1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

259 229 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 259
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ThS.Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang 112 16 Tự học, tự nghiên cứu của giáo viên hướng đến nâng cao năng lực và phẩm chất cần thiết cho học sinh 18 Tăng cường vai trò lãnh đạo của giáo viên – Giải

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC,

TỰ NGHIÊN CỨU CHO GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tháng 11-2013

Trang 2

2

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 1: Tự học, tự nghiên cứu và các giải pháp nâng cao năng lực

tự học, tự nghiên cứu cho đội ngũ giáo viên phổ thông

1 Tự học là con đường để hoàn thiện và phát triển nghề nghiệp của giáo

viên phổ thông

PGS.TS Ngô Minh Oanh

17

2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của giáo viên

NGND Nguyễn Nghĩa Dân

5 Tự học,tự nghiên cứu đối với giáo viên phổ thông – những năng lực

quan trọng để dạy học sinh viết tự học, tự nghiên cứu

ThS Hồ Sỹ Anh

39

6 Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của đội ngũ giáo viên phổ

thông – Một giải pháp thiết yếu của đối mới giáo dục

TS Nguyễn Thị Thọ, TS Nguyễn Thị Phương Thủy

8 Giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho đội ngũ giáo

viên phổ thông, đáp ứng yêu cầu đôi mới giáo dục

ThS Nguyễn Thị Mai Thảo

61

9 Môi trường học thúc đẩy phát triển chuyên môn liên tục của giáo viên

liên tục của giáo viên

11 Tổ chức tốt việc tự học cho giáo viên phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu

đối mới giáo dục

ThS Trần Thị Huyền

82

1

12

Những yếu tố làm hạn chế khả năng tự học và tự nghiên cứu của người

giáo viên ở trường phổ thông

Nguyễn San Hà

86

13 Một số giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên

ở trường THPT vùng sâu ThS Huỳnh Văn Thế

90

Trang 4

4

14 Nâng cao hiệu quả hoạt động tự học và tự nghiên cứu môn sinh học cho

đội ngũ giáo viên phổ thông hiện nay

ThS Lê Thị Thanh

104

15 Yêu cầu giáo viên phổ thông tự học,tự nghiên cứu – Bắt nguồn từ đâu?

ThS.Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang

112

16 Tự học, tự nghiên cứu của giáo viên hướng đến nâng cao năng lực và

phẩm chất cần thiết cho học sinh

18 Tăng cường vai trò lãnh đạo của giáo viên – Giải pháp nâng cao tính

tich cực,chủ động và năng lực tự học của giáo viên trong nhà trường

21 Người giáo viên phổ thông và vấn đề tự học, tự nghiên cứu

ThS Trương Thu Trang

143

22 Những nội dung tự học nhằm hình thành và phát triển năng lực sư phạm

cho giáo viên trung học phổ thông

TS Nguyễn Thị Hà Lan

148

Phần 2 Trang bị năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên tại

các trường sư phạm

23 Công tác đào tạo ở các trường sư phạm và vấn đề nâng cao năng lực tự

học, tự nghiên cứu cho đội ngũ giáo viên tương lai

PGS.TS Phạm Xuân Hậu, ThS.Phạm Thị Thu Thủy

159

24 Phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và năng lực nghề cho sinh

viên cao đẳng sư phạm qua phân môn văn học Việt Nam

Th.S Đào Phương Huệ, Th.S Nguyễn Thu Hà

26 Đổi mới căn bản và toàn diện hoạt động rèn luyện kỹ năng nghiên cứu

khoa học ứng dụng cho sinh viên sư phạm

Hoàng Ngọc Hùng

189

27 Vai trò kỹ năng quản lý thời gian đối với hoạt động tự học của sinh viên

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Hoàng Thị Phương

205

Trang 5

28 Nghiên cứu khoa học với việc nâng cao năng lực nghề nghiệp cho sinh

viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay, thực trạng và giải pháp

30 Giải pháp hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên

ngành sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường CĐSP Kon

Tum

TS Nguyễn Văn Giang

227

31 Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên sư phạm – cầu nối nâng cao

chất lượng tự học cho giáo viên trung học phổ thông

ThS Trần Thị Hà Giang

233

32 Phát triển năng lực tự học cho sinh viên sư phạm – Yêu cầu cấp bách

trong đổi mới đào tạo ở các trường đại học sư phạm

TS Nguyễn Dương Hoàng

243

33 Các kỹ năng cần hình thành cho sinh viên ngành sư phạm để đáp ứng

yêu cầu hướng dẫn rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh

Trang 6

6

Trang 7

BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU CHO GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI

GIÁO DỤC

Ban Biên tập Hội thảo

Với mục đích thấy được thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực

tự học, khả năng nghiên cứu cho đội ngũ giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam trong giai đoạn tới, Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa

học: ―Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng

yêu cầu đổi mới giáo dục‖

Hội thảo đã nhận được 75 bài viết rất tâm huyết của các nhà khoa học, đội ngũ nghiên cứu giáo dục, giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng; các thầy cô giáo ở trường phổ thông và của các em sinh viên sư phạm… trên phạm vi toàn quốc Ban tổ chức rất xúc động khi nhận được nhiều bài viết của các thầy cô giáo đang công tác ở các vùng sâu, vùng xa của các tỉnh khó khăn vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Vùng đồng bằng sông Cửu Long; Một số trường học đã đưa các chủ đề về tự học ra cho hội đồng sư phạm thảo luận, viết bài như Trường Tiểu học Đoàn Kết, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh và đã gửi đến Hội thảo 29 bài viết… Chúng tôi thật sự cảm kích trước sự hưởng ứng nồng nhiệt của các tác giả!

Hệ thống nội dung khái quát của các bài viết đã cho thấy các tác giả đã đi đúng hướng của Hội thảo Các bài viết tập trung nêu lên cơ sở lý luận và thực tiễn của tự học, tự nghiên cứu nói chung và của giáo viên phổ thông nói riêng, nêu lên thực trạng

và những hạn chế của trong việc tự học, khả năng nghiên cứu của đội ngũ giáo viên phổ thông hiện nay, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của người giáo viên và của sinh viên sư phạm – những thầy, cô giáo tương lai

Nội dung của Hội thảo được chia làm 2 phần:

Phần 1: Năng lực tự học, tự nghiên cứu và các giải pháp nâng cao năng lực

tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông

Trong phần này, nhiều tác giả đã đề cập nhiều phương diện khác nhau về tự học, tự nghiên cứu của giáo viên: lý luận, mối quan hệ giữa tự học và nghề giáo, tính cấp thiết, thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông

Trang 8

8

Về phương diện lý luận về tự học, tự nghiên cứu, khá nhiều tác giả đã nêu ra, tiêu biểu là các tác giả: Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Nghĩa Dân (Hội Khuyến học Việt Nam), PGS.TS Võ Thị Minh Chí (Khoa Tâm Lý, Trường ĐHSP Hà Nội), ThS.Phạm Quang Huân (Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường ĐHSP Hà Nội), ThS.Hồ Sỹ Anh (Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh), đã đề cập đến tự học, tự nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau Các tác giả

tập trung nêu lên quan điểm tự học của Hồ Chí Minh ―Về cách học phải lấy tự học

làm cốt‖, của một số nhà giáo nổi tiếng như: GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn, Nhà giáo

Nguyễn Văn Đạo, Nhà giáo Nguyễn Kỳ… Về quan điểm tự học của các nhà khoa học của thế giới, đa số các tác giả trích dẫn định nghĩa tự học của nhà Tâm lý học người Nga N.A.Rabukin: ―Tự đi tìm kiến thức có nghĩa là tự học‖ Đây chính là quan điểm thống nhất của nhiều tác giả về tự học Tuy nhiên, về khái niệm ―Tự nghiên cứu‖ ít tác giả đề cập, vì nhiều người cho rằng tự nghiên cứu cũng là một hình thức

tự học, nhưng cao hơn tự học Vấn đề này sẽ được đại biểu thảo luận thêm, đồng thời phân tích, lý giải vì sao giáo viên phổ thông hiện nay cần phải biết nghiên cứu khoa học

PGS.TS Võ Thị Minh Chí, khoa Tâm lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã

nói rất sâu sắc đến “Tính cấp thiết của việc tự học đối với các nhà giáo” Tác giả khẳng định: “Tự học không chỉ là một phương tiện phát triển bản thân mỗi người

mà còn là cơ hội phát triển nghề nghiệp của họ” Chúng tôi cho rằng, ý kiến của

tác giả Võ Thị Minh Chí về tự học nằm ở diện rộng, tác giả đã nói cho mọi người, mọi ngành, mọi nghề, học để biết, học để tự năng cao trình độ bản thân, học để sống… Đối với giáo viên, tự học rất cần thiết, khả năng này phải có trong họ, họ sở hữu khả năng này một cách bản năng, nghĩa là nói đến giáo viên là nói đến khả năng

tự học Chính vì vậy, chúng tôi rất thống nhất với ý kiến của PGS.TS Võ Thị Minh

Chí: “… Để dạy người khác, thầy giáo không phải chỉ có kiến thức về lĩnh vực của

mình, làm chủ được phương pháp dạy học môn học mà còn phải có kiến thức về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, phải là người có văn hóa theo nghĩa rộng của nó Công cụ giúp cho tăng trưởng nghề nghiệp và hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ của thầy giáo chính là tự học”

Đồng quan điểm với PGS.TS Võ Thị Minh Chí về vấn đề tự học của giáo viên, PGS.TS Ngô Minh Oanh, Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh cũng cho rằng, tự học của giáo viên phổ thông là vấn đề tất yếu, là khả năng vốn dĩ để phù hợp với thời đại; hoàn thiện và phát triển nghề nghiệp, để không tự tách mình ra khỏi ―cộng đồng‖ giáo dục Trong bất kỳ xã hội nào, giai đoạn nào của lịch sử, giáo viên cũng luôn đề cao vấn đề tự học, tự trau dồi tri thức, tự làm mới mình trước sự bùng nổ thông tin tri thức, đó là giáo viên không chỉ tự trau dồi khả năng chuyên môn mà còn các kiến thức phương tiện như Ngoại ngữ, Tin học, các loại kiến công cụ này sẽ là chìa khóa mở các kho kiến thức chuyên môn để giáo viên tiếp cận PGS.TS Ngô Minh Oanh đã đưa ra ba lý do buộc giáo viên phải tự

học: Thứ nhất, thời gian học ở giảng đường có xu hướng ngày càng rút ngắn, nhà

trường chỉ cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, tinh túy, và cách tiếp cận;

Trang 9

Thứ hai, sự phát triển không ngừng của cuộc sống, nhất là cuộc cách mạng của khoa

học công nghệ đang phát triển như vũ bão, khối lượng kiến thức không ngừng nâng

cao; Thứ ba, sự thay đổi nhanh chóng của phương pháp tiếp cận trong lĩnh vực giáo

dục Tác giả chỉ ra xu thế đào tạo giáo viên, sự phát triển của tri thức nhân loại, có được nhận thức sâu sắc về trách nhiệm nhà giáo thời đại mới, vấn đề tự học đối với tác giả không còn là phong trào mà phải trở thành thành ý thức, là điều cần có, phải

có Thiếu khả năng này là đồng nghĩa với việc giáo viên tự tách mình ra ngoài công cuộc đổi mới giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ cho đất nước

Nhà Giáo Nhân dân Nguyễn Nghĩa Dân, Trung tâm phát triển tự học, Hội khuyến học Việt Nam, đã có bài phân tích sâu sắc về sự ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan đến năng lực tự học của giáo viên Theo tác giả, yếu tố chủ quan rất quan trọng, đó là: tự học tiếp thu kiến thức, để biến kiến thức đó thành sở hữu của mình và tâm thế tự học, đây là yếu tố đầu tiên vô cùng quan trọng Tâm thế

đó được hình thành là điều kiện số một của tự học, vì không có tâm thế thì không có

gì hết Bên cạnh tâm thế tự học, có các yếu tố chủ quan như nhận thức đầy đủ sứ mệnh của mình, đó là phương pháp và năng lực tự học của sinh viên sư phạm cũng như của giáo viên Hai tác giả TS.Nguyễn Thị Thọ và TS.Nguyễn Thị Phương Thủy, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, nêu lên sự cần thiết phải tự học, tự nghiên cứu của

mỗi giáo viên Hai tác giả khẳng định: “Đối với mỗi giáo viên, để dạy tốt không thể

không tích cực tự giác tự học, tự nghiên cứu để làm mới mình Bài dạy sẽ tốt hơn trên cơ sở tự nghiên cứu, biến những điều đã có thành cái của mình” Tự làm mới

mình ở đây chính là nói đến năng lực ―tự phát triển‖, một năng lực của giáo viên mà nhiều nước trên thế giới rất coi trọng, đây chính là yếu tố đảm bảo thành công cho

các lần đổi mới giáo dục Cùng quan điểm này, ThS.Hồ Sỹ Anh, cho rằng: ―Năng

lực tự học, tự nghiên cứu là những năng lực quan trọng để dạy và hướng dẫn học sinh biết tự học, tự nghiên cứu‖, Tác giả khẳng định ―…sẽ khó có thể tạo ra một lớp học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu nếu như người thầy chưa biết cách học hiệu quả hoặc lúng túng trong việc tự học, tự nghiên cứu‖,

Từ góc độ tâm lý học, TS.Trương Công Thanh, Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, đã đưa ra một số cơ sở định hướng cho hoạt động bồi dưỡng của giáo viên, đó là: bồi dưỡng dựa vào mức độ hiệu quả hoạt động sư phạm (HĐSP), dựa vào nội dung HĐSP và dựa vào phân tích tâm lý học bài học Đây là những cơ sở định hướng để mỗi giáo viên phổ thông tự liên hệ với bản thân, để xác định những gì mình thiếu trong HĐSP mà tự bồi dưỡng Về mức độ hiệu quả của HĐSP, Tác giả đã nêu ra 5 mức khác nhau, từ đó, mỗi giáo viên có thể tự đánh giá hiệu quả HĐSP của mình, xác định những gì cần bồi dưỡng, rèn luyện Cũng theo hướng này, tác giả Nguyễn Thị Thúy, Trường THPT Nguyễn Du, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đưa ra vấn đề: môi trường tự học thúc đẩy phát triển chuyên môn liên tục của giáo viên Theo Tác giả, các môi trường học tập bao gồm: Môi trường học tập tập trung vào người học, môi trường học tập tập trung vào kiến thức, môi trường học tập dựa vào đánh giá và môi trường học tập dựa vào cộng đồng Trong

Trang 10

do lao động của giáo viên quá lớn (một nghiên cứu của PGS.TS Vũ Trọng Rỹ cho

thấy giờ lao động của giáo viên tiểu học cao hơn 1,5 lần, giáo viên THCS cao hơn 1,7 lần và giáo viên THPT cao hơn 1,8 lần so với quy định của Nhà nước) Bên cạnh

đó, phong trào thi đua dạy tốt, làm sáng kiến kinh nghiệm phát động thường xuyên hằng năm, nhưng có lúc, có nơi chỉ dừng lại ở phong trào, dẫn đến chất lượng các sáng kiến kinh nghiệm chưa cao

Tác giả Huỳnh Văn Thế, giáo viên Trường THPT Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long,

đã có bài viết “Một số giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo

viên ở trường THPT vùng sâu” phân tích khá sâu về thực trạng dạy học và các công

tác xung quanh việc dạy học, đặc biệt là vấn đề tự học, nghiên cứu của giáo viên Tác giả đã đưa ra những điều kiện ảnh hưởng đến việc tự học và nghiên cứu khoa học của giáo viên hiện nay Tác giả cho rằng, giáo viên không có thời gian tự học, vì thời gian trên lớp quá nhiều Về mặt nghiên cứu của giáo viên, tác giả Huỳnh Văn Thế đã đặt ra câu hỏi: Nghiên cứu khoa học để làm gì, thời gian nghiên cứu lại chiếm hết thời gian dạy học, làm chậm tiến độ giảng dạy,…Chúng tôi cho rằng, đây là cách lý giải thiếu thuyết phục và đề nghị Hội thảo bàn luận làm rõ cách thức nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, tác dụng của nghiên cứu khoa học đối với giáo viên phổ thông! Chúng tôi rất đồng ý với cách nêu thực trạng quản lý và sử dụng sản phẩm nghiên cứu khoa học mà tác giả nêu ra, đây cũng là tình trạng chung của nhiều trường Ở khía cạnh khác, ThS Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang, Trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh đưa ra cảnh báo đối với các cấp quản lý giáo dục khi xây dựng chủ trương, chính sách và kế hoạch về tự học của giáo viên không nên áp đặt hoặc mang tính hình thức,

mà phải dựa vào chính nhu cầu của từng giáo viên, có tác dụng động viên, khuyến khích giáo viên tự học, tự nghiên cứu

Trang 11

Phần trọng tâm của Hội thảo là giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên Phần này mang lại những cách thức nâng cao khả năng tự học và nghiên cứu một cách thiết thực cho giáo viên Bởi đây là phần chỉ ra những con đường cụ thể, những hướng đi hiệu quả để giáo viên duy trì các khả năng tự học, nghiên cứu Ở phần này, chúng tôi đã nhận rất nhiều sự quan tâm chia sẻ và đề xuất giải pháp từ các đồng nghiệp

Thứ nhất, chúng tôi có thể nhắc đến công trình của ThS.Phạm Quang Huân, Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tác giả đã đưa ra 3 bước trong cách tổ chức bồi dưỡng các kỹ năng tự học cho giáo viên:

Bước 1: Hướng dẫn giáo viên các kỹ năng phân tích các hoạt động giảng dạy Bước 2: Hướng dẫn giáo viên cách thức giải quyết vấn đề

Bước 3: Tổ chức thảo luận góp ý vào kế hoạch tự học

Ngoài ra, Tác giả còn đưa ra cách xây dựng động cơ tự học, xây dựng những điều kiện để nâng cao chất lượng hoạt động tự học

Đề cao vai trò của người quản lý đối với viêc phát triển khả năng tự học, khả năng nghiên cứu của giáo viên còn có các tác giả như TS Nguyễn Thị Thọ, TS Nguyễn Thị Phương Thủy, ThS Phạm Quang Huân, Tất cả đều cho rằng, công tác

dự giờ, đánh giá chất lượng giờ dạy thường xuyên vẫn là giải pháp tối ưu cho việc phát triển ý thức tự học, khả năng nghiên cứu của giáo viên Thế nhưng, ở tác giả Phạm Quang Huân, chúng tôi thấy có những giải pháp cụ thể hơn, và tối ưu hơn Giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên phổ thông cũng được nhiều tác giả đề cập ThS Lê Thị Thanh, Trường Đại học Đồng Tháp đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả tự học đối với giáo viên Sinh học; ThS Nguyễn Quốc Toàn, Trường THPT chuyên Hoàng Lê Kha – Tây Ninh nêu lên vai trò Internet đối với tự học của giáo viên môn Lịch sử Các tác giả Trần Mai Ước, Trương Thu Trang đã đề xuất các giải pháp tự học đối với giáo viên và nhà trường phổ thông ThS Nguyễn Thị Ngọc Liên đưa ra giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của giáo viên hoặc Nguyễn San Hà và Trần Thị Ngọc Lan đề cập đến vai trò của bảo tàng đối với việc nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của giáo viên…

Phần 2: Trang bị năng lực tự học, tự nghiên cứu cho người giáo viên tương lai trong các trường sư phạm

Nói về khả năng tự học, tự nghiên cứu của giáo viên phổ thông, nhiều tác giả đề cao vai trò đào tạo của trường sư phạm Trường sư phạm cần đổi mới chương trình, nội dung và đặc biệt là phương pháp Dạy cho sinh viên kiến thức là cần thiết nhưng dạy cho sinh viên cách tiếp cận tri thức là quan trọng hơn Bởi sinh viên là lớp trí thức trẻ bắt đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, nên giảng viên cần giúp cho sinh viên tự phát triển khả năng tự học Tiêu biểu cho luận điểm này là PGS.TS Phạm Xuân Hậu và ThS Phạm Thị Thu Thủy, Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh Hai tác giả đều đề cao vai trò của trường sư phạm trong công tác

Trang 12

12

đào tạo và cho rằng, thay đổi là kế thừa và bổ sung về các phương diện: mô hình, chương trình, nội dung và phương pháp Đặc biệt, cả hai đều tán đồng quan điểm về chất của giáo viên mà PGS.TS Bùi Minh Trí đưa ra ở Hội nghị ―Đổi mới giáo dục

Việt Nam hội nhập và thách thức‖ do Bộ GD & ĐT tổ chức năm 2004: “Có kiến

thức cơ bản về chuyên ngành; có sức khỏe tốt; có năng lực tự học, tự bồi dưỡng;

có năng lực áp dụng kiến thức vào việc làm cụ thể; có năng lực sáng tạo, phân tích, phê phán, giải quyết vấn đề; có trình độ ngoại ngữ và tin học tốt; có sự hiểu biết sâu rộng; có năng lực hiểu biết và quản lý kinh tế; có khả năng tổ chức, hợp tác và tinh thần đồng đội; có phẩm chất chính trị; có nhân cách và đạo đức kinh doanh” Hai tác giả đã đưa ra nhiệm vụ đào tạo giáo viên trong thời kỳ mới là chú

trọng về thời gian đào tạo, nội dung đào tạo từng giai đoạn, quy mô lớp học, đào tạo

ở trường sư phạm gắn với trường phổ thông Chúng tôi cho rằng, đây là mô hình đào tạo giáo viên mà các trường sư phạm cần thực hiện, nhằm ngăn chặn sự đào tạo ồ ạt đang diễn ra hiện nay các trường sư phạm ở các tỉnh hay các trường mới nâng cấp, thành lập có khoa sư phạm

Ở Hội thảo này, giải pháp rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm đã được nhiều tác giả đề cập đến với những góc độ và khía cạnh khác nhau Tác giả Hoàng Thúc Lân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nêu lên mối quan hệ giữa nghiên cứu khoa học (NCKH) với nâng cao năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm Tác giả đề cập đến vai trò của NCKH đối với sinh viên sư phạm,

đó là: (1) NCKH giúp sinh viên rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo; (2) NCKH

giúp sinh viên bổ sung, cập nhật kiến thức; (3) NCKH giúp sinh viên có khả năng rèn luyện tư duy sáng tạo cho người học sau này; Và (4) NCKH giúp sinh viên nhìn nhận vấn đề một cách hệ thống, logic, khách quan, khoa học Vấn đề NCKH

đối với học sinh phổ thông đã được Bộ GD&ĐT triển khai khoảng 4 năm gần đây và được coi là một trong những điểm nhấn mới của GD&ĐT nước ta hiện nay Vì vậy, sinh viên sư phạm cần phải trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng tự học, nghiên cứu khoa học để hướng dẫn học sinh NCKH sau này Cùng quan điểm này, tác giả Hoàng Ngọc Hùng, Trường ĐHSP Đà Nẵng nêu lên vấn đề cần đổi mới căn bản và toàn diện hoạt động rèn luyện kỹ năng NCKH ứng dụng cho sinh viên sư phạm, để sau này ra trường, họ tiếp tục nghiên cứu ở trường phổ thông

Một số bài viết của các tác giả nêu lên giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm ở những bộ môn khác nhau Hai tác giả ThS Đào Thị Huệ và ThS Nguyễn Thu Hà, khoa Xã hội, Trường CĐSP Hà Tây, Hà Nội đề cập đến việc phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên cao đẳng sư phạm thông qua phân môn Văn học Việt Nam Tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng, Trường ĐHSP Hà Nội đề cập đến việc rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm TS.Hà Thị Lịch và ThS Đỗ Khắc Thanh đã đề xuất các giải pháp bổ ích nhằm tăng cường chất lượng hoạt động tự học cho sinh viên sư phạm…

Vấn đề tự học, tự nghiên cứu của giáo viên phổ thông không phải được đặt ra bây giờ, mà trong lịch sử phát triển giáo dục nước nhà, vấn đề này đã được đặt ra và

Trang 13

đã có những thành công nhất định GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn trả lời câu hỏi: “Nhờ

đâu mà chất lượng giáo dục thời trước tốt?”, một cách quyết đoán: “Không phải

nhờ trình độ của thầy, vì đa số thầy không được đào tạo chuẩn; không phải nhờ vào cơ sở vật chất, vì trường lớp đều tạm bợ mà chính nhờ vào TỰ HỌC, tự học của trò và tự học của thầy” Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua, việc tự học, tự

nghiên cứu của giáo viên chưa được các nhà trường coi trọng, dẫn đến năng lực tự học, tự nghiên cứu của giáo viên còn hạn chế, không đáp ứng với sự đổi mới liên tục của cuộc sống và của giáo dục

Bước vào giai đoạn mới, trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đổi mới chương trình, sách giáo khoa theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh…, vấn đề tự học, tự nghiên cứu trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết

34 bài viết được đăng trong ký yếu này đã thể hiện tâm huyết và trăn trở của các nhà khoa học, nhà giáo, các em sinh viên sư phạm Các tác giả đã được đề cập về tự học, tự nghiên cứu của giáo viên, trên các phương diện: lý luận, thực trạng, giải pháp,

và định hướng phát triển tự học, tự nghiên cứu Ban Tổ chức Hội thảo hy vọng rằng những tham luận được trình bày trên diễn đàn, cũng như những bài viết được đăng trong kỷ yếu sẽ được quan tâm chú ý, trao đổi và thảo luận tại Hội thảo Trong khuôn khổ của Hội thảo này, chúng tôi hy vọng các đại biểu có thể tìm được tiếng nói chung, để sau Hội thảo chúng ta có những tác động tích cực, định hướng cho các trường phổ thông, trường sư phạm trong việc nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của giáo viên và sinh viên sư phạm

Do khuôn khổ của Kỷ yếu có hạn, Ban Tổ chức không thể đăng hết các bài của các tác giả gửi đến Hội thảo, mong các nhà khoa học thông cảm Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh rất mong sự cộng tác của các nhà khoa học, các nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục và các em sinh viên ở những hội thảo sau

Ban Tổ chức Hội thảo xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo ở trường ở trường đại học, cao đẳng và trường phổ thông, các em sinh viên sư phạm đã gửi bài viết tới Hội thảo và toàn thể đại biểu tham dự hôm nay Những ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự sẽ góp phần quyết định sự thành công của Hội thảo

VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC

Trang 14

14

Trang 15

PHẦN 1

TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC

TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU CHO ĐỘI

NGŨ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG

Trang 16

16

Trang 17

TỰ HỌC LÀ CON ĐƯỜNG ĐỂ HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG

PGS.TS Ngô Minh Oanh 1

Nhiều nghiên cứu khoa học về những người thành đạt đều cho thấy khả năng tự học, tự nghiên cứu và ý chí vươn lên bằng tự học rất cao Quan niệm về tự học là một quan niệm rất rộng, nó không chỉ sự học khi không có thầy bên cạnh, mà ngay cả khi học tập với sự hướng dẫn của thầy thì khả năng tự học, tự nghiên cứu cũng quyết định sự thành công trong học tập rất lớn Trong cuộc đời của một con người, thời gian ngồi trên ghế nhà trường là một thời gian ngắn so với thời gian còn lại khi ra đời Cùng với thời gian có hạn, kiến thức được thầy, cô trang bị trong nhà trường cũng chỉ là những kiến thức cơ bản nhất, trong lúc đó tri thức loài người thì thường xuyên phát triển cùng với sự phát triển không ngừng của cuộc sống Vì thế tất cả mọi người, trong đó có đội ngũ giáo viên phổ thông muốn đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp thì phải không ngừng tự học, tự nghiên cứu

Trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi người giáo viên phải có những nỗ lực cao mới hoàn thành được nhiệm vụ mà xã hội và nhân dân giao phó Ngoài việc phải có phẩm chất chính trị, dạo đức của ngưởi thầy giáo; có năng lực chuyên môn, tức là nắm vững những nội dung tri thức của bộ môn mà mình giảng dạy, người giáo viên còn phải có năng lực nghiệp vụ sư phạm để chuyển tải những kiến thức đến học sinh, tổ chức cho học sinh tích cực, chủ động tự tìm kiếm kiến thức nhằm đạt được yêu cầu kiến thức và kỹ năng theo chuẩn Người giáo viên cũng cần có những năng lực cần thiết cho hoạt động xã hội, năng lực nghiên cứu khoa học, cập nhật kiến thức và phương pháp mới để phục vụ cho dạy học có hiệu quả cao Tuy nhiên, không phải sau khi ra trường, giáo viên phổ thông nào cũng có thể có điều kiện để tham gia các lớp học liên quan để nâng cao những năng lực nói trên Vì thế, muốn hoàn thiện và nâng cao năng lực nghề nghiệp chỉ có một cách chủ yếu là bằng con đường tự học Vấn đề tự học của giáo viên phổ thông là một yêu cầu tất yếu để hoàn thiện và phát triển nghề nghiệp, nếu không muốn trở thành người ngoài cuộc trong sự vận động và phát triển của giáo dục và nhà trường Có thể kể ra đây mấy lý do buộc mọi người nói chung và giáo viên nói riêng phải chăm lo việc tự học:

Thứ nhất, như đã nói ở trên, do thời gian ngồi trên ghế nhà trường có xu hướng

ngày càng rút ngắn nên những kiến thức nhà trường trang bị cho sinh viên chỉ là những kiến thức cơ bản nhất, tinh túy nhất, chú trọng trang bị phương pháp là chủ yếu, nên người giáo viên muốn có kiến thức sâu rộng, uyên thâm trong giảng dạy thì phải tự học thêm để mở rộng kiến thức

1

Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

18

Thứ hai, với sự phát triển không ngừng của cuộc sống, nhất là cuộc cách mạng

khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, khối lượng kiến thức không ngừng tăng lên theo cấp số nhân, nếu giáo viên không tự học, tự tích lũy thêm thì sẽ trở thành người tụt hậu trong lĩnh vực chuyên môn của mình, không đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp

Thứ ba, sự thay đổi nhanh chóng của phương pháp tiếp cận khoa học, nhất là

trong lĩnh vực giáo dục Những nghiên cứu tâm - sinh lý đối tượng học sinh, những quy luật giáo dục, dạy học, những phương pháp, kĩ thuật dạy học mới ngày càng sát hơn với đối tượng giảng dạy của giáo viên là học sinh, một đối tượng luôn thay đổi nhanh chóng đòi hỏi giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng thêm những hiểu biết về khoa học giáo dục và năng lực phương pháp

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, trong đó có quan niệm mới về đổi mới phương pháp dạy học, việc thường xuyên nâng cao trình độ, cập nhật những kiến thức và phương pháp mới bằng con đường tự học có ý nghĩa sống còn với việc hoàn thiện và phát triển nghề nghiệp của giáo viên Đổi mới phương pháp dạy học là một quá trình chuyển từ ―quá trình giáo dục áp đặt, truyền đạt từ bên ngoài trở thành quá trình hoạt động của bản thân người học và người thầy từ chỗ là người truyền đạt kiến thức nay trở thành người hướng dẫn, tổ chức, trọng tài, cố vấn cho người học tiến hành các hoạt động học để đạt được mục đích giáo dục Như vậy, từ chỗ là chuyên gia về việc dạy, người giáo viên trở thành chuyên gia về việc học, thầy học.‖2 Cụ thể hơn, quá trình dạy học là giúp học sinh tìm hiểu mình học như thế nào, tức là giúp học sinh có ý thức về ý thức của mình, tư duy về tư duy của mình Người giáo viên tiến hành các hoạt động giúp học sinh tự đánh giá được các quá trình, cách thức và sách lược học, tự xác định được cái đặc trưng, cái bất biến của chúng để có thể ứng dụng vào các tình huống học mới Thực chất của quá trình học là quá trình học cách học, trong đó nhấn mạnh đến học cách tự học; và vấn đề đặt ra là người giáo viên không thể không trải qua quá trình tự học đó của học sinh mà còn phải là một sự trải nghiệm thuần thục quá trình đó, phải ―biết mười dạy một‖ mới mong quá trình ―dạy học cách học‖ đạt được hiệu quả cao

Hiện nay, bên cạnh những giáo viên có ý thức học tập nâng cao trình độ, không phải không có một bộ phận giáo viên tự bằng lòng với khả năng hiện có, cho rằng những kiến thức và phương pháp đã tiếp nhận được trong trường đại học cùng với thâm niên kinh nghiệm đã có sẽ giúp họ hoàn thành tốt thiên chức người thầy trong quá trình dạy học của mình Thực tế, trong những chu kì bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên, ngoài những hạn chế về công tác tổ chức, đội ngũ giảng viên và tính mới của các chuyên đề bồi dưỡng… một nguyên nhân không kém phần quan trọng là

ý thức chưa cao của một bộ phận giáo viên khiến cho việc vắng mặt trong các buổi học và đối phó với thi cử trở nên phổ biến Chủ nghĩa kinh nghiệm và sự tự tin thái quá đã là lực cản không nhỏ đến quá trình tự học, tự nâng cao trình độ của giáo viên phổ thông

2

Michel Develay (1998), Một số vấn đề về đào tạo giáo viên, NXB Giáo Dục, Hà Nội, Tr 4

Trang 19

Giáo viên phổ thông của chúng ta hiện nay thường là thực hiện chương trình giảng dạy theo kế hoạch đã quy định sẵn, nội dung kiến thức đã có trong chương trình và sách giáo khoa (được coi như là pháp lệnh) nên giáo viên chỉ cần thực hiện đúng kế hoạch giảng dạy và truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa, đảm bảo cho học sinh có thể tham gia tốt các kì thi là hoàn toàn yên tâm Trong các trường sư phạm chưa có những môn học về xây dựng và thiết kế chương trình nên giáo viên cũng không cần phải biết và sáng tạo các quá trình dạy học (các con đường dạy học) hướng tới một chuẩn đầu ra như quy định Giáo viên không thể hoặc không muốn đi chệch ra khỏi con đường truyền thống của dạy học là bám sát chương trình và sách giáo khoa, thiếu đi sự sáng tạo cần có để dẫn dắt học sinh đến mục tiêu một cách hấp dẫn và hiệu quả Thiết nghĩ, trong khi chờ việc thực hiện đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục mà trước mắt là đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm

2015, thì đây là một nội dung mà giáo viên phổ thông cần phải tự nghiên cứu để hoàn thiện năng lực nghề nghiệp của mình Hiện nay, ở các nước có nền giáo dục phát triển đều có nhiều bộ sách giáo khoa trên cơ sở một chương trình, vì thế một mặt giáo viên sẽ có một khoảng trời rộng mở cho sự lựa chọn những nội dung tốt nhất cho dạy học, nhưng đồng thời cũng đặt giáo viên trước thách thức là làm sao không đi chệc khỏi chương trình quy định và vẫn hướng tới mục tiêu đã định đó chuẩn đầu ra của cấp học, lớp học Với đề án Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục sau năm 2015, nền giáo dục nước ta cũng sẽ có nhiều môn học có ít nhất hai bộ sách giáo khoa và các tài liệu dạy học khác Vì thế, giáo viên chưa từng được trang bị những kiến thức

về xây dựng và thực hiện chương trình phải tự tìm hiểu để có thể vận dụng vào quá trình tìm kiếm tư liệu, thiết kế bài giảng và triển khai thực hiện bài giảng ở trên lớp… hướng tới mục tiêu đào tạo Đây là một ví dụ trong những nội dung tự học mà giáo viên cần lưu ý trong thời gian tới

Về những giải pháp cho công việc tự học của giáo viên phổ thông trong hoàn cảnh bộn bề công việc của một người giáo viên như hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng, yếu tố quan trọng hàng đầu là người giáo viên phải nhận thức được sự cần thiết và lợi ích của việc tự học, từ đó mới có quyết tâm và tìm được niềm say mê, hứng thú trong quá trình tự học, bỡi ―tự học, tự đào tạo là con đường phát triển nội sinh‖3 của mỗi người Mà chỉ có con đường phát triển bằng nội lực thì kết quả thu được mới hiệu quả và vũng chắc Hơn ai hết mỗi người giáo viên tự soi mình, biết mình đang thiếu những kiến thức gì, từ đó xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện công tác Nếu không thể theo học được các lớp bồi dưỡng kiến thức, phương pháp thì việc xây dựng cho mình một tủ sách cá nhân, trong đó chú trọng đến các loại sách công cụ như các loại từ điển, sách tra cứu chuyên môn và luôn cập nhật được các sách mới về chuyên ngành… sẽ giúp giáo viên đắc lực trong quá trình tự học Năng lực ngoại ngữ, năng lực công nghệ thông tin… cũng là những phương tiện rất quan trọng cho việc tự học

3

Nguyễn Cảnh Toàn – Nguyễn Kỳ (1997), Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo, sách Tự học tự đào tạo tư tưởng chiến lược của giáo dục Viện Nam, NXB Giáo dục, HN, tr 8

Trang 20

20

Tóm lại, con đường tự học có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thiện và phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên Với lương tâm và chức nghiệp của người thầy giáo, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mỗi giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ bằng con đường tự học mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục nói riêng và yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước nói chung

Tài liệu tham khảo

1 Thu giang Nguyễn Duy Cần (1999), Tôi tự học, NXB Thanh Niên, Hà Nội

2 Vũ Quốc Chung – Lê Hải Yến (2003), Để tự học đạt hiệu quả, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội

3 Michel Develay (1998), Một số vần đề về đào tạo giáo viên (biên dịch), NXB Giáo Dục, Hà Nội

4 Nguyễn Văn Lê (1998), Cơ sở khoa học của sự sáng tạo, NXB Giáo Dục, Hà Nội

5 Bùi Trọng Liễu (2005), Chung quanh việc học, NXB Thanh Niên, Hà Nội

6 Jurgen Wolff (2009), Tập trung – sức mạnh của tư duy có mục tiêu, NXB Lao Động – Xã Hội, Hà Nội

7 Patrice Pelpel (1998), Tự đào tạo để dạy học, NXB Giáo Dục, Hà Nội

8 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển tự học (1997), Tự học tự đào tạo tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội

Trang 21

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC TỰ HỌC

CỦA GIÁO VIÊN

NGND Nguyễn Nghĩa Dân 4

1 Năng lực tự học của giáo viên là gì?

Năng lực là ―cái sức tích trữ bên trong của người hoặc của vật‖ (Hán Việt tự điển Đào Duy Anh) Con người có các năng lực khác nhau, trong đó có năng lực học,

tự học Riêng năng lực tự học phải được rèn luyện, nâng cao thì mới phát huy được hiệu quả Giáo viên mà chúng ta bàn ở đây chủ yếu là giáo viên dạy bậc tiểu học, bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông, các đối tượng mà các trường Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm có trách nhiệm đào tạo Mục tiêu đào tạo giáo viên các bậc học này là sau khi tốt nghiệp, phục vụ ở các bậc học để đào tạo thế hệ trẻ của đất nước về nhân cách đạo đức và phần nào về nhân cách lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội của đất nước khi học sinh chính thức vào đời

Năng lực tự học của giáo viên được đào tạo ở trong các trường sư phạm trước hết là trong khi được đào tạo giáo sinh phải ý thức đầy đủ về vị trí, vai trò sứ mệnh của giáo viên từ đó biết biến quá trình đào tạo của nhà trường thành quá trình tự đào tạo của bản thân Đây là một kinh nghiệm qúy báu của những năm 60 thế kỷ XX ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đó là hai mặt tưởng như độc lập với nhau nhưng trong thực tế thì lại hết sức thống nhất với nhau Khi còn ở trên ghế trường sư phạm, người giáo sinh phải nhận thức đầy đủ định hướng của mục tiêu đào tạo của nhà trường sư phạm đối với mình và bản thân mình không được xa lìa định hướng đó Nói một cách tổng quát, người giáo sinh phải được rèn luyện theo mục tiêu đầy đủ về đức, trí, thể, mỹ trong đó quan trọng bậc nhất là đạo đức người giáo viên và năng lực của giáo viên phổ thông thông qua việc được đào tạo về tri thức khoa học mà chương trình các bậc học đã ấn định Đây là năng lực quan trọng cùng với năng lực sư phạm

mà giáo sinh đựơc đào tạo trước khi ra trường Trong quá trình được đào tạo, tất cả mọi công việc của nhà trường từ hoạch định mục tiêu, chương trình đào tạo quản lý nhà trường chỉ có thể thành công nếu chất lượng đào tạo giáo sinh tốt mà chất lượng này trước hết là ở việc tự học, tự đào tạo của giáo sinh Như vậy năng lực tự đào tạo,

tự học của giáo viên khởi đầu và rèn luyện từ lúc giáo viên còn là giáo sinh ở trường

sư phạm

Về mặt triết học, chúng ta đều biết sự vận động cuả thế giới vật chất cũng như thế giới tinh thần là do nội lực bên trong của sự vật, của sinh vật cho nên muốn có năng lực, giáo sinh phải tự rèn luyện, tự học trong quá trình học từ tiếp thu kiến thức liên quan của chương trình, nghề nghiệp sư phạm Vì vậy giáo sinh phải xác định phương hướng, nội dung tự học của mình và phấn đấu thực hiện trước khi

4

Trung tâm Nghiên cứu phát triển tự học – Hội Khuyến học Việt Nam

Trang 22

22

mình trở thành giáo viên thực thụ Năng lực đó có cốt lõi là tiếp thu kiến thức khoa học, kiến thức nghiệp vụ sư phạm cho bản thân đương nhiên cơ sở quan trọng để phát huy các năng lực này là chính trị tư tưỏng đạo đức tư cách của người giáo viên Tóm lại năng lực tự học bắt đầu được rèn luyện và hình thành phát triển

từ lúc giáo sinh bước vào ngành sư phạm rồi tiếp tục được bồi dưỡng nâng cao, có thể trong khi đang được đào tạo và đặc biệt khi đã thành giáo viên chính quy cho đến lúc về hưu hoặc không còn làm công tác giáo dục nữa

2 Thế nào là học và tự học?

1 Học là tiếp xúc tri thức khoa học, biến tri thức khoa học theo yêu cầu của người học, hiểu được đầy đủ nội dung tri thức đó qua hoạt động chủ quan của bộ óc của người học biến kiến thức khách quan thành sở hữu của mình Đó là bước thứ nhất, còn bước thứ hai là vận dụng tri thức khoa học đã nắm vững ứng dụng vào thực

tế một cách có hiệu quả Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu rất gọn: ‖học lấy tự học làm cốt‖ và học đi đôi với hành‖ [Hồ Chí Minh – Về vấn đề Giáo dục, NXB Giáo dục 1990, Tr 67)] (1) Có thể suy rộng ý của Hồ Chủ tịch là: tự học gắn chặt với học

và học chỉ có ích khi được áp dụng có kết quả vào đời sống, có thể có ích cho cải tạo bản thân và rộng hơn là đóng góp năng lực của mình để góp phần cải tạo xã hội Chính hành sẽ giúp cho người học phát huy năng lực sáng tạo của mình nhờ kiến thức khoa học đã tiếp thu để giải quyết các việc lớn, nhỏ của bản thân, của sản xuất, của xã hội cho nên quy trình học, tư học, hành được xem như một quy luật có quan

hệ chặt chẽ với nhau, đã học thì phải tự học để hiểu rõ, nắm vững kiến thức khoa học,

và đem kiến thức đó hành trong thực tế thì mới gọi là học có kết quả Thuật ngữ: Học-hành của Việt Nam thật quá chính xác Lấy ví dụ dạy cho học sinh về đạo đức công dân, không chỉ thuyết lý về các hành vi đạo đức cá nhân trong quan hệ gia đình

xã hội mà lý thuyết về hành vi đạo đức phải góp phần từ cải tạo bản thân và ứng xử linh hoạt trong quan hệ xã hội Đối với các khoa học khác cũng phải gắn chặt học với hành

3 Tự học và vấn đề phương pháp dạy-tự học

Riêng về khái niệm tự học, GSVS Nguyễn Cảnh Toàn đã giải thích ―Tự học là

tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình như dộng cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan và thế giới quan của mình như trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, biến khó khăn thành thuận lợi để chiếm một lĩnh vực nào đó của nhân loại thành sở hữu của mình‖ (Nguyễn Cảnh Toàn –Bài ― Thế nào là tự học (Tạp chí: Dạy và học ngày nay) [2] Nội dung mà GSVS.Nguyễn Cảnh Toàn nêu lên hoàn toàn thuộc hoạt động chủ quan của tự học là cốt lõi tạo nên nội lực tự học của người học – Tuy nhiên nói đến tự học không nên chỉ nghĩ đến tự thân vận động mà phải nhận thức rõ về nội lực của người học có quan hệ với những yếu tố khách quan Việc tư học của giáo sinh khi còn ở trường sư phạm thì không thể thiếu việc quản lý của nhà trường, đặc biệt không thể thiếu việc dạy hướng dẫn của các thầy giáo Vấn

Trang 23

đề là phương pháp dạy của các thầy giáo ở các trường sư phạm phải tạo điều kiện cho giáo sinh tự học, kết hợp nhiều phương pháp tốt của dạy - học để giáo sinh đạt được hiệu quả tự học tốt nhất (ở đây không bàn đến phương pháp cổ truyền trong lịch sử giáo dục mà ngày nay giáo dục thế giới cũng như nước ta đang loại bỏ) Đồng chí Phạm Văn Đồng đã có lần chỉ rằng: dạy ở cao đẳng, đại học chủ yếu là rèn luyện về phương pháp về phía thầy cũng như về phía sinh viên – Qua một số nghiên cứu về phương pháp được gọi là mô hình ―tam giác sư phạm‖, điều cốt lõi là thầy được xem

là tác nhân, trò đựơc xem là chủ thể và kiến thức khoa học là khách thể Cách vận hành của mô hình này là trò phát huy nội lực tự học của mình để tìm ra kiến thức, thầy là tác nhân giúp trò tìm ra kiến thức (khác hẳn với phương pháp cổ truyền thầy

là chủ thể đem kiến thức yêu cầu học trò thụ động tiếp thu có thể hiểu hoặc không hiểu, chưa hiểu) Trong phương pháp dạy ở Cao đẳng, Đại học có cách dạy ―nêu vấn đề‖ hoặc ‖Xê-mi-na‖ cũng giống như tam giác sư phạm nói trên trong đó hoạt động

tư duy tìm ra chân lý là việc của người học được thầy hướng dẫn gợi ý

Như vậy trong quá trình được đào tạo ở trường sư phạm, nỗ lực chủ quan của giáo sinh được sự hỗ trợ quan trọng của nhà trường, của các giáo sư ở trường sư phạm, với phương pháp dạy thế nào để giáo sinh phát huy được việc tự đào tạo, việc

tự học của giáo sinh qua nghiên cứu Kết luận được rút ra từ vấn đề này là sự cộng hưởng của nội lực với ngoại lực vừa phải coi trọng vai trò chủ yếu của người tự học, vừa phải đề cao tác động bên ngoài của nhà trường sư phạm nói chung đặc biệt của các giáo sư nói riêng thông qua những phương pháp sư phạm, phương pháp của người dạy và người học, tự học

4 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của giáo viên

Từ nội dung của năng lực tự học, nội lực chủ quan của người tự học và hỗ trợ không thể thiếu của yếu tố khách quan, có thể thấy rõ các yếu tố tạo nên năng lực từ phía người học (ở đây là giáo viên phổ thông tiểu học, trung học) và tác động của các yếu tố khách quan từ nhà trường, thầy giáo ở trường cao đẳng, đại học Sư phạm và nói chung từ sự quản lý giáo dục Khi đã có sự cộng hưởng nội lực và ngoại lực thì việc tự học, tự tạo nên năng lực tự học của giáo viên (từ lúc là giáo sinh đến lúc là giáo viên chính thức các trường phổ thông) mới có kết quả tốt nhất Trong thực tế của việc dạy- học của ta hiện nay phía nội lực của người học cũng như ngoại lực của ngành giáo dục các trường cao đẳng Sư phạm, đại học Sư phạm đặc biệt của giáo sư, giảng viên tuy đã cố gắng đổi mới nhưng chưa đạt yêu cầu mong muốn Phải thấy rằng từ khi đổi mới đến nay, việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, cũng như các chỉ thị, chủ trương của Chính phủ của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong đó có nhấn mạnh việc tạo năng lực tự học có những tiến bộ nhưng kết quả chưa đều, còn chênh lệch giữa số trường tiên tiến và đại trà, chênh lệch giữa các vùng miền xa xôi với thị

xã, đô thị, chỉ nói riêng về phương pháp dạy và học cũng có thể thấy được sự chênh lệch ấy

Trang 24

24

4.1.1 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực tự học của giáo viên

4.1.1 Tự học là tiếp thu kiến thức khoa học để biến kiến thức đó thành sở hữu của mình Không chỉ là giáo viên mà bất cứ ai muốn tự học đều phải có tâm thế tự học, đây là yếu tố đầu tiên, vô cùng quan trọng Tâm thế đó được hình thành là điều kiện số một của tự học, vì không có tâm thế tự học thì sẽ không có gì hết

Tâm thế tự học là yếu tố hoàn toàn chủ quan xuất phát từ động cơ, ý chí, hứng thú kế hoạch cụ thể của người tự học, những khó khăn phải vượt qua Tâm thế đó có thể tóm tắt là phải sẵn sàng khổ học Lao động học tập nghiêm túc sẽ quyết định 90% kết quả học tập

4.1.2 Đã vào ngành sư phạm, nghề dạy học, thì người giáo sinh cần nhận thức đầy đủ về sứ mệnh của mình là góp phần quan trọng đào tạo thế hệ trẻ cho đất nước Mục tiêu phương hướng của giáo viên phổ thông khi còn là giáo sinh phải được nhận thức đầy đủ về vị trí vai trò của mình, dù mình chỉ là ―một bánh xe, một đinh ốc

―trong guồng máy to lớn của sự nghiệp giáo dục‘‘ Đó cũng là định hướng, mục tiêu

mà giáo viên phải có từ lúc mình là giáo sinh Từ mục tiêu này mà hoạch định phương hướng kế hoạch tự học của mình về: trí, đức, thể, mỹ, đứng đầu là đức dục với trọng tâm là trí dục, cơ sở quan trọng để hành nghề Các trí thức khoa học đựơc tiếp thu qua thời gian đào tạo và tự đào tạo ở trường cũng như tự học sẽ được sử dụng khi hành nghề là nội dung này Nội dung đó tập trung vào việc dạy học của mình ở cấp học được đào tạo, có tính chất chuyên môn ở các mức độ khoa học khác nhau giữa giáo viên các cấp học phổ thông, các kiến thức đó có quan hệ kế thừa tiếp nối và nâng cao Đó là trọng tâm của nội dung tự học Mục đích số một là tự học để thực hiện tốt chuyên môn riêng của người giáo viên Bằng năng lực chủ quan, bằng phương pháp dạy khơi động tính tích cực của học sinh giáo viên cần soạn lại giáo

án theo phương pháp mới Trong khi sách giáo khoa chưa được soạn theo phương pháp mới, giáo viên phải tự mình giải quyết vấn đề rất cơ bản về phương pháp xem học sinh là chủ thể được sự hướng dẫn của giáo viên Tuy nhiên sự hiểu biết của một giáo viên không chỉ tập trung vào chuyên môn mình phụ trách, lớp mình phụ trách

mà trình độ văn hóa nói chung của một giáo viên không thể bị coi nhẹ vì thầy giáo không chỉ dạy chữ mà còn dạy cho học sinh làm người Học vấn của giáo viên để thực hiện nôi dung giảng dạy theo chương trình bậc học, môn học và học vấn này có quan hệ với trình độ văn hoá nói chung của giáo viên Những hiểu biết về đất nước con người Việt Nam, về truyền thống, lịch sử của dân tộc, rồi tình hình kinh tế xã hội hiện đại, những hiểu biết về văn hoá nhân loại không thể thiếu đối với một giáo viên Điều này không chỉ giáo viên các bộ môn khoa học xã hội cần biết mà tất cả giáo viên đều phải biết và truyền thụ được cho học sinh khi cần thiết, cho nên bên cạnh việc tự học chuyên môn riêng không thể quên bồi dưỡng cho mình kiến thức văn hoá chung về văn hoá của dân tộc sau đó là của nhân loại

Hiện nay đại bộ phận giáo viên đã học qua Trung cấp sư phạm, một số qua Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm Bằng tự học, giáo viên có trình độ Trung cấp sư phạm muốn vươn lên trình độ Cao đẳng, Đại học Sư phạm qua con đường học tại

Trang 25

chức, từ xa bằng tự học, giáo viên có thể đạt nguyện vọng này, tất nhiên phải có quyết tâm, ý chí, nghị lực và có kế hoạch thật khoa học thì mới có thể thành công được Động cơ, ý chí, thời gian học tập có thể được xem là những yếu tố quan trọng, sau đó là phải khổ học Có thể xem đây là mục tiêu tự học số 2 của một số giáo viên muốn nâng cao trình độ chuyên môn của mình Ngoài ra giáo viên có thể tự học thêm ngoại ngữ, chữ Hán (đối với gíao viên Văn trung học), internet để mở rộng tri thức của mình

4.1.3 Để thực hiện mục tiêu tự học, giáo sinh, giáo viên không thể thiếu phương pháp tự học phù hợp với mình Ở nhà trường, giáo sinh đã học chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tâm lý học, logic học nhưng nhận thức nói chung còn nông cạn- Để tự học tốt, phương pháp tự học đòi hỏi người học phải nghiên cứu nắm vững các quy luật phổ biến của duy vật biện chứng, quan điểm lịch sử, các thao tác tư duy mà tâm lý học, logic học đã chỉ rõ như quan sát, so sánh, diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp cũng như các phạm trù bản chất, hiện tượng, nguyên nhân, kết quả, cái riêng, cái chung, cái đặc thù cần thiết phải được ôn tập và thực hành Khi tiếp xúc với kiến thức khoa học hoặc với thực tiễn nói chung đó là những ―công cụ‖ không thể thiếu khi thao tác tư duy trong quá trình tự học Ngoài ra các phương pháp thống kê, xác xuất, cũng phải biết để có thể tiếp cận chính xác, giải quyết có cơ

sở khoa học, những vấn đề liên quan

Phương pháp khoa học, khách quan sẽ cho người học tiếp cận tốt nhất chân lý khoa học Nhân sinh quan, thế giới quan, quan điểm lịch sử là cơ sở để giúp cho việc sử dụng phương pháp có hiệu qủa Như vậy, người giáo viên dù thuộc chuyên môn nào cũng phải có kỹ năng thực hành các thao tác nói trên trong tự học – Khi thực hành các thao tác tư duy, người tự học phải kiên trì, cẩn thận, không vội vàng để tránh xảy ra sai lầm không cần thiết Phương pháp khoa học còn giúp cho người học phát hiện vấn đề giải quyết vấn đề trong quá trình tự học, tập dượt nghiên cứu khoa học hoặc nghiên cứu khoa học thực sự là cơ hội để người tự học rèn luyện về phương pháp Phương pháp khoa học cũng yêu cầu người tự học phải tổng kết, đánh giá kết quả học tập của mình từ đó rút kinh nghiệm cho mình tiếp tục tự học

4.2 Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến năng lực tự học của giáo viên

Trong lịch sử giáo dục của nước ta có hai xu hướng khách quan kích thích việc

tự học, trong dân gian ‖cho con đi học dăm ba chữ để làm người‖ là mục tiêu rèn luyện đạo làm người thật đáng tôn trọng, có tác động nhất định đến giáo dục nhân cách con người Việt Nam Trong một bộ phận có điều kiện kinh tế khá hoặc có tinh thần hiếu học cao hoặc có kỳ vọng thi đỗ làm quan trong chính quyền phong kiến, từ

đó ―dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa‖ (ca dao) quyết tâm tự học với sự giáo dục, truyền thụ kinh sử của các thầy đồ và cuối cùng đạt được mục đích mong muốn trong thi cử Khi khoa học giáo dục chưa phát triển, kiến thức nhân loại còn ít lại không có thông tin được phát triển quy mô lớn như ngày nay thì việc tự học của dân gian hoặc của một bộ phận nào đó trong dân gian như nói trên là do tác động của yếu tố nền

Trang 26

Cho đến cuối thế kỷ XIX, đến thế kỷ XX thì việc giáo dục mới trở thành một hệ thống từ làng xã đến Trung ương, tuy nhiên rất hạn hẹp và chỉ có 5% dân số được đi học Sau cách mạng tháng Tám 1945, giáo dục mới thực sự phát triển, gần 70 năm qua thành tựu thật to lớn- Hệ thống giáo dục phát triển mạnh mẽ từ mầm non đến Đại học sau Đại học, tuy nhiên còn nhiều hạn chế đặc biệt là chất lượng chưa theo kịp được các nước trong khu vực và các nước phát triển trên thế giới

Đương nhiên có nhiều nguyên nhân từ nền kinh tế chậm phát triển, từ chiến tranh liên tục 30 năm đáng chú ý là nguyên nhân về quản lý giáo dục mà những năm gần đây cho thấy nội dung, chương trình, phương pháp dạy - học cản trở sự phát triển chất lượng giáo dục đặc biệt trong phát huy tính năng động của học sinh Trong một thời gian dài giáo sinh đựơc đào tạo từ các trường sư phạm học thụ động, giáo sư, giảng viên thuyết trình là chính, giáo sinh nghe có thể hiểu hoặc chưa hiểu–Phương pháp cổ truyền cũng tác động dây chuyền đến học sinh các trường phổ thông, thầy đọc, trò chép, cách thi cử cũng khuyến khích học sinh nhớ kiến thức, thuộc lòng sách giáo khoa

4.2.1 Điểm qua đôi nét trên đây để thấy yếu tố hiếu học, khuyến học vốn là truyền thống của dân tộc bị nhiều nguyên nhân và tổ chức giáo dục phong kiến (kể cả thời Pháp thuộc) cho đến sau cách mạng, ít kích thích việc tự học

Ở tầm vĩ mô của xã hội, hai yếu tố hiếu học và khuyến học có tác động định hướng cho việc phát triển giáo dục nói chung và cho tự học nói riêng – Gần đây với quan điểm ‖học tập suốt đời‖ và ―xây dựng xã hội học tập‖ hai yếu tố này đương nhiên góp phần tạo môi trường học tập nói chung và có ảnh hưởng đến giáo dục nói chung và tự học nói riêng

4.2.2.Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tự học nói chung là mục tiêu đào tạo con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hôi của đất nước bởi lẽ con người là nhân tố thứ nhất quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội Đó là con người được đào tạo từ môi trường giáo dục về nhân cách đạo đức và nhân cách lao động Không có con người năng động sáng tạo được đào tạo từ nhà trường để đưa vào xã hội thì làm sao đất nứơc phát triển được? Chính những con người năng động sáng tạo phải là sản phẩm trực tiếp của nhà trường với kết quả đào tạo của giáo viên Giáo viên phải

tự đào tạo như thế nào để góp phần tích cực nhất của mình đến nhân cách học sinh sau một quá trình học tập ở phổ thông và sau đó ở bậc học cao hơn Do đó mục tiêu này được quản lý giáo dục xác định và tác động đến nhận thức và tự học của giáo viên

Trang 27

4.2.3 Các yếu tố về quản lý giáo dục từ mục tiêu, hệ thống giáo dục, chương trình, phương pháp, các điều kiện vật chất kỹ thuật là những yếu tố khách quan trực tiếp ảnh hưởng đến việc tự học của giáo viên Việc dạy học, phải được đổi mới, hướng vào khơi động sức sáng tạo, động viên cao độ giáo viên tự học Đảng và Chính phủ ta đang có các bước đi cụ thể để đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và đào tạo chắc chắn vấn đề tự học nói chung và tự học của giáo viên nói riêng sẽ là một yêu cầu quan trọng Chưong trình các cấp học phải được biên soạn lại theo định hướng cơ bản, sát đối tượng học sinh phổ thông và có tính Việt Nam Từ năm 1955,

Hồ Chủ tịch đã huấn thị về nội dung chương trình của giáo dục phổ thông kèm theo phương pháp dạy học Về trung học Bác viết ‖cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà,

bỏ những phần mà không cần thiết cho đời sống thực tế‖ Với tiểu học, Bác viết: ― Cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công Cách dạy phải nhẹ nhàng, vui vẻ, chớ gò ép thiếu niên và khuôn khổ của người lớn ‖ Hồ Chí Minh tuyển tập –Tập VII, NXB Sự thật -1987,

Tr 348) (1), những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị cần được nhận thức lại trong đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục hiện nay Khi đã có chương trình học được Nhà nước ban hành có tính pháp lệnh, ngành giáo dục phải chấp hành nghiêm chỉnh

để đào tạo học sinh Sách giáo khoa phải được soạn theo chương trình theo phương pháp dạy – học hiện đại

4.2.4 Ở phần trên, nói về yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến việc tự học của giáo viên, chúng ta đã đi sâu vào phương pháp tự học Và phương pháp dạy-học, dưới góc

độ ảnh hưởng khách quan đến tự học của giáo viên, dứt khoát phải được thể chế hoá trong quản lý giáo dục, đương nhiên việc thể chế hoá này phải thích hợp với các bậc học, với trình độ về cơ bản của giáo viên Không để cách dạy cách học làm mất năng lực chủ quan của người dạy, người học Phải xem đổi mới phương pháp dạy và học vừa là yếu tố tác động khách quan về mặt quản lý giáo dục, vừa là yếu tố chủ quan của việc tự học của giáo viên

4.2.5 Về tổ chức việc học tập tại chức, giáo dục từ xa phải chú trọng việc tự học của giáo viên (số giáo viên muốn được nâng cao trình độ như đã nói ở phần mục đích tự học (xem lại mục III,1,2) Tự học có thể giáp mặt với thầy, đuợc thầy trực tiếp hướng dẫn nhưng tự học có các cách khác, chỉ được thầy hướng dẫn từng giai đoạn và cũng có cách tự học thông qua tài liệu học được hướng dẫn cùng các phòng thí nghiệm để nghiên cứu, tự học Ở thế giới cũng như ở nước ta, có nhiều giáo sư không có bằng tiến sỹ những do tự học mà thành tài và trình độ học vấn của các vị ấy chẳng kém tiến sỹ Như vậy về yếu tố khách quan ảnh hưởng đến việc tự học của giáo viên ngoài việc được sự hướng dẫn trực tiếp thường xuyên của thầy (nhất là lúc còn là giáo sinh) thì quản lý giáo dục cần có giáo dục tại chức, từ xa để giúp cho giáo viên nào muốn tự học nâng cao trình độ

4.2.6 Ngày nay các kênh thông tin về khoa học trên internet vô cùng phong phú là điều kiện tốt giúp cho giáo viên tự học Đương nhiên giáo viên phải định nội dung cần học, cần nghiên cứu, biết chọn lọc thông tin internet trong tự học

Trang 28

28

4.2.7 Như đã nói ở trên, việc giảng dạy của giáo viên không thể tách rời với thực tiễn tình hình kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương, qua báo chí, qua thông tin đại chúng, đó cũng là yếu tố khách quan liên quan đến nội dung tự học của giáo viên

4.2.8 Xã hội học tập, môi trường khuyến học cũng là những yếu tố khách quan

có ảnh hưởng tạo phong trào cho việc tự học của giáo viên

5 Kết luận

Việc tự học của giáo viên có tác động dây chuyền khởi đầu có thể từ trường sư phạm đã tác động đến giáo sinh, qua tự đào tạo giáo sinh trở thành giáo viên các bậc học, từ đây tác động sẽ trực tiếp đến phát huy năng lực nội tại của học sinh trong hình thành nhân cách đạo đức, nhân cách lao động Do đó việc tự học của giáo viên với ảnh hưởng của những yếu tố chủ quan và khách quan trong đó tác động của yếu tố chủ quan rất quan trọng quyết định kết quả tự học của giáo viên Các yếu tố chủ quan

và khách quan ảnh hưởng đến việc tự học của giáo viên tạo thành hợp lực tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng lực và kết quả tự học của giáo viên, tạo nên sự cộng hưởng giữa nội lực và ngoại lực trong việc hình thành năng lực tự học của giáo viên.Hiện nay sự cộng hưởng đó chưa đạt được yêu cầu cần thiết do hạn chế của quản lý giáo dục và của bản thân người tự học, đặc biệt về phương pháp dạy và tự học chưa thoát khỏi những thói quen của phương pháp dạy học cổ truyền ― truyền thụ một chiều‖ ― thầy đọc trò chép‖

Mục tiêu đào tạo ở các trường sư phạm, mục tiêu đào tạo của các bậc học phổ thông, chương trình học phải đáp ứng việc hình thành nhân cách đạo đức, nhân cách lao động của học sinh, phải tạo được hệ thống kiến thức khoa học cơ bản vững chắc cho từng bậc học được xác định qua giảng dạy, giáo viên phải làm cho học sinh― học một biết mươi‖ chứ không phải qua học phổ thông mà biết hết kiến thức của nhân loại! Khi đã có phương pháp dạy- học tốt, giáo viên cũng như học sinh phổ thông sẽ

có ―chìa khoá― để mở mang trí tuệ sáng tạo Hơn bất cứ một đối tượng nào khác, vị trí, chức năng, nhiệm vụ đạo đức năng lực của giáo viên phổ thông, đòi hỏi giáo viên phổ thông phải tự học, rèn luyện phương pháp tự học của bản thân, phát huy tác dụng của năng lực tự học để đào tạo học sinh Có thể khẳng định một trong những định hướng để đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay là tạo mọi điều kiện, mọi yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học chủ quan để giáo viên có thể suốt đời

tự rèn luyện về phương pháp dạy học của mình Chất lượng giáo dục và đào tạo hy vọng nhiều ở tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của giáo viên, nên chăng từ chủ trương đến chính sách cơ chế quản lý giáo dục từ nay phải tạo môi trường và phong trào tự học cho giáo viên từ cấp tiểu học đến Đại học

Tài liệu tham khảo

1 Hồ Chí Minh - Về vấn đề giáo dục-NXBGD-1990

2 Văn kiện hội nghị lần thứ IV TƯĐCSVN (Khoá VII) – NXBCTQG-1993

3.Văn kiện hội nghị lần thứ II TƯĐCSVN (Khoá VIII) – NXBCTQG-1997

Trang 29

4.UNESCO (1998) Học tập, một kho báu tiềm ẩn.Vũ Văn Tảo dịch từ bản tiếng Pháp NXBGD-1998

5.Tsunesaburo Makaguchi (Nhật Bản)-Giáo dục về cuộc sống sáng tạo- ĐH Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh dịch) NXB trẻ- 1994

6 Patrice Pelpel (Pháp) Tự đào tạo để dạy học – Nguyễn Kỳ dịch – NXBGD-1998 7.Nguyễn Kỳ (1995) Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm - NXBGD-1995

8.Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên- Học và dạy cách học (chưa xuất bản)

9.Nguyễn Kỳ(1998) Mô hình giáo dục lấy người học làm trung tâm – NXBGD-1998

10 Nguyễn Nghĩa Dân (1997) Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức và giáo dục công dân–NXBGD-1997

11 Tạp chí: Nhiều bài viết về Tự học, phương pháp tự học, các phương pháp dạy học trong lịch sử giáo dục thế giới (cổ truyền, hiện đại) đăng trên các tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Giáo dục và thời đại chủ nhật, Tự học, Dạy và học ngày nay từ 1995 đến nay của nhiều tác giả

Trang 30

1 Tính cấp thiết của việc tự học đối với các nhà giáo

1 Tự học (self-study), ngày nay ở các nước khoa học phát triển là khái niệm

chưa được đồng thuận của các nhà nghiên cứu Một số ý kiến cho rằng, tự học (TH)

là loại hình đào tạo miễn phí, là hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân; Một nhóm các nhà khoa học khác lại khẳng định đây là hoạt động ngoài các bức tường nhà trường

và do cá nhân tự tiến hành; song có ý kiến lại khẳng định TH có mối liên hệ chặt chẽ với sự hình thành của một hệ thống và tổ chức xã hội, được xem như một tổ chức đặc biệt và có hệ thống hoạt động với tư cách là hình thức tự giáo dục, một loại giáo dục thường xuyên - một phần của hoạt động giáo dục Một luồng ý kiến khác cho rằng tự học được hiểu là một cách tự xây dựng, tự phát triển của mỗi con người Nói tóm lại, việc tự học có thể hiểu theo nhiều khía cạnh của khái niệm, từ đó nói lên nội hàm không đơn giản của nó Tuy nhiên, một cách hiểu về TH xuất phát từ hình thức của

nó và cũng được nhiều người ủng hộ, đó là TH là việc học, việc tự đào tạo ngoài các bức tường của các cơ sở đào tạo và không có sự trợ giúp của người dạy; còn người học hoàn toàn tự do lựa chọn môn học, phương pháp học cũng như nguồn tài liệu cho bản thân Đây là một hình thức hoạt động học tập không chính qui ở các cấp độ cá nhân, nhóm, xã hội Điểm yếu của việc tự học thường được đề cập đến là thiếu sự chỉ đạo, dẫn dắt, thiếu thông tin phản hồi cũng như tính hệ thống trong quá trình tự học Tuy nhiên, những điểm yếu trên thường được ―bù đắp‖ bởi những yếu tố như khắc phục được sự lãng phí năng lượng do hệ quả tổ chức trong trường học (theo John Dewey) và giải quyết được các vấn đề tiếp cận cá nhân, động cơ hóa, tính ý thức trong học tập, mặc dù không phải lúc nào cũng đạt đến sự tinh tế cần thiết Tự học yêu cầu chủ thể của nó phải nhận ra được ý nghĩa của việc học, đặt ra được một cách

có ý thức mục đích học, phải có năng lực tư duy độc lập, biết cách tự tổ chức, tự kiểm soát bản thân Các điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, TH không phải là hoạt động đại trà cho tất cả mọi người Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, việc tự học, nếu được

5

Khoa Tâm Lý, Trường ĐHSP Hà Nội

Trang 31

bắt đầu ở tuổi thiếu niên thì thường được tiến hành có hệ thống và đạt hiệu quả cao

Có một điểm chung mà các nhà khoa học đều nhất trí là TH không chỉ là một phương tiện phát triển bản thân mỗi người, mà còn là cơ hội phát triển nghề nghiệp của họ

2 Tự học và nghề giáo

Nghề giáo là một nghề - nghiệp vụ sư phạm Còn như A.C Makarenco đã nhận định: ―Tay nghề của ông thầy – một chuyên môn đặc biệt mà chỉ học mới có được‖ Thực tế cho thấy, để dạy người khác, người thầy giáo không chỉ phải có kiến thức về lĩnh vực của mình, làm chủ được phương pháp giảng dạy môn học, mà còn phải có kiến thức về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, phải là người có văn hóa theo nghĩa rộng của nó Công cụ chính giúp cho tăng trưởng nghề nghiệp và hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ của người thầy chính là tự học

Mặt khác, năng lực tự học ở người thầy giáo không thể hình thành đồng thời ở thời điểm nhận bằng tốt nghiệp, mà được phát triển trong quá trình làm việc với các nguồn thông tin, với việc phân tích và tự phân tích hoạt động Năng lực tự học được quyết định bởi các chỉ số trí tuệ và tâm lý của mỗi cá nhân, nhưng cũng không kém phần quan trọng, là được hình thành thông qua tiếp xúc với tư liệu, rút kinh nghiện trong chính hoạt động thực tế của bản thân và của các đồng nghiệp.Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là việc tự học là vấn đề của những công chức giáo dục có thâm niên Nhu cầu tự học có thể xuất hiện vào bất cứ lúc nào trong khi hành nghề của người thầy giáo, bởi lẽ đây chính là một trong số các điều kiện để thỏa mãn nhu cầu khẳng định bản thân với vai trò của một ―ông thầy‖, giúp cho họ có điều kiện đáp ứng nhu cầu xã hội trong giáo dục, thiết lập và giữ vững vị thế xứng đáng, theo kịp với thời đại, đáp ứng nhu cầu của trẻ em và phụ huynh học sinh, gia tăng kỹ năng nghề nghiệp, thông qua nghề dạy học của chính mình Nói tóm lại, một khi đã xác định theo đuổi nghề dạy học - làm giáo viên, thì tự học là hoạt động không thể

―thiếu‖ trong con đường hành nghề, phát triển TH của thầy giáo là điều kiện cần thiết, phải có trong hoạt động nghề sư phạm Xã hội luôn đòi hỏi và sẽ đòi hỏi người thầy những yêu cầu ngày càng cao, thậm chí rất cao cùng với sự phát triển của xã hội Chắc chắn là, để dạy được người khác, thì người thầy phải hiểu biết nhiều hơn những người khác; trong khi đó, mô hình học sinh phải đào tạo thay đổi, thậm chí hàng năm, từng bậc học; các quan niệm về môi trường, tương tự như vậy, cũng luôn không ổn định Muốn vậy, người thầy giáo phải liên tục học tập Tác giả R Phullera, khi phân loại các giai đoạn cần thiết để hình thành và phát triển nghề sư phạm đã khẳng định,

ở bất kỳ giai đoạn nào, người thầy muốn thành đạt, cũng cần phải tự học

Nghề dạy học, như đã nói ở trên, một nghề đòi hỏi kỹ năng kép: nghề - nghiệp

vụ sư phạm Do đó, sau khi tốt nghiệp ra trường, nhận bằng thì mỗi cử nhân sư phạm bất kỳ đều chưa có thể hành nghề một cách thuần thục, theo đúng nghĩa của nó Điều này không có nghĩa là chương trình đào tạo giáo viên trong các nhà trường sư phạm hiện nay đã đi đúng hướng cần thiết; vấn đề này cần bàn ở các chuyên đề khác Tuy nhiên, việc đòi hỏi của giáo viên các trường phổ thông ở các giáo sinh và sinh viên mới tốt nghiệp ra trường phải có ngay các kỹ năng giảng dạy và giáo dục học sinh

Trang 32

32

cũng là điều chưa hợp lý; mặc dù ai cũng biết rằng, việc hoàn thiện chất lượng dạy học và giáo dục học sinh của mỗi nhà trường đều liên quan trực tiếp với mức độ được đào tạo trong nhà trường

Vì vậy tự học ở những người làm nghề thầy giáo là hoạt động nhận thức có hệ thống, được thực hiện, tự nguyện và có ý thức, cần thiết để nâng cao chất lượng chuyên môn và làm giàu thêm kiến thức của bản thân để giải quyết các nhiệm vụ chuyên môn ngày càng phức tạp

3 Các hình thức tổ chức tự học của người thầy giáo

Thực tế cuộc sống cho thấy, con người có kiến thức và ham hiểu biết là những người luôn có khát vọng tiếp nhận tri thức, mới kinh nghiệm để mở mang tầm nhìn của bản thân Ngay trong nghề sư phạm cũng có ý kiến cho rằng, nếu so sánh việc đào tạo theo truyền thống có người dạy với khuynh hướng tự đào tạo, tự học, thì kiến thức nghề của trường hợp sau được đánh giá cao và hiệu quả hơn; mặt khác, kiến thức và kinh nghiệm tự thu thập, tự tích lũy luôn được xuất hiện trong các nghiên cứu, khám phá, thậm chí cả ngay trong các sai lầm mà bản thân mắc phải Đó là những kiến thức, kinh nghiệm vô giá, là một phần của nhân cách trên con đường tự hoàn thiện tự phát triển bản thân

Các hình thức tổ chức tự học ở người hành nghề sư phạm, trở thành thầy giáo tương lai rất đa dạng và theo quan điểm duy vật biện chứng, mỗi hình thức cũng có điểm tốt và chưa tốt của nó:

3.1 Viết khóa luận – tổng kết khoa học trong từng đợt bồi dưỡng:

+ Ưu điểm: có thể nhận được sự trợ giúp nâng cao của các nhà giáo – chuyên gia cũng như cơ hội để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp

+ Hạn chế:

- Việc học không diễn ra thường xuyên

- Chất lượng nội dung và tài liệu bài giảng khó được nâng cao do giảng viên không có cơ hội nghiên cứu nhu cầu của người học cũng như sự phân hóa về tiềm năng của người nghe

3.2 Tiếp tục học lên hoặc học thêm văn bằng hai

+ Ưu điểm: có thể thiết kế qũy đạo kiến thức cho cá nhân vì cấu trúc của phần lớn các chương trình đều mang tính chất modul, nên một số nội dung cần phải nghiên cứu, một số do cá nhân tự chọn Việc học tập được diễn ra trong hệ thống ―nhà khoa học – nhà giáo‖ do các nhà khoa học có chức danh đảm nhận

Trang 33

+ Ưu điểm: Giáo viên có thể thu xếp thời gian thuận lợi cho bản thân để tham gia và có thể lựa chọn vấn đề mình hứng thú, quan tâm hay đang cần tìm hiểu

+ Hạn chế: các chứng chỉ đã qua khóa học từ xa thường ít có tính pháp lý vì theo hình thức này, các chứng chỉ học phần không được cấp phát

3.4: Tự học của mỗi cá nhân, bao gồm

+ Nghiên cứu khoa học theo một vấn đề xác định

+ Đọc sách ở thư viện, nghiên cứu tài liệu về phương pháp khoa học

+ Tham gia vào hoạt động của các tổ chức sư phạm

+ Đi dự giờ của các đồng nghiệp, trao đổi ý kiến về các vấn đề như tổ chức giờ dạy, nội dung và phương pháp giảng dạy…

+ Suy nghĩ và ứng dụng vào thực tế những hình thức dạy học, các hình thức tổ chức học ngoài lớp học và các tài liệu học tập đã thu thập được

Thực ra các hình thức tổ chức tự học nêu trên là không mới nhưng thực hiện được lại không dễ đối với những thầy cô giáo vốn đã quen: ―sáng cắp ô đi, tối cắp về‖, không để ý đến tự phát triển bản thân

4 Một số kiến nghị để tìm giải pháp nâng cao việc tự học ở những người làm nghề sư phạm

4.1 Tăng cường phần thực hành trong chương trình dạy – học cho học viên sư phạm: ―thực hành‖ trong báo cáo này muốn nói đến là các buổi xeminar – thảo luận của lớp học sau mỗi nội dung lý thuyết Hiện nay, các học phần đã được qui định về

số lượng: số tín chỉ, số tiết được dạy ở mỗi nội dung cụ thể Người dạy chủ yếu dạy

lý thuyết ngay cả những giờ được ―qui định‖ là tiết thực hành với lý do cũng rất xác đáng là không đủ thời gian học hết lý thuyết Để nâng cao TH ngay trong nhà trường

sư phạm, nên chăng giảng viên chỉ là người hướng dẫn nội dung học về lý thuyết cũng như thực hành, còn học viên là chủ thể của việc học: tự nghiên cứu vấn đề thông qua tự làm việc trong thư viện, tự thảo luận để xây dựng nội dung học tập theo định hướng của giảng viên Khi làm việc với hình thức trên cần lưu ý: giảng viên phải tìm và đưa ra cho học viên danh sách các tài liệu tham khảo, tài liệu bổ xung và việc đọc các tài liệu này là bắt buộc Thực tế đã khẳng định: không đọc thì không bao giờ có tự học và nhân thức được những vấn đề về thế giới xung quanh; Tránh việc không đọc tài liệu, học viên đến lớp phát biểu theo tự suy luận còn chưa ―chin muồi‖, hoặc thảo luận kiểu ―chém gió‖ Hiệu quả của xeminar như vậy sẽ rất thấp, thậm chí, phản lại mục đích của tự học

Nói tóm lại, tăng thời lượng xeminar – thảo luận vào từng nội dung học là việc nên làm và giảng viên hoàn toàn có thể chủ động sắp xếp để hoàn thành nội dung giảng dạy được giao Tất nhiên để làm tốt hình thức này, sự ―can thiệp‖ từ phía nhà trường là rất cần thiết chẳng hạn như hoàn thiện danh mục sách cho các môn học trong thư viện nhà trường v.v

4.2 Xây dựng mạng lưới cộng đồng các nhà giáo trong toàn quốc

Trang 34

34

Một hình thức tổ chức TH mới cho các thầy cô giáo Hình thức tổ chức này được triển khai thông qua internet và lập ra để những nhà giáo ở mọi miền trên cả nước bày tỏ nguyện vọng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tranh luận các vấn đề quan tâm hoặc tìm hiểu những thông tin cần biết, trợ giúp cho nhau các phương pháp mang tính cá nhân, Ở một số nước hiện đại như Nga, Mỹ, Úc…, hình thức tổ chức tự học này cũng đã được thiết lập cho dù thời gian chưa lâu

Khai thác được hình thức tổ chức tự học này, các thành viên của cộng đồng mạng có thể: sử dụng các phương tiện điện tử tương đối thoải mái, không mất (hoặc mất rất ít) kinh phí, hoàn toàn độc lập tự thiết kế các nội dung học tập, có cơ hội để tiếp cận và ―quan sát‖ hoạt động của các thành viên khác trong cộng đồng, yêu cầu

và nhận được các tư vấn khi cần thiết trong khoảng thời gian tự sắp xếp

Tự học thông qua mạng lưới cộng đồng các nhà sư phạm trên internet ở VN hình như chưa có, nhưng biểu hiện của hoạt động này đã ẩn chứa dưới các dạng khác nhau do cá nhân tổ chức tự phát Chính vì thế cơ cấu cũng như độ ―phủ‖ của tác dụng

tự học chưa rộng Thực chất, tổ chức tự học ở hình thức này không khó nhưng cần có

―thủ lĩnh‖ khởi xướng và đưa nội dung công việc vào hoạt động

5 Kết luận

Nói tóm lại, tự học với tinh thần học tập suốt đời là một cách đề con người hoạt động trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau hoàn thiện và phát triển Đặc biệt, với đặc thù của nghề sư phạm: NGHỀ - NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM thì nhiệm vụ tự học phải được đặt lên hàng đầu vì phải tự học thì người thầy mới ―bám đuổi‖ được với công việc phù hợp với biến đổi liên tục của xã hội, của nền kinh tế và khoa học công nghệ của trong nước và thế giới, qua đó tự hoàn thiện và phát triển nhân cách người thầy giáo

Tài liệu tham khảo

1.Евусяк, О: Учитель должен быть исследователем // Нар образование —

1997 — № 10

2.Даутова, О Б., Христофоров, С В: Самообразование учителя как условие

его личностного и профессионального развития // Инновации и образование: сборник материалов конференции — СПб.: Санкт-Петербургское философское общество, 2003 — Серия «Symposium», вып 29 — С 309-317

3.Запрудский, Н И: Современные школьные технологии — Минск: Сэр-Вит,

2010

Trang 35

MỘT SỐ CƠ SỞ ĐỊNH HƯỚNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

TỰ BỒI DƯỠNG CỦA GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG

TS Trương Công Thanh 6

Như đã biết, hoạt động sư phạm (HĐSP) là tác động giáo dục và dạy học của giáo viên (GV) lên học sinh (HS), nhằm phát triển ở người học nhân cách, trí tuệ và các hoạt động, đồng thời là cơ sở để người học tự phát triển và tự hoàn thiện Cho dù trải qua những thay đổi to lớn về nội dung và mục tiêu, trường học vẫn là thiết chế xã hội có nhiệm vụ truyền lại kinh nghiệm văn hóa-lịch sử bằng HĐSP của GV, của người làm công tác giáo dục Trong trường phổ thông, hình thức truyền lại kinh nghiệm văn hóa-lịch sử bằng dạy học trên lớp (bao gồm họat động giảng bài, tổ chức thảo luận, thực hành và kiểm tra) được khẳng định là hình thức chủ yếu Nội dung viết dưới đây đề cập một số vấn đề, theo chúng tôi, là cơ sở định hướng cho họat động tự bồi dưỡng của GV nhằm nâng cao hiệu quả HĐSP

1 Dựa vào mức độ hiệu quả của HĐSP

Như bất kỳ dạng hoạt động khác của con người, HĐSP có mục đích, động cơ, đối tượng Đặc điểm đặc trưng của HĐSP là hiệu quả của nó Các nhà nghiên cứu đã nêu ra 5 mức độ hiệu quả của HĐSP:

Tối thiểu: biết thuật lại cho người học những điều mình biết

Thấp: biết làm cho lời nói của mình phù hợp với những đặc điểm của học sinh Trung bình: nắm được các cách thức dạy cho HS kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

theo từng phần riêng rẽ của chương trình (nghĩa là, hình thành được mục tiêu sư phạm, ý thức được kết quả mong muốn, lựa chọn được hệ thống và trình tự các bước đưa HS vào hoạt động học tập-nhận thức)

Cao: nắm được các cách thức hình thành ở HS hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ

xảo của môn học như một chỉnh thể

Rất cao: nắm được các cách thức sử dụng môn học như phương tiện hình thành

nhân cách HS, hình thành nhu cầu tự giáo dục, tự học, tự phát triển

Như vậy, nếu mức độ hiệu quả thứ 4 là mức cao nhất đối với việc hình thành

hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của môn học - điều mà hiện nay chúng ta đang thực hiện, thì mức độ hiệu quả thứ 5 là mức chương trình và sách giáo khoa sau 2015

sẽ nhắm tới thực hiện Các mức độ trên là cơ sở định hướng chung cho họat động tự bồi dưỡng nâng cao hiệu quả HĐSP của GV, và cũng là thước đo để GV tự đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân Để có những định hướng cụ thể cho họat động tự bồi dưỡng, GV có thể dựa vào:

2 Dựa vào nội dung của HĐSP

HĐSP được xác định bởi nội dung của nó, bao gồm động cơ, mục đích, đối tượng, phương tiện, cách thức, sản phẩm, kết quả Phạm vi viết ở đây không đề cập động cơ HĐSP như là cơ sở định hướng cho họat động tự bồi dưỡng

6

Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 36

36

Đối tượng của HĐSP là việc tổ chức hoạt động học để HS lĩnh hội kinh nghiệm

văn hóa-lịch sử thể hiện trong môn học như là cơ sở và điều kiện của phát triển

Phương tiện của HĐSP là các tri thức khoa học (lý luận và thực tiễn) Phương

tiện hỗ trợ là các thiết bị kỹ thuật, máy tính, tranh, ảnh, đồ họa …

Cách thức truyền thụ kinh nghiệm văn hóa-lịch sử của HĐSP là giảng giải,

minh họa, hoạt động cùng nhau với HS để giải quyết những nhiệm vụ học tập, giờ thực hành trong phòng thí nghiệm hay trên thực địa, các giờ luyện tập

Sản phẩm của HĐSP là kinh nghiệm cá nhân được hình thành ở HS và được

đánh giá trong các kỳ thi, kiểm tra

Kết quả của HĐSP, với tư cách là sự thực hiện mục tiêu cơ bản của hoạt động

này, là sự phát triển nhân cách, trí tuệ của HS, sự hoàn thiện và trưởng thành như một nhân cách Kết quả được chẩn đoán bằng việc so sánh những phẩm chất của HS

ở đầu một giai đoạn nhất định và khi kết thúc giai đoạn đó trên tất cả các phương diện phát triển con người

Có thể thấy, hoạt động tự bồi dưỡng của GV sẽ là tự bồi dưỡng về đối tượng, phương tiện và cách thức thực hiện HĐSP Tự bồi dưỡng về phương tiện và cách thức thực hiện HĐSP là hoạt động vẫn được GV thực hiện lâu nay Riêng về đối tượng HĐSP, trong những năm gần đây, tại một số nước có nền giáo dục tiên tiến như Phần Lan và Đức người ta rất quan tâm nghiên cứu vận dụng thuyết dạy học phát triển của V.V Đa-vư-đôv (nhà tâm lý học Nga) vào hoạt động dạy học Xét từ khía cạnh hoạt động tự bồi dưỡng, trong hoạt động dạy học, GV có thể tìm hiểu và vận dụng sơ đồ chung các bước giải quyết nhiệm vụ học tập vào việc dạy những đơn

vị kiến thức, kỹ năng cụ thể Theo sơ đồ này, việc đặt ra và giải quyết nhiệm vụ học tập bao gồm chuỗi các hành động của HS được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV:

- Tiếp nhận (từ GV) hoặc tự đặt ra nhiệm vụ học tập

- Biến đổi các điều kiện của nhiệm vụ nhằm mục đích phát hiện mối quan hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng được tìm hiểu

- Mô hình hóa mối quan hệ được tách ra bằng cách thể hiện mối quan hệ này dưới dạng những đối tượng, sơ đồ, từ ngữ

- Biến đổi mô hình mối liên hệ để nghiên cứu các tính chất của nó dưới dạng thuần khiết

- Xây dựng hệ thống những nhiệm vụ cụ thể được giải quyết bằng cách thức chung

Ý nghĩa quan trọng nhất của sơ đồ này là ở chỗ kết quả giải quyết nhiệm vụ học tập đạt được trong hoạt động mà chủ thể của hoạt động đó là chính HS

3 Dựa vào việc phân tích tâm lý học (TLH) bài học

Như đã đề cập ở trên, HĐSP có thể được thực hiện trong nhiều hình thức khác nhau, trong số đó dạy học trên lớp có vị trí đặc biệt-đó là đơn vị tổ chức cơ bản của quá trình dạy học, ở đó diễn ra họat động cùng nhau của GV và HS Phân tích bài học là một trong những cách thức quan trọng để những người tham gia hoạt động này (GV, HS) ý thức được những việc mình làm Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tính đa nội dung của việc phân tích bài học, tầm quan trọng của việc GV phải xem

Trang 37

xét tất cả các khía cạnh của tương tác sư phạm, những đặc điểm của chủ thể quá trình tương tác này và họat động của các chủ thể đó

Có thể xem xét bài học từ khía cạnh hoạt động tự bồi dưỡng của GV, từ quan điểm xem sự phân tích TLH bài học đem lại điều gì cho bản thân người GV, tiến hành phân tích như vậy ảnh hưởng thế nào đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động giảng dạy Các nghiên cứu cho thấy phân tích bài học, trong khi góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung, có ý nghĩa to lớn truớc hết đối với quá trình tự nhận thức, tự phát triển của người GV thực hiện bài học Trong quá trình và kết quả của họat động phân tích này người GV có điều kiện xem xét bài dạy của mình như người ngoài cuộc và suy ngẫm, đánh giá nó một cách tổng thể và trong từng chi tiết Phân tích TLH bài học cho phép người GV vận dụng những hiểu biết lý luận của mình để xem xét những cách thức, biện pháp của mình được sử dụng trong quá trình dạy học, tương tác với tập thể lớp

Đối tượng phân tích TLH bài học phong phú: những đặc điểm tâm lý GV (về nhân cách, họat động trên giờ dạy cụ thể), những quy luật của quátrình dạy học; những đặc điểm tâm lý HS, của cả lớp học Đó còn là những đặc điểm hoạt động giao tiếp GV và HS xuất phát từ đặc trưng môn học, nghĩa là tài liệu GV truyền đạt

và HS lĩnh hội … Phân tích TLH bài học hình thành ở GV năng lực phân tích, khả năng dự liệu tình huống, phát triển hứng thú nhận thức, xác định sự cần thiết tự nghiên cứu những vấn đề TLH dạy học và giáo dục Kỹ năng biết thực hiện quan sát TLH những hiện tượng sư phạm phức tạp, phân tích chúng, đưa ra những kết luận có

cơ sở TLH và đúng đóng vai trò là phương tiện đáng tin cậy để hoàn thiện trình độ nghiệp vụ-sư phạm đối với người GV

Về dạng phân tích TLH bài học, do bài học là một hệ thống trọn vẹn, tất cả các thành tố của nó có quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau, chúng có thể được tách ra (phân tích), biểu thị thông qua đối chiếu (tổng hợp) chúng với nhau Như vậy, phân tích TLH bài học có thể hình dung dưới dạng phân tích thông qua tổng hợp Điều này rất quan trọng, bởi vì tùy thuộc vào việc ta có làm sáng tỏ được hệ thống những mối liên hệ và quan hệ mà khách thể được nghiên cứu tham gia vào, ta mới nhận thấy và phân tích những dấu hiệu mới còn chưa được biết của khách thể này Ngược lại, khi chưa tự mình khám phá hệ thống các mối liên hệ như vậy, ta sẽ chưa có bất kỷ sự quan tâm nào đến tính chất mới và cần thiết, thậm chí cả khi được gợi ý hay chỉ trực tiếp ra tính chất mới đó

Dạng phân tích bài học thông qua tổng hợp này, phản ánh toàn bộ sự đa dạng các mối liên hệ qua lại giữa các thành tố của bài học, góp phần làm cho người GV nhận thức sâu sắc hơn những thời điểm TLH phức tạp nhất của hoạt động dạy và học Trong quá trình tiến hành phân tích TLH bài học thì đồng thời biểu hiện và hình thành kỹ năng phân tích của người GV Trong đó bản thân kỹ năng phân tích của người GV được quyết định bởi nhiều đặc điểm TLH cá nhân như óc quan sát, óc phân tích, khả năng xem xét khách thể từ nhiều phía, tính phê phán Bản thân sự phân tích bài học góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất đó của người

GV, chúng là phương tiện hiệu quả để nâng cao kỹ năng nghề sư phạm của người

GV Phân tích TLH bài học là phương tiện hiệu quả nhất đề người GV ý thức HĐSP của bản thân, nghĩa là phương tiện ―phản tỉnh sư phạm‖ (tự đánh giá)

Trang 38

38

Phân tích TLH bài học có thể được thực hiện ở 3 bình diện

Bình diện thứ nhất là sự phân tích TLH liên quan đến giáo dục, phát triển nhân cách HS, hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức HS trong quá trình dạy học Tức là xem xét sự phù hợp của bài học với các mục tiêu của dạy học và giáo dục

Bình diện thứ hai liên quan đến luận cứ (cơ sở), nội dung và tổ chức bài học… Trong quá trình phân tích sẽ xem xét bài học phù hợp với sự sẵn sàng của HS, trình

độ phát triển trí tuệ của học ở mức nào Phân tích bản chất tâm lý của việc lĩnh hội tài liệu học tập, của sự phát triển tính tích cực trí tuệ của HS trong quá trình học, sự phù hợp của những cách thức, biện pháp làm việc với những đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm tâm lý cá nhân của HS

Bình diện thứ ba có hai khía cạnh:

- HS với tư cách là chủ thể hoạt động học tập, hoạt động giao tiếp sư phạm với các HS khác và với GV

- Phân tích TLH bài học còn là phương tiện hoàn thiện HĐSP của bản thân GV, điều này vô cùng quan trọng trong điều kiện trường phổ thông hiện nay Trong trường hợp này tự đánh giá bắt đầu có tác dụng, nghĩa là sự ý thức, suy ngẫm của bản thân GV (về động cơ, xu hướng nhân cách, mức độ kỳ vọng, diễn biến hoạt động của bản thân, thành công của hoạt động này …) Điều quan trọng phải lưu ý là, sự tự đánh giá này có liên quan đến sự tự ý thức nghề nghiệp của GV với tư cách là chủ thể HĐSP

Về khách thể phân tích TLH bài học, các khách thể của tự đánh giá trong quá trình phân tích TLH bài học trước hết là động cơ HĐSP của bản thân Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cùng với những động cơ có ý nghĩa xã hội tích cực (muốn cùng làm việc với trẻ em, HS, hiểu được ý nghĩa xã hội của nghề mình đang làm …) các

GV còn có những động cơ liên quan đến những ảnh hưởng từ hoàn cảnh bên ngoài (cơ hội được nghiên cứu một đối tượng yêu thích, như toán học, tiếng nước ngoài, hứng thú đối với nghề lao động trí óc …) mà không liên quan đến chính HĐSP Do

đó, câu trả lời cho câu hỏi được đặt ra với chính mình ―Tôi làm công việc này vì cái gì‖ có thể ảnh hưởng tích cực đến đặc điểm thực hiện hoạt động này, đến việc nâng cao hiệu quả của nó

Trên đây là một số nội dung, theo chúng tôi, GV có thể xem là căn cứ (cùng với những căn cứ khác) để xác định những nội dung, thứ tự ưu tiên của hoạt động tự bồi dưỡng nhằm nâng năng lực sư phạm

Tài liệu tham khảo

1 Quỹ hòa bình và phát triển Việt Nam, Thử bàn về định hướng phát triển giáo dục

phổ thông 10-15 năm tới, NXBGD, 2010

2 I.A Zimnhaia, Tâm lý học sư phạm, 2001

Trang 39

TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG – NHỮNG NĂNG LỰC QUAN TRỌNG ĐỂ DẠY

HỌC SINH BIẾT TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU

Theo nghĩa trên thì Tự học là tự mình tìm ra kiến thức hoặc luyện tập kỹ năng không cần phải có người dạy, mà chỉ thông qua tài liệu và phương tiện do người học lựa chọn

đề và nghiên cứu để đạt mục đích đề ra Theo từ điển bách khoa Wikipedia nghiên

cứu thường được mô tả là một quy trình tìm hiểu tích cực, có hệ thống nhằm khám phá, lý giải và xem xét các sự kiện Sự điều tra tri thức này tạo ra sự hiểu biết tốt hơn

về các sự kiện, hành vi hoặc giả thuyết và tạo ra các ứng dụng thực tế thông qua các định luật và giả thuyết Thuật ngữ nghiên cứu cũng được sử dụng để mô tả việc thu thập thông tin về các vấn đề chuyên môn và nó thường liên quan đến khoa học và các phương pháp khoa học

1.1.5 Nghiên cứu khoa học: là một hoạt động đặc biệt của con người, đây là

một hoạt động có mục đích, có kế hoạch được tổ chức chặt chẽ của đội ngũ các nhà khoa học [Dương Kỳ Sơn, 2001], hoặc ―Hoạt động nghiên cứu khoa học là một hoạt

7

Viện Nghiên cứu giáo dục, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh

8Quyết định số 07/2002/QĐ-BGD&ĐT quy định về tổ chức hình thức tự học có hướng dẫn

Trang 40

40

động có chủ đích có hệ thống nhằm đạt đến những hiểu biết khách quan về các sự vật, hiện tượng, các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.‖ [Nguyễn Khánh Đức, 2010] Trong thực tế đời sống, có những người không phải nhà khoa học hay người

có trình độ cao, mà ngay những người nông dân, trình độ học vấn còn thấp nhưng đã sáng tạo ra những sản phẩm khoa học, kỹ thuật có giá trị

1.1.6 Tự nghiên cứu

Theo nghĩa nghiên cứu ở trên thì tự nghiên cứu có nghĩa là tự mình đặt ra vấn

đề, tự mình xem xét, tìm hiểu để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề và có khi rút ra những hiểu biết mới Ở đây đòi hỏi người nghiên cứu không chỉ tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề, mà còn phải nắm vững các phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, lập báo cáo tổng kết và công bố kết quả nghiên cứu.v.v

1.2 Tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh và các nhà khoa học

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về về tinh thần tự ho ̣c và học suốt đời, đồng thời, chính Người đặt niềm tin lớn nhất vào khả năng tự học của mỗi người Trong thư gửi HS toàn quốc nhân ngày khai trường 2-9-1945, Người đã viết:

―Non sông Viê ̣t Nam có trở nên vẻ vang hay không , dân tộc Viê ̣t Nam có sánh vai

được với các cường quốc năm châu đ ược hay không phần lớn là nhờ vào công học tập của các em ‖ Trong câu nói này đã hàm chứa một chân lý sâu sắc, đó là: đất

nước Việt Nam muốn phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu phải dựa vào

―công học tập‖, mà trong đó, khả năng tự học của mỗi HS là vô cùng quan trọng Cùng với sự phát triển nền giáo dục nước nhà, tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh được thể hiện một cách minh triết, nhất quán và cụ thể, đó là:

Thứ nhất, phải ham học, học suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc, lấy tự học làm

cốt Mỗi người tự nhận thấy và đánh giá được mức độ hiểu biết của mình, biết chấp nhận những gì mình có và phải có ước mơ, hoài bão để vươn lên Tri thức của nhân loại là vô hạn, còn hiểu biết của mỗi cá nhân là hữu hạn Do đó, nếu một người chỉ trông chờ vào những kiến thức được trang bị ở nhà trường thì những hiểu biết đó sẽ mai một dần và lạc hậu với thực tiễn Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: ―Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi , biết hết rồi Thế giới ngày ngày đổi mới , nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân‖ Học trong nhà trường cũng như học ở ngoài đời phải ―Lấy tự học làm cốt‖, khi đã có niềm tin, sự đam mê thì tự mình sẽ chủ động học hỏi, nghiên cứu không ngừng nghỉ

Thứ hai, là học cái gì? Theo Hồ Chí Minh cần học những điều cơ bản, thiết

thực đối với mỗi người Trong hành trang tri thức của mỗi người rất nhiều điều còn thiếu, nhưng cái gì cũng học thì chúng ta chỉ thu được một mớ kiến thức hỗn tạp , không có tác dụng với chính người học và cũng không thể đủ thời gian để học và

Ngày đăng: 24/06/2015, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adam Khoo (2012), Tôi tài giỏi, bạn cũng thế, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tài giỏi, bạn cũng thế
Tác giả: Adam Khoo
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2012
2. A.V.Pêtrôvxki (1982), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: A.V.Pêtrôvxki
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
3. Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo trình giáo dục kỹ năng sống , NXB Đa ̣i ho ̣c Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Đại ho ̣c Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
4. Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
5. Lưu Xuân Mới (2003), “Rèn luyê ̣n kỹ năng tự học cho SV Đại học” , Tạp chí Giáo dục và Phát triển, (Số 9, 9/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Rèn luyê ̣n kỹ năng tự học cho SV Đại học”
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Năm: 2003
6. Huỳnh Thị Trang (2007), Nghiên cứu KN tự học của SV trường cao đẳng sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học, Trường Đai học sư phạm – Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu KN tự học của SV trường cao đẳng sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả: Huỳnh Thị Trang
Nhà XB: Trường Đai học sư phạm – Đại học Huế
Năm: 2007
7. Website: Con đường thành công, “Chương trình con đường thành công‖ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chương trình con đường thành công
(10/2007) Nguồn: http://www.conduongthanhcong.com Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Những yếu tố cần thiết của người tự học, tự nghiên cứu - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2. Những yếu tố cần thiết của người tự học, tự nghiên cứu (Trang 95)
Bảng 3. Tìm hiểu nội dung chương trình THCS - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 3. Tìm hiểu nội dung chương trình THCS (Trang 96)
Bảng 5. Số lượng học viên cao học của Trường THPT Mang Thít - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 5. Số lượng học viên cao học của Trường THPT Mang Thít (Trang 100)
Hình 1: Mối quan hệ giữa quá trình dạy học và quá trình tự học, - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Hình 1 Mối quan hệ giữa quá trình dạy học và quá trình tự học, (Trang 117)
Hình 1: Giao diện của PM Violet - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Hình 1 Giao diện của PM Violet (Trang 153)
Hình 2: Giao diện của PM Total Video Converter - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Hình 2 Giao diện của PM Total Video Converter (Trang 154)
Bảng 2. Thực trạng về kỹ năng tự học của sinh viên - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2. Thực trạng về kỹ năng tự học của sinh viên (Trang 184)
Bảng 1: Quy trình nhận thức trọn vẹn - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 1 Quy trình nhận thức trọn vẹn (Trang 193)
Bảng 3: DÀN Ý VĂN BẢN GIẢI TRÌNH THEO 23 CÂU HỎI - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 3 DÀN Ý VĂN BẢN GIẢI TRÌNH THEO 23 CÂU HỎI (Trang 195)
HÌNH THỨC VĂN BẢN ĐÚNG QUI ĐỊNH (bìa; kiểu chữ, cỡ chữ, lề, dòng; tài liệu tham khảo, - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
b ìa; kiểu chữ, cỡ chữ, lề, dòng; tài liệu tham khảo, (Trang 197)
Bảng 4: DÀN Ý VĂN BẢN GIẢI TRÌNH THEO 23 CÂU HỎI. - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 4 DÀN Ý VĂN BẢN GIẢI TRÌNH THEO 23 CÂU HỎI (Trang 198)
Bảng 2. Nhận thức của sinh viên ĐH SP HN về sử dụng thời gian cho các hoạt - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2. Nhận thức của sinh viên ĐH SP HN về sử dụng thời gian cho các hoạt (Trang 208)
Bảng 3.1: Thực trạng tần suất sử dụng thời gian cho tự học và nghiên cứu của SV - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 3.1 Thực trạng tần suất sử dụng thời gian cho tự học và nghiên cứu của SV (Trang 209)
Sơ đồ tƣ duy là một kỹ thuật họa hình để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ  não - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Sơ đồ t ƣ duy là một kỹ thuật họa hình để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não (Trang 255)
Sơ đồ tƣ duy, làm tăng thêm sức thu hút, hấp dẫn và thể hiện cá tính, nhờ đó mà đẩy mạnh  khả năng sáng tạo, khả năng ghi nhớ, đặc biệt là sức gợi mở thông tin - Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Sơ đồ t ƣ duy, làm tăng thêm sức thu hút, hấp dẫn và thể hiện cá tính, nhờ đó mà đẩy mạnh khả năng sáng tạo, khả năng ghi nhớ, đặc biệt là sức gợi mở thông tin (Trang 256)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w