cụt nếu nhìn mặt cắt ngang, có khi đó là hình chóp cụt cao gần với hình trụ tròn, có khi là hình chọp cụt có độ cao vừa phải… Chiếc dọi
xe chỉ có kí hiệu 98PMH1L2-19 làm bằng đất set, pha nhiều cát, màu hồng nhạt, có hình gần chóp cụt, đáy hơi phồng, có lỗ xuyên tâm Đường kính (đk) lớn 3.2cm, đk nhỏ 2.0cm, cao 1.1cm Chiếc dọi xe chỉ có kí hiệu 98PMH1L1-15 làm bằng đất nung, pha nhiều cát, màu hồng nhạt, hình chóp cụt, có lỗ xuyên tâm Đk lớn 3,0cm,
đk nhỏ 2,4cm, chiều cao 2,1cm (Bản vẽ 20, tr 85)
Con dấu gốm: 1 chiếc, chất liệu đất sét, nhiều sạn sỏi, màu hồng xám Một mặt gần phẳng, tròn, có rãnh hình xoắn ốc Mặt đối diện có hình gần hình cầu Đk lớn nhất 2,5cm, chiều cao 1,7cm (Bản vẽ 20, tr 85)
Bát gốm: 1 chiếc, còn nguyên vẹn, được phục chế tại hiện trường Bát có màu nâu hơi đỏ, gốm thô pha nhiều cát Có thể bát có
Trang 13chân đế nhưng bị vỡ Bát có miệng loe rộng ĐK 19cm, cao 5,9cm, dày 0,6cm (Bản vẽ 20, tr 85)
Nồi gồm vỡ: 2 chiếc
Hiện vật gốm hình sừng bò: 1 chiếc Loại hiện vật này hiện chưa rõ tác dụng Gốm sừng bò bên trong rỗng, đầu gần nhọn, là loại gốm thô màu vàng nhạt Chiều dài 5,2cm, đk lớn nhất 2,5cm, đk lỗ 1,3cm (Aûnh 30, tr 107)
Quả bầu gốm: 1 hiện vật, với thân gần giống hình quả bầu, rỗng ở trong, loại gốm thô, màu đỏ xám Cuống bầu nhô ra có hình chóp Miệng quả bầu nhỏ có hình bầu dục Chiều dài 6.6cm, đk quả bầu 4,2cm, đk lỗ bầu 1,3cm (Bản vẽ 20, tr 85)
Nhẫn gốm : 1 hiện vật, có hình một chiếc nhẫn to, thô, màu vàng xám Đk tổng cộng 4,2cm, đk lỗ 2,0cm, rộng bản 2,7cm
Bi gốm : 2 tiêu bản, là hiện vật hiện nay ta chưa rõ tác dụng, nhiều người cho rằng bi gốm dùng để bắn chim vì giống như viên đạn của ống xì đồng Viên bi số hiệu 98PMH1L3-113 có màu hồng nhạt, đất nung pha nhiều cát Đk lớn nhất 2,2cm
Những người trực tiếp khai quật cho rằng Phù Mỹ là một di chỉ cư trú thuần nhất, tầng văn hóa được bảo quản tốt, chưa tìm thấy dấu vết lò đúc, mộ táng Về niên đại, di chỉ Phù Mỹ thuộc giai đoạn đồng thau phát triển, trong khoảng 2700 – 2500 năm cách ngày nay Chủ nhân của Phù Mỹ là cư dân nông nghiệp, có thể kiêm nghề thủ công chế tác đồ gốm
1.3.2 Cuộc khai quật lần thứ hai (2006)
Cuộc khai quật lần này đào 4 hố ở các vị trí khác nhau nhưng địa tầng ở cả 4 hố có cấu tạo thống nhất
- Về kết cấu địa tầng: gồm bốn lớp tính từ trên xuống:
Trang 14+Lớp 1 từ bề mặt đất xuống đến 0,20m, là lớp đất do phù sa
sông Đồng Nai bồi tụ, hiện đang được canh tác nên tơi xốp có màu nâu xám, hoàn toàn không thấy hiện vật khảo cổ trong lớp này
+Lớp 2 là tầng phù sa bồi tụ dày trung bình 0,65m - 0,75m, có
hai màu sắc khác biệt, màu vàng sẫm ở lớp trên và nâu nhạt ở lớp dưới, hạt mịn, chắc Có thể lớp trên màu sẫm hơn do hiện tượng thẩm thấu từ lớp đất canh tác xuống Trên vách hố khai quật 3 xuất hiện một số mảnh gốm lẻ tẻ
+Lớp 3 là tầng văn hóa, đất tơi xốp, màu nâu xám, dày trung
bình 0,12 – 0,25m Hiện vật thu được trong tầng văn hóa là những mảnh gốm vỡ, một số khuôn đúc, đồ trang sức, mảnh đá granite, cuội sông, đất nung, vương vãi trên khắp bình diện cư trú
+Lớp 4 nằm dưới cùng là sinh thổ màu nâu vàng sẫm, loang
lổ các đốm sét màu nâu sẫm, đây là lớp phù sa cổ của sông Đồng Nai Độ sâu trung bình của bề mặt sinh thổ cách mặt đất hiện tại khoảng 1,20m – 1,40m
- Di vật +Đồ đá: Có 31 hiện vật
Khuôn đúc (4 tiêu bản), hầu hết chúng được làm từ sa thạch đỏ, hạt mịn Các khuôn đúc này là loại khuôn hai mang, được tạo dáng với mặt cắt ngang hình chữ D, mặt giáp khuôn phẳng Quan sát
các tiêu bản khuôn đúc có thể thấy có các loại hình vật đúc như: rìu
lưỡi xòe, trên thân có trang trí một chỉ nổi chạy ngang – giống với tiêu bản rìu đồng phát hiện trong hố khai quật cách đó khoảng 200m, tuy nhiên đây là hai cá thể riêng biệt Một nét chung cho các rìu đồng trong di chỉ Phù Mỹ có thể là ở chi tiết một đường chỉ nổi trang trí trên thân Ngoài khuôn đúc rìu đồng, nơi đây còn có các loại hình công cụ khác thể hiện qua hình vật đúc trên mặt khuôn như
dùi có dáng hình trụ, dài, mũi nhọn; lao (chỉ còn trên khuôn phần
mũi) hình trụ tròn, nhọn đầu, đk khoảng 1,2cm
Trang 15Các phác vật khuôn (6 tiêu bản), đa số đã định hình với tiết diện hình chữ D, thường bị vỡ do đó không được sử dụng Một số tiêu bản đã gần hoàn chỉnh, chỉ còn qua công đoạn tạo hình vật đúc là hoàn tất nhưng lại không sử dụng tiếp tục mà bị bỏ lại trong tầng văn hóa
Công cụ đá (12 tiêu bản), với nhiều loại hình khác nhau: đục, dao (?), một số loại hình công cụ đá chưa rõ chức năng (2 tiêu bản) có dáng gần giống rìu, phần lưỡi được mài tù, mép lưỡi thường mài bằng Có thể đây là công cụ dùng để mài trên một hiện vật phẳng,
do có các vết xước ngang đồng hướng trên phần lưỡi công cụ
Bàn mài (2 tiêu bản) chất liệu sử dụng cũng là loại sa thạch đỏ như loại sa thạch dùng để chế tạo khuôn đúc Trên một bàn mài có dấu vết mài của một công cụ dài, nhọn đầu, có thể là một mũi dùi hay đục
Đặc biệt lần đầu tiên phát hiện trong di chỉ Phù Mỹ một sưu tập đồ trang sức bằng đá gồm 6 hạt chuỗi và 1 vòng tay Trong đó có 3 hạt chuỗi hình đốt trúc bằng đá cornelian, đk trung bình 2,0 – 2,5cm, dài 1,5 – 1,7cm, hạt chuỗi này được tạo dáng bằng cách mài lõm nhẹ hai đoạn thân để tạo một ngấn nổi ở giữa giống hình hai đốt trúc Lỗ xuyên tâm được khoan từ hai đầu vào, một tiêu bản vết khoan từ hai đầu chưa gặp nhau Bề mặt ngoài hiện vật được đánh bóng hoàn chỉnh Hạt chuỗi thứ 4 cũng được chế tạo từ loại đá cornalian có dáng hình trụ, mài thuôn nhỏ hai đầu để tạo một sống nổi ở đoạn giữa thân, lỗ xuyên được khoan từ hai đầu, toàn thân được đánh bóng Hạt chuỗi thứ 5 hình trụ bằng đá nephrite màu xanh ngọc, bị vỡ đôi Hạt chuỗi thứ 6 hình cầu hơi dẹt được mài bằng ở hai đầu nhưng hai mặt mài không song song nhau, tại đây lỗ xuyên được khoan từ hai đầu và chưa gặp nhau có thể đang chế tác dở dang, vết khoan méo, không tròn Thân hạt chuỗi được đánh bóng nhưng vẫn còn để lại vài vết xước nhỏ (Aûnh 8, tr 91)
Trang 16Một vòng tay bằng đá tiết diện hình chữ T phát hiện trong hố thám sát ký hiệu TS3 ở phía tây khu vực di chỉ bằng loại đá màu trắng nhưng mủn nát, chỉ ghi nhận trên hiện trường và chỉ ghép nối phục dáng được một đoạn nhỏ
+Đồ gốm: Có 56 hiện vật
Hiện vật phục chế được gồm có: 1 tô lớn mang ký hiệu 06PMH4A’1:32 và 1 âu bằng gốm khai quật tại hố H4 mang ký hiệu 06PMH4A’1:31 Cả hai hiện vật này được làm từ đất sét pha cát hạt mịn và bã thực vật, bên ngoài phủ một lớp áo màu đỏ nâu, đã bị bong tróc nhiều, xương gốm màu xám đen do thành phần bã thực vật cháy thành than khi nung Hai hiện vật có miệng loe cong, rìa mép bẻ ngang và vuốt tròn, bên trong lòng miệng ấn lõm hình lòng máng, thân cong dần với dáng thân chuông, chân đế bị mài mòn nên không rõ hình dáng
Bàn xoa gốm có 43 tiêu bản, mặt lớn hình nấm với phần chuôi hình trụ hơi thuôn nhỏ ở một đầu Một số hiện vật có hiện tượng soi lỗ ở phần chuôi, hiện chưa rõ mục đích của việc soi lỗ này Có thể lỗ được soi khi hiện vật chưa khô hẳn, một số hiện vật có hiện tượng soi lệch tâm, độ sâu của lỗ soi khoảng 2,0 – 3,0cm Phần nấm bàn xoa có dạng hình chỏm cầu với nhiều đk và độ cong lồi khác nhau, giữa hai thông số đk và độ cong lồi có sự tương quan theo tỉ lệ thuận Nhóm bàn xoa có phần nấm lớn thường có độ cong lồi lớn hơn nhóm bàn xoa có phần nấm nhỏ Các bàn xoa gốm này thường được làm từ chất liệu gốm thô (đất sét pha cát và một ít bả thực vật), xương gốm thường có màu nâu xám hay nâu đen, độ cứng chắc không cao lắm Toàn bộ thân bàn xoa được phủ một lớp áo gốm thường là màu xám vàng hay nâu gạch, lớp áo này dễ bong tróc, có thể do chất liệu dùng để làm bàn xoa là gốm thô
Loại hình dọi se chỉ phát hiện được 11 tiêu bản, đa số chúng có tiết diện ngang hình thang, một số ít có tiết diện ngang hình chữ
Trang 17nhật Có một lỗ soi xuyên tâm dọi, trên một số tiêu bản có hiện tượng soi lệch tâm
Ngoài ra còn thu được 6.246 mảnh gốm các loại, trong đó: mảnh thân chiếm một tỷ lệ lớn với 4.839 mảnh, mảnh miệng có 1.264 mảnh, chân đế có 138 mảnh Chất liệu đa số là gốm thô (đất sét pha cát hạt to và bả thực vật) với 6.133 mảnh, xương gốm mịn (đất sét pha cát mịn) thu được ít hơn, chỉ 113 mảnh Phần nhiều là những mảnh gốm có độ dày trung bình (3mm – 5mm) với 6.034 mảnh, loại gốm mỏng (< 0,3mm) ít hơn, chỉ 135 mảnh, loại gốm dày rất ít với 77 mảnh Lớp áo phủ bên ngoài có các màu xám vàng với 5.824 mảnh, màu nâu có 105 mảnh, màu đỏ có 164 mảnh, màu đen có 153 mảnh Xương gốm có các màu xám đen 3.502 mảnh, màu xám trắng có 439 mảnh, màu nâu 1.617 mảnh, màu đen có 607 mảnh, màu đỏ có 81 mảnh Phần lớn các mảnh gốm thu được để trơn không có hoa văn trang trí với 6.197 mảnh, một số ít mảnh thân được trang trí bằng văn chải với 49 mảnh
Đồ đồng: 1 hiện vật Phát hiện một rìu đồng trong hố khai
quật H4 mang ký hiệu 06PMH4C1L1: 93 Đây là một rìu đồng còn tương đối nguyên vẹn nằm trong khu vực tập trung các khuôn đúc, phác vật khuôn, các hạt chuỗi mà theo những người khai quật đoán định là công xưởng chế tác đồng và trang sức đá Rìu được chế tạo từ loại khuôn hai mang, trên thân còn để lại dấu giáp khuôn dọc theo rìa thân rìu, lưỡi rìu đồng chưa có dấu vết sử dụng Phần họng tra cán của rìu bị vỡ một phần, hơi thắt eo rồi xòe rộng dần ở phần lưỡi, rìa lưỡi cong hình hyperbole Lưỡi rìu sắc, vát lệch, phẳng ở mặt lưng, trên thân gần họng tra cán có trang trí một chỉ nổi Hiện vật đồng nguyên rất hiếm gặp trong các di chỉ khảo cổ học ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Rìu đồng Phù Mỹ là di vật đầu tiên tìm thấy trong hố khai quật ở Lâm Đồng
- Về niên đại, trước đây khi nghiên cứu kết quả khai quật và
so sánh đối chiếu với các di chỉ thuộc văn hóa Đồng Nai, các nhà
Trang 18khảo cổ học đã định cho di chỉ Phù Mỹ một khung niên đại trong khoảng 2.700 – 2.500 năm cách ngày nay, tức tương đương với giai đoạn Dốc Chùa lớp văn hóa muộn Qua kết quả thu được từ lần khai quật thứ hai, có thể thấy niên đại kết thúc quá trình cư trú tại đây có thể muộn hơn, vào khoảng 2.200 năm cách ngày nay Niên đại này dựa trên các yếu tố xuất hiện vào giai đoạn muộn như các hạt chuỗi hình đốt trúc, các khuôn đúc hiện vật mang tính nghi lễ dạng rìu với
các chi tiết trang trí lạ phát hiện trong đợt khai quật năm 1998
Tổng hợp tư liệu của hai cuộc khai quật năm 1998 và 2006, so sánh với tư liệu của các di chỉ khảo cổ học đồng đại đã được xác định niên đại trên địa bàn Đông Nam Bộ Có thể ước định niên đại
di chỉ Phù Mỹù trong khoảng 2.500 – 2.200 năm cách ngày nay Có thể đặt di chỉ Phù Mỹ trong phức hệ phát triển của thời đại kim khí miền Đông Nam Bộ đồng đại với các di chỉ Dốc Chùa (lớp văn hóa muộn), ở vào giai đoạn hậu kỳ đồng – sơ kỳ sắt trong cùng một truyền thống phát triển
1.3.3 Cuộc khai quật lần thứ ba (2007)
Cuộc khai quật này có sự tham gia của cán bộ Viện Khảo cổ học và Trường Đại học Đà Lạt, do Trần Văn Bảo phụ trách mở 2 hố khai quật với tổng diện tích 75m2 Lần này cũng đào 4 hố thám sát,
kết quả đào các hố thám sát cho thấy chỉ có hố thám sát 1 và 4 là có vết tích tầng văn hoá:
Hố thám sát 1, có toạ độ: 11033’55’’ vĩ Bắc; 107022’11’’ kinh Đông trên đất nhà ông Trần Thế Nga (Thôn Ba, xã Phù Mỹ) Hố có diện tích 4m2 cách bờ sông Đồng Nai 30m Hiện vật thu được gồm 1 rìu đá, 1 bàn xoa gốm ở độ sâu 120cm và một số mảnh gốm
Hố thám sát 4, có toạ độ: 11033’54’’ vĩ Bắc; 107022’21’’ kinh Đông trên khu đất của xưởng dệt Nam Phương Hố có diện tích 4m2, cách bờ sông 35,5m về phía bắc Thu được 1 rìu tứ giác bằng đá, 3 mảnh đá nguyên liệu và một số mảnh gốm Tại độ sâu 148cm xuất
Trang 19lộ một cụm đất cháy, có lẫn nhiều than tro, mảnh gốm và mảnh đá nguyên liệu Có khả năng đây là dấu vết lò nung gốm ngoài trời của
cư dân Phù Mỹ
Hố khai quật số 1 có toạ độ 11033’56’’ vĩ Bắc và 107022’17’’ kinh Đông, độ cao 139,4m so với mặt nước biển Hố 1 rộng 25m2(5m x 5m), nằm trong đất vườn nhà ông Nguyễn Văn Kiệm, thuộc thôn Ba, nằm kẹp giữa hố khai quật năm 1998 và hố khai quật năm
2006, cách bờ sông Đồng Nai 40m về phía bắc
Hố khai quật số 2 có toạ độ 11033’56’’ vĩ Bắc và
107022’24’’kinh Đông, độ cao 140m so với mặt nước biển Hố 2 rộng 50m2 (5m x 10m), trong đất vườn nhà ông Cao Thanh Sơn, cách
bờ sông Đồng Nai khoảng 56m về phía bắc (Aûnh 10, tr 93)
- Địa tầng hố 1 và 2, về cơ bản có cấu tạo giống nhau, gồm 4
lớp sau đây: Lớp canh tác dày 30cm, màu nâu xám Lớp 2 là lớp phù sa bồi, dày 60 - 70cm, kết cấu chắc, màu nâu vàng Lớp 3 là tầng văn hóa, đất màu vàng nhạt, laterite nhẹ, dày 25 - 30cm, chứa hiện vật khảo cổ Lớp dưới ở độ sâu 1,5 m là sinh thổ, đất sét màu vàng, laterite nhẹ
- Hiện vật thu được trong hai hố khai quật là 170 tiêu bản
Trong đó đồ đá có 45 mảnh bàn mài; 6 mảnh khuôn đúc; 3 rìu tứ
giác và 1 phác vật rìu tứ giác; 11 mảnh tước có tu chỉnh Đồ gốm có
64 bàn xoa; 7 dọi xe chỉ, 4 con kê, một số chân đèn, cốc, bát bồng, núm gốm bị vỡ; cùng 9.478 mảnh gốm các loại
+Đồ đá
Rìu và phác vật rìu: Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.B6:1 là một chiếc rìu tứ giác được chế tác từ đá phiến, tiêu bản được phủ một lớp patin màu vàng sáng Phần đốc vát xéo, hướng vát từ đốc xuống thân khoảng 45o Phần rìa lưỡi được mài nhẵn, rìa còn lại ít tác động, mặt cắt ngang của lưỡi hình thoi Một cạnh bên của tiêu bản có những vết ghè từ bên ngoài vào ở cả 2
Trang 20mặt, chạy hết rìa cạnh Cạnh đối diện cong tròn, hơi lõm ở gần phần lưỡi Mặt cắt ngang có hình bầu dục Kích thước (kt) (cm): Dài 10,7
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.D2:3 là phác vật rìu tứ giác được chế tác từ đá basatle, còn khá nguyên Bên ngoài có màu nâu đỏ (vỏ đá), xương đá màu xám tro, phần lưng có vết ghè lớn từ ngoài vào, kéo dài từ giữa thân đến lưỡi tạo 1 rìa lưỡi sắc với những vết tu chỉnh nhỏ, rìa lưỡi còn lại chỉ có hai vết ghè tu chỉnh nhỏ và tương đối phẳng Một rìa cạnh có những vết ghè theo hướng từ ngoài vào tạo nên rìa cạnh sắc Cạnh đối diện phẳng theo vết vỡ như dạng đá phiến Phần đốc thu nhỏ hơn và lớn dần xuống thân, các vết ghè
tu chỉnh nhỏ tạo cho đốc hơi bo tròn Phần lưỡi có nhiều vết tu chỉnh
tỉ mỉ Mặt cắt ngang có hình tam giác cân Kt (cm): Dài 11,1 x rộng 5,3 x dày3,2
Bàn mài: Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L1.C7:1 là một mảnh bàn mài chất liệu đá basalte, lớp ngoài phủ một lớp patin màu xám trắng Tiêu bản có vết mài ở hai mặt đối diện, mặt mài tương đối phẳng, nhẵn so với hai mặt còn lại Bàn mài có một đầu gần tròn và thuôn dẹt về một đầu còn lại theo mặt cắt dọc, phần đầu lớn dần và hơi thắt eo ở gần đầu Hai đầu bo tròn, mặt cắt dọc hình gần bầu dục Kt (cm): Dài 26,5 x rộng 6,1 x dày 5,4
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L1.C4:3 là một mảnh bàn mài là đá sa thạch màu hồng gạch, vỏ ngoài được phủ lớp patin màu
Trang 21xám tro, tiêu bản có hai diện mài, mặt mài hơi lõm Diện mài có cạnh trên là 6,3 cm và thuôn nhỏ về phía còn lại là 5,0 cm, diện mài còn lại có cạnh trên là 3,5 cm và cũng thuôn nhỏ về phía còn lại là 1,8 cm Hai diện mài giáp nhau tạo một cạnh sống có hình chữ V Mặt cắt ngang có hình thang Kt (cm): 7,8 x 10 x 2,6
Mảnh bàn mài mang ký hiệu 07.PM.H1.L2.B3:10 là đá sa thạch, màu hồng ngả nâu Bên ngoài được phủ một lớp patin có màu xám nhạt Tiêu bản có hai diện mài, một mặt hơi cong lồi, có kích thước cạnh trên là 1,5 cm cạnh dưới là 0,7 cm Mặt mài còn lại nhỏ hơn, mặt mài phẳng, hai diện mài giáp với nhau tạo thành một đường sống nổi Các mặt còn lại là những vết vỡ lớn Kt (cm): Dài 7,7 x rộng 3,5 x dày 2,6
Mảnh bàn mài mang ký hiệu 07.PM.H1.L3.B1:11 là đá slhisete màu xám đen Tiêu bản có hình khối chữ nhật, bốn mặt tương đối phẳng Mặt thứ nhất có những vết mài, ở diện này có ba vết ghè lớn và một số vết ghè nhỏ hướng từ cạnh ngoài vào Một góc vát sâu vào thân ăn vát xuống cạnh bên kia, mặt đối diện chỉ có những vết mài ở ¼ góc Các mặt còn lại đều là vết mài, mặt cắt ngang hình chữ nhật Kt (cm): Dài 26,3 x rộng 9,9 x dày7,5
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.D3:4 là mảnh bàn mài đá slhisete, có màu xám vàng (bị vỡ làm hai do 1 vết cuốc bổ trong khi khai quật nhưng đã phục chế được) Tiêu bản chỉ còn 1 diện mài, mặt mài hình gần bầu dục, trên diện mài còn có vết mài rãnh tạo khía hình chữ V, các mặt còn lại đã bị vỡ nên không xác định
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.A3:136 là bàn mài phiến có màu xám, bên ngoài được phủ một lớp patin Hiện vật có một diện mài, những vết mài rãnh còn để lại khá rõ trên bề mặt diện mài Các vết mài không thống nhất, vết dài nhất khoảng 5,0 cm, vết ngắn nhất khoảng 2,5 cm Kt đo được của cạnh trên là 6,7 cm, của cạnh dưới là 4,4 cm Các mặt còn lại đều bị vỡ Mặt cắt ngang gần
Trang 22Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.C4:145 là một bàn mài trong, đá basatle, bên ngoài phủ một lớp patin dày màu xám trắng Một đầu của bàn mài lớn (2,2 cm) và thuôn sang đầu còn lại (1,5 cm), toàn thân tiêu bản có vết mài và tương đối nhẵn Mặt cắt ngang thân hình gần tròn
Về chất liệu, 22 bàn mài được phát hiện ở Phù Mỹ trong lần khai quật thứ ba có 10 tiêu bản là sa thạch, 5 tiêu bản đá basalte và
7 tiêu bản đá phiến (slhiste) Tuy kích thước lớn nhỏ khác nhau, các tiêu bản phần lớn bị vỡ nhưng tựu chung lại, bản mài Phù Mỹ thuộc loại hình mài phẳng, mài rãnh và mài trong (Aûnh 6-7, tr 90-91)
Ngoài ra, ở Phù Mỹ cũng tìm được một số tiêu bản đá có vết mài Sau đây là mô tả một số tiêu bản (Aûnh 28, tr 105)
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L3.B1:12 là đá sa thạch hạt thô có màu hồng gạch, hình gần lục lăng Bên ngoài phủ một lớp patin màu xám, trên một mặt của tiêu bản có hai vết mài rãnh sâu 0,4 cm, dài 5,5 cm, nằm song song
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.B4:12 có chất liệu đá sa thạch, màu xám trắng Tiêu bản có dạng gần hình chữ nhật, một đầu lớn và thuôn can nhẹ sang đầu còn lại Trên thân có một mặt mài (xước), các vết xước là những đường thẳng song song và chồng chéo lên nhau Các mặt còn là những vết vỡ
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.B4:13 là đá sa thạch hạt thô màu nâu, bên ngoài phủ lớp patin màu xám nhạt Bàn mài chỉ còn lại một diện mài gần hình bầu dục tương đối phẳng, diện mài hơi lõm nhẹ Các mặt còn lại đều đã bị vỡ nên không xác định được kích thước của hiện vật
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.6:14 là đá sa thạch, hạt thô màu nâu nhạt, bên ngoài phủ một lớp patin màu xám nhạt Tiêu bản chỉ có một mặt mài tương đối phẳng gần hình thang Mặt cắt ngang hình gần hình chữ nhật, mặt cắt dọc hình chữ V
Trang 23Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.C7:16 là đá sa thạch hạt thô, lớp patin phủ loang lổ bên ngoài màu xám trắng Tiêu bản có dạng hình hộp chữ nhật khá vuông vắn Một mặt của tiêu bản có nhiều vết mài xéo ở ½ mặt theo chiều dọc
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.B7:143 được làm từ đá
sa thạch hạt mịn có màu xám hơi ngả xanh, bên ngoài được phủ một lớp patin màu xám trắng Tiêu bản chỉ còn lại một phần có dạng
“múi bưởi” với một cạnh cong tròn Một mặt của tiêu bản có nhiều vết mài (xước), các vết xước nhỏ gần song song nhau, bề mặt tương đối nhẵn, mặt còn lại nhẵn hơi bo tròn sang cạnh bên Mặt cắt ngang thân hình chữ D
Khuôn đúc Phù Mỹ trong lần khai quật này đều được phát hiện ở hố khai quật 2 gồm 6 mảnh Đây là những mảnh khuôn đúc phần lớn vỡ ra từ khuôn đúc 2 mang
Hiện vật mang kí hiệu 07.PM.H2.L2.C6:17 được chế tác từ đá
sa thạch hạt mịn, màu hồng gạch, bên ngoài phủ lớp patin màu xám vàng nhạt Tiêu bản là mảnh vỡ của một khuôn đúc hai mang, mặt lưng cong vồng, mặt giáp khuôn có dấu vết tạo gờ nổi hình vòng cung Thiết diện ngang thân hình chữ D Kt (cm): Dài 5,2 x rộng 3,9
x dày 2,0
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.C6:18 là một mảnh khuôn đúc được chế tác từ đá sa thạch hạt mịn, xương đá màu nâu nhạt, quanh thân phủ lớp patin màu xám hồng Mặt lưng của mảnh khuôn đúc được mài nhẵn, cạnh mài cong tròn Mặt giáp khuôn nhẵn, có dấu khắc của vật đúc Thiết diện ngang thân hình chữ nhật
Kt (cm): Dài 7,1 x rộng 4,7 x dày 2,7
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L3.D7:19 là một mảnh khuôn đúc mũi nhọn, được chế tác từ đá sa thạch hạt hơi thô, xương đá màu nâu nhạt, bên ngoài phủ một lớp patin màu xám vàng Mặt còn lại là mặt giáp khuôn có đường rãnh nông (0,2 cm) chạy hơi xéo
Trang 24so với cạnh mài, chưa xác định rõ loại hình vật đúc trên khuôn Đây là mảnh của khuôn nhiều mang Mặt cắt khuôn hình bán nguyệt Kt (cm): Dài 6,8 x rộng 5,1 x dày 1,7
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.A1:21 phác vật khuôn đúc được làm từ đá sa thạch hạt mịn, xương đá màu nâu nhạt, bên ngoài phủ một lớp patin màu xám vàng Tiêu bản còn lại có dạng hình gần chữ nhật, hai mặt và hai cạnh được mài nhẵn, một mặt cong tròn, mặt đối diện và hai cạnh bên tương đối bằng phẳng, hai cạnh còn lại bị vỡ Mặt cắt ngang thân hình chữ D Kt (cm): Dài 6,6
x rộng 7,1 x dày 3,3
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.D4:22 được làm từ đá sa thạch hạt mịn, xương màu nâu nhạt, bên ngoài phủ lớp patin màu xám vàng Tiêu bản là mảnh vỡ của khuôn đúc hai mang Mặt lưng được mài láng, cong tròn vào cạnh mài Mặt giáp khuôn bị vỡ chỉ còn vết lõm hình chữ V của họng tra cán Mặt cắt ngang thân của tiêu bản hình bán nguyệt Kt (cm): Dài 5,3 x rộng 4,7 x dày 2,2 (Bản vẽ 15, tr 81)
Hạch đá cũng như khuôn đúc, đều thu được ở hố KQ 2 Các hạch đá đều có dạng hình hộp chữ nhật, khá vuông vức
Chày nghiền: Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L3.E8:37 là đá quart tương đối cứng, vỏ đá màu nâu đỏ, xương đá màu trắng đục Hiện vật là một chày nghiền còn nguyên có dáng dài, ba mặt của tiêu bản có những nhát ghè lớn, toàn thân gồ ghề, thô ráp Tiêu bản có một đầu thuôn nhọn dùng để cầm nắm, một đầu cong tròn, có những vết lỗ chỗ do nghiền hạt (?), trên một rìa có vết ghè để tạo thành dáng cong Mặt cắt ngang thân gần hình thang Kt (cm): Dài 14,2 x rộng 8,4 x dày 4,9
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L3.A5:38 chất liệu đá sa thạch, xương đá màu xám Hiện vật bị gãy mất tay cầm, một cạnh bên cũng đã bị vỡ, vết vỡ ăn sâu vào thân Đầu chày nghiền cong
Trang 25tròn, mặt nghiền thô ráp do vết sử dụng để lại Mặt cắt ngang thân hình gần bầu dục Kt (cm): 9,2 x 6,1 x 4,3 (Ảnh 3-4, tr 88)
Công cụ cuội ghè đẽo: Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L2.C8:13 được chế tác từ một viên cuội có hình bầu dục, chất liệu đá basalte Bên ngoài phủ một lớp patin màu xám trắng Tiêu bản được ghè đẽo tạo rìa lưỡi dọc kiểu Sơn Vi với ba vết ghè lớn (dài khoảng 3 cm) và hai vết ghè nhỏ tu chỉnh tạo phần rìa lưỡi sắc Mặt đối diện chỉ có một vết ghè lớn ăn sâu vào thân nằm gần phần đốc Đốc công cụ ghè vát xéo Trên một mặt có các vết ghè nhỏ tu chỉnh Kt (cm): Dài 13,3 x rộng 7,1 x dày 3,0 (Bản vẽ 12 tr 80)
Công cụ mảnh tước: Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.D7:39 là một công cụ mảnh tước đá opal, có màu trắng đục và xám đen Mặt lưng còn u ghè tạo thành sống cao Mặt bụng có một vết ghè lớn tạo rìa lưỡi sắc mỏng, hai rìa cạnh có vết ghè tu chỉnh nhỏ Diện ghè còn giữ được lớp vỏ opal, phần lưỡi vết sử dụng mòn nhẵn và hơi cong lõm ở giữa, diện sử dụng dài 3,3 cm
Kt (cm): Dài 5,3 x rộng3,0 x dày 0,4
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.E6:40 là mảnh tước đá opal, phần trên có màu xám trắng, phần lưỡi có màu trắng đục Phần lưng cao gồ, có hai vết ghè từ ngoài vào Mặt bụng tương đối phẳng và chỉ có một vết ghè tu chỉnh nhỏ Phần lưỡi được tạo hình chữ V, vết sử dụng mòn nhẵn, dài 4,8 cm Kt (cm): Dài 2,7 x rộng 4,8 x dày1,0
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.B4:41, là đá opal, có màu trắng đục và có vân màu xanh đen Đây là một mảnh tước được gia công (có công dụng làm lưỡi cưa?) Mặt bụng được tu chỉnh với
ba vết ghè lớn hướng từ ngoài vào, trong đó một vết ghè lớn diện ghè hình vòng cung tạo nên phần rìa lưỡi sắc mỏng Mặt lưng còn rõ
u ghè và tia ghè, ở giữa hơi lõm vào Hai rìa cạnh và phần lưỡi có những vết tu chỉnh nhỏ khá tỉ mỉ tạo nên độ mỏng sắc và vết răng
Trang 26cưa li ti Phần đốc là diện ghè và hơi vát, diện phẳng Mặt cắt ngang thân hình elip Kt (cm): Dài 5,4 x rộng 5,3 x dày1,2
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.A1:139 chế tác từ chất liệu đá opal, có hai màu trộn lẫn là màu nâu đỏ và màu gan gà Phần lưng cong tạo thành sống trâu và vẫn giữ được một phần lớp vỏ đá opan Phần rìa lưỡi và hai rìa cạnh đều có vết ghè Phần bụng hơi lõm vào thân và tương đối nhẵn Rìa lưỡi được sử dụng mòn nhẵn Phần đốc vát nhọn rất thuận tiện cho cầm nắm khi sử dụng Mặt cắt ngang thân hình tứ giác Kt (cm): Dài 3,0 x rộng 5,0 x dày 0,8 (Bản vẽ 13 tr 81)
+ Đồ gốm
Có thể nhận thấy rằng, các di vật đồ gốm thu được ở Phù Mỹ có số lượng áp đảo so với các loại hình di vật khác bao gồm: 98 hiện vật gốm và 9478 mảnh gốm Gốm Phù Mỹ đều làm từ đất sét pha cát hoặc một ít bã thực vật với áo gốm màu xám vàng, hồng gạch hay xám đen, xương gồm chủ yếu màu xám đen hoặc nâu nhạt với độ cứng chắc không cao
Sưu tập đồ gốm Phù Mỹ nhiều về số lượng nhưng có thể phân biệt thành các loại bao gồm: bàn xoa gốm, con kê, dọi xe sợi, đồ gốm sinh hoạt và gốm mảnh
Bàn xoa gốm: Trong tổng số 98 di vật đồ gốm thì sưu tập bàn xoa gốm hình nấm chiếm số lượng là 65 tiêu bản gồm 9 hiện vật nguyên, 56 hiện vật gãy, vỡ (Ảnh 16-17, tr 96)
Bàn xoa gốm mang ký hiệu 07.PM.H1.L2.C1:14 được làm từ đất sét pha cát pha ít bã thực vật, lớp áo bàn xoa dày khoảng 0,3 cm có màu hồng, xương màu xám đen Bàn xoa gốm có hình nấm còn khá nguyên vẹn (chỉ vỡ mất lớp áo ở phần chuôi) Chuôi bàn xoa dạng hình trụ, đầu chuôi có lỗ độ sâu đo được 0,3 cm Phần nấm được loe dần tạo thành hình chỏm cầu, rìa cạnh bị mài mòn Kt (cm): Dài 6,0; đk (đk) chuôi 3,5; đk nấm 5,5
Trang 27Bàn xoa gốm mang ký hiệu 07.PM.H1.L2.C1:15 được làm từ đất sét pha cát pha ít bá thực vật, lớp áo bàn xoa dày khoảng 0,2 cm có màu hồng ½ thân bàn xoa, phần còn lại có màu xám đen, xương màu xám đen Bàn xoa gốm có hình nấm còn khá nguyên vẹn Chuôi bàn xoa dạng hình trụ, có lỗ sâu khoảng 1,8 cm Phần nấm được loe dần tạo thành hình chỏm cầu, rìa cạnh và mặt nấm bị mài mòn Kt (cm): Dài 8,2; đk chuôi 3,8; đk nấm 6,3
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L1.C7:22 là một phần chuôi của bàn xoa gốm (?), được làm từ đất sét pha cát hạt thô lấm tấm trắng, lớp áo có màu xám hồng, xương màu xám đen Trên thân của chuôi có bốn núm khoảng cách tương đối đều nhau, khoảng cách từ đầu chuôi xuống các núm khoảng 3,3 cm, mỗi núm được tạo là do dấu vết của bốn ngón tay, khoảng cách giữa các núm là 2,5 cm Chuôi có hình trụ, phần đầu chuôi phẳng và được tạo ghờ dày khoảng 0.8 cm Phần chuôi cũng có lỗ độ sâu khoảng 2,5 cm Kt (cm): dài 7,9; đk chuôi 4,0 (Ảnh 20-21, tr 98-99)
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L3.B4:62 làm từ đất sét pha cát hạt mịn, lớp áo gốm màu xám tro và đã bị bong lớp áo phần chuôi, xương màu xám đen ở phần chuôi và ½ nấm, phần còn lại của nấm màu hồng Phần chuôi có dạng hình trụ thuôn dài, đầu chuôi bằng phẳng, không có lỗ Chuôi nấm thuôn và loe dần tạo thành phần nấm hình chỏm cầu nhưng hơi lõm ở giữa, rìa mép bị mòn nhiều (có một vết cuốc bổ trong khi khai quật) Kt (cm): dài 9,2; đk chuôi 3,3; đk nấm 6,4
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.A3:84 được làm từ đất sét pha cát mịn, áo gốm màu hồng gạch, xương gốm màu xám đen Chuôi bàn xoa có dạng hình trụ, đầu chuôi cong tròn, có lỗ Phần chuôi loe dần tạo thành phần nấm hình chỏm cầu với rìa mép bị mài mòn nhiều Kt (cm): dài 8,5; đk chuôi 3,7; đk nấm 5,8
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.E8:85 là một bàn xoa
Trang 28hồng gạch, xương gốm phần đầu chuôi màu xám đen, phần còn lại màu nâu nhạt Phần chuôi có dạng hình trụ không tròn đều, đầu chuôi có lỗ khá to, loe dần ở nơi tiếp giáp với phần nấm hình chỏm cầu với rìa mép bị mài mòn nhiều và vỡ một mảng nhỏ Kt (cm): dài 5,5; đk chuôi 3,0; đk nấm 4,2
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.B6:88 là một bàn xoa gốm được chế tác từ đất sét pha cát, gốm màu đỏ gạch, xương màu nâu đen Phần chuôi của tiêu bản có dạng hình trụ không thẳng, đầu chuôi bị vỡ một mảng nhỏ, bằng phẳng, có lỗ Chuôi loe dần tạo thành nấm hình chỏm cầu, bị vỡ một mảng trên mặt nấm, rìa mép bị mài mòn nhiều, phần nấm vỡ một phần rìa cạnh và bị mòn nhiều để lộ xương gốm màu xám đen Kt (cm): dài 9,2; đk chuôi 4,1; đk nấm 7,5
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.B5:93 được chế tác từ đất sét pha cát mịn, áo gốm đã bị mòn nhiều, màu hồng nhạt nhưng
ở phần đầu chuôi gốm áo màu nâu đen, xương gốm màu xám đen Chuôi bàn xoa có dạng hình trụ, đầu chuôi tương đối phẳng và có lỗ Phần chuôi loe dần tạo thành phần nấm hình chỏm cầu với rìa mép
bị mòn nhiều Kt (cm): dài 10,4; đk chuôi 3,7; đk nấm 7,9
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.A5:94 là một bàn xoa gốm được làm từ đất sét pha cát mịn, áo gốm màu hồng gạch chỉ còn loang lổ, xương màu xám đen Chuôi hiện vật có dạng hình trụ, đầu chuôi lõm, có lỗ, loe dần tạo thành nấm hình chỏm cầu Phần nấm bị vỡ 1,3 cm rìa cạnh và ăn sâu vào thân nấm, rìa mép được vuốt nhọn nhưng bị mòn nhiều Kt (cm): dài 7,7; đk chuôi 3,4; đk nấm 5,9
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.D3-4:96 được làm từ đất sét pha cát, lớp áo màu hồng gạch, xương gốm màu xám đen Tiêu bản có phần chuôi dạng hình trụ nhỏ dần về phía đầu chuôi, đầu chuôi bằng phẳng và có lỗ Đầu còn lại của chuôi loe dần tạo thành
Trang 29nấm hình chỏm cầu Bề mặt nấm có một vết vỡ, rìa cạnh bị mòn nhiều và có hai vết vỡ nhỏ do tác động khi khai quật
Bàn xoa gốm Phù Mỹ thường có phần chuôi hình trụ hơi thuôn nhỏ một đầu Ơû phần đầu chuôi thường cong và có hiện tượng soi lỗ, một số hiện vật có soi lỗ lệch tâm Đk soi lỗ giao động trong khoảng từ 0,4 – 0,5 cm Phần nấm hình chỏm cầu với đk và độ cong lồi khác nhau Kích thước bàn xoa xê dịch: Dài 5,5 – 10,8; đk chuôi 3,0 – 6,4;
đk nấm 4,2 x 8,6 (cm) Toàn thân bàn xoa để trơn, không có hoa văn trang trí, chỉ duy nhất có một chuôi bàn xoa có những núm gốm xung quanh đầu chuôi
Con kê: Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L3.C1:36 là một con kê được làm từ đất sét pha nhiều bã thực vật, ít cát Con kê có hình trụ Lớp áo gốm có màu xám, xương gốm màu đen, đế của tiêu bản có đk 2,3 cm và loe dần lên phần còn lại đk 2,5 cm, giữa thân thắt nhẹ (Ảnh 19, tr 97)
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.C4:105 là một con kê được làm từ sét pha cát, áo gốm màu xám hồng nhưng đã bị mòn nhiều, xương màu nâu nhạt có lốm đốm trắng Hiện vật có dạng hình trụ thuôn dài, một đầu thuôn nhỏ và loe lớn sang đầu còn lại Một đầu nở và bo tròn, đầu còn lại thô ráp và tiếp xúc với hiện vật khi nung Kt (cm): cao 4,1; đk nhỏ 1,4; đk lớn 1,6
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.E2:106 được làm từ sét pha cát, áo gốm màu xám hồng, xương màu xám đen Hiện vật có dạng hình trụ Một đầu bằng phẳng và vẫn giữ được lớp áo gốm, một đầu hơi loe ra có bề mặt tương đối phẳng, đầu còn lại thô ráp và tiếp xúc với hiện vật khi nung Kt(cm): cao 2,7; đk 1,6
Dọi xe sợi là một loại hình di vật phổ biến ở di chỉ Phù Mỹ, đều được tìm thấy trong ba lần khai quật: năm 1998 thu được 11 tiêu bản, năm 2006 cũng có 11 tiêu bản và trong lần khai quật năm 2007 thu được 7 tiêu bản Dọi xe sợi Phù Mỹ đều được làm từ đất sét pha
Trang 30cát, áo gốm màu hồng gạch, xương màu xám đen lốm đốm trắng (có thể do được pha vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ) Cá biệt có 1 dọi xe sợi có ngấn ở mặt trên được làm từ loại đất sét thuần, mịn, màu áo và xương là màu nâu xám Các tiêu bản dọi xe sợi đều có dạng hình nón cụt và có lỗ xuyên tâm với đk dao động trong khoảng 0,3 – 0,6
cm (Bản vẽ 16, tr 82)
Đồ gốm gia dụng: Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L2.C2:38 là một chân đèn có lớp áo gốm màu hồng tươi, ½ chân đèn đã bị bóc mất lớp áo gốm, xương gốm có màu xám đen Chân đèn có hình trụ được đắp nổi hai vành hoa văn dày 0,6 cm, đường đắp nổi thứ nhất cách đế 2,8 cm và cách vành hoa văn thứ hai 2 cm, vành hoa văn thứ hai cách tiếp giáp vành miệng Kt (cm): Cao 13,0; đk trên 4,8; đk dưới 4,1 (Ảnh 24-25, tr 102-103)
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L1.B3:41 là một chân đế ngắn đã mất hết phần thân và miệng, được làm từ đất sét pha lẫn nhiều bã thực vật và ít cát Lớp áo có màu xám trắng, thô mặt trong, đã bị bóc mòn nhiều và có màu xám đen Kt(cm): cao 2,0; đk 4,6
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L1.B1:42 là chân đế được làm từ đất sét pha cát rất ít bã thực vật Lớp áo gốm cả trong và ngoài đều có màu hồng gạch, xương gốm màu xám hơi đen Đây cũng là một chân đế đã bị mất phần thân và miệng Kt (cm): Cao 3,1; đk 5,9
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L2.C2:43 là một chân bát bồng và đã bị vỡ thành nhiều mảnh nhưng đã được phục chế Tiêu bản được chế tác từ đất sét pha cát và bã thực vật, lớp áo gốm đã bị bóc nhiều, mặt trong có màu hồng, mặt ngoài có màu xám hồng, xương gốm màu xám đen Chân đế cũng không còn nguyên vẹn Kt (cm): Cao 3,8; đk trên 9,7; đk dưới 12,2
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H1.L2.C7:44 là phần thân của cốc, chân đế và miệng đã bị mất, lớp áo có màu hồng gạch, xương