1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khái quát những vấn đề cơ bản của lịch sử thế giới

85 633 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 8,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thể, tài nguyên là tài sàn chung, mọi thành viên đều có trách nhiệm chăm sóc con cái, hôn nhân cặp đôi đối mẫu.Khoảng 1 vạn năm trước, con người bước vào sản xuất nông nghiệp, trong xã h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN.

BỘ MÔN LƯU TRỮ HỌC - QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG.

Tiểu luận môn: Lịch sử thế giới.

Giáo viên hướng dẫn: Giảng viên Quyền Hồng.

Sinh viên thực hiện: Phan Vũ Phương Quỳnh.

Mã số sinh viên: 1356130044.

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015.

Trang 3

5.1.CÁCH MẠNG TƯ SẢN Ở PHƯƠNG TÂY

……… trang 22

5.2.CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở PHƯƠNG TÂY (CUỐI THẾ KỶ XVIII –ĐẦU THẾ KỶ XIX SAU CÔNG NGUYÊN)……… trang25

5.3.CÁCH MẠNG KHOA HỌC - KỸ THUẬT Ở PHƯƠNG TÂY (GIỮA THẾ

KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX SAU CÔNG NGUYÊN)

5.5.PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN Ở

PHƯƠNG

TÂY……….trang 37

Trang 4

5.5.1.PHONG TRÀO CÔNG NHÂN(NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX SAU CÔNG NGUYÊN)……… trang 37

5.7.CHIẾN TRANH THẾ GIỚI I (1914 – 1918 SAU CÔNG NGUYÊN)

…….trang 45

5.7.1.NGUYÊN

NHÂN……… trang 45

5.7.2.DIỄN BIẾN………trang46

5.7.3.HẬU

QUẢ……… trang 48

Trang 5

6.VẤN ĐỀ LỊCH SỬ HIỆN

ĐẠI……… trang 49

6.1.LƯỢC SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA(1917 SAU CÔNG NGUYÊN) ĐẾN CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II KẾT THÚC(1945 SAU CÔNG NGUYÊN)

6.1.1.1.1.NGUYÊN

NHÂN……….trang 49

6.1.1.1.2.DIỄN

BIẾN……… trang 50

6.1.1.2 CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LIÊN XÔ (1920 –

1941 SAU CÔNG NGUYÊN)

……… trang 52

6.1.1.2.1.CUỘC ĐẤU TRANH XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN

XÔ VIẾT (1918 – 1920 SAU CÔNG NGUYÊN)

……….trang 52

6.1.1.2.2.CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC KINH TẾ (1920 – 1924 SAU CÔNG NGUYÊN)……… trang 55

6.1.1.2.3.CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1925 – 1939 SAU CÔNG NGUYÊN)

……… trang 56

Trang 6

6.1.1.2.4 CÔNG CUỘC TẬP THỂ HÓA NÔNG NGHIỆP (1927 – 1939 SAU CÔNG NGUYÊN)

6.2.2.LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU………

LỜI CẢM ƠN……… ………trang69

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1.Lương Ninh (Chủ biên), “Lịch sử thế giới cổ đại”, Nhà xuất bản

Giáo dục

2.Nguyễn Gia Phú, Nguyễn Văn ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La,

“Lịch sử thế giới trung đại”, Nhà xuất bản Giáo dục

3.Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, “Lịch sử thế giới cận đại”, Nhà

xuất bản Giáo dục

4.Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), “Lịch sử thế giới hiện đại”, Nhà xuất

bản Giáo dục

Trang 8

1.VẤN ĐỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CON NGƯỜI.

1.1.NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH CON NGƯỜI.

Con người hình thành cách đây khoảng 3,7 triệu năm tại Đông Phi Nhưng trên thế giới hiện nay, khi nghiên cứu lịch sử hình thành con người, đã xuất hiện hai thuyết:

- Thuyết nhất nguyên: Nhân loại chỉ hình thành từ một trung tâm duy nhất là Đông Phi (tại Tanzania, Ethiopia, đã tìm thấy hàng chục hóa thạch thời cổ) Thuyết này khẳng định, người hiện đại Homo Sapiens đã xuất hiện ở Đông Phi, sau đó lan tỏa khắp thế giới

Bộ xương hóa thạch của người tiền sử Lucy được phát hiện tại vùng Afar ở Ethiopia vào năm 1974 (Nguồn: khoahoc.tv).

- Thuyết đa nguyên: Trong hoàn cảnh vỏ trái đất có nhiều biến động (khoảng 4 – 6 triệu năm trước Công Nguyên), nhiều vùng trên thế giới cũng diễn ra quá trình tiến hóa từ vượn thành người

Trang 9

Tuy nhiên, cho đến nay, các học giả tên tuổi trên thế giới đều khẳng định: Đông Phi là nơi hình thành con người, sau đó con người

di chuyển khắp thế giới: 2 triệu năm trước đã đến vùng Tây Á,

khoảng 1,7 – 1,5 triệu năm trước đã đến Đông Á, 50 – 60 vạn năm trước đã đến Đông Nam Á, 1,5 triệu năm trước đã đến châu Âu

1.2.LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH CON NGƯỜI.

Loài người tiến hóa từ vượn người không đuôi Hominid:

- 60 triệu năm trước, loài vượn hình thành

- 40 triệu năm trước, loài vượn không đuôi hình thành (đến nay vẫn còn tồn tại như đười ươi,…)

- 16 triệu năm trước, từ một nhóm của vượn không đuôi, loài vượn người không đuôi Hominid hình thành

- 4,3 – 3,4 triệu năm trước, do sự đột biến nào đó (chưa tìm đượcnguyên nhân chính xác) mà từ Hominid đã xuất hiện Homo Habilis

- 2 triệu năm trước, từ Homo Habilis, Homo Erectus xuất hiện

- 20 vạn năm trước, từ Homo Erectus, Homo Sapiens xuất hiện

- 4 vạn năm trước, từ Homo Sapiens, Homo Sapiens Sapiens xuất hiện Di cốt của loài này được tìm thấy tập trung ở Đông Phi, qua đó, khẳng định được: Homo Sapiens Sapiens đầu tiên cũng hình thành ở Đông Phi, sau đó tản mác khắp thế giới và đồng nhất với Homo Sapiens trước đó Sự ra đời của Homo Sapiens Sapiens là mốc kết thúc quá trình tiến hóa từ vượn thành người Sau khi tản mác khắp thế giới, do phải thích nghi với những môi trường khác nhau, các đặc điểm bên ngoài của Homo Sapiens Sapiens như tóc, màu da,… trở nên khác nhau Đây là cơ sở để phân chia thành các chủng tộc người khác nhau trên thế giới

Trang 10

Quá trình tiến hóa từ vượn thành người (Từ trái qua phải: vượn không đuôi, Hominid, Homo Habilis, Homo Erectus, Homo Sapiens,

Homo Sapiens Sapiens) (Nguồn: ohsawa.com.vn).

1.3.NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH CON NGƯỜI.

Nguyên nhân sinh học: Do sự tác động của quy luật di truyền và biến dị Điều này được thể hiện trong học thuyết của Darwin và Mendel Di truyền và biến dị là động lực bên trong thúc đẩy hình thành con người Để thích ứng với môi trường, sinh vật phải duy trì quy luật di truyền và biến dị Các bước nhảy vọt từ Homo Habilis thành Homo Erectus, từ Homo Erectus thành Homo Sapiens, từ

Homo Sapiens thành Homo Sapiens Sapiens là sự đột biến về gene học do quá trình di truyền và biến dị

Nguyên nhân xã hội: Do sự tác động của lao động Điều này được thể hiện trong học thuyết của Marx và Engels Lao động là động lực bên ngoài cũng là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình

từ vượn thành người Lao động buộc con người phải sáng tạo ra công

cụ, kích thích bộ óc phát triển Lao động buộc con người phải hợp tác với nhau, mối quan hệ giữa người với người được hình thành là yếu tố thúc đẩy sự ra đời của ngôn ngữ với tư cách là công cụ của thông tin Lao động cũng tạo ra các mối quan hệ xã hội giữa người với người, làm hình thành gia đình và các tổ chức xã hội sơ khai (bầyđàn đến thị tộc, bộ lạc)

Trang 11

Từ trái qua phải: Darwin và Mendel (Nguồn: telegraph.co.uk).

Từ trái qua phải: Marx và Engels (Nguồn: fightimperialism.org).

2.VẤN ĐỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI.

Từ khi Hominid xuất hiện cho đến trước khi Homo Sapiens hình thành, hình thái xã hội là bầy người, mỗi bầy khoảng vài chục cá thể, có một thủ lĩnh, có sự phân công lao động ở trình độ thấp (giữa nam và nữ, nam làm việc nặng, nữ làm việc nhẹ), hôn nhân cặp đôi đối mẫu

Khi Homo Sapiens xuất hiện, hình thái xã hội thị tộc cũng hình thành, xuất hiện sớm nhất là thị tộc mẫu hệ - tổ chức xã hội mà hầu hết các tộc người đều trải qua, nhưng được duy trì ở các tộc người sống bằng nông nghiệp Thị tộc phụ hệ xuất hiện sau, trong tộc người chăn nuôi, du mục, hình thành sớm nhất ở phương Tây, tộc trưởng là người đàn ông lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm, có sức mạnh

Cả hai thị tộc đều có đặc điểm: toàn bộ hoạt động kinh tế đều là tập

Trang 12

thể, tài nguyên là tài sàn chung, mọi thành viên đều có trách nhiệm chăm sóc con cái, hôn nhân cặp đôi đối mẫu.

Khoảng 1 vạn năm trước, con người bước vào sản xuất nông nghiệp, trong xã hội có sự phân công lao động ở trình độ cao hơn (giữa chăn nuôi và trồng trọt) Đây cũng là lúc con người bước vào thời kỳ bộ lạc, liên minh bộ lạc Mỗi bộ lạc thường có hai hay vài thị tộc, đứng đầu là một thủ lĩnh nhưng tài sản xã hội vẫn là của chung, được phân chia theo nguyên tắc công bằng, tài nguyên đều là của chung của bộ lạc, liên minh bộ lạc, quan hệ xã hội giữa người với người bình đẳng Tôn giáo vạn vật hữu linh, tín ngưỡng đa thần xuất hiện

Thiên niên kỷ I trước Công Nguyên, nhiều dân tộc bước vào thời đại bộ tộc Bộ tộc là sự liên minh của nhiều bộ lạc hay nhiều liên minh bộ lạc, quan hệ với nhau chủ yếu dựa trên huyết thống và ngôn ngữ nói, mỗi bộ tộc thường có hai bào tộc, mỗi bào tộc có

nhiều bộ lạc hay nhiều liên minh bộ lạc Sự xuất hiện của bộ tộc cũng là mốc đánh dấu ngưỡng cửa bước vào giai đoạn tổ chức xã hộithành nhà nước của con người Sự xuất hiện của bộ tộc không đồng đều trên thế giới, sớm muộn khác nhau

3.VẤN ĐỀ LỊCH SỬ CỔ ĐẠI (CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU NÔ LỆ).

3.1.LƯỢC SỬ CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU NÔ LỆ PHƯƠNG ĐÔNG.

Hầu hết các quốc gia của chế độ chiếm hữu nô lệ phương Đông đều được hình thành ở vùng đồng bằng châu thổ, vì:

Trang 13

- Có điều kiện phát triển nông nghiệp, năng suất cao, kết hợp với đánh cá Do vậy, phân hóa xã hội thành giàu nghèo, thành giai cấp diễn ra sớm.

- Đồng bằng lại là nơi tập trung dân số cao nên các tổ chức xã hội xuất hiện sớm Đấu tranh giai cấp giữa các cộng đồng là nguyên nhân hình thành nhà nước sớm ở phương Đông Do vậy, các quốc gia phương Đông đạt được văn minh và bước vàochế độ chiếm hữu nô lệ sớm

 Chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành sớm nhất ở phương Đông, dẫn chứng: nhà nước Ai Cập xuất hiện vào năm 3200 trước Công Nguyên ở đồng bằng châu thổ sông Nil, nhà nước Lưỡng

Hà xuất hiện vào năm 2800 trước Công Nguyên ở đồng bằng châu thổ sông Tigris và Euphrates, nhà nước Ấn Độ xuất hiện vào năm 2500 trước Công Nguyên ở đồng bằng châu thổ sông

Ấn và Hằng, nhà nước Trung Quốc xuất hiện vào năm 2100 trước Công Nguyên ở đồng bằng châu thổ sông Hoàng Hà Các quốc gia nói trên phát triển (di dân, chiến tranh, buôn bán,…), lôi kéo nhiều tộc người vào chế độ chiếm hữu nô lệ Do vậy, nền văn hóa của họ đã ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến các vùng xung quanh

Chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Đông là không điển hình, vì:

- Đội ngũ nô lệ ít hay rất ít

- Nguồn gốc chủ yếu của nô lệ là tù binh, người phạm tội

- Nô lệ thường được nhà nước sử dụng để làm các công trình củaquốc gia hay ban cho quý tộc để làm gia nô

 Hầu như không có khởi nghĩa nô lệ ở phương Đông

Kinh tế: Nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp Do vậy, kinh tế hàng hóa phát triển rất yếu, muộn Thường thì tiểu thủ công nghiệp gắn liền với gia đình, được sản xuất theo kiểu thủ công

Thương nghiệp nằm trong tay nhà nước

Trang 14

 Nền kinh tế tĩnh, ít biến đổi, ít biến động.

Xã hội: Xã hội ở phương Đông phân tầng không rạch ròi, quyết liệt:

- Tầng lớp quý tộc đông đảo, gồm quý tộc quan lại (quý tộc quanlại trung ương và quý tộc quan lại địa phương), quý tộc họ tộc, quý tộc tôn giáo, quý tộc do thân tộc, quý tộc do mua bán Vì thế, tầng lớp quan liêu, ăn bám đông đảo

- Tầng lớp chiếm số lượng đông đảo nhất trong xã hội là nông dân, gồm người chăn nuôi, trồng trọt, thợ thủ công, thương nhân (do tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp gắn liền với kinh tế tự cung tự cấp nên không phát triển thành ngành chính,

từ đó, tầng lớp thợ thủ công, thương nhân ít và không có địa vị cao trong xã hội) Nông dân là đối tượng bóc lột chủ yếu của tầng lớp quan lại, quý tộc, nhà nước Vì vậy, khởi nghĩa nông dân phát triển mạnh

Chính trị:

- Nhà nước được tổ chức theo kiểu quân chủ chuyên chế, vương quyền kết hợp thần quyền, vua là chủ sở hữu đất đai, sở hữu thần dân, là tổng tư lệnh quốc phòng, là tổng pháp quan tối cao, là chủ của tổ chức giáo hội, dẫn chứng: ở Ai Cập, thời Cổ vương quốc (thế kỷ XXX – XXII trước Công Nguyên), đã xuất hiện tôn giáo chủ thần, pharaon tự nhận mình là hiện thân của thần Ra (thần Mặt trời) trên mặt đất; ở Ấn Độ, khoảng thế kỷ VIII – VII trước Công Nguyên, đạo Veda, vốn là tôn giáo đa thần,chuyển dần lên tôn giáo chủ thần, từ hơn 300 nghìn vị thần, các tu sĩ của đạo Veda đã sáng tạo ra bộ tam thần: Thiên Đế (Brahmā), Thần Bảo Tồn (Vishnu), Thần Hủy Diệt (Śiva), đó chính là đạo Brahma, đến đầu thế kỷ VI trước Công Nguyên, các vương của Ấn Độ tự nhận là Phật Vương, con cháu của Vishnu và Śiva

Trang 15

Đạo Brahmā (Từ trái qua phải là Brahmā, Vishnu, và Śiva) (Nguồn:

pixshark.com).

Bên trái: tôn giáo đa thần là thờ rất nhiều thần, không phân thứ bậc giữa các thần, trong ảnh là bốn trong số rất nhiều vị thần của Tảo vương quốc Ai Cập Bên phải: tôn giáo chủ thần là thờ Thần Ra, vị thần tối cao và quan trọng nhất của Cổ vương quốc Ai Cập (Nguồn:

vi.wikipedia.org).

- Nhà nước quản lý xã hội bằng đạo đức Dù ở Lưỡng Hà và

Trung Quốc, luật ra đời sớm, nhưng việc hành pháp thì không triệt để, dẫn chứng: ở Lưỡng Hà, cuối thiên niên kỷ III trước

Trang 16

Công Nguyên, vị vua đầu tiên có công lập nên triều Akkad đã sáng tạo ra bộ luật sớm nhất thế giới, sau đó, vua Hammurabi (1792 – 1750 trước Công Nguyên) cũng hình thành nên bộ luật mang tên ông; ở Trung Quốc, thời Chiến Quốc (448 – 221 trướcCông Nguyên), nước Tần, Ngụy đã đẩy mạnh canh tân đất nướcbằng con đường pháp trị, ban hành đạo luật giải phóng nô lệ

và nhiều đạo luật khác

Một phần của bộ luật Hammurabi (Nguồn: ngaynay.vn).

Văn hóa: Do phát triển trong nền văn hóa tâm linh, thời cổ đại, các thành tựu của các nước phương Đông tuy đa dạng nhưng tôn giáo vẫn là thành tựu nổi bật, chi phối đời sống tinh thần của con người, dẫn chứng: tín ngưỡng đa thần ở Tảo vương quốc (thế kỷ XXXII – XXX trước Công Nguyên), tục thờ Thần Mặt trời ở Cổ vương quốc (thế kỷ XXX – XXII trước Công Nguyên) ở Ai Cập; Đạo Veda, đạoBrahma, đạo Phật, đạo Jaina ở Ấn Độ

3.2.LƯỢC SỬ CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU NÔ LỆ PHƯƠNG TÂY.

Lịch sử cổ đại phương Tây chủ yếu là chế độ chiếm hữu nô lệ của Hy Lạp (hình thành vào thế kỷ VIII trước Công Nguyên) và La Mã (hình thành vào năm 510 trước Công Nguyên), nên chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu chế độ chiếm hữu nô lệ Hy – La Cùng với sự phát triển của mình, Hy – La lôi kéo nhiều quốc gia vào chế độ chiếm hữu

nô lệ

Chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Tây là điển hình, vì:

Trang 17

- Đội ngũ nô lệ đông, dẫn chứng: ở Hy Lạp, thành Sparta xấp xỉ

25 vạn dân thì có 20 vạn nô lệ, thành Athens có 29 vạn dân thì

nô lệ là 25 vạn; ở La Mã, khi thành đế quốc thì hơn một triệu dân chính quốc đã quản lý gần 60 triệu dân thuộc địa

- Nguồn gốc đa dạng: tù binh, người phạm tội, người mắc nợ không trả nổi, bị săn bắt, mua bán

- Nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, dẫn chứng: ở HyLạp, mỗi gia đình bình dân sử dụng ít nhất 15 đến 100 nô lệ; ở

La Mã, mỗi gia đình bình dân cũng sử dụng hàng chục – hàng trăm nô lệ

 Nô lệ thường bùng nổ các cuộc khởi nghĩa để chống lại chủ nô, dẫn chứng: ở đế quốc La Mã, từ thế kỷ II trước Công Nguyên,

đã bùng nổ lên các cuộc khởi nghĩa của nô lệ như cuộc khởi nghĩa của Hy Lạp (140 trước Công Nguyên), cuộc khởi nghĩa lần thứ nhất trên đảo Sicile (136 – 132 trước Công Nguyên) trong trang viên trồng lúa mỳ với 20 nghìn nô lệ tham gia, cuộckhởi nghĩa lần thứ hai trên đảo Sicile (104 – 99 trước Công Nguyên) với 6000 nô lệ tham gia, cuộc khởi nghĩa của

Spartacus (73 – 71 trước Công Nguyên) với 15 vạn nô lệ tham gia, cuộc khởi nghĩa ở vùng Palestine (69 trước Công Nguyên),

Kinh tế: Nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa đa ngành: trồng trọt, chăn nuôi,… nên thường xuyên biến động, phát triển nhanh, là cơ sở thiết lập chế độ dân chủ chủ nô Trong đó, nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp phong phú: đóng thuyền, thùng, làm gốm,chế biến các sản phẩm nông nghiệp, luyện kim, chế tạo vũ khí, đồ trang sức, đồ tiêu dùng, ; thương mại, dịch vụ trên biển phát triển thịnh đạt, người Hy Lạp – La Mã đóng thuyền đi buôn bán khắp miền xung quanh Địa Trung Hải, dẫn chứng: cảng Delos của Hy lạp mỗi ngày nhập vào xuất ra 80 thuyền buôn, cảng Phile của La Mã mỗi

Trang 18

nên đa dạng, sắc bén Sức lao động chủ yếu là nô lệ, nô lệ chiếm 1/3– 1/2 dân số thành bang, được chuyên môn hóa nên năng suất cao.

 Nền kinh tế động, nhiều biến đổi, nhiều biến động

Xã hội: Xã hội của Hy – La phân hóa điển hình, rạch ròi, có ba giai cấp cơ bản:

- Chủ nô: Bao gồm chủ nô công thương, chủ nô nông nghiệp, chủ nô quân sự Đều là những người giàu có, địa vị cao, được giáo dục, được tham gia bầu quan chấp chính, viện nguyên lão

- Bình dân: Rất đông đảo Gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân Là lực lượng có quyền sở hữu được nhà nước công nhận, được tự do sản xuất, không bị biến thành nô lệ, được tham gia đại hội nhân dân hay đại hội binh sỹ, được làm các chức vụ nhỏtrong bộ máy nhà nước, được pháp luật bảo vệ

- Nô lệ: Đông Nguồn gốc đa dạng Bị coi là “công cụ lao động biết nói” nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ về quyền sống Bị bóc lột thậm tệ

30 tuổi trở lên (để bầu ra khoảng 100 đại biểu gọi là hội nghị nhân dân), nơi tổ chức ra tòa án, cắt cử bộ máy quan lại cấp thấp) và cộng hòa dân chủ (La Mã: đứng đầu nhà nước là hai vua: một được gọi là quan chấp chính số một, phụ trách cả quân sự lẫn pháp luật, do quý tộc bầu; một được gọi là quan bảo dân, chuyên giám sát quan chấp chính số một, do bình dân bầu)

Trang 19

- Nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc bầu cử, dẫn chứng: ở

Hy lạp, quan chấp chính hai năm/lần, nguyên lão, đại hội nhân dân mỗi năm/lần

- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật (pháp luật gồm có cả quyền tự nhiên - sống, tự do, tư hữu, và quyền chế định –

quyền do bộ máy nhà nước chế tạo ra để quản lý xã hội), dẫn chứng: ở Athens của Hy Lạp, năm 624 – 535 trước Công

Nguyên, đã ban hành gần một chục bộ luật để quản lý xã hội, sớm nhất là bộ luật Dracon với những hình phạt rất khắc

nghiệt, sau này là những pháp lệnh của Solon, những pháp lệnh Cleisthenes mang tính dân chủ hơn (nhưng cũng chỉ công dân tự do mới được hưởng, nô lệ thì không); ở La Mã, năm 454 trước Công Nguyên ban hành bộ luật mười bảng, năm 450 trước Công Nguyên bổ sung thêm hai bảng (282 điều), hợp thành bộ luật 12 bảng điển hình, năm 450 – 286 trước Công Nguyên bổ sung hàng chục bộ luật khác nhau để quản lý xã hội như luật hạn điền, cấm biến công dân La Mã thành nô lệ, bình dân được giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước, được kết hôn với quý tộc,… năm 533 sau Công Nguyên, Hoàng đế

Justinian I đã thành lập một bộ luật được biết dưới cái tên "Dân Luật Đại Toàn”

Trang 20

Từ trái qua phải: Dracon, Solon, Cleisthenes (Nguồn:

- Đối ngoại: Thực hiện chính sách bành trướng, xâm lược, thống trị Do vậy, quân đội, tầng lớp quý tộc quân sự thường được đề cao trong xã hội

Văn hóa: Do phát triển sau so với phương Đông, và nằm ở vùng giao thoa của nhiều nền văn hóa phương Đông, cũng như đã từng thống trị Ai Cập, Lưỡng Hà, lại phát triển trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hóa (động, đòi hỏi nhiều tri thức khoa học), cùng với chế độ chính trị dân chủ, kết hợp tư tưởng tôn giáo khoáng đạt

(không ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần con người) nên kếthừa, phát triển nhiều thành tựu của văn minh phương Đông và những thành tựu văn hóa của họ đều đạt đến đỉnh cao: nghệ thuật (kiến trúc, điêu khắc, hội họa), triết học (duy tâm, duy vật), toán học, văn chương, y học, vật lý,…

Trang 21

Hippocrates - người được xem là thủy tổ của y học Hy Lạp cũng như

phương Tây (Nguồn: vi.wikipedia.org).

Claude Galien, đại biểu xuất sắc nhất của La Mã về y học (Nguồn:

fr.wikipedia.org).

4.VẤN ĐỀ LỊCH SỬ TRUNG ĐẠI (CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN).

Gọi là chế độ phong kiến trong lịch sử trung đại vì đây là chế độ

mà nền kinh tế gắn liền với việc phong chức tước để thay thế chế độtrả lương cho quan lại Các vua trong lịch sử trung đại, cả phương Đông lẫn phương Tây, đều xác lập quyền sở hữu tối cao của họ đối với ruộng đất, thần dân, sau đó, dùng ruộng đất của thần dân để ban phát cho quan lại thay thế chế độ trả lương, gọi là quan điền hay lộc điền hoặc bổng điền, dẫn chứng: các triều đại phong kiến Trung Quốc đều thực hiện hiện chính sách chia ruộng đất thành công điền (ruộng chia cho nông dân), bổng điền (hay lộc điền, ruộng

Trang 22

dùng để cấp cho quan lại từ trung ương đến địa phương), thác điền (ruộng dùng để thưởng cho quan lại, thời Đường: 300 mẫu, thời Minh, Thanh: chục nghìn mẫu) Chế độ này được gọi là “phong thần – giảm tiền – kiến địa”, gọi tắt là phong kiến.

Ngoài ra, phương Tây còn gọi chế độ phong kiến là “lãnh địa chatruyền con nối”, vì, vua chia quan lại thành năm cấp: bá tước, công tước, hầu tước, tử tước, nam tước, dựa theo chức tước, vua cắt các khoảng đất khác nhau ban cho quan lại thay thế chế độ trả lương, khoảng đất đó được gọi là lãnh địa, ban đầu, người có chức chỉ nhận đất trong lúc làm quan, hết làm quan thì trả lại, nhưng chế độ quan lại theo kiểu cha truyền con nối nên lãnh địa thường được kế thừa từđời này sang đời khác Do vậy, chế độ phong kiến của phương Tây thường được gọi với tên khác là “lãnh địa cha truyền con nối”

Mô hình một lãnh địa phong kiến phương Tây (Nguồn:

tranthihoaan2.violet.vn.)

Phương Đông bước vào chế độ phong kiến sớm nhất, dẫn chứng:Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tần (221 trước Công Nguyên), Ấn Độbắt đầu từ vương triều Gupta (320 sau Công Nguyên), Ả Rập bắt đầu

từ năm 632 sau Công Nguyên (thông qua các cuộc chiến tranh xâm

Trang 23

lược, Ả Rập đã lôi kéo các vùng Tây Á vào quỹ đạo chế độ phong kiến).

Lịch sử của chế độ phong kiến phương Tây do người German lập

ra sau khi lật đổ vương triều Tây La Mã của vua Romulus (476 sau Công Nguyên), họ đã lập nên khoảng bảy tiểu quốc của người

German, từ đó châu Âu bước vào thời kỳ phong kiến (riêng phần phía Đông của châu Âu, cư dân vẫn sống trong thời thị tộc, mãi đến thế kỷ IX sau Công Nguyên, họ mới thành lập nước Nga) Ở Tây Âu,

từ một quốc gia Frank, chia ra thành ba nước: Đức, Ý, Pháp (740 sau Công Nguyên), sau đó ra đời thêm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, thế kỷ

X sau Công Nguyên xuất hiện thêm nước Anh, Ireland, thế kỷ XIV sau Công Nguyên mới hình thành nhiều quốc gia như bây giờ (Áo, Hung, Hà Lan,…) Nhìn một cách sơ lược, lịch sử phong kiến châu Âu trải qua ba giai đoạn: sơ kỳ (thế kỷ V – X sau Công Nguyên, là thời

kỳ của chế độ phong kiến lãnh địa, thời kỳ đen tối của chế độ phong kiến Tây Âu), trung kỳ (thế kỷ XI – XV sau Công Nguyên, là thời kỳ của chế độ phong kiến tập quyền, kinh tế hàng hóa, giai cấp tư sản hình thành), hậu kỳ (thế kỷ XVI – XIX sau Công Nguyên, là thời kỳ khủng hoảng, tan rã của chế độ phong kiến, thời kỳ thắng lợi của cách mạng tư sản)

Kinh tế: Tính chất phổ biến là tự cung tự cấp, đóng kín, ít phát triển, ít biến đổi, tĩnh, dẫn chứng: ở Tây Âu, thời sơ kỳ, toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong lãnh địa chỉ nhằm thỏa mãn đời sống của lãnh chúa và nông nô trong lãnh địa nên tiểu thủ công nghiệp,

thương nghiệp tàn lụi

Xã hội: Trong chế độ phong kiến, cả Đông lẫn Tây, vua chúa đều

sử dụng tôn giáo là hệ tư tưởng chính thống của xã hội nên nhà thờ, đền chùa cũng được phong đất, dẫn chứng: ở Trung Quốc, từ thời Đường, 2/5 ruộng đất được chia cho đền chùa; ở Ả Rập, 1/4 ruộng

Trang 24

đất được chia cho các thánh đường Vì thế, trong xã hội, tồn tại hai giai cấp cơ bản:

- Địa chủ (gồm địa chủ quan lại; địa chủ tôn giáo; địa chủ do buôn bán, cướp đoạt ruộng đất của nhân dân mà có)

- Nông dân (tuyệt đại đa số, chiếm 95 – 97% dân số tùy nước):

 Nông dân ở phương Đông khá đa dạng, gồm nông dân nhận đất công của nhà nước (thường là nông dân công xã, đất đai công xã được chia lại mỗi năm/lần, nông dân phải nộp thuế, nộp tô hiện vật cho nhà nước để thay cho các nghĩa vụ lao dịch) và nông dân lính canh ruộng đất cho nhà thờ, đền chùa (cũng phải nộp thuế cho nhà nước và tô cho chủ đất) Đời sốngnghèo khổ nên nông dân thường xuyên khởi nghĩa, đấu tranh, dẫn chứng: ở Trung Quốc, sau khi Tần Thủy Hoàng mất vào năm 210 trước Công Nguyên, con trai ông thực hiện chính sách

hà khắc nên khởi nghĩa nông dân bùng nổ, đẩy nhà Tần rơi vàokhủng hoảng, năm 907 sau Công Nguyên, bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân (thời Loạn An Sử) nên nhà Đường suy thoái Chiến tranh nông dân là đặc điểm nổi bật của chế độ phong kiến phương Đông

Trang 25

Cuộc khởi nghĩa nông dân của Trần Thắng và Ngô Quảng vào thời

nhà Tần ở Trung Quốc (Nguồn: sugia.vn).

 Nông dân ở phương Tây gọi là nông nô (vừa là nông dân vừa là

nô lệ), vì, thời sơ kỳ, chiến tranh liên miên giữa các bá tước nênnông dân tự do trao ruộng của mình cho bá tước để nhờ sự chechở và bị biến thành nông nô, phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh chúa, phải đứng canh ruộng cho lãnh chúa (mỗi gia đình

thường được cấp hai mảnh đất, một trồng lúa mỳ, một trồng hoa màu), phải nộp tô cho chủ đất (50 – 60%), phải đi tô lao dịch (ba tháng/năm làm không công cho chủ đất), con gái, con trai lấy chồng, lấy vợ đều phải nộp cống vật cho địa chủ, khôngđược ra khỏi lãnh địa Rõ ràng, đời sống của nông nô chẳng khác nô lệ nên khởi nghĩa nông nô thường bùng nổ

Trang 26

Chính trị: Xâydựng chế độ quân chủ chuyên chế, vương quyền kết hợp thần quyền, dẫn chứng: ở Ả Rập, Mohammed vừa là vua, vừa là thủ lĩnh tôn giáo, vừa là tổng tư lệnh quân đội, vừa là tổng tư lệnh tối cao, ông có toàn quyền sở hữu đối với đất đai, con người.Văn hóa: Các vua thường sử dụng quốc giáo để thống trị đất nước nên tôn giáo chi phối mạnh mẽ đời sống tinh thần con người, dẫn chứng: ở Ấn Độ, đầu thế kỷ XIII sau Công Nguyên, quốc giáo là đạo Islam nên ngoài quan lại, quý tộc thì người theo Islam giáo cũng được hưởng nhiều quyền lợi hơn; ở phương Tây, thời sơ kỳ, quốc giáo

là đạo Cơ Đốc nên nhà nước không mở các trường học mà chuyển giao nền giáo dục cho Giáo Hội, các trường dòng, trường tu kín được xây dựng để đào tạo các giám mục, vì thế tri thức nghèo nàn, văn hóa đen tối, người ta ví lịch sử trung đại châu Âu là “đêm trường trung cổ” Thời trung và hậu kỳ phong kiến phương Tây, nền kinh tế

tự cung tự cấp chuyển thành nền kinh tế sản xuất hàng hóa (sử dụng phân bón, thâm canh, cày sắt, ngựa, bò nên diện tích đất nôngnghiệp được mở rộng đồng thời năng suất cũng tăng theo nên xuất hiện sản phẩm dư thừa cung cấp cho tiểu thủ công nghiệp, thế là ngành này phát triển mạnh trong các trang viên, không những đảm bảo cho sinh hoạt của nội bộ trang viên mà còn dư dả để trao đổi, buôn bán với các trang viên khác, từ đó thương nghiệp giữa các trang viên cũng phát triển mạnh mẽ) nên giai cấp tư sản ra đời (thế

kỷ XIV sau Công Nguyên) và họ đã làm bùng nổ các cuộc cách mạnglớn như phong trào văn hóa Phục Hưng (thế kỷ XIV – XVI, mượn danhnghĩa làm sống lại các giá trị, trào lưu văn hóa của Hy – La cổ để đưavào đó những tư tưởng văn hóa mới của giai cấp tư sản, thành tựu của phong trào này rất rực rỡ, bao gồm nhiều lĩnh vực như văn

chương, nghệ thuật, khoa học, triết học,…), phát kiến địa lý (thế kỷ

XV – XVI sau Công Nguyên, nhằm mở rộng thị trường, việc phát hiện

ra các con đường nối liền giữa các lục địa đã tạo nên nền mậu dịch

Trang 27

đại dương phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XVI sau Công Nguyên,phát kiến địa lý cũng phát hiện thêm một lục địa mới là châu Mỹ và một đại dương mới là Thái Bình Dương), cải cách tôn giáo (thế kỷ XVI– XVII sau Công Nguyên, hình thành nên một tôn giáo mới là Tân giáo hay Tin Lành giáo kế thừa Cơ Đốc giáo nhưng phù hợp với đời sống của giai cấp tư sản, phản ánh khát vọng tự do, dân chủ, bình đẳng, lối sinh hoạt xã hội đơn giản cũng như phá bỏ hệ tư tưởng Cơ Đốc giáo đã từng chi phối xã hội phong kiến châu Âu hàng nghìn năm), văn minh Ánh Sáng (thế kỷ XVII – XVIII sau Công Nguyên, trung tâm là thủ đô Paris của Pháp, chủ đề chính là tư tưởng dân chủ

tư sản do các nhà tư tưởng tiến bộ của giai cấp tư sản như Thomas Paine, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Immanuel Kant,… đề ra) để

mở đường cho cách mạng tư sản sau này Do vậy, phương Tây tiến

bộ hơn hẳn so với phương Đông

William Shakespeare, tác gia tiêu biểu, nhà soạn kịch vĩ đại nhất của

Trang 28

Lược đồ những cuộc phát kiến địa lý (Nguồn: baigiang.violet.vn).

Trang 29

Từ trái sang phải: Thomas Paine, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Immanuel Kant – những đại diện tiêu biểu của văn minh Ánh Sáng

(Nguồn: it.wikipedia.org).

5.VẤN ĐỀ LỊCH SỬ CẬN ĐẠI (CHẾ ĐỘ TƯ BẢN)

5.1.CÁCH MẠNG TƯ SẢN Ở PHƯƠNG TÂY

Thế kỷ XVI – XIX sau Công Nguyên, ở phương Tây, lần lượt nổ ra các cuộc cách mạng tư sản để lật đổ chế độ phong kiến, điển hình làcách mạng Hà Lan (1566–1648 sau Công Nguyên), cách mạng Anh (1642 – 1688 sau Công Nguyên), cách mạng Mỹ (1775 - 1783 sau Công Nguyên), cách mạng Pháp (1789 - 1799 sau Công Nguyên),…

Cách mạng Hà Lan (Nguồn: diepdoan.violet.vn).

Trang 30

Cách mạng Anh (Nguồn: nddung1980.violet.vn).

Trang 31

Cách mạng Mỹ (Nguồn: diepdoan.violet.vn).

Quá trình chuyển từ chế độ phong kiến sang tư bản của phương Tây rất đa dạng, phong phú: thông qua đấu tranh giải phóng dân tộcnhư Hà Lan (chống Tây Ban Nha để giành độc lập, xây dựng lực lượng dưới ngọn cờ của Tin Lành giáo), Mỹ (chống sự thống trị của thực dân Anh để giành độc lập); thông qua nội chiến như cách mạng Anh (kéo dài hơn 40 năm, diễn ra dưới hình thức Thanh giáo); thông qua con đường cải cách như ở Nhật Bản (1866 – 1869 sau Công Nguyên, diễn ra cuộc Minh Trị Duy Tân, đưa nước Nhật trở thành quốc gia phát triển nhất châu Á), Thái Lan (cuộc cải cách dưới thời

Trang 32

vua Rama V và VI đã giúp nước Thái trở thành quốc gia tư bản sớm nhất Đông Nam Á),…

Chân dung Thiên hoàng Minh Trị, người đã thực hiện cuộc cải cách

Minh Trị ở Nhật Bản (Nguồn: vi.wikipedia.org).

Từ trái sang phải: vua Rama V và vua Rama VI của Thái Lan (Nguồn:

vi.wikipedia.org).

Trang 33

Đầu thế kỷ XX, cách mạng tư sản thắng lợi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trừ phương Đông (châu Phi, châu Á).

5.2.CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở PHƯƠNG TÂY (CUỐI THẾ KỶ XVIII – ĐẦU THẾ KỶ XIX SAU CÔNG NGUYÊN).

5.2.1.NGUYÊN NHÂN.

Nguyên nhân xã hội:

- Sau các cuộc cách mạng, giai cấp tư sản đã nắm được chính quyền, thiết lập được bộ máy nhà nước, củng cố vai trò của mình một cách vững chắc trong xã hội, dẫn chứng: sau cách mạng, chính quyền Anh ban hành hơn 200 điều luật, chính quyền Pháp ban hành 100 điều luật có lợi cho giai cấp tư sản

- Nền sản xuất thời đó không đáp ứng đủ nhu cầu, nên tăng năng suất lao động trở thành một vấn đề cấp bách của kinh tế

tư bản chủ nghĩa, mà con đường tăng năng suất lao động hiệu quả nhất là đầu tư thiết bị mới, đưa sản xuất thủ công lên sản xuất bằng máy móc

Nguyên nhân thị trường:

- Sau những cuộc cách mạng tư sản, các dân tộc ở châu Âu dần dần hình thành, thị trường dân tộc thống nhất mở rộng

- Sau những cuộc phát kiến địa lý, các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức đã chiếm được nhiều thuộc địa, thị trường thế giới mởrộng, nền mậu dịch Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và một phần Ấn Độ Dương phát triển mạnh mẽ, dẫn chứng: các thươngnhân đã đóng thuyền, vượt biển đi buôn, từ châu Âu sang châuPhi bắt nô lệ đem qua châu Mỹ, đi mua các sản phẩm nông nghiệp như thuốc lá, cacao, cà phê, khoai tây,… mang về bán

ở châu Âu, lời khoảng 10 – 30 lần

Nguyên nhân vốn: Công nghiệp hóa đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ nhưng sau hơn ba thế kỷ phát triển kinh doanh, sản xuất hàng hóa,

Trang 34

bóc lột sức lao động của công nhân, buôn bán nô lệ, cướp đoạt thuộcđịa thì giai cấp tư sản đã có đủ vốn để thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp.

Nguyên nhân kỹ thuật: Từ khi bắt tay vào sản xuất hàng hóa, giai cấp tư sản đã tiếp cận kỹ thuật thế giới:

- Thế kỷ XIV – XV sau Công Nguyên, tiếp thu văn minh phương Đông, dẫn chứng: kỹ thuật se sợi bông, sử dụng sợi đay, in, làm giấy, la bàn, thuốc súng của Trung Quốc; luyện gan, sắt của Lưỡng Hà

- Thế kỷ XV –XVI sau Công Nguyên, sử dụng sức gió, nước, ngựa

để chạy máy móc đơn giản (tuy nhiên, việc sử dụng năng

lượng tự nhiên ở châu Âu rất hạn chế vì mùa đông thì nước đóng băng, gió ít thì máy ngưng hoạt động)

- Thế kỷ XVIII sau Công Nguyên, do sử dụng phổ biến sợi bông, một loạt các phát minh kỹ thuật xuất hiện ở phương Tây và Bắc Mỹ:

 Năm 1733 sau Công Nguyên, John Kay đã phát minh ra máy dệt theo kiểu thoi bay, năng suất tăng gấp đôi

 Năm 1765 sau Công Nguyên, James Hargreaves đã cải tạo máy

se sợi (gọi là máy kéo sợi Jenny) để tăng năng suất lên 30 lần

 Năm 1769 sau Công Nguyên, Richard Arkwright đã cải tạo để máy sợi sử dụng sức nước, đưa năng suất tăng 39 lần

 Năm 1769 - 1790 sau Công Nguyên, James Watt đã sáng tạo

và hoàn chỉnh máy hơi nước để thay thế các nguồn lực tự

nhiên, năng suất nhảy vọt

 Năm 1780 sau Công Nguyên, người Mỹ phát hiện ra máy gieo hạt và máy thu hoạch sợi bông, đưa năng suất lên 60 lần

 Năm 1784 sau Công Nguyên, Henry Cort phát hiện phương pháp luyện thép bằng lò cao, tạo ra nguồn vật liệu để sản xuất máy móc

Trang 35

 Đây chính là tiền đề kỹ thuật để các nước tư bản bắt tay vào việc công nghiệp hóa.

Từ trái qua phải: James Watt và động cơ hơi nước của ông Sự phát triển máy hơi nước khởi mào cho cuộc cách mạng công nghiệp Anh

(Nguồn: tulieu.violet.vn).

5.2.2.THÀNH TỰU.

Cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ sớm nhất ở Anh (năm

1785 sau Công Nguyên):

- Người Anh sử dụng động cơ hơi nước để lập ra nhà máy dệt Mansector, hoạt động dựa vào năng lượng máy móc, có đội ngũ công nhân chuyên nghiệp, tổ chức theo kiểu xí nghiệp, nên được coi là sự kiện mở đầu của cách mạng công nghiệp

- Nếu đầu thế kỷ XIX sau Công Nguyên nước Anh có 300 máy hơinước thì đến cuối thế kỷ này con số đó đã lên tới hơn 5000

- Nhiều ngành công nghiệp mới như luyện kim, khai thác năng lượng, chế tạo máy móc của Anh đều dẫn đầu phương Tây

 Từ Anh, cuộc cách mạng công nghiệp lan ra nhiều nước

Từ năm 1810 sau Công Nguyên, các nước Áo, Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Đức, Ý, Mỹ,… đều bắt tay vào việc công nghiệp hóa, trọng tâm

là chế tạo máy móc, dẫn chứng: ở Pháp, năm 1820 – 1830 sau Công Nguyên, lượng máy móc tăng từ 65 lên 616, mười năm sau (1840 sau Công Nguyên), con số này là 4825, ngoài ra, luyện kim màu cũng phát triển mạnh mẽ

Trang 36

Cùng với việc phát triển công nghiệp nặng, ngành giao thông vận tải cũng vươn lên như vũ bão, dẫn chứng: năm 1814, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước đã ra đời; năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ; thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở châu Âu và châu Mỹ; ở Anh, năm 1810 – 1850 sauCông Nguyên, chiều dài đường sắt tăng từ 1000 lên 10 nghìn km; ở

Mỹ, năm 1830 sau Công nguyên bắt đầu xây dựng đường sắt

(36,8km), năm 1850 - 1860 sau Công nguyên tăng từ 14,4 nghìn lên

49 nghìn km đường sắt, năm 1807 sau Công Nguyên đã xuất hiện tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay

những cánh buồm để mở đầu cho công nghiệp hàng hải

Từ trái qua phải: George Stephenson và chiếc đầu máy xe lửa chạy

bằng hơi nước của ông (Nguồn: baotintuc.vn).

Trang 37

Từ trái qua phải: Robert Fulton và tàu thủy chạy bằng hơi nước của

ông (Nguồn: loigiaihay.com).

 Cách mạng công nghiệp đã tạo ra bức tranh mới trong xã hội phương Tây, dẫn chứng: thành thị ngày càng nhiều, năm 1820 – 1920 sau Công Nguyên, dân số thế giới tăng từ một tỷ lên hai

tỷ người; nhưng đồng thời cũng tạo ra những hệ quả tệ hại

5.2.3.HẬU QUẢ.

Làm nảy sinh chủ nghĩa thực dân

Biến các nước Á, Phi, Mỹ Latin thành thuộc địa

Làm nảy sinh nạn buôn bán nô lệ, dẫn chứng: hơn chín triệu người châu Phi bị bắt để bán qua châu Mỹ; tàn phá nền kinh tế - văn hóa của châu Phi

Đẩy giai cấp công nhân vào đời sống kinh tế - xã hội – văn hóa cùng cực

Xuất hiện nạn tập trung, độc quyền trong nền kinh tế tư bản – lànguồn gốc cho sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc, sự cạnh tranh giữa các tập đoàn đế quốc đã dẫn đến chiến tranh thế giới thứ nhất

Trang 38

Tạo ra hố sâu ngăn cách giàu - nghèo gay gắt.

Người châu Phi bị bắt để bán làm nô lệ (Nguồn: art2all.net).

Điều kiện ăn ở tồi tàn của công nhân (Nguồn: bachkhoatrithuc.vn).

5.3.CÁCH MẠNG KHOA HỌC - KỸ THUẬT Ở PHƯƠNG TÂY

(GIỮA THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX SAU CÔNG NGUYÊN).

Khoa học luôn là đối tượng khám phá của con người

Trang 39

Sau cách mạng tư sản, nền giáo dục của châu Âu và Bắc Mỹ thay đổi căn bản, dẫn chứng: từ giáo dục duy lý gắn liền với giáo hội chuyển sang giáo dục thực tiễn tách biệt hoàn toàn với nhà thờ; nên tri thức khoa học trở thành điều kiện để phát triển.

Giai cấp tư sản rất quan tâm tới giải pháp tạo ra nguồn lực sản xuất hàng hóa

Trang 40

- Về hóa học:

 Phát minh ra thuốc nổ, xây dựng nhiều nhà máy thuốc nổ

Nobel, người phát minh ra thuốc nổ năm 1867sau Công Nguyên

 Chuyển từ duy lý sang thực nghiệm

 Ra đời một loạt các phát minh về những loại vi trùng gây bệnh,

từ đó tạo ra các chất kháng thể để ngăn ngừa bệnh dịch

Ngày đăng: 24/06/2015, 10:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w