1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

32 2,3K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 199,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”NĂM 2014 Tên công trình: TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM Thuộc nhóm ngành khoa họ

Trang 1

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

Trang 2

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

NĂM 2014

Tên công trình:

TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở

VIỆT NAM Thuộc nhóm ngành khoa học: KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ 3

Họ và tên sinh viên (nhóm sinh viên):

Lớp, Khoa:KINH TẾ HỌC 53 Năm thứ: 3/4

Ngành học:KINH TẾ HỌC Người hướng dẫn: PGS TS GIANG THANH LONG

HÀ NỘI, 2014

Trang 3

tế gắn liền với các mục tiêu xã hội lên hàng đầu, tập trung vào nâng cao năng suấtlao động vì đây là sẽ yếu tố chính quyết định tăng trưởng của Việt Nam trongtương lai, thúc đẩy người cao tuổi tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt là nhữngngười có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao, góp phần duy trì số lượng lao độngtrong nền kinh tế.

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

II TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 3

III TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 6

IV SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

1 Cơ sở lý thuyết 10

2 Phương pháp nghiên cứu 11

3 Số liệu 13

V PHÂN TÍCH KẾT QUẢ VÀ DỰ BÁO 14

1 Phân tích kết quả 14

2 Dự báo 18

VI MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 20

VII KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

PHỤ LỤC 22

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam, 1979 – 2011………6Bảng 2.2: Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng của ở Viêt Nam, 1979–2049….8Bảng 4.1: Thông kê tóm tắt số liệu dung để hồi quy ……….………17Bảng 5.1: Kết quả kiểm định Engler – Granger……….………….19Bảng 5.2: Kết quả hồi quy mô hình (4.1)……… ………… 20

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Biểu đồ 2.1: Dân số tăng so với năm 1979………7Hình 2.1: Thời gian để dân số quá độ từ “già hóa” sang “già” của một số nước… 9Biểu đồ 5.1: Tốc độ tăng trưởng lao động bình quân đầu người của Việt Nam,

1990 – 2012 18Biểu đồ 5.2: Log(GDP bình quân đầu người) của Việt Nam, 1990 – 2012………18Biểu đồ 5.3: Tỷ lệ phụ thuộc người già Việt Nam, 1990 – 2012……… 19

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

: Ngân hàng Thế giớiGSO : General Statistics Office

: Tổng cục Thống kêVHLSS : Viet Nam Household Living Standerds Survey

: Điều tra mức sống hộ gia đình

DS – KHHGD: Dân số - kế hoạch hóa gia đình

Trang 8

I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Sự biến động của dân số luôn có được sự quan tâm đặc biệt của các quốc giatrong khu vực cũng như trên toàn thế giới Trong thời gian gần đây, sự thay đổi củadân số có thể thấy rõ nhất là hiện tượng dân số già hoá nhanh Già hóa dân số làmột điều tất yếu sẽ xảy ra đối với mỗi quốc gia trên toàn thế giới nhưng nó đangxảy ra với một số nước có thu nhập trung bình và các nước đang phát triển trong

đó có Việt Nam Với một nền kinh tế đang phát triển với mức thu nhập trung bình,già hóa dân số thách thức tới lực lượng lao động nói riêng và tăng trưởng kinh tếnói chung Một quốc gia có dân số trẻ sẽ năng suất hơn một quốc gia có dân số già

vì nó sẽ có một lực lượng lao động tương đối so với quy mô dân số lớn hơn Nhiềungười lao động hơn đông nghĩa với việc sản xuất ra nhiều hàng hóa dịch vụ hơn, vìvậy các quốc gia có dân số trẻ thường có xu hướng phát triển nhanh hơn về kinh tế

so với các quốc gia có dân số già(Feyer 2007, Tang and MacLeod 2006).Bloom vàcộng sự (2011), Renuga Nagarajan và cộng sự (2013) và nhiều nhà nghiên cứukhác đã chỉ ra điều này bằng việc nghiên cứu thực chứng cho nhiều nước với trình

độ phát triển kinh tế khác nhau

Việt Nam cũng không ngoài xu thế đó, ở Việt Nam tỷ suất sinh và tỷ suấtchết giảm cùng với tuổi thọ tăng, người già Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng

cả về số lượng và tỷ lệ so với tổng dân số Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vựcchâu Á – Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP), dân số một nước sẽbước vào thời kì già hóa khi tỷ lệ người cao tuổi (người trên 60 tuổi) so với tổngdân số chiếm hơn 10% Theo Tổng cục thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi sẽđạt con số 10% tổng dân số ở Việt Nam vào năm 2017 hay nói cách khác ViệtNam sẽ chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” và năm 2017 Nhưng thực tế ViệtNam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, đến năm 2012 tỷ lệ ngườicao tuổi ở Việt Nam đã là 10,2% so với tổng dân số Đến khoảng năm 2037 thìViệt Nam chính thức trở thành một nước có dân số “già” tức là Việt Nam chỉ mất

20 năm để quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già” Chính vì vậy già hóa dân số là

Trang 9

một vấn đề lớn cần được chúng ta quan tâm ngay từ lúc này, để có được sự chuẩn

bị tốt cho việc giải quyết những hậu quả kinh tế do tác động của sự già hóa dân số

để duy trì tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn

Mục tiêu của chúng tôi là xem xét tác động của già hóa dân đến tăng trưởngkinh tế tại Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2059, bằng việc sử dụng bộ số liệu thứcấp, được lấy từ cơ sở dữ liệu của tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB) và Dự báodân số của tổng cục thống kê (GSO) Đầu tiên chúng tôi sử dụng số liệu của quákhứ để ước lượng ảnh hưởng của tỷ lệ phụ thuộc của người già đến một trongnhững yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế đó là lao động bình quân đầungười Trên cơ sở ước tính được, có thể thấy được tác động của già hóa dân số đếntăng trưởng kinh tế.Tiếp theo, chúng tôi sẽ sử dụng dự báo dân số của tổng cụcthống kê (GSO) để dự báo tác động của biến đổi dân số hay cụ thể là già hóa dân

số đến tăng trưởng kinh tế trong thời kì 2014 - 2059

Nhìn chung, mục tiêu của nghiên cứu là xem xét tác động của già hóa dân sốđến lao động bình quân đầu người Hiểu được mối quan hệ giữa già hóa dân số vàtăng trưởng kinh tế Từ đó đề xuất các giải pháp, ý kiến góp phần cải tiến, điềuchỉnh và đưa ra các chính sách phù hợp cho sự phát triển trong tương lai Để đạtđược mục tiêu này, bài nghiên cứu xem xét, tập trung trả lời những câu hỏi sau:

1 Già hóa dân số có ảnh hưởng như thế nào đên lao động bình quân đầungười?

2 Già hóa dân số có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế tại ViệtNam?

3 Chúng ta cần phải có những chính sách, giải pháp phù hợp ngay hiện tại

và trong tương lai để ổn định tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn?

Trang 10

Nội dung bài nghiên cứu của chúng tôi gồm 7 phần chính Trong phần II tiếptheo chúng tôi sẽ chỉ ra tính cấp thiết của đề tài chúng tôi nghiên cứu Phần III sẽtóm tắt một số nghiên cứu trước đây có liên quan và đưa ra khung lý thuyết chotoàn bộ nghiên cứu Phần IVnhóm nghiên cứu sẽ sử dụng số liệu và mô hình đểước lượng đưa ra kết quả Trong phần V chúng tôi phân tích kết hồi quy và sửdụng dự báo dân số để dự báo cho thời kì tiếp theo Phần VI đề xuất một số chínhsách Cuối cùng là phần VII đưa ra một số kết luận cho bàu nghiên cứu.

II TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Những người 60 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi (Điều 2, Luật ngườicao tuổi Việt Nam) Ở một số quốc gia thì người cao tuổi là người 65 tuổi trở lên.Trên thế giới cũng như ở Việt Nam người cao tuổi đang tăng nhanh cả về số lượng

và tỷ lệ Quá trình tăng dần tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số gọi là “già hóadân số” Đây là môt đặc điểm lớn về dân số và xã hội của những năm gần đây,được cộng đồng quốc tế rất quan tâm “Già hóa dân số” đang là một trong nhữngthách thức chủ yếu của quá trình phát triển đặc biệt đối với các nước nghèo Theo

Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Liên hợp quốc(UNESCAP) thì một nước được gọi là “bắt đầu già” khi số dân từ 60 tuổi trở lênđạt 10% hoặc số dấn trên 65 tuổi chạm ngưỡng 7% so với tổng dân số Một nướcđược gọi là “già” khi hai tỷ lệ này tương ứng là 20% và 14%

Có thể thấy người cao tuổi ở Việt Nam đang tăng nhanh cả về tỷ lệ và con sốtuyệt đối qua bảng 1 Cụ thể là nếu năm 1989 người cao tuổi (người trên 60 tuổi)chỉ tăng thêm 93 vạn và tỉ lệ nâng cao thêm 0,3% thì năm 1999, các con số tươngứng là 155 vạn và 0,9% Đến năm 2011 thì số người cao tuổi đã lên đến 8.65 triệungười và tỷ lệ người cao tuổi đã chạm ngưỡng 9.9% Điều đó cho thấy tốc độ giàhóa dân số ở Việt Nam cáo chưa từng có và đã bước vào giai đoạn “bắt đầu già” từnăm 2011

Bảng 2.1: Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam

Trang 11

Nguồn: Tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009 của GSO

Biểu đồ 2, cho thấy dân sô cao tuổi tăng nhanh nhất trong các nhóm dân số.Trong giai đoạn 1979 – 2009, nếu lấy năm 1979 làm năm cơ sở thì tổng dân sốtăng1.6 lần, dân số trẻ em chỉ giảm chỉ bằng 0.92 lần, dân số trong độ tuổi lao động2.08 lần, còn dân số cao tuổi tăng gấp 2.13 lần

Dân số tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm mạnh, trong khi chỉ số già hóa tăng lên(Bảng 2)

Trang 12

Bảng 2.2: Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979 2049

9

198 9

199 9

200 9

201 9

202 4

202 9

203 4

203 9

204 4

204 9

Nguồn: Tổng điều tra dân số năm 1979,1989,1999 và 2009 và Dự báo dân số của GSO (2010)

Bảng 2 cho thấy, chỉ số già hóa sẽ vượt ngưỡng 100 vào khoảng năm 2033.Đây là thời điểm Việt Nam bắt đầu có dân số cao tuổi nhiều hơn dân số trẻ em Dựbáo dân số cũng cho thấy tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng giảm nhanh chóng trong thời giantới khi tốc độ tăng của dân số cao tuổi ngày càng lớn Nếu năm 2009, cứ 7 ngườitrong độ tuổi lao động sẽ hỗ trợ 1 người cao tuổi thì đến năm 2049, tỷ số này chỉcòn là 2, tức giảm hơn 3 lần.Việc tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng giảm nhanh chóng chothấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của người già phụ thuộc ngày càng đè nặng lêndân số ở độ tuổi lao động Làm cho lực lượng lao động thu nhỏ và số lượng ngườicao tuổi phụ thuộc tăng lên sẽ có nghĩa là giảm sút về thu nhập bình quân đầungười, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư và năng suất cũng như việc tăng chi tiêu công cho ansinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi của người cao tuổi.Không những thế,

tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng giảm còn dẫn đến nguy cơ vỡ quỹ Bảo hiểm xã hội,đặc biệtđối với các hệ thống trả lương hưu nhưở Việt Nam theo kiểu cứ nghỉ hưu là trảlương hưu trong đó những người lao động hiện tại chi trả cho những người đangnghỉ hưu

Hình 2.1: Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già” của một số nước

Trang 13

Nguồn: Kinsella và Gist, 1995; U.S Census Bureau, 2005; Việt Nam: GSO (2010), theo UNFPA (2011)

So với các quốc gia khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triểnhoặc có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn, tốc độ già hóa dân số ViệtNam khá cao Hay thời gian cần thiết để chuyển từ giai đoạn “già hóa” sang “già”

là ngắn hơn nhiều nước (Hình 1): Pháp mất 115 năm, Mĩ mất 69 năm, Nhật Bản vàTrung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất có 20 năm

Từ tất cả các yếu tố nêu trên, có thể thấy Việt Nam đang đối diện với “sự giàhóa” nhanh chóng Với điều kiện phát triển kinh tế và xã hội như hiện nay thì đây

là một thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với dân số “già hóa”nhanh Việt Nam có thể sẽ trở thành một nước già trước khi giàu Nhiều nước giàhóa dân số diễn ra từ lâu, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm đối phó với thựctrạng này Trong khi đó, ở Việt Nam thời gian qua chính sách dân số ở nước ta tậptrung vào vấn đề giảm sinh nên các công trình nghiên cứu cũng mới chỉ tập trungvào mức sinh và kế hoạch hóa gia đình, còn rất ít các công trình nghiên cứu toàn

Trang 14

diện và sâu về người cao tuổi Do vậy, ngay từ bây giờ cần đẩy mạnh nghiên cứuquá trình già hóa dân số ở nước ta làm cơ sở cho việc xây dựng và thực thi chínhsách, chiến lược quốc gia nhằm đối phó với xu hướng già hóa dân số diễn ra ngàycàng nhanh, mạnh Nhằm nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi cũng như

ổn nền kinh tế trong trung và giài hạn

III TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

Trong nhiều thập niên qua, các nhà kinh tế và các nhà học giả nghiên cứu xãhội đã tranh luận về ảnh hưởng của biến động dân số đối với tăng trưởng kinh tế.Người ta đưa ra 3 luận điểm về khả năng tác động: Dân số tăng làm hạn chế tăngtrưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc trung tính, không liên quan gì đếntăng trưởng kinh tế Có nhiều lập luận được đưa ra nhằm lý giải cho những luận

điểm này Tuy nhiên, những lập luận đó đều dựa trên vấn đề quy mô và tăng trưởng dân số Trong những năm gần đây, cuộc tranh luận đã nêu và nhấn mạnh một số vấn

đề cốt yếu, cơ cấu tuổi của dân số (phân bố của các nhóm tuổi khác nhau của dân

số) Cơ cấu tuổi thay đổi đáng kể khi dân số tăng trưởng

Theo Blooom, Canning và Sevilla (2011) thìhành vi kinh tế của con người

thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời, những thay đổi trong cơ cấu tuổi của một quốc gia có thể gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế của quốc gia đó Các quốc gia có tỷ lệ trẻ em cao sẽ phải dành nguồn lực nhiều hơn đầu tư cho chăm sóc trẻ em do vậy làm chậm đi nhịp tăng trưởng của kinh

tế Ngược lại, nếu phần lớn dân số quốc gia nằm trong độ tuổi lao động, năng xuất lao động tăng thêm của nhóm dân số này có thể tạo ra lợi tức dân số và kéo theo tăng trưởng kinh tế với giả thiết có được các chính sách phát huy lợi thế này Thực tế, hiệu quả tổng hoà của việc có nhóm dân số độ tuổi lao động với quy mô lớn và sức khỏe, gia đình, lao động, tài chính và các chính sách nguồn nhân lực có thể tạo ra những chu kỳ phát triển của cải vật chất tốt Và nếu người già chiếm một tỷ lệ lớn trong dân số quốc gia, thì cũng chịu ảnh hưởng như quốc gia có dân số rất trẻ Phân chia nguồn lực cho các bộ phận

Trang 15

dân số có năng xuất lao động tương đối kém là cần thiết, nhưng điều đó có thể cản trở việc tăng trưởng kinh tế Sau khi lần lại các bước phát triển của các lý thuyết về ảnh hưởng của tăng trưởng dân số, các tác giả đã xem xét lại các bằng chứng cho thấy những ảnh hưởng tương tự đối với tăng trưởng kinh tế do

thay đổi cơ cấu tuổi Nghiên cứu cũng đánh giá mối quan hệ giữa biến động

dân số và phát triển kinh tế ở một số vùng cụ thể như: Đông Á, Nhật Bản, OECD, Bắc Mỹ và Tây Âu; Trung -Nam Á và Đông Nam Á; Mỹ La tinh; Trung Đông và Bắc Phi; Tiểu Xa-ha-ra Châu Phi; Đông Âu và Liên Xô cũ Sau hết, các tác giả bàn luận xoay quanh các biến chính sách chủ yếu, gắn kết giảm mức sinh với tăng nhóm dân số trong độ tuổi lao động, đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế ở một số khu vực của thế giới đang phát triển.

Trong khi đó theo Nguyễn Thị Minh(2009)- nghiên cứu thực nghiệm về tác

động của cơ cấu tuôi của dân số tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Thống kê chothấy, trong những năm gần đây, số người trong độ tuổi lao động của Việt Namđang tăng lên đáng kế đi liền với sự suy giảm của tỉ lệ phụ thuộc trong dân số Sựthay đôi này đã và đang tạo ra cơ hội tốt cho nền kinh tế đê thúc đấy tăng trưởng,

ít nhất là trong ngắn và trung hạn Các kết quả ước lượng từ mô hình hồi quy cũngchỉ ra rằng Việt Nam đang tận dụng được cơ hội này: sự thay đổi trong cơ cấutuôi của dân số đã đóng góp tới 15% cho tăng trưởng trong những năm gần đây.Bên cạnh đó khác với nhóm tuổi trẻ em, mặc dù bị xếp vào nhóm người phụ thuộcnhưng những người già ở Việt Nam dường như không hề gây nên những tác độngtiêu cực tới tăng trưởng kinh tế

Cũng trong một nghiên cứu gần đây, GS.TS Nguyễn Đình Cử (2012) đã chỉ

ra rằng Những biến đổi dân số có tác động đến tăng trưởng kinh tế trong quá khứ

và tương lai:Từ 1989 đến 1999, tỷ lệ tăng dân số giảm, tỷ lệ dân số trong độ tuổilao động tăng đã đóng góp vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm là 0,83%.Tương tự, giai đoạn 1999-2009 là 1,19% và giai đoạn 2009-2019 là 0,2%

Cũng theo ThS Bùi Thị Minh Tiệp (2011) Tăng trưởng kinh tế của

Việt Nam thời gian qua cũng đã có những cải thiện rõ rệt nhờ vào quá trình đổimới kinh tế và có sự đóng góp tích cực của lực lượng lao động ngày càng gia

Trang 16

tăng do quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số mang lại Dân số trong độ tuổi laođộng tăng là yếu tố tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Khi tỷ lệ dân

số trong tuổi lao động (15-60 tuổi) tăng thêm 1% thì tăng trưởng kinh tế tăng thêm2,78% Hiện nay, lực lượng lao động trẻ và dồi dào là đặc trưng cơ bản và rõ rệtnhất của cơ cấu dân số nước ta Lực lượng lao động lớn và có kỹ năng sẽ giúpViệt Nam thâm nhập nhanh hơn và sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.Cần phải quan tâm thích đáng tới vấn đề tạo việc làm và đào tạo lao động bằng cácchính sách cụ thể như: chính sách giáo dục đào tạo, chính sách lao động, việclàm… Dân số trong tuổi lao động tăng mạnh làm cho tiết kiệm tăng lên, từ đóđóng góp cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế Khi dân số trong độ tuổi lao động tănglàm gia tăng tiết kiệm và tái đầu tư trong xã hội, 1% gia tăng của vốn đầu tư sẽ làmtăng 0.4% GDP Lực lượng lao động dồi dào, có việc làm với thu nhập ngày càngcao sẽ là nguồn đóng góp lớn cho quỹ an sinh xã hội, bên cạnh đó đóng góp tíchcực cho tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, chuẩn bị sẵn sàng cho một tương laidân số già ở giai đoạn tiếp theo

Trong bài nghiên cứu Impact of population aging on Asia’s future growth của Donghyun Park and Kwanho Shin 2 tác giả đã ước tính được ảnh hưởng của tỷ

lệ người cao tuổi phụ thuộc và tỷ lệ thanh thiếu niên tới bốn nguồn tăng trưởngtrong 12 nền kinh tế: lực lượng tham gia lao động, TFP, vốn tỷ lệ lao động, và tỷ lệtiết kiệm Chính xác hơn, đo lường tác động của việc già hóa tới tốc độ tăng trưởngGDP/người (=Y/P) dựa trên phương trình

Trang 17

trình, nhưng hệ thống đó sẽ quá phức tạp Để đơn giản hóa việc phân tích, 2 nhànghiên đã giả định rằng thành phần đầu tiên và cuối cùng, lực lượng tham gia laođộng và giáo dục, được xác định một cách độc lập Chúng tôi cho rằng tỷ lệ thamgia lao động được xác định chủ yếu bởi mức độ GDP bình quân đầu người và bởicác yếu tố nhân khẩu học

Biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng của lực lượng lao động bình quân đầungười, đó là, lực lượng lao động chia cho tổng dân số Các biến độc lập là tỷ lệ phụthuộc tuổi già, tỷ lệ trẻ em phụ thuộc GDP/người và GDP/ người bình phương Cảhai biến phụ thuộc và biến giải thích là giá trị trung bình mười năm

Hồi quy trong 2 trường hợp hiệu ứng ngẫu nhiên hiệu ứng cố định cho kết quả là:

tỷ lệ phụ thuộc tuổi già đóng vai trò đáng kể trong cả hai kết quả, trong khi tỷ lệphụ thuộc trẻ chỉ đáng kể duy nhất trong hiệu ứng hồi quy cố định Theo dự kiến,

cả hai hệ số đều tiêu cực Các hệ số cho thấy nếu tỷ lệ phụ thuộc người già tăng10% thì tốc độ tăng trưởng lao động bình quân đầu người sẽ giảm, hoặc bằng0,56% (hiệu ứng ngẫu nhiên) hoặc 0,68% (hiệu ứng cố định) Hiệu ứng này dựkiến sẽ kéo dài trong mười năm Vì vậy, như mong đợi, kết quả của nghiên cứu chỉ

ra rằng sự thay đổi nhân khẩu học có tác động đáng kể đến lực lượng tham gia laođộng

Với kết quả hồi quy của Donghyun Park and Kwanho Shin chúng tôi thấy

có thể bỏ biến tỷ lệ trẻ em phụ thuộc để đơn giản hóa mô hình nếu cần thiết bởi tácđộng của nó tới tang trưởng là không lớn

Tuy nhiên Bloom, Canning xem xét sự ảnh hưởng của già hóa dân số qua

Với những giả định trong nghiên cứu

1)y=logY P ,z=logWA Y ,w=log WA P

Ngày đăng: 24/06/2015, 16:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam - TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam (Trang 10)
Bảng 2.2: Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979 - -2049 - TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Bảng 2.2 Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979 - -2049 (Trang 11)
Bảng 2 cho thấy, chỉ số già hóa sẽ vượt ngưỡng 100 vào khoảng năm 2033. Đây là thời điểm Việt Nam bắt đầu có dân số cao tuổi nhiều hơn dân số trẻ em - TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Bảng 2 cho thấy, chỉ số già hóa sẽ vượt ngưỡng 100 vào khoảng năm 2033. Đây là thời điểm Việt Nam bắt đầu có dân số cao tuổi nhiều hơn dân số trẻ em (Trang 11)
Hình 2.1: Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già” của một số nước - TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Hình 2.1 Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già” của một số nước (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w