1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

92 447 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 775,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài chính Nhà Nước mà cụ thể là Ngân sách Nhà Nước đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non, thông qua quan hệ tín dụng Nhà nước có thể huy động c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-***** -

VŨ VĂN DUẨN CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -***** -

VŨ VĂN DUẨN

CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt i

Danh mục các bảng ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON 7

1.1 Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước 7

1.2 Những vấn đề chung về giáo dục mầm non 11

1.3 Tài chính và vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non 11

1.3.1 Nhận thức cơ bản về tài chính 11

1.3.2 Vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non: 13

1.3.3 Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non nước ta hiện nay: 19

1.4 Cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non ở Việt Nam hiện nay 20

1.4.1.Thực trạng cơ chế tài chính giáo dục mầm non Việt Nam: 20

1.4.2 Một số tồn tại của cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non nước ta hiện nay: 23

1.5 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 25

1.5.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 25

1.5.2 Những kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CỦA GIÁO DỤC MẦM NON TỈNH LẠNG SƠN THỜI GIAN QUA 32

Trang 4

2.1 Vài nét đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn: 32

2.2 Cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non công lập ở Lạng Sơn hiện nay 34

2.3 Các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục mầm non hiện nay 35

2.4 Tình hình sử dụng tài chính đầu tư phát triển giáo dục mầm non ở Lạng Sơn thời gian qua 40

2.5 Thực trạng GDMN tỉnh Lạng Sơn năm học 2013 - 2014 46

2.5.1.Quy mô phát triển giáo dục mầm non: 46

2.5.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ sức khoẻ cho trẻ: 47

2.5.3.Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL và giáo viên: 48

2.5.4.Cơ sở vật chất, thiết bị và kinh phí cho giáo dục mầm non năm học 2013 - 2014: 48

2.6 Những tồn tại của giáo dục mầm non tỉnh Lạng Sơn: 49

2.7 Nguyên nhân của những tồn tại trên 52

2.8 Đánh giá các giải pháp tài chính hiện hành để thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non ở Lạng Sơn 53

2.9 Một số kinh nghiệm sử dụng các biện pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non của một số địa phương trong cả nước 55

2.9.1 Tỉnh Lào Cai 55

2.9.2.Tỉnh Tuyên Quang 58

2.10.Một số bài học kinh nghiệm vận dụng cho tỉnh Lạng Sơn về sử dụng các giải pháp tài chính thúc đẩy giáo dục mầm non 60

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 63

3.1 Mục tiêu và quan điểm về sử dụng các giải pháp tài chính để thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2015 - 2020 tỉnh Lạng Sơn 63

Trang 5

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 63

3.1.2.Mục tiêu cụ thể 64

3.1.3.Quan điểm 65

3.1.4 Nhu cầu kinh phí thực hiện các mục tiêu 67

3.2 Giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 67

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 Bộ GD-ĐT Bộ giáo dục-đào tạo

2 CSGD Cơ sở giáo dục

3 CSVC Cơ sở vật chất

4 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

5 CBQL Cán bộ quản lý

6 CSGDMN Cơ sở giáo dục mầm non

7 GTGT Giá trị gia tăng

Trang 7

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Chi NSNN cho hoạt động GDMN trên địa bàn

tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011-2013 42

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sau hơn mười năm đổi mới và năm năm thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2015”, giáo dục mầm non nước ta đã có bước phát triển đáng

kể về quy mô, loại hình trường, lớp học vượt định mức chỉ tiêu chiến lược đã

đề ra; tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho gia đình Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản và từng bước nâng cao về chất lượng, trình độ đào tạo Tỷ lệ trẻ em được chăm sóc, giáo dục trong hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo ngày càng tăng Chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục ngày càng tốt hơn; góp phần nâng cao chất lượng, bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục

Tuy nhiên, mức độ phát triển nói trên của giáo dục mầm non vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi dạy trẻ và những đòi hỏi mới của sự nghiệp phát triển đất nước, thành tựu đạt được chưa vững chắc, chưa mang tình hệ thống Những yếu kém, bất cập về quy mô, mạng lưới trường, lớp, đội ngũ giáo viên

và cán bộ quản lý, cơ chế quản lý, chính sách xã hội, phương thức, nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ, điều kiện cơ sở vật chất và một số vấn đề khác cần được quan tâm, chăm lo phát triển

Giáo dục mầm non gắn liền và chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển chung của xã hội, không chỉ vì trẻ em là nguồn nhân lực tương lai của đất nước mà còn vì cha mẹ các em là nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Trong hệ thống các bậc học, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Vậy mà bậc học này đang bị coi nhẹ và trên thực tế đang gặp nhiều khó khăn

Trang 9

2

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của bậc học có nhiều nét đặc thù này, thủ tuớng đã ban hành quyết định số 239/QĐTTg phê duyệt đề án “Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015” Mục tiêu của đề

án này là hầu hết trẻ ở mọi miền được trang bị những kiến thức cơ bản về tiếng Việt, đảm bảo chất lượng để trẻ vào lớp 1 Để hoàn thành được những mục tiêu trên, phải trông chờ vào hệ thống các trường mầm non trong và ngoài công lập Tuy nhiên, với hệ thống giáo dục mầm non tại các tỉnh, thành, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa như hiện nay, nhiều nhà quản lý giáo dục

lo ngại rằng, mục tiêu trên sẽ khó khả thi Nhất là khi mà nguồn ngân sách đầu tư cho bậc học mầm non, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cho bậc học này còn nhiều thiếu thốn, chưa đảm bảo yêu cầu và phân bố không đồng đều

Trong những năm gần đây, khi số trẻ mới sinh có chiều hướng gia tăng, nhu cầu của gia đình phụ huynh tăng cao thì hệ thống các trường mầm non, nhất là các trường công lập đã không đáp ứng được, gây ra tình trạng “quá tải” Đặc biệt, ở vùng thành phố, người dân có nhu cầu gửi trẻ rất lớn nhưng lại thiếu quỹ đất xây dựng trường lớp Việc xây dựng, quy hoạch các khu dân

cư đô thị chưa gắn với quy hoạch đất đai để xây dựng trường lớp cho bậc học mầm non đã dẫn đến tình trạng nhiều trẻ em trong lứa tuổi mầm non ở đây không được đến trường Trường lớp thiếu nên không ít phụ huynh phải gửi con ở những điểm trông giữ trẻ tư nhân không đảm bảo chất lượng, hoạt động

“chui”, không có giấy phép, điều kiện chăm sóc trẻ không đảm bảo, thậm chí một số nơi gây ra tình trạng bạo hành đối với trẻ em

Trong những năm qua, Lạng Sơn có những bước phát triển rõ rệt trên mọi phương diện kinh tế-xã hội Sự nghiệp giáo dục và đạo tạo của Tỉnh nói chung và giáo dục mầm non nói riêng đã được các cấp lãnh đạo chính quyền Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư thích đáng Bằng nhiều nguồn vốn đầu tư, mạng lưới trường lớp giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh đã có bước tiến

Trang 10

3

đáng kể trong việc đầu tư nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới, đáp ứng một phần nhu cầu chăm sóc giáo dục và học tập của trẻ, chính vì vậy giáo dục mầm non đã có những bước chuyển biến tích cực và đúng hướng, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở tất cả các trường được từng bước nâng lên Mạng lưới trường lớp cấp học mầm non trên địa bàn tỉnh được điều chỉnh, củng cố

và phát triển

Tuy nhiên, so với yêu cầu của ngành học trong giai đoạn mới, mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất trường học của giáo dục mầm non trên toàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập Hầu hết các phòng học, phòng hiệu bộ còn thiếu

và không đúng tiêu chuẩn, có nhiều nơi phải học ghép với các cấp bậc khác, sân trường, nhiều nơi còn thiếu diện tích, vừa bụi vừa khô, vừa đọng nước và mùa mưa nên ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc giáo dục các cháu

Hơn nữa do tác động của nhiều nhân tố nên nhu cầu gửi trẻ của nhân dân trong thời gian tới sẽ không ngừng tăng lên, nhu cầu mạng lưới trường, lớp phải tiếp tục đầu tư mở rộng

Để thúc đẩy giáo dục mầm non phát triển, qua tìm hiểu thực trạng phát triển giáo dục mầm non trong những năm gần đây, tôi mạnh dạn đưa ra một

số một số giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non tỉnh Lạng

Sơn trong giai đoạn tới Để thực hiện và hoàn thiện được luận văn tốt nghiệp

cao học của mình Kính mong được sự đóng góp của giảng viên hướng dẫn và

các bạn để tôi hoàn thiện đề tài này Đề tài: “Các giải pháp tài chính thúc

đẩy phát triển giáo mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, dự án liên quan đến phát triển giáo dục mầm non trên cả nước nói chung và giáo dục

Trang 11

4

mầm non của tỉnh Lạng Sơn nói riêng Có thể nêu một số công trình, đề án tiêu biểu sau đây:

- Phan Thị Cúc (2012), Đổi mới và hoàn thiện các giải pháp tài chính

nhằm thúc đẩy xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục mầm non, Đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đề án phát triển giáo dục mầm non

giai đoạn 2010-2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Nguyễn Mạnh Hùng (2013), Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển

giáo dục mầm non Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Nguyễn Mai Liên (2012), Thực trạng và các giải pháp phát triển giáo

dục mầm non Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện quốc gia TP HCM

- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn, Đề án phổ cập giáo dục mầm

non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2015- 2020

- UBND tỉnh Lạng Sơn (2013), Quy hoạch mạng lưới các trường giáo

dục tiểu học, mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020

- UBND tỉnh Lạng Sơn (2013), Quy hoạch phát triển sự nghiệp GiáoDục

Lạng Sơn đến năm 2020, Lạng Sơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích:

Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giáo dục mầm non, vai trò của tài chính đối với việc thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục mầm non và thực trạng sử dụng các nguồn tài chính trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua, những kết quả đạt đƣợc và những hạn chế, những nguyên nhân gây ra những hạn chế đó

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu:

Là những vấn đề lý luận và thực tiễn việc sử dụng các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non ở Lạng Sơn thời gian qua

* Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Chủ yếu đề cập tới thực trạng và các giải pháp tài chính

thúc đẩy giáo mầm non công lậpở Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay

Về không gian và thời gian: tìm hiểu thực trạng sử dụng các nguồn tài

chính của giáo dục mầm non ở Lạng Sơn trong những năm trở gần đây Trên

cơ sở đó đề xuất một số giải pháp tài chính thúc đẩy giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phát triển

5.Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, bám sát điều kiện thực tế tại địa phương, khái quát tài liệu có sẵn kết hợp phương pháp nghiên cứu thực tiễn: (phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia tổng kết kinh nghiệm), qua

đó xử lý số liệu: (dùng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu, các kết quả điều tra, khảo sát) để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

Trang 13

6

6.Những đóng góp của luận văn

Hệ thống hóa, phân tích và hoàn thiện thêm nhận thức về khái niệm, vai trò của giáo dục; sự cần thiết và vai trò của các giải pháp tài chính thúc đẩy giáo dục – đào tạo phát triển

Tổng kết và đánh giá thực trạng của giáo dục mầm non, những tác động tích cực và hạn chế của nguồn tài chính, công cụ tài chính, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tài chính thúc đẩy sự nghiệp giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phát triển

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương

Chương 1: Những vấn đề chung về giáo dục mầm non và vai trò của tài

chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non

Chương 2: Thực trạng công tác thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non ở

Lạng Sơn thời gian qua

Chương 3: Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non

trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Trang 14

7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON 1.1 Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng là nền tảng văn hóa của một quốc gia, là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Muốn vậy, mỗi quốc gia phải thực hiện tốt nhiệm vụ cơ bản là nâng cao hiệu quả sự nghiệp giáo dục nói chung

và giáo dục mầm non nói riêng

Ở nước ta từ thời phong kiến các vị vua đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, quan tâm đến hiền tài của đất nước vì hiền tài là nguyên khí của quốc gia Giáo dục nói chung càng quan tâm sâu rộng hơn khi đất nước ta bước vào thời kỳ mới, khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Nhân ngày khai trường đầu tiên, tháng 9 năm 1954, Bác Hồ đã gửi thư nhắn nhủ học sinh cả nước cố gắng học tập để rạng danh đất nước, con người Việt

Nam: “ Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam

có được sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu”

Trong thời đại ngày nay, thời đại của CNH-HĐH, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Quốc gia nào càng có nền giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng hiện đại và phát triển thì đồng nghĩa với việc quốc gia đó có tầng lớp trí thức đông đảo, tạo điều kiện thuận lợi để tiến sâu vào nền khoa học kỹ thuật đang phát triển của thế giới, không ngừng đưa nền kinh tế phát triển Đánh giá sự tiến bộ về văn hóa

xã hội và sự phát triển kinh tế của một quốc gia, ngày nay người ta không chỉ

Trang 15

có nghĩa là mỗi giai đoạn đào tạo đều đóng vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Với sự đổi mới công nghệ, sự xuất hiện những công nghệ mới tự động hóa, sử dụng ít lao động nhưng đòi hỏi lao động phải có trình độ cao thì họ sẽ

bị loại ra khỏi dây chuyền sản xuất, trở thành gánh nặng xã hội cho đất nước nếu không qua đào tạo Ngược lại nếu đào tạo chu đáo, đầy đủ thì họ sẽ trở thành nguồn nhân lực lành nghề có tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước

Có thể nói, giáo dục – đào tạo nói chung luôn giữ vai trò quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình hình thành và hoàn thành nhân cách con người, trong quá trình đạo tạo nguồn lao động cho đất nước Vì thế đầu tư vào giáo dục nói chung có nghĩa là đầu tư phát triển kinh tế xã hội Phân tích cụ thể ta thấy được rõ vai trò của giáo dục nói chung như sau:

Trang 16

9

- Giáo dục nói chung có vai trò quan trọng đối với việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao từ đó góp phần tăng năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Một nền kinh tế muốn có sức mạnh để phát triển cần phải tạo ra được một trình độ trí tuệ ngang tầm với thời đại và nguồn chất xám cũng như nguồn nhân lực kỹ thuật luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động

Có những quốc gia mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế nhưng vẫn

có sự phát triển vượt bậc bởi họ biết đầu tư xứng đáng vào giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Như Nhật Bản mặc dù không có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, song nước Nhật vẫn phát triển thần kỳ sau chiến tranh thế giới và đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Đó cũng là nhờ vào chiến lược phát triển giáo dục nói chung trong đó bao gồm cả chiến lược phát triển giáo dục mầm non nói riêng

- Giáo dục nói chung có vai trò quyết định đến sự phát triển và làm chủ khoa học công nghệ hiện đại – nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng cao và bền vững

Vũ khí cạnh tranh kinh tế quyết định trong thế kỷ XXI là giáo dục và

kỹ năng của người lao động Chính vì vậy, bất cứ một nước đang phát triển nào, nếu biết đề cao yếu tố tri thức và thông tin, bỏ qua chiến lược phát triển tuần tự, chuyển sang áp dụng chiến lược nhảy vọt, tập trung công nghệ cao để tiến hành công nghiệp hóa thì hoàn toàn có thể rút ngắn được thời gian CNH-HĐH của mình Chính sự tận dụng và phát huy những thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đã làm cất cánh nhiều quốc gia với những thành tựu phát triển KTXH vượt bậc

- Giáo dục nói chung góp phần thực hiện công bằng xã hội

Công bằng xã hội là một động lực phát triển kinh tế xã hội, bởi nó là yếu

tố tác động trực tiếp đến lợi ích của chủ thể hành động Và do vậy, nó kích thích

Trang 17

10

tính năng động, sáng tạo của mọi thành viên xã hội, duy động các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế Công bằng xã hội cũng là mục tiêu cốt lõi của chính sách xã hội, nhằm hướng tới ổn định xã hội, không ngừng nâng cao mọi mặt đời sống nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên nếu xét tới công bằng xã hội trong tất cả các lĩnh vực thì công bằng xã hội trong giáo dục nói chung là điều kiện tiên quyết không chỉ tiến tới công bằng xã hội về thu nhập, mà còn để đạt tới công bằng xã hội nói chung Công bằng trong giáo dục được thực hiện bằng nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn Trước hết là đầu tư theo mục tiêu cho các địa bàn có nhiều khó khăn, phát hành công trái giáo dục để hỗ trợ cho các tỉnh miền núi, vùng khó khăn xây dựng trường học kiên cố, đạt chuẩn chất lượng và thực hiện xóa đói giảm nghèo, thông qua đó tạo nhiều cơ hội cho trẻ tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ giáo dục

- Giáo dục nói chung góp phần quan trọng thúc đẩy việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ở Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển và trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục trong việc thúc đẩy hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng CNH-HĐH, văn kiện Đại hội Đảng X chỉ rõ “ Điều chỉnh hợp lý cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo phù hợp với yêu cầu học tập của nhân dân, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội”

Như vậy, ta thấy được vai trò to lớn và không thể thiếu được của giáo dục – đào tạo nói chung đối với việc phát triển kinh tế xã hội Qua đó cần tăng cường, mở rộng các nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục nói chung và

Trang 18

11

giáo dục mầm non nói riêng, khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội vào phát triển giáo dục, tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục nhanh hơn, có chất lượng và hiệu quả hơn

1.2 Những vấn đề chung về giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non không phải là dạy trẻ thơ đọc chữ, học kiến thức khoa học; đây là loại hình giáo dục đặc biệt, là sự chuẩn bị cho trẻ thơ những tiền đề quan trọng trước khi bước vào giáo dục nhà trường Thông qua sự chăm sóc ân cần, đúng phương pháp khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm-sinh lý của trẻ, để nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn cho trẻ

Các loại hình giáo dục mầm non hiện nay:

1 : Nhà trẻ trường mẫu giáo

2 : Nhà trẻ trường mẫu giáo hợp nhất

3 : Các loại hình giáo dục mầm non khác

- Nhà trẻ thu nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến 36 tháng tuổi

- Trường mẫu giáo thu nhận trẻ từ 36 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi

- Ngoài ra vì là vùng núi còn nhiều khó khăn trong giáo dục, việc huy động trẻ đến trường đúng độ tuổi còn hạn chế nên Lạng Sơn còn có các loại hình giáo dục mầm non khác như Lớp mẫu giáo năm tuổi dành cho trẻ em năm tuổi mà chưa qua lớp mẫu giáo nhỏ

1.3 Tài chính và vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non

1.3.1 Nhận thức cơ bản về tài chính

Tài chính là một phạm trù kinh tế khách quan, thuộc về lĩnh vực phân phối Tính chất đặc biệt thuộc về tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới

Trang 19

12

hình thức giá trị và được thực hiện bằng con đường tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định theo các mục đích nhất định

Tài chính có các hoạt động cơ bản là :

Tổ chức nguồn lực tài chính của xã hội : Thông qua hàng loạt chính sách tài chính để động viên các nguồn lực tài chính vào các quỹ tiền tệ

Phân phối các nguồn lực tài chính đảm bảo cho hàng loạt mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững an ninh quốc phòng Giám sát chặt chẽ việc tạo nguồn, phân phối nguồn và sử dụng các nguồn tài chính

Trong đời sống thực tiễn, hoạt động tài chính luôn gắn liền với hoạt động KT-XH Trong các lĩnh vực KT-XH khác nhau, khi các chủ thể ở đó tiến hành các quan hệ tài chính khác nhau Các nguồn tài chính gặp nhau tại một giao điểm gọi là quỹ tiền tệ Ở mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau có những quỹ tiền tệ đặc thù được hình thành và sử dụng cho những mục đích khác nhau, các hoạt động tài chính ở đó cũng có đặc điểm và vai trò riêng, nghĩa là ở đó hình thành một mắt khâu tài chính độc lập Tính đa dạng, phong phú đó của các hoạt động tài chính là bắt nguồn từ tính đa dạng, phong phú của các hoạt động kinh tế-xã hội mà hoạt động tài chính là một bộ phận Tuy có có sự đa dạng và khác nhau nhưng các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực, các khâu tài chính lại có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau trong

sự vận động không ngừng của các nguồn tài chính kết hợp với nhau và cấu thành hệ thống tài chính có nhiều mắt khâu tài chính hợp thành Trong điều kiện hiện nay ở nước ta có các khâu tài chính sau: Tài chính doanh nghiệp; Bảo hiểm; Tín dụng; Tài chính các tổ chức xã hội và tài chính hộ dân cư Trong hệ thống tài chính nước ta, NSNN là khâu chủ đạo Đây là một tụ điểm các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung

Trang 20

13

của Nhà nước với mục đích phục vụ cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp và thực hiện chức năng của Nhà nước Còn tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở, là một tụ điểm của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Các khâu trong hệ thống tài chính đặc biệt là NSNN đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội nói chung, trong đó có hoạt động giáo dục-đào tạo

Do nhu cầu kinh phí phát triển sự nghiệp giáo dục mầm non rất lớn, nên ngoài nguồn NSNN rất cầ và buộc phải thực hiện xã hội hóa nguồn lực Trong điều kiện đổi mới quản lý kinh tế, phát huy quyền tự chủ của các đơn vị cơ sở, thực hiện phương châm đa dạng hóa nguồn vốn cho xã hội hóa giáo dục mầm non, các nguồn ngoài ngân sách có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ nguồn kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục mầm non trong nước Tài chính của các tổ chức xã hội và tài chính hộ dân cư đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện xã hội hóa giáo dục như: tiền ủng hộ các cơ quan, doanh nghiệp cho các quỹ khuyến học, quỹ giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó Các khoản tặng bieus cho các trường bằng hiện vật như máy vi tính, đồ dùng thí nghiệm, đồ chơi, hình ảnh minh họa, sách, truyện Tiền tài trợ của các

tổ chức thông qua các dự án, chương trình góp phần tăng nguồn đầu tư cho hoạt động giáo dục mầm non để nâng cấp các cơ sở trường học, lớp học, cải thiện đời sống đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đề cao nghĩa vụ gắn với trách nhiệm của mỗi đối tượng được thụ hưởng giáo dục mầm non

1.3.2 Vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non:

Giáo dục mầm non cần phải được quan tâm phát triển về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và thể chất Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non là nâng cao

Trang 21

14

hơn nữa khả năng tư duy sáng tạo, khả năng trí tuệ và đạo đức mà một con người cần có sau này, thông qua các hoạt động vui chơi để giáo dục, bồi dưỡng cho các cháu những đức tính tốt, chuẩn bị hành trang tốt nhất cho các cháu bước vào các cấp học tiếp, giáo dục mẫu giáo tốt sẽ chuẩn bị cho một nền giáo dục tốt, là điểm khởi đầu để hình thành nhân cách con người Chất lượng giáo dục mầm non phụ thuộc vào 4 nhân tố chính, bao gồm: Chương trình, phương pháp giảng dậy; đội ngũ giáo viên ; Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dậy và học; quản lý giáo dục Các nhân tố đó có thực sự nâng cao chất lượng hiệu quả hay không là phụ thuộc vào liều lượng tài chính đầu tư cho nó

Tài chính Nhà Nước mà cụ thể là Ngân sách Nhà Nước đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non, thông qua quan hệ tín dụng Nhà nước có thể huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi

để đầu tư cho giáo dục mầm non trong việc nâng cấp trang thiết bị dạy học, đầu tư cho đội ngũ giáo viên và cho từng cháu

Bằng các hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm có ý nghĩa quyết định trong lĩnh vực tiền tệ,

đi vay để cho vay, nên đã thu hút được khối lượng lớn tiền gửi hình thành các quỹ tiền tệ, để cung cấp vốn cho các hoạt động trong nền kinh tế nói chung và hoạt động giáo dục nói riêng

Với chức năng là công cụ kiểm soát các hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng, tài chính có thể phát hiện các bất hợp lý trong đầu tư, để kiến nghị và uốn nắn các sai phạm về tài chính, chống tham ô, lãng phí, chi tiêu bất hợp lý, nhờ đó nâng cao hiệu quả giáo dục mầm non như: Bằng các quan tài chính mở rộng hợp tác liên doanh về giáo dục mầm non thu

Trang 22

Như vậy nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non có mối liên quan chặt chẽ với các quan hệ tài chính Tài chính có vai trò quyết định trong việc đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đầu tư cho xây dựng phòng học, phòng ăn, ngủ, các trang thiết

bị vui chơi của các cháu Ngoài ra quan hệ tài chính còn là công cụ để phân tích, đánh giá, quản lý giáo dục có hiệu quả hay không

Các nguồn tài chính thúc đẩy giáo dục mầm non phát triển bao gồm:

*Nguồn NSNN:

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm

để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Theo Luật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 01/2002/QH11 ngày

16 tháng 12 năm 2002 về NSNN

Trong tất cả nguồn lực đầu tư cho sự nghiệp giáo dục mầm non thì nguồn NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất, là yếu tố chính quyết định đối với việc hình thành mở rộng và phát triển

hệ thống giáo dục mầm non quốc dân

Thực tế ở nước ta hệ thông trường công còn chiếm tỷ lệ lớn, việc phát triển các trường bán công, dân lập, tư thục chưa nhiều, vấn đề xã hội hóa, đa dạng hóa các loại hình trường lớp chưa mạnh, do vậy chưa thu hút được các

Trang 23

và nhân dân cùng chăm lo đến sự nghiệp trồng người

+ Ngân sách đảm bảo từng bước ổn định đời sống của đội ngũ giáo viên + NSNN có vai trò điều phối cơ cấu giáo viên trong ngành Thông qua định mức chi cho giáo dục mầm non, hàng năm góp phần định hướng cơ cấu các cấp học, mạng lưới các trường Tập trung NSNN cho những mục tiêu chương trình quốc gia như huy động 100% trẻ đúng tuổi đến trường, phổ cập giáo dục mầm non, xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo chuẩn giáo dục mầm non

Vốn NSNN chi cho giáo dục mần non được tạo lập từ nguồn chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển trong NSNN Nguồn NSNN cho hoạt động giáo dục mầm non chính là nguồn tài chính cơ sở để Nhà nước thực hiện nội dung, chiến lược ban đầu, là cơ sở để Nhà nước thực hiện việc kiểm soát vĩ mô và cấn đối tổng thể nhu cầu chi cho giáo dục mầm non

Có thể nói đầu tư của NSNN cho giáo dục mầm non là điều kiện ban đầu

để khuyến khích nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động giáo dục mầm non, đóng góp và các hoạt động giáo dục nhằm thúc đẩy sự phát triển giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng dạy và chơi của trẻ

Trang 24

17

Chi NSNN cho giáo dục mầm non bao gồm:

- Chi thường xuyên của NSNN cho giáo dục mầm non là khoản chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về phát triển giáo dục mầm non cả nước thuộc phạm vi cấp phát vốn của NSNN Vốn NSNN để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên cho giáo dục được thể hiện qua cấu cấu các nhóm mục chi sau:

+ Nhóm chi cho con người gao gồm: Chi lương theo ngạch bậc, theo quỹ lương được duyệt, lương tập sự và lương hợp đồng dài hạn Khoản thứ hai trong chi cho con người là chi phụ cấp lương bao gồm phụ cấp chức vụ, phụ cấp độc hại, phụ cấp đứng lớp vv Tiếp đến là khoản chi thưởng giáo viên, phúc lợi tập thẻ vv

+ Nhóm chi quan trọng thứ hai đó là nhóm chi cho nghiệp vụ: nó đáp ứng việc mua tư liệu, sách giáo khoa, đồ dùng học tập, mô hình giảng dạy khoản chi này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục mầm non, nó giúp thầy cô truyền đạt các thông tin đến các cháu một cách hiệu quả cao nhất + Nhóm chi quản lý hành chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu vật chất phục vụ cho hoạt động của Nhà trường, bao gồm: Chi hội thảo, công tác phí, dịch vụ công

+ Nhóm chi mua sắm, sửa chữa các thiết bị, đồ dùng giảng dạy, đồ chơi vvv

* Thuế:

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước

Trang 25

*Tín dụng:

Tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập

và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất theo nguyên tắc hoàn trả

Đối với các dự án đầu tư cho giáo dục mầm non thì Nhà nước cũng cần

có các chính sách khuyến khích về tín dụng như: Mở rộng hạn mức tín dụng đối với các dự án đầu tư cho giáo dục mầm non, tháo gỡ rào cản về thế chấp, tạo điều kienj cho các CSGD có thể vay vốn Giảm chí phí tiếp cận nguồn vốn tín dụng bằng cách giảm lãi suất tiền vay, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hạn chế các chi phí khác cho các CSGD đi vay vốn tín dụng Việc thực hiện các khoản vay này ngoài Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện thì nên cần khuyến khích các tổ chức tín dụng khác thực hiện

*Huy động từ các nguồn lực khác:

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu sắc, nền kinh tế của nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường việc huy động các nguồn tài chính khác, ngoài nguồn NSNN, đầu tư phát triển giáo dục đào tạo là rất quan trọng, bao gồm: tiền học phí của học sinh, tiền đóng góp xây dựng trường; lớp do

Trang 26

19

gia đình các cháu đóng góp; các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, các khoản tài trợ khác của doanh nghiệp, tổ chức cá nhân vào giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng

Nguồn thu từ học phí: Trong các nguồn tài chính ngoài NSNN huy động

đầu tư vào giáo dục mầm non thì nguồn thu từ học phí là nguồn tài chính quan trọng nhất góp phần đảm bảo chi phí giáo dục mầm non và có tính chất xã hội rộng lớn, là nguồn thu chiếm tỷ trọng cao Qua các năm nhà nước điều chỉnh mức thu cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo công bằng và tạo điều kiện chủ động cho các cơ sở

Nguồn đóng góp của nhân dân: trên cả 3 mặt: Nhân lực, vật lực và tài

lực Đặc biệt là sự đóng góp của nhân dân các địa phương cho việc xây dựng các cơ sở giáo dục mầm non mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non như tặng đất để xây trường, lớp

Nguồn viện trợ của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước: Đây là

nguồn tài chính quan trọng cho phát triển giáo dục Chiếm tỷ trọng đáng kể đó

là nguồn viện trợ hỗ trợ phát triển chính thức ODA của các nước, các tổ chức quốc tế

Nguồn khác: Nguồn tài chính từ các hoạt động dịch vụ, nghiên cứu khoa

học, nguồn đóng góp của các doanh nghiệp các nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ và chưa ổn định Tuy nhiên trong tương lai đây sẽ là nguồn vốn đáng kể cho sự phát triển của giáo dục mầm non

1.3.3 Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non nước

ta hiện nay:

- Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non Các nguồn vốn cho giáo dục mầm non bao gồm: Nguồn vốn NSNN, nguồn vốn ngoài NSNN

Trang 27

20

Xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức xã hội tham gia xây dựng các cơ sở giáo dục ngoài công lập Đây là một giải pháp rất hay, coi giáo dục là ngành dịch vụ đặc biệt Ai cũng có thể đầu tư xây dựng trường lớp ngoài công lập

- Đầu tư tài chính hợp lý cho các yếu tố trực tiếp nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non, bao gồm:

+ Đầu tư để nâng cao chất lượng học tập, trang bị cơ sở vật chất

+ Đầu tư để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên

- Thực hiện cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập, mầm non tư thục và cơ chế khuyến khích tài chính đối với các cơ sở giáo dục này

- Chống lãng phí trong giáo dục mầm non Là sự lãng phí của cải vật chất phục vụ cho quá trình đào tạo, sự thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các công trình trường học hay lãng phí về thời gian đào tạo, chương trình giảng dạy

1.4 Cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non ở Việt Nam hiện nay

1.4.1.Thực trạng cơ chế tài chính giáo dục mầm non Việt Nam:

Cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non là phương thức Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính tác động vào hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm thúc đẩy sự phát triển giáo dục mầm non Cơ chế quản lý giáo dục mầm non, một mặt thừa nhận và vận dụng quy luật khách quan của cơ chế quản lý kinh

tế thị trường, mặt khác biết sử dụng các phương pháp thích hợp về mặt tài chính nhằm tác động vào sự vận hành của các cơ sở giáo dục theo các mục tiêu mong muốn

Trang 28

21

Trong thời đại ngày nay, bên cạnh việc củng cố, phát triển các cơ sở giáo dục công lập giữ vai trò chủ đạo, làm nòng cốt của hệ thống giáo dục quốc dân ; cần khuyến khích sự ra đời và phát triển của các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập do các tổ chức, tập thể hoặc cá nhân trong và ngoài nước thành lập trong khuôn khổ chính sách pháp luật của Nhà nước và dưới sự quản lý của Nhà nước Theo quy định của Luật giáo dục năm 2005, cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta gồm: Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập và trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài NSNN

Nhà nước bằng cơ chế tài chính đối với các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập và cơ chế khuyến khích, quản lý tài chính với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập đúng đắn và hợp lý sẽ thúc đẩy các cơ sở giáo dục này hoạt động có hiệu quả, ngày càng nâng cao về chất lượng và mở rộng về quy mô đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của nhân dân

* Cơ chế quản lý tài chính với các cơ sở giáo dục mầm non công lập bao gồm các nội dung sau:

- Phân loại các cơ sở giáo dục mầm non công lập theo mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp, bao gồm: Cơ sở giáo dục mầm non tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, cơ sở giáo dục mầm non tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, cơ sở giáo dục mầm non do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên

- Lập, chấp hành và quyết toán thu, chi;

- Quản lý và sử dụng tài sản;

- Nội dung chi và cơ chế sử dụng các nguồn tài chính

Trang 29

22

- Tạo lập nguồn tài chính;

- Công khai, kiểm tra, thanh tra tài chính

* Cơ chế quản lý tài chính và cơ chế khuyến khích tài chính đối với các

cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập bao gồm những nội dung sau:

- Trường dân lập, trường tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi, thực hiện các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, kiểm toán

- Thu nhập của trường dân lập, trường tư thục được dùng để chi cho các hoạt động cần thiết của nhà trường, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, thiết lập quỹ đầu tư phát triển và các quỹ khác của nhà trường Thu nhập còn lại được phân chia cho các thành viên góp vốn theo tỷ lệ vốn góp

- Thực hiện nghĩa vụ với NSNN

- Xử lý tài sản, tài chính khi giải thể, phá sản

- Trường dân lập, trường tư thục thực hiện chế độ công khai tài chính và

có trách nhiệm báo cáo hoạt động tài chính hằng năm cho cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan tài chính có thẩm quyền ở địa phương

+ Nội dung cơ chế khuyến khích tài chính:

- Ưu đãi về cơ sở vật chất, đất đai: CSGD mầm non ngoài công lập được

ưu tiên thuê nhà, cơ sở hạ tầng thuộc sở hữu nhà nước; Nhà nước giao đất không thu tiền để xây dựng học, nhà bán trú, thư viện

- Ưu đãi về thuế, phí, lệ phí: Miễn, giảm một số loại thuế như thuế GTGT, thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu trong việc dạy và học, cũng như các dự án đầu tư cho giáo dục

Trang 30

23

- Ưu đãi về tín dụng: CSGD ngoài công lập được hưởng chế độ tín dụng ưu đãi của Nhà nước để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Ưu đãi khác: CSGD mầm non ngoài công lập được Nhà nước để lại toàn bộ thu nhập có được từ phần vốn góp của Nhà nước để đầu tư tăng cường CSVC Người lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập được Nhà nước xét tặng giấy khen, bằng khen, huân chương, huy chương, phong tặng các danh hiệu quý như đối với người lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập khác

Phát triển giáo dục mầm non, xây dựng một xã hội cùng tham gia xây dựng là sự nghiệp của Nhà nước và toàn dân Nhà nước phải có các chính sách để sử dụng đồng bộ và tổng hợp các công cụ tài chính nhằm khơi thông các nguồn lực của đất nước cho phát triển giáo dục mầm non

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự nghiệp giáo dục nói chung sự nghiệp giáo dục mầm non nói riêng; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục mầm non

1.4.2 Một số tồn tại của cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non nước

ta hiện nay:

- Hiện ngành giáo dục không có điều kiện đánh giá hiệu quả chi của Nhà nước cho giáo dục mầm non, nhân dân không đánh giá được chất lượng giáo dục trong tương quan với chi của Nhà nước và người dân cho giáo dục

Hiện 74% ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục do các tỉnh quản lý, 21% do các Bộ, ngành khác quản lý, Bộ GD&ĐT chỉ quản lý 5% Mà quy định về báo cáo và chế độ báo cáo sử dụng ngân sách giáo dục cho Bộ GD&ĐT không có

Trang 31

24

Các cơ sở giáo dục mầm non không công khai cam kết chất lượng giáo dục, không công bố đánh giá thực tế chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục, không công bố nguồn lực thực tế của nhà trường phục vụ nuôi dạy, không công khai tài chính của nhà trường để nhà nước và người dân dễ dàng kiểm tra, giám sát

- Trong thời gian qua, trách nhiệm của các cơ quản quản lý nhà nước về

sử dụng kinh phí cho giáo dục mầm non từ ngân sách và của người dân (qua học phí) sao cho hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục không rõ ràng Người đứng đầu cơ sở giáo dục nếu sử dụng kinh phí không hiệu quả, không quan tâm thỏa đáng đến yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non hầu như không bị xử lý bởi chế tài gì Và thực tế, Cơ quan quản lý nhà nước các cấp nếu phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước cho giáo dục không hợp lý, không giám sát được hiệu quả chi cho giáo dục cũng hầu như không

bị chế tài gì

- Trong hơn 10 năm qua, từ lần đổi mới gần nhất (năm 1998), tình hình kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi Tổng sản phẩm nội địa bình quân đầu người tăng 10 lần (từ 3,6 triệu đồng năm 1999 lên 36,9 triệu đồng năm 2012)

Lương tối thiểu cũng tăng theo quy định của nhà nước Bên cạnh đó, ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục tăng

Chỉ số giá cả tiêu dùng tăng, nhưng khung học phí hơn 10 năm không thay đổi mấy, dẫn đến hậu quả tổng nguồn lực của đất nước huy động cho giáo dục đào tạo vẫn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục mầm non

- Gia đình các cháu có thu nhập thấp, nếu ở các vùng khó khăn được miễn giảm học phí Tuy nhiên, nếu họ nghèo tới mức không dành được mỗi năm khoảng 200.000 – 400.000 đồng để đóng góp với nhà trường mua sách

Trang 32

25

vở, đồ dùng học tập, đồng phục, giày dép cho con em đi học thì các em không thể tới trường và việc hỗ trợ người nghèo qua miễn giảm học phí chưa đủ mà phả trợ cấp tiền thêm để các hộ này có thể đưa con đi học

- Với các hộ nơi có thu nhập bình quân trung bình cả nước họ có thể đóng góp cao hơn để bớt phần bao cấp của nhà nước cho họ, dành ngân sách

đó hỗ trợ cho người nghèo hơn Song theo quy định hiện nay, trường cũng không thể thu học phí cao hơn theo quy định

1.5 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.5.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

1.5.1.1.Kinh nghiệm của Hoa kỳ

Giáo dục mầm non ở Hoa Kỳ có đặc điểm là vận hành theo nguyên tắc

tự trị rộng lớn Hiến pháp Mỹ quy định, trách nhiệm quản lý giáo dục mầm non không thuộc về Chính phủ liên bang mà thuộc về mỗi bang Chính quyền bang cũng chỉ quản lý một phần, bằng việc đầu tư một khoản kinh phí và cử một người đại diện tham gia Hội đồng quản trị của các trường đại học công Các trường này gần như có toàn quyền quyết định mọi việc của mình, chủ động về tài chính, bao gồm cả thuê mướn, tuyển dụng, sa thải nhân viên Riêng các trường tư nhân chiếm gần một nửa trong tổng số các trường mầm non ở Hoa Kỳ), quyền tự trị của họ còn lớn hơn nhiều

Nguyên tắc tự trị quản lý giáo dục mầm non Hoa Kỳ trong cơ chế thị trường tất yếu nảy sinh nguyên tắc tự do cạnh tranh giữa các trường mầm non

Ưu điểm của nó là tạo ra một nền giáo dục đại chúng gắn bó chặt chẽ và bền vững với cộng đồng địa phương, có quan hệ mật thiết với nền kinh tế, bám sát nhu cầu của thị trường lao động Nguyên tắc cạnh tranh giáo dục cũng buộc các trường mầm non phải không ngừng đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, thu hút và khuyến khích những giáo viên tâm huyết, yêu nghề, không ngừng nâng

Trang 33

26

cao chất lượng dạy và học

Nền giáo dục mầm non Hoa kỳ là nền giáo dục dành cho số đông và khi phổ cập giáo dục đúng độ tuổi thì vấn đề được quan tâm nhất của Mỹ là chất lượng; bởi chất lượng là yếu tố quyết định đến uy tín Trường Giáo dục mầm non ở Mỹ có tính tự chủ cao về tài chính, được phân cấp phân quyền mạnh; các trường tự định ra các chính sách tài chính, mức thu học phí, chương trình, tuyển sinh… Các trường công do chính quyền Bang, Quận lập

và quản lý chiếm khoảng 45% tổng số trường Không có trường do Liên bang quản lý Các trường tư chiếm khoảng 46% (quan niệm giáo dục của Mỹ là “ khi tư nhân hóa nhiều dịch vụ thì tiết kiệm được 15- 40% chi phí cho giáo dục” Khi theo học tại các trường, người dân phải bỏ tiền ra để học; mức học phí đóng góp tùy theo từng trường và từ 1000- 7000USD/năm

Đặc trưng của nền GDMN của Mỹ là phi tập trung; tính thực tiễn; tính đại chúng và tính thị trường Do đó, GDMN ở Mỹ được phân cấp mạnh giúp

họ di chuyển nguồn lực thuận lợi để đáp ứng sự thay đổi của nhu cầu học tập

Nền GDMN Mỹ chịu sự chi phối mạnh của thị trường nhưng không vì thế

mà phó mặc cho thị trường; ngược lại, nền GDMN đó còn tận dụng, khai thác sức mạnh của thị trường để nâng cao hiệu quả đầu tư và phần lớn các trường mầm non ngoài công lập của Mỹ hoạt động theo nguyên tắc không vì lợi nhuận

Để tiếp cận với các nguồn quỹ tài trợ của Liên bang cho hoạt động giáo dục của trường thì các cơ sở GDMN phải được công nhận chất lượng bởi một

tổ chức được cơ quan Giáo dục Liên bang công nhận

Ngay từ những năm 1990 Mỹ đã có một số văn bản và chương trình quốc gia được ban hành, như mức ưu đãi về thuế khác nhau, miễn thuế trong thời gian học tập tại các trường, Luật “Giảm thuế tín dụng cho các mục tiêu giáo dục”; các chương trình hỗ trợ cho việc xây dựng, phát triển các trường

mầm non …

Trang 34

27

1.5.1.2 Kinh nghiệm của Singapore

Mô hình GDMN của Singapore có sự kết hợp điểm mạnh của mô hình GDMN Phương đông (định hướng tuyển chọn và trọng nhân tài) và Phương Tây (tạo sự cân bằng, chú trọng phát triển cá tính và phát triển toàn diện) Nhà nước khuyến khích đổi mới, đặc biệt là những lĩnh vực mới; đặt hàng phát triển khoa học và công nghệ, dịch vụ xã hội đối với các trường

Nhà nước tạo sự cạnh tranh lành mạnh, minh bạch và công khai giữa các trường mầm non Nhà nước cho rằng cạnh tranh sẽ tạo nên sự đổi mới, tính sáng tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, các trường khi có sự cạnh tranh, ganh đua tất yếu sẽ phải lựa chọn cho mình các thế mạnh, các lợi thế để phát triển

Singapore đầu tư cho GDMN theo hướng có trọng điểm, chọn thời điểm để đột phá, đổi mới, không đầu tư theo kiểu bình quân hóa, đổi mới và đầu tư từ đầu đến cuối để đạt chuẩn Việc đầu tư để nâng trường đạt chuẩn được thực hiện theo lộ trình, phù hợp với yêu cầu phát triển từng giai đoạn của đất nước, những trường đã được đầu tư trước vẫn tiếp tục dược quan tâm, đầu tư để giữ vững vị thế và đảm bảo tính ổn định bền vững…

Singapore còn chú trọng khai thác nguồn lực tài chính bên ngoài để góp phần phát triển thị trường GDMN Chiến lược đa dạng hóa các loại hình trường để thu hút sự đầu tư Với chủ trương đưa đất nước trở thành thị trường giáo dục hàng đầu Đông Nam Á và toàn Châu Á bẳng cách thu hút nguồn vốn đầu tư từ các trường khác trong cả nước và trên thế giới vào liên kết hoặc độc lập mở trường tại Singapore Với chính sách này, Singapore đã thu hút được nhiều trường mầm non nổi tiếng của Mỹ và Châu Âu và hướng tới thu hút nhiều hơn nữa các cơ sở GDMN nhằm đạt được mục tiêu đề ra

1.5.1.3 Kinh nghiệm Nhật Bản

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong công cuộc cải cách

Trang 35

28

giáo dục mầm non ở Nhật Bản trong những năm vừa qua và vẫn đang tiếp tục trong giai đoạn hiện nay là xã hội hóa các trường mầm non công lập Quá trình này được thực hiện với mục tiêu tăng cường tính độc lập tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường công lập, áp dụng mô hình quản lý kiểu doanh nghiệp trong quản trị

Tư tưởng xã hội hóa các cơ sở mầm non công lập ở Nhật Bản không phải là mới xuất hiện, mà tư tưởng này đã hình thành từ cuối thế kỷ 20 khi xuất hiện để xuất về “ tính độc lập của các trường Hoàng Gia”, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc về học thuật đối với Hoàng gia Đến những năm 60 cũng có những ý tưởng về xã hội hóa các trường Năm 1971 hội đồng trung ương về giáo dục đã đưa ra các đề xuất về xã hội hóa các trường công lập nhằm tăng tính tự chủ, độc lập của các trường qua đó tạo điều kiện cho các trường tư phát triển

Bắt đầu từ đầu những năm 70 của thế kỷ 20, quy mô GDMN ở Nhật Bản đã tăng mạnh, mở đầu cho quá trình đại chúng hóa GDMN Nếu như ở

Mỹ quá trình đại chúng hóa GDMN có vai trò to lớn của các trường cộng đồng thì ở Nhật Bản vai trò lớn thuộc về hệ thống các trường mầm non tư Quy mô GDMN tăng lên khoảng 5 lần từ 1965 đến 2007

Khác với giáo dục cơ sở là giáo dục bắt buộc và miễn phí, giáo dục mầm non ở Nhật Bản có mức học phí khá cao ở trường tư cũng như ở trường công Ngoài số thuộc diện được miễn giảm, còn lại đều phải đóng học phí theo mức thu của từng trường theo quy định Cơ cấu tài chính cho giáo dục mầm non công bao gồm khoản cấp từ ngân sách nhà nước theo hình thức trọn gói chiếm khoảng 50- 50%; phần thu từ học phí, lệ phí tuyển sinh không lớn khoảng 10- 15%, còn lại khoảng 25- 30% là được hình thành từ các nguồn thu nhập khác của nhà trường Cơ cấu chi ở các trường công bao hàm khoảng 45-

Trang 36

29

55% chi cho con người ( lương bổng, chế độ phụ cấp cho nhân viên, quản lý….), khoảng 20 % chi cho các hoạt động giáo dục thường xuyên Đối với các trường tư nhà nước có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí thông qua các khoản trợ cấp và cho vay ưu đãi, tủy theo nhu cầu và khả năng của từng trường trên cơ sở cạnh tranh chất lượng và đáp ứng mục tiêu yêu cầu phát triển của quốc gia

1.5.1.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Từ giữa những năm 1980 đến nay, để duy trì sự phát triển lành mạnh, tránh sự dao động, thụt lùi, giáo dục nói chung và giáo dục mầm non Trung Quốc nói riêng đã có một hệ thống pháp luật, quy chế đúng đắn, khách quan,

có hiệu lực, bảo đảm chắc chắn rằng giáo dục Trung Quốc trong quá trình cải cách và phát triển luôn được bảo vệ bởi pháp luật Việc Nhà nước ban hành những bộ luật cho giáo dục, một mặt đã khẳng định được vị trí, vai trò và chức năng của giáo dục, mặt khác đã tạo ra một hành lang pháp lý rõ ràng cho

sự phát triển của giáo dục nói chung và GDMN nói riêng, ràng buộc và khuyến khích, động viên toàn xã hội tham gia vào giáo dục với tư cách vừa là người chủ của sự nghiệp giáo dục, vừa là người được hưởng lợi do giáo dục đem lại

Giáo dục Trung Quốc nói chung sau giải phóng luôn luôn phát triển dưới sự khống chế trực tiếp của Nhà nước trung ương Sau cải cách mở cửa tuy có nới lỏng hơn, nhưng so với các ngành khác vẫn là khu vực cấm cách rất xa thị trường Phản ứng của nó đối với tín hiệu thị trường cũng rất yếu Bởi vậy, trong một thời gian tương đối dài, luôn luôn tồn tại một thực tế là: một mặt nhu cầu của mọi người đối với giáo dục ngày càng mạnh mẽ nhưng không được đáp ứng, mặt khác đội ngũ giáo viên và thiết bị, đồ dùng, công cụ dạy học vẫn chưa được sử dụng và phát triển một cách đầy đủ Theo thống kê,

Trang 37

30

nếu có thể thực sự phát huy năng lực của giáo viên hiện có và sử dụng đầy đủ trang thiết bị dạy học của các trường, thì có thể mở rộng quy mô sử dụng lên tới khoảng 4 lần Điều này cũng có nghĩa là, sẽ rút ngắn được 10 năm của thời gian phát triển giáo dục Từ một phương diện khác nhìn nhận Nguyên nhân của vấn

đề là, giáo dục Trung Quốc nói chung vẫn đóng khung ở việc thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước Trong thời đại kinh tế phát triển nhanh chóng hiện nay, nhất là sau khi bước vào thế kỷ 21, nhu cầu của mọi người đối với giáo dục không chỉ là mưu sinh Nhu cầu tinh thần, nhu cầu xã hội, nhu cầu hoàn thiện và sự chi tiêu vì tương lai con cái … đã cấu thành nhu cầu quan trọng đối với giáo dục nói chung Giáo dục phải thích nghi với nhu cầu kinh tế và xã hội, sử dụng sức mạnh xã hội

và sự điều tiết của thị trường để từng bước phát triển

1.5.2 Những kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm quản lý tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non của các quốc gia trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng ở Việt Nam:

Một là, các cấp chính quyền cần phải có những chủ trương, chính sách

đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển đất nước, đó là điều kiện tiên quyết thúc đẩy giáo dục mầm non phát triển Muốn vậy, trước hết phải có sự lãnh đạo của Đảng trong định hướng phát triển giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng Từ những chủ trương đó mới có thể chế hóa ra các chương trình, hành động, các cơ chế chính sách do chính quyền các cấp, ngành giáo dục quản lý để thực hiện thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non Thực tế cho thấy nơi nào cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp quan tâm đến hoạt động giáo dục mầm non, huy động tổng hợp các nguồn lực cho giáo dục mầm non thông qua các giải pháp tài chính thì nơi đó chất lượng giáo dục mầm non được nâng lên

Trang 38

31

Hai là, muốn cho sự nghiệp giáo dục mầm non có sức sống dồi dào và

phát triển mạnh mẽ thì phải dự vào dân, huy động các nguồn lực và sự tham gia của toàn dân Coi giáo dục mầm non là công việc chung của toàn xã hội, toàn Đảng, toàn dân có trách nhiệm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục nói chung Vận động mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục-đào tạo

Ba là, giáo dục mầm non phải lấy chất lượng là yếu tốt quyết định Do

vậy đầu tư cho sự nghiệp giáo dục mầm non phải chú ý tăng chi cho công tác con người, có chính sách tài chính đặc biệt khuyến khích giáo viên lên phục

vụ tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Khoản chi này tác động trực tiếp đến chất lượng nuôi dạy của giáo viên Thực trạng cơ sở vật chất còn thiếu thốn, sách giáo khoa, hình vẽ, mô hình học tập, phòng vệ sinh, bể nước sạch vv còn rất nhiều thiếu thốn Vì vậy cần tăng cường chi đầu tư cho cơ sở

hạ tầng đặc biệt là các vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

Bốn là, song song với việc nâng cao chất lượng của các cơ sở giáo dục

mầm non công lập thì cần phát triển nhanh các cơ sở giáo dục ngoài công lập

để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của người dân, đồng thời giảm nhẹ gánh nặng NSNN cho nền kinh tế của đất nước và kiều kiện kinh tế xã hội của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn

Năm là, tiếp tục đầu tư làm mới hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ

cho giáo dục mầm non để thu hút các nguồn tài chính ngoài tỉnh vào giáo dục mầm non trong nước Huy động và có chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư cho giáo dục mầm non dưới dạng viện trợ, hợp tác, tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ không hoàn lại của các chương trình dự án, các tổ chức quốc tế…

Trang 39

32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH

CỦA GIÁO DỤC MẦM NON TỈNH LẠNG SƠN THỜI GIAN QUA 2.1 Vài nét đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn:

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, vùng cao biên giới địa đầu của tổ quốc, Lạng Sơn có vị trí hết sức quan trọng, thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ Nơi đây

đã ghi bao chiến công hiển hách của cha ông ta trong những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Lạng Sơn có diện tích tự nhiên 8.325km2, chiếm 2,5% diện tích cả nước Toàn tỉnh có 10 huyện và 1 thành phố loại 3, với 212 xã, phường và 14 thị trấn; trong đó có 135 xã phường là xã vùng cao, trong đó có

50 xã là xã thuộc vùng III chiếm 35,6% nên còn gặp khó khăn trong công tác giáo dục ở các vùng sâu, vùng xa; có 5 huyện biên giới, 5 huyện nội địa Thành phố Lạng Sơn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh; hiện nay đang tiến hành nâng cấp thành phố Lạng Sơn thành đô thị loại II, nâng cấp thị trấn Đồng Đăng thành thị xã

Có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị, cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 2 cửa khẩu quốc gia và 7 điểm chợ biên giới

Với thế mạnh về địa lý và tài nguyên rừng, Lạng Sơn những năm gần đây đã thu hút nhiều khách du lịch thập phương từ nhiêu nơi, tạo nguồn thu chính cho người dân địa phương

Lạng Sơn với dân số 860.456 người (điều tra dân số năm 2010), trong

đó dân tộc Nùng chiếm khoảng 43,8%, dân tộc Tày chiếm khoảng 35,9%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 15,3% còn lại 5% là các dân tộc khác như: Dao, Sán Chay, Hoa, Mông, Thái, Mường Lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm 63,7% dân số; lao động trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm

Trang 40

33

76%, trong ngành công nghiệp và xây dựng 5,5%, trong ngành dịch vụ 18,5% Tỷ lệ lao động được đào tạo chiếm 28% Địa bàn Lạng Sơn tương đối phức tạp đồi núi chập trùng hiểm trở tuy nhiên giao thông đi lại tương đối dễ dàng, nằm ở vị trí có các trục đường quốc lộ 1A, 1B, 4A và 4B nối liền các tỉnh Bắc Bộ nên thuận lợi cho việc buôn bán, trao đổi hàng hoá không chỉ trong nội vùng, liên vùng mà còn là thị trường trung chuyển giữa nước ta với Trung Quốc, Châu Á Thái Bình Dương, các nước SNG và Đông Âu Tuy nhiên giao thông liên huyện còn rất khó khăn, đặc biệt giao thông giữa các xã vùng sâu, vùng cao

Khí hậu Lạng Sơn là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình từ 20-22 độ C, so với cả nước nhiệt độ ở Lạng Sơn thấp hơn từ 1 – 3 độ C Lạng Sơn là miền đất có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, nằm phía Đông Bắc của Việt Nam, tạo hóa đã ban cho Lạng Sơn nhiều ưu thế về vẻ đẹp thiên nhiên, với núi sông vừa hùng vĩ vừa thơ mộng với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã đi vào thi cả như: Đông Tam Thanh, Núi Tô Thị, đền Mẫu Sơn, Chợ Kỳ Lừa Lạng Sơn là một điểm nút giao thông kinh tế quan trọng, phía Bắc giáp tỉnh Cao bằng, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn Phía Đông giáp khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc.Với vị trí địa lý thuận lợi đã tạo cho Lạng Sơn những tiềm năng thương mại du lịch và giao lưu kinh

tế quốc tế

Trong vài năm trở lại đây kinh tế Lạng Sơn tương đối phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh ước đạt 10, 45%; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2010 ước đạt 820 USD, gấp khoảng 2 lần so với năm 2005, cơ cấu kinh tế đến hết năm 2010 về nông nghiệp chiếm 39-40%, công nghiệp xây dựng 21-22%, dịch vụ 39-40% Tổng thu ngân sách nhà

Ngày đăng: 24/06/2015, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2005), Đề án " Đổi mới GDĐH Việt Nam" (2006-2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới GDĐH Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Năm: 2005
2. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2006), Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (Dùng cho các khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trường ĐH, cao đẳng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (Dùng cho các khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trường ĐH, cao đẳng)
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI, kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI, kinh nghiệm của các quốc gia
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
5. Phan Thị Cúc(2002), Đổi mới và hoàn thiện các giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục, y tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và hoàn thiện các giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục, y tế
Tác giả: Phan Thị Cúc
Năm: 2002
6. Cục thống kê Tỉnh Lạng Sơn(2013), Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010-2015, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010-2015
Tác giả: Cục thống kê Tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2013
7. Mai Ngọc Cường (2008), Tự chủ tài chính ở các trường Đại học công lập Việt Nam hiện nay, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự chủ tài chính ở các trường Đại học công lập Việt Nam hiện nay
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2008
8. Phạm Thị Hà (2008), Giải pháp tài chính phát triển giáo dục Đại học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, luận văn thạc sỹ kinh tế trường Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tài chính phát triển giáo dục Đại học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Hà
Năm: 2008
9. Phạm Minh Hạc(1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 1999
10. Nguyễn Đình Hương (2009), Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
11. Nguyễn Thế Long (2006), Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Thế Long
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2006
12. Nhiều tác giả (2007), Những vấn đề giáo dục hiện nay, quan điểm và giải pháp, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề giáo dục hiện nay, quan điểm và giải pháp
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007
13. Sở Giáo Dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn (2011, 2012, 2013), Báo cáo tổng kết Giáo dục mầm non tỉnh Lạng Sơn các năm 2011,2012,2013, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Giáo dục mầm non tỉnh Lạng Sơn các năm 2011,2012,2013
14. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn(2013), Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2015- 2020, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2015- 2020
Tác giả: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2013
15. Trường Đại học Tài chính kế toán Hà Nội(2000), Giáo trình lý thuyết tài chính, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tài
Tác giả: Trường Đại học Tài chính kế toán Hà Nội
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2000
16. UBND tỉnh Lạng Sơn (2013), Dự thảo quy hoạch mạng lưới các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp và dậy nghề tỉnh Giáo Dục Lạng Sơn đến năm 2020, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo quy hoạch mạng lưới các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp và dậy nghề tỉnh Giáo Dục Lạng Sơn đến năm 2020
Tác giả: UBND tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2013
17. UBND tỉnh Lạng Sơn (2013), Dự thảo quy hoạch phát triển sự nghiệp GiáoDục Lạng Sơn đến năm 2020, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo quy hoạch phát triển sự nghiệp GiáoDục Lạng Sơn đến năm 2020
Tác giả: UBND tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2013
18. Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Lạng Sơn (2013), Quy hoạch phát triển giáo dục tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015-2020, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển giáo dục tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015-2020
Tác giả: Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2013
4. Nguyễn Bá Cần (2009), Hoàn thiện chính sách phát triển Giáo dục Đại học Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1  Chi NSNN cho hoạt động GDMN trên địa bàn - Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
1 Bảng 2.1 Chi NSNN cho hoạt động GDMN trên địa bàn (Trang 7)
Bảng 2.1: Chi NSNN cho hoạt động GDMN trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn - Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Bảng 2.1 Chi NSNN cho hoạt động GDMN trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w