Công ty cổ phần chè Kim Anh là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè hương tiêu dùng trong nước và chè xuất khẩu trên cơ sở nguồn vốn tự có do các cổ đông đóng góp và một phần vốn của Nhà nước.
Trang 1bộ phận trong doanh nghiệp nhưng trong đó công tác hạch toán kế toán là một công cụ hiệu quả hơn cả.
Công ty cổ phần chè Kim Anh là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè hương tiêu dùng trong nước và chè xuất khẩu trên cơ sở nguồn vốn tự có do các cổ đông đóng góp và một phần vốn của Nhà nước Với dây truyền sản xuất
có quy mô lớn và hiện đại, sản phẩm của công ty được sản xuất với khối lượng lớn, phong phú về chủng loại có chất lượng cao được người tiêu dùng trong nước
ưa chuộng và bạn bè thế giới tín nhiệm.Tuy nhiên sự cạnh trang nghiệt ngã của thị trường luôn đặt ra cho ban lãnh đạo công ty vấn đề bức xúc là làm sao tiết kiệm hơn nữa chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tối đa hoá lợi nhuận nhằm cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại công ty, nhờ sự giúp đỡ của ban lãnh đạo công ty và các cán bộ nhân viên phòng Tài chính kế toán, cùng sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo: PGS,TS Nguyễn Thi Đông em đã hoàn thành
đề tài: “ Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công
ty cổ phần chè Kim Anh” Qua đề tài này, em mong sẽ được đi sâu nghiên cứu
Trang 2tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong đơn vị, nhằm củng cố hơn cho kiến thức đã học tại Nhà trường và muốn đóng góp một vài ý kiến nhằm hoàn thiện hơn công tác này tại công ty cổ phần chè Kim Anh.
Do thời gian thực tập không nhiều và phạm vi đề tài không cho phép, vậy qua bài viết em chỉ đưa ra vài nét khái quát về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và đi sâu vào công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong tháng 12 năm 2002
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài thực tập tốt nghiệp được trình bày theo những nội dung chíng sau:
Chương I: Tình hìng chung của công ty cổ phần chè Kim Anh ảnh hưởng đến việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chương II: Tình hình thực tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần chè Kim Anh
Chương III: Một số đề suất nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần chè Kim Anh
Vì thời gian tìm hiểu thực tế không nhiều và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế nên bài viết này chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết
về mặt nội dung và hình thức, em rất mong nhận đực sự giúp đỡ của thầy cô để
đề tài được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, Ngày 20 tháng 4 năm 2003
Sinh viên
BÙI TIẾN DINH
Trang 3ty là thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty chè Việt Nam Công ty có trụ
sở tại xã Mai Đình – huyện Sóc Sơn – Hà Nội
Tên giao dịch: Kim Anh tea Stock-Holding Company
Trang 4sản xuất được mở rộng, sản lượng chè tăng, nhà máy đã mở rộng thị trường tiêu thụ đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu với các thị trường như Liên Xô cũ và các nước
xã hội chủ nghĩa Đông Âu Trong giai đoạn này nhà máy nhận được nhiều bằng khen các loại
Đến năm 1999, nhà nước có chủ trương tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước nhằm mục đích tăng hiệu quả kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Công ty chè Kim Anh là doanh nghiệp nhà nước đầu tiên thuộc ngành chè được chọn để tiến hành cổ phần hoá Sau 6 tháng chuẩn bị, ngày 3/7/1999, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ra quyết định số 99/1999/QĐ BNN-TCCB chuyển công ty chè Kim Anh thành công ty cổ phần chè Kim Anh với số vốn điều lệ là 9,2 tỉ đồng, được chia thành 92.000 cổ phần, trong đó cổ phần nhà nước chiếm 30%, tỉ lệ cổ phần bán cho người lao động trong công ty là 48%, bán cho đối tượng bên ngoài là 20% Tổng số vốn cổ phần theo giá ưu đãi cho người nghèo trong công ty trả dần là 8.840 cổ phần Đây là một bước chuyển biến lớn lao trong lịch sử phát triển của công ty chè Việc cổ phần hoá đã thay đổi hình thức sở hữu của công ty, nếu như trước đây, công ty thuộc sở hữu nhà nước thì hiện nay cả người lao động trong công ty cũng trở thành chủ sở hữu Tất cả cùng chung một mục đích làm cho công ty ngày càng lớn mạnh, và đời sống của người lao động ngày càng nâng cao
Nhờ những bước cải tiến quan trọng đó nên chr sau 3 tháng chuyển sang công ty cổ phần, công ty đã sản xuất được 500 tấn sản phẩm trong đó chè đen xuất khẩu được 230 tấn, chè hương tiêu thụ trong nước các loại được 270 tấn, bằng 45% sản lượng cả năm 1999 và tăng 22% so với cùng kỳ năm 1998 Doanh thu tiêu thụ đạt 13,5 tỷ đồng, số tiền lãi chia cổ phần là 528 triệu đồng, tỉ lệ lãi cổ phần đạt 1,23%/tháng, thu nhập bình quân mỗi công nhân từ 600-650 nghìn đồng
Trang 5một tháng, tăng 200 nghìn đồng so với trước Những con số trên cho thấy công
ty không những ổn định sản xuất mà còn phát triển mạnh
Hơn nữa, công ty còn đưa ra thị trường trong nước và quốc tế trên 30 sản phẩm các loại Sản phẩm được tặng nhiều huy chương vàng, bông lúa vàng tại hội chợ triển lãm Giảng Võ Hà Nội, Cần Thơ và được chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao Nhờ sự cải tiến về chất lượng, bao bì sản phẩm và sự đa dạng hoá về các loại sản phẩm nên sản phẩm chè Kim Anh đã có mặt khắp mọi nơi trên đất nước ta và trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khác Nó còn thâm nhập và đứng vững ngay cả ở những thị trường khó tính nhất như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada…Thương hiệu chè Kim Anh giờ đây được nhiều người biết đến, không kém gì những thương hiệu hè nổi tiếng như Lipton, Dimah…
Công ty cổ phần chè Kim Anh ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trên thị trường và trên đà phát triển Bảng số liệu sau đây cho thấy sự nỗ lực phấn đấu của công ty trong những năm gần đây
Mục tiêu những năm tới đây của công ty là tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá các loại mẫu mã và bao bì, tích cực mở rộng và tìm kiếm các thị trường trong và ngoài nước, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu chè Kim Anh, khắc phục những tồn tại trong quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp công ty phát triển hơn nữa trở thành một doanh nghiệp hàng đầu trong ngành chè Việt Nam
Trang 61.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất và công nghệ sản xuất chè.
1.2.1 Đặc điểm sản phẩm sản xuất và công nghệ sản xuất sản phẩm.
Uống chè là một thói quen, là phong tục lâu đời của dân tộc Việt Nam Nước chè cho ta sự sảng khoái và tỉnh táo và còn nhiều tác dụng tốt khác cho cở thể con người Hiện nay để đáp ứng nhiều đòi hỏi khác nhau của thị trường công
ty CP chè Kim Anh đã cho ra trên 30 sản phẩm khác nhau, có đủ mẫu mã và kiểu dáng, hương vị Sản phẩm của công ty được nhiều người Việt Nam biết đến và tin dùng Đại lý của công ty có mặt trên 61 tỉnh thành phố trên cả nước Sản phẩm của công ty chủ yếu được tiêu thụ vào cuối năm và dịp tết Nguyên đán của dân tộc Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất mang tính thời vụ
và công tác chi phí, giá thành của công ty Vụ sản xuất chính của công ty là vào
6 tháng cuối năm, còn 6 tháng đầu năm công việc diễn ra chỉ cầm trừng Vì vậy, trong việc tập hợp chi phí sản xuất công ty không tiến hành trích khấu hao TSCĐ vào 6 tháng đầu năm Ngoài sản phẩm sản xuất, dây truyền công nghệ cũng ảnh hưởng đến công tác tập hợp chi phí và tính giá thành của công ty
Dây chuyền công nghệ hiện đại là một yếu tố quan trọng giúp cho sản phẩm của công ty chè Kim Anh khẳng định dược vị trí của mình trên thị trường chè công ty đã đầu tư rất nhiều tiền vào việc hiện đại hoá dây chuyền công nghệ sản xuất Các loại náy móc như: máy sấy, máy sàng, máy cắt, máy tách râu sơ, các loại máy đóng gói đều được công ty nhập từ Ấn Độ, Trung Quốc – những nước có trình độ sản xuất chè tiên tiến trên thế giới
Công ty đã đưa ra thị trường trên 30 loại sản phẩm khác nhau với đủ mẫu
mã bao bì, hương liệu với đủ cách đóng gói: chè Tân Cương, chè Hương Nhài, chè sen chè thảo mộc, nhưng tựu chung lai mỗi loại chè thuộc 1 trong 3 nhóm mặt hàng chè: chè đen xuất khẩu, chè đen xuất khẩu và chè hương tiêu dùng nội địa Nhóm mắt hàng khác nhau, nên quy trình công nghệ cho mỗi nhóm cũng có
sự khác nhau thể hiện qua sơ đồ sau
Trang 7Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất chè.
SX chè hương nội tiêu SX chè xanh, đen XK
Sinh viên thực hiện: Bùi Tiến Dinh – Lớp Kế toán 41 B
Chè sơ chế
Sấy
S ng à
Tách râu sơCắt cán
Xuất khẩu Nhập kho th nh phà ẩm
Đóng gói Đấu trộnQuạt
Sấy
S ng à
Tách râu
sơCắt cán
Đấu trộnQuạt
Sao hướng
Ủ chè
S ng táchà
Đóng góiNhập kho th nh phà ẩm
Trang 8Nguyên liệu chính của mỗi mặt hàng là chè sơ chế Chè búp tươi được 2 xí nghiệp chè thành viên thu mua của nông dân và sơ chế tại chỗ rồi chuyển về công ty Chè búp tươi nếu sơ chế để phục vụ cho sản xuất chè xanh xuất khẩu và chè hương tiêu dùng nội địa thì phải thông qua công đoạn sào diệt men, vò, sấy Nếu để phục vụ cho sản xuất chè đen xuất khẩu phải trải qua các công đoạn: làm héo, vò, sấy Chè sau khi sơ chế phải để riêng từng loại, từng vùng chè Chè sơ chế sau đó được chuyển về công ty để sản xuất chè thành phẩm Từ chè sơ chế muốn sản xuất ra chè thành phẩm phải trải qua các công đoạn sau:
Trang 9-Sấy lại, chè đã được sơ chế phải cho vào máy sấy lại, nhiệt độ lò sấy khoảng 70oC – 80 oC Nếu chè quá ẩm, nhiệt độ đó có thể lên tới 90 oC.
-Sàng rung: chè đã sấy chuyển qua máy sàng rung Những cánh chè to phải đem qua máy cắt lại cho đúng kích cỡ kĩ thuật
- Tách râu sơ: chè đã quạt xong chuyển sang máy tách râu sơ Tại máy râu
sơ sẽ dính vào con lăn đã được đốt nóng, chảy vào máy thành phế liệu còn cánh chè sẽ theo băng chuyền ra ngoài Chè đã tách râu sơ 1 lần chuyển sang máy quạt, sau đó lại quay vào máy tách râu sơ lần 2 với mục đích đẩy hêt râu sơ ra khỏi chè tạo ra chè bán thành phẩm
- Đấu trộn: từng loại chè bán thành phẩm khác nhau sẽ được đấu trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp để tạo lên vị riêng cho chè Kim Anh Nếu là chè xanh, đen xuất khẩu, sau khi đấu trộn chè được đưa sang phân xưởng thành phẩm để đóng gói thành chè thành phẩm và nhập kho Nếu là chè hương tiêu dùng nội địa thì chuyển qua các công đoạn sau:
- Sao tẩm hương: Việc sao hương được chia làm 3 giai đoạn: thắt ẩm, sao khô và cho hương Qua 2 giai đoạn đầu làm chè khô đi và các vị lạ đã mất, việc sao hương chuyển qua giai đoạn 3 ở giai đoạn này, tuỳ theo kế hoạch sản xuất loại chè nào mà cho hương liệu phù hợp như: sen, nhài, chanh, cam, thảo mộc, nhân sâm, nhiệt độ trong chảo lên cao 90 – 100oC Sau khi cho hương khoảng 15 phút thì cho chè ra
- Sàng tách hương: Sau khi tẩm hương, chè được ủ từ 1 đến 3 tháng cho ngấm, rồi qua sàng tách hương để loại bỏ hương liệu
- Đóng gói: Các loại chè đều được chuyển sang phân xưởng thành phẩm
để đóng gói chè vào hộp, túi, gói theo đúng kích cỡ, trọng lượng rồi chuyển vào kho thành phẩm
Quy trình công nghệ sản xuất chè tại công ty cổ phần chè Kim Anh là quy trình công nghệ ( phức tạp ) kiểu liên tục, chu kì sản xuất ngắn ngày, thuộc loại
Trang 10hình sản xuất với khối lượng lớn, khép kín từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm đóng gói và nhập kho Sản phẩm của quy trình công nghệ này là chè thành phẩm các loại, giá trị phẩm cấp của các loại chè phụ thuộc vào kỹ thuật sản xuất và công thức phân phối, chế nguyên liệu, hương liệu Điều này đỏi hỏi công nhân sản xuất phải có tay nghề cao và sự chặt chẽ của bộ phận quản lý.
Đặc điểm trên của quy trình công nghệ sản xuất đã ảnh hưởng đến công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty CP chè Kim Anh như sau:
Do trong quá trình sản xuất các công đoạn sản xuất được thức hiện độc lập bởi từng phân xưởng nên việc tập hợp chi phí sản xuất cho tất cả các loại sản phẩm cũng được tiến hành theo từng phân xưởng Mọi chi phí sản xuất của phân xưởng sẽ được tập hợp làm căn cứ tính giá thành sản phẩm hoàn thành
Sản phẩm cuối cùng của quy trình công nghệ là những loại mặt hàng chè khác nhau như: Sen 8g, Nhài 10g, nên đối tượng tính giá thành sản phẩm của công ty được xác định là từng mặt hàng chè sản xuất ra ở khâu cuối cùng của quy trình công nghệ
Quy trình công nghệ sản xuất theo kiểu liên tục, chu kỳ sản xuất ngắn ngày, chu trình sản xuất từ sấy đế sao hương, từ sào tách hương đến đóng gói là rất ngắn chỉ có chè trong giai đoạn ướp hương là chiếm thời gian dài nên ở công ty coi chè đóng gói là chè thành phẩm còn chè sao hương chưa đóng gói là sản phẩm dở dang
1.2.2 Tổ chức sản xuất tại công ty.
Với nhiệm vụ sản xuất các loại chè xanh, đen xuất khẩu và chè hương để tiêu dùng nội địa, công ty cổ phần chè Kim Anh tổ chức sản xuất chè ở 2 xí nghiệp thành viên là xí nghiệp chè Đại Từ và xí nghiệp chè Định Hoá, đồng thời
Trang 11ở trụ sở công ty có 2 phân xưởng sản xuất là phân xưởng chế biến và phân
xưởng thành phẩm.Trong mỗi phân xưởng lại chia thành các tổ để công việc sản
xuất đạt hiệu quả cao Để thấy rõ cơ cấu sản xuất của công ty cổ phần chè Kim
Anh ta sẽ xem xét sơ đồ cơ cấu sản xuất dưới đây:
Sơ đồ cơ cấu sản xuất công ty cổ phần chè Kim Anh
Chức năng và nhiệm vụ của mỗi bộ phận trong cơ cấu tổ chức sản xuất
như sau:
*Hai xí nghiệp chè thành viên và xưởng chè Ngọc Thanh có nhiệm vụ
thu mua và sơ chế chè là của nông trường thành chè búp khô làm nguyên liệu
Tổ
s ng à Tổ đấu
trộn
Tổ sao hương
Tổ
ủ chè
Tổ phục
vụ SX
Tổ Đóng Gói
Tổ vận chuyển
Công ty
Trang 12*Phân xưởng chế biến: từ chè búp khô do các xí nghiệp chuyển về, PX
phải tái chế lại cùng với các hương liệu để tạo thành các loại chè rồi chuyển sang phân xưởng thành phẩm để đóng gói Nhiệm vụ cụ thể của từng tổ như sau:
• Tổ sàng: sấy lại chè ở nhiệt độ thích hợp, đưa chè đã sấy vào máy sàng, những cánh chè to đưa qua máy cắt Chè đã qua công đoạn này được đưa vào máy quạt, tách râu sơ để thành chè bán thành phẩm
• Tổ đấu trộn: trộn từng loại chè bán thành phẩm ở tất cả các vùng theo một
*Phân xưởng thành phẩm: có nhiệm vụ đóng gói và nhập kho thành
phẩm Nhiệm vụ từng tổ trong PX như sau:
• Tổ phục vụ sản xuất: vận chuyển các vật liệu càn thiết đến tổ đóng gói
• Tổ đóng gói: đóng gói chè đã được chế biến vào hộp, túi đúng quy cách
• Tổ vận chuyển vận chuyển các loại chè đóng gói vào kho thành phẩm
1.3 Tổ chức hệ thống quản lý công ty.
Khi chuyển sang công ty cổ phần, công ty cổ phần chè Kim Anh đã tổ chức và sắp xếp lại bộ máy quản lý trên cơ sở tiết kiệm và hiệu quả, nhiều phòng ban được sáp nhập vào nhau và có phòng ban kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau Tất cả đều hoạt động một cách nhịp nhàng ăn khớp nhằm thực hiện thống nhất kế hoạch, mục tiêu của công ty Hiện nay, số lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm có 410 người trong đó, lao động trực tiếp là 210 người, lao động gián tiếp là 200 người
Trang 13Công ty cổ phần chè Kim Anh được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp, nên cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của nó cũng bao gồm những thành phần chủ yếu nêu trong luật doanh nghiệp Cụ thể được thể hiện trên sơ đồ sau:
PX
Th nh à PX Chế
Phó giám đốc nguyên liệu
Xưởng chè Ngọc Thanh
Nh máy àchè Đại Từ
Nh máy chè àĐịnh Hoá
Trang 14Trong công ty, cơ quan có quyền quyết định cao nhất là Đại hội đồng cổ đông, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) của công ty bao gồm 220 cổ đông có quyền biểu quyết ĐHĐCĐ bầu ra hội đồng quản trị và ban kiểm soát thay mặt các cổ đông điều hành quản lý trực tiếp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ĐHĐCĐ họp ít nhất mỗi năm một lần để thông qua báo cáo tài chính năm và định hướng phát triển của công ty ĐHĐCĐ cũng có quyền quyết định chào bán cổ phần và mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần.
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty HĐQT có 5 thành viên trong đó có 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch và 3 thành viên khác HĐQT có nhiệm vụ quản lý chung hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách đưa ra các nghị quyết, phương hướng, các quy chế kiểm soát nội bộ
Ban kiểm soát: gồm 3 người trong đó có 1 trưởng ban và 2 kiểm soát viên
có trình độ chuyên môn cao về nghiệp vụ kế toán Ban kiểm soát phải thẩm tra báo cáo tài chính năm, quản lý, phát hiện các sai sót của các bộ phận và đưa ra ĐHĐCĐ Ban kiểm soát cũng có thể kiến nghị các biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức sản xuất
Giám đốc điều hành: là thành viên của HĐQT có nhiệm vụ điều hành trực tiếp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo các nghị quyết của HĐQT và phương án của công ty, được uỷ quyền là đại diện hợp pháp của công ty
Trang 15 Phó giám đốc kinh doanh; phụ trách về việc tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp quản lý phòng kinh tế thị trường.
Phó giám đốc nguyên liệu: phu trách thu mua các yếu tố đầu vào cho sản xuất ở 2 xí nghiệp thành viên và phân xưởng chè Ngọc Thanh
Phòng kinh tế thị trường (KTTT): có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, giới thiệu sản phẩm, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ, xác định các định mức kinh tế kĩ thuật
Phòng tài chính kế toán: có nhiệm vụ tổ chức các vấn đề liên quan đến công tác kế toán của công ty theo đúng chế độ kế toán hiện hành, cung cấp các thông tin kế toán cho các bộ phận có liên quan, cố vấn cho giám đóc trong quản trị doanh nghiệp
Phòng hành chình tổng hợp: giải quyết các vấn đề có liên quan đến người lao động như tuyển lao động, đào tạo lao động khen thưởng kỷ luật công nhân viên và giải quyết các vấn đề liên quan đến tiền lương của đơn vị
Phòng KCS: Theo dõi quy trình công nghệ, đảm bảo về mặt kỹ thuật cho quy trình sản xuất, xây dựng định mức nguyên vật liệu
Phòng cơ điện: có nhiệm vụ bảo đảm cho máy móc hoạt động thông suốt trong cả quá trình vận hành
Phân xưởng thành phẩm có nhiệm vụ đóng gói chè và vận chuyển đến kho thành phẩm
Phân xưởng chế biến: thực hiện toàn bộ quy trình tinh chế từ chè búp khô thành chè thành phẩm
Hai xí nghiệp thành viên: là nhà máy chè Đại Từ và Định Hoá, xưởng chế biến chè Ngọc Thanh có nhiệm vụ thu mua chè, sơ chế thành chè búp khô làm nguyên liệu cho sản xuất
1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán.
Trang 161.4.1 Bộ máy kế toán công ty.
1.4.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của phòng tài chính kế toán.
Phòng tài chính kế toán là một phòng ban nghiệp vụ có chức năng chính là phân tích và giám đốc các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Đồng thời, phòng tài chính kế toán có chức năng tham mưu, giúp việc cho ban giám đốc việc chuẩn bị và quản lý các nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, đề xuất và thực hiện biện pháp bảo toàn và phát triển vốn, hướng dẫn thực hiện các nghiệp vụ hạch toán thống kê, kế toán và phân tích hoạt động kinh tế trong nội bộ công ty
Phòng tài chính kế toán có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch tài chính của công ty thực hiện các nghĩa vụ thống kê tổng hợp, kế toán tài chính và hạch toán quyết toán, thực hiện chế độ báo cáo thống kê và báo cáo tài chính với các cơ quan tài chính cấp trên Tham mưu, giúp đỡ giám đốc thực hiện tổ chức mạng lưới thống kê kế toán, hướng dẫn thực hiện chế độ ghi chép ban đầu, hạch toán nội bộ các phân xưởng trong công ty
1.4.1.2 Tổ chức bộ máy kế toán.
Công ty cổ phần chè Kim Anh là công ty có quy mô không lớn, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu tập trung tại công ty trên cơ sở sắp xếp bộ máy gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả Nên để thuận tiện cho việc cung cấp thông tin kế toán công ty tổ chức kế toán theo mô hình tập trung vào một phòng kế toán trung tâm Còn ở các bộ phận trực thuộc có các nhân viên kinh tế
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Sinh viên thực hiện: Bùi Tiến Dinh – Lớp Kế toán 41 B
KT tập hợp chi phí v tính àgiá th nh sà ản phẩm
Kế toán trưởng, kiêm KT th nh àphẩm, tiêu thụ, VLC, KT tổng hợp
KT Lương (phòng HCTH)
Trang 17Phòng kế toán của công ty gồm 4 người, mỗi người có thể kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau nhưng vẫn luôn đảm bảo cung cấp thông tin cho việc quản
lý toàn công ty
- Kế toán trưởng: là người đứng đầu bộ máy kế toán có nhiệm vụ phụ trách
chung, chịu trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra công việc do kế toán viên thức hiện Chịu thách nhiệm trước ban giám đốc, cơ quan chủ quản về số liệu kế toán cung cấp Là người tập hợp số liệu từ các phần hành kế toán để ghi vào sổ cái, tính thuế phải nộp và các khoản phải nộp NSNN
Hơn nữa do là công ty có mô hình nhỏ nên kế toán trưởng còn chiu trách nhiệm theo dõi ghi chép tính toán các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến vật liệu chính, thành phẩm tiêu thụ thành phẩm, phản ánh các nghiệp vụ này vào sổ chi tiết, bảng phân bổ, cùng các số liệu do các kế toán ở phần hành khác chuyển đến cuối tháng lập NKCT, cuối quý lập báo cáo tài chính
- Kế toán TSCĐ, vật liệu phụ, công nợ: theo dõi 2 xí nghiệp thành viên: chịu
trách nhiệm theo dõi ghi chép, tính toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến TSCĐ, vật liệu phụ, công nợ và 2 xí nghiệp thành viên Phản ánh các nghiệp
vụ này vào sổ chi tiết, bảng phân bổ Cuối kì các số liệu này chuyển cho kế toán tổng hợp
- Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành: chịu trách nhiệm theo dõi ghi chép
tính toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và các chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất, mở sổ chi tiết, lập các bảng phân bổ, bảng kê theo yêu cầu quản lý
Trang 18Cuối tháng, lập bảng tình giá thành sản phẩm rồi chuyển toàn bộ cho kế toán tổng hợp
- Kế toán tiền mặt: chịu trách nhiệm thu chi quản lý tiền mặt, theo dõi ghi chép
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tiền mặt và cả tiền gửi ngân hàng Cuối tháng, kiểm quỹ, đối chiếu số tiền trên sổ với số tiền thực tế có tại quỹ, rồi chuyển toàn bộ số liệu cho kế toán tổng hợp
- Nhân viên thống kê phân xưởng: Chịu trách nhiệm theo dõi tình hình sử dụng
nguyên vật liệu, số lượng, quy cách sản phẩm sản xuất hàng tháng
- Phòng hành chính tổng hợp: chịu trách nhiệm về công nhân viên của công ty
đồng thời hàng tháng tính ra số lương và các khoản phải trích theo lương của toàn bộ công nhân viên trong công ty rồi chuyển toàn bộ sổ sách cho phòng kế toán
Kế toán tổng hợp tiếp nhận sổ sách và ghi vào sổ chi tiết và bản phân bổ tiền lương
1.4.2 Tổ chức công tác kế toán hiện nay tại công ty.
Hiện nay, công ty đang lựa chọn hệ thống sổ theo hình thức Nhật kí chứng từ Mọi công việc hạch toán kế toán được thực hiện thủ công là chủ yếu Trình tự ghi sổ của công ty được thực hiện như sau:
- Hằng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc kế toán ghi vào các Nhật kí chứng
từ (NKCT), bảng kê, sổ chi tiết có liên quan
- Đối với các NKCT được ghi căn cứ vào các bảng kê, sổ chi tiết thì hàng ngày từ các chứng từ kế toán vào các Bảng kê, sổ chi tiết, cuối tháng phải chuyển số liệu tổng cộng của Bảng kê, sổ chi tiết vào NKCT
- Đối với các loại chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh nhiều lần hoặc mang tính phân bổ, các chứng từ gốc trước hết được tập hợp và phân loại trong
Trang 19Chứng từ gốc v àcác bảng phân bổ
- Cuối tháng khoá sổ, cộng dồn số liệu trên các NKCT, kiểm tra, đối chiếu
số liệu trên các NKCT với các sổ kế toán chi tiết Lấy số liệu tổng cộng của các NKCT ghi trực tiếp vào sổ cái
- Từ sổ cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong NKCT, bảng kê và các bảng tổng hợp chi tiết để lập các báo cáo tài chính
Quy trình này cụ thể được tiến hành theo sơ đồ sau:
Sơ đồ số: Trình tự ghi sổ kế toán của công ty cổ phần chè Kim Anh.
Trang 20Các sổ sách dùng trong quá trình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần chè Kim Anh
12 năm 2002
2.1 Đặc điểm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Trang 21Quy trình công nghệ sản xuất chè phức tạp với nhiều khâu nhiều sản phẩm khác nhau vì vậy công ty CP chè Kim Anh xác định đối tượng tập hợp chi sản xuất là toàn bộ quy trình công sản xuất cho tất cả các sản phẩm và theo dõi riêng cho từng sản phẩm.
Chi phí sản xuất của công ty được tập hợp riêng theo từng phân xưởng rồi tổng hợp lại thành chi phí sản xuất toàn công ty sau đó tiến hành phân bổ riêng cho từng đối tượng tính giá thành sản phẩm theo tiêu thức phân bổ là sản lượng hoàn thành của loại sản phẩm đó Chỉ riêng có chi phí nguyên vật liệu chính và vật liệu phụ vừa được tập hợp chung cho toàn công ty vừa được tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm
Sản phẩm cuối cùng của quy trình công nghệ là đối tượng tính giá thành sản phẩm của công ty Giá thành sản phẩm thể hiện hợp lý chi phí sản xuất bỏ ra
Trang 22Yêu cầu của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phải phản ánh đầy đủ, chính xác, đầy đủ và kịp thời mọi chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất bao gồm: chi phí sản xuất cơ bản, chi phí phục vụ và quản lý, bảo đảm cung cấp đầy đủ và kịp thời các số liệu cho công tác quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất phải luôn dựa trên nguyên tắc: Chi phí sản xuất phải phù hợp với định mức do phòng Kỹ thuật lập ra Đối với những khoản chi phí quá lớn hoặc quá nhỏ so với định mức, kế toán tập hợp chi phí có thể yêu cầu kế toán ở các bộ phận có liên quan giải trình để làm sáng tổ Trường hợp có sai sót phải sửa chữa kịp thời
Yêu cầu của công tác tình giá thành sản phẩm là việc tính giá thành sản phẩm phải tính cho từng loại sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất Cụ thể
là các sản phẩm chè đen, chè xanh và các sản phẩm chè xanh ướp hương Giá thành sản phẩm phải phản ánh một cách hợp lý chi phí bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm
Do việc sản xuất chè có tính chất thời vụ, thời gian sản xuất chủ yếu là 6 tháng cuối năm cho nên kỳ tình giá thành không phải theo năm, theo quý mà theo từng tháng
2.3 Công tác kế toán chi phí sản xuất ở công ty.
2.3.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và kỳ hạch toán.
Để đáp ứng được yêu cầu tập hợp chi phí sản xuất thì điều quan trọng đầu tiên là phải xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Chính vì vậy việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty CP chè Kim Anh được quan tâm và coi trọng hàng đầu
Hiện nay tại công ty, chi phí sản xuất được phan loại theo hai tiêu thức:
Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí:
Theo cách phân loại này chi phí của công ty bao gồm các yếu tố sau:
Trang 23• Chi phí nguyên vật liệu: gồm vật liệu chính, là chè sơ chế, vật liệu phụ như hương liệu, nhãn, hộp phụ tùng thay thế, vật liệu khác, công cụ dụng cụ ( ccdc) mà công ty sử dụng trong kỳ.
• Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
• Chi phí khấu hao TSCĐ: toàn bộ số tiền khấu hao TSCĐ cho sản xuất của công ty
• Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền công ty phải trả cho nhà cung cấp điện, điện thoại, nước, phục vụ cho sản xuất kinh doanh
• Chi phí khác bằng tiền: các chi phí khác bằng tiền ngoài các chi phí đã nêu trên
Phân loại theo tiêu thức này cho biết tỷ trọng của từng yếu tố chi phí, từ
đó phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất mục đích công dụng của chi phí:
Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ được chia ra thành 3 khoản mục chi phí khác nhau:
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm chi phí về nguyên liệu chính như: chè sơ chế, vật liệu phụ như: hương liệu, hộp, mác, nhãn hiệu
• Chi phí nhân công trực tiếp: lương chính, lương phụ, tiền thưởng, BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn, chi phí cố định phát sinh trong kỳ của công nhân sản xuất
• Chi phí sản xuất chung: Gồm các chi phí phát sinh phục vụ chung cho quá trình sản xuất chè gồm: vật liệu, ccdc, nhiên liệu, lương nhân viên phân xưởng và các khoản trích theo lương, khấu hao máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác
Trang 24Phân loại chi phí chi phí theo tiêu thức này có tác dụng cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm làm căn cứ xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì yêu cầu của bài viết là đi sâu vào việc phân tích chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm nên em sẽ tìm hiểu việc tổ chức hạch toán chi phí theo tiêu thức này Các chi phí phát sinh được tập hợp vào từng khoản mục chi phí theo từng tháng, từng quý và cả năm
2.3.2 Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm.
2.3.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Công ty CP chè Kim Anh là một doanh nghiệp sản xuất nên chi phí về nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất của công ty
Vật liệu là đối tượng lao động, một trong 3 yếu tố cơ bản của chi phí sản xuất tạo nên sản phẩm Do vậy việc quản lý chặt chẽ là rất quan trọng, tránh được lãng phí, góp phần hạ giá thành sản phẩm, một trong những yếu tố làm cho lợi nhuận cao hơn
Nguyên liệu của công ty được chia thành:
• Nguyên liệu chính bao gồm chè sơ chề như: chè Tân Cương, chè xanh loại 1, chè xanh loại 2,
• Vật liệu phụ: nhãn, mác, hộp caton,
• Phụ tùng thay thế: Động cơ, bánh răng
• Nhiên liệu: Than, xăng, dầu
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được kế toán tập hợp căn cứ trên các chứng từ như: phiếu xuất kho, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho của người bán
Căn cứ trên các chứng từ đó kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào bên Nợ TK621- chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Tài khoản này phản ánh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tập hợp được và chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kết chuyển, phân bổ cho các đối tượng sử dụng
Trang 252.3.2.1.1 Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu trực tiếp.
Trong các loại nguyên liệu trên thì nguyên liệu chính là đáng chú ý nhất vì tính phức tạp và sự chuyển biến của nó trong quá trình sản xuất Quá trình hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp được cụ thể như sau:
a Hạch toán chi phí nguyên vật liệu chính:
Chi phí nguyên vật liệu chính được tập hợp cho tất cả các sản phẩm là giá trị chè sơ chế bắt đầu đưa vào chế biến Các loại chè nguyên liệu được các xí nghiệp thành viên mua, sơ chế và phân loại thành: chè Tân Cương, chè búp loại
1, loại2 chè đen loại 1, chè đen loại 2 việc phân loại này phải dựa vào những tiêu chuẩn nhất định, rồi chuyển về công ty phục vụ cho quá trình sản xuất Trải qua quá trình: Sấy, sàng, cắt cán, tách râu sơ, quạt, chè sơ chế trở thành chè bán thành phẩm được nhập kho cho quá trình tiếp theo
Sau khi đã có chè bán thành phẩm, bước tiếp theo để tạo ra các loại sản phẩm khác nhau, chè bán thành phẩm được đưa vào đấu trộn theo một tỷ lệ nhất định do phòng Kỹ thuật đề ra Mỗi một tỷ lệ đó sẽ cho một loại sản phẩm.Từ bước này, chi phí nguyên vật liệu chính được tập hợp riêng cho từng loại thành phẩm là giá trị bán thành phẩm đem vào đấu trộn thành sản phẩm đó Sau đó chè tiếp tục trải qua các giai đoạn còn lại của quy trình công nghệ
Nguyên tắc xuất dùng vật liệu là căn cứ vào kế hoạch sản xuất, nhu cầu thực tế và định mức tiêu hao nguyên vật liệu, phân xưởng lập ra một phiếu yêu cầu xuất kho nguyên vật liệu ghi danh mục vật liệu cần lĩnh cụ thể về số luợng Phòng Vật tư sau khi xem xét phiếu yêu cầu lĩnh vật liệu sẽ lập phiếu xuất vật liệu Phiếu này lập thành 2 liên, 1 liên giữ tại phòng Vật tư, 1 liên giao cho thủ kho để xuất vật liệu và ghi thẻ kho rồi chuyển lên phòng Kế toán ghi sổ Kế toán căn cứ vào phiếu xuất vật tư, ghi sổ chi tiết vật liệu theo số lượng và địa điểm phát sinh chi phí, cuối ký căn cứ váo số lượng vật liệu tồn đầu kỳ, nhập trong kỳ
để tình giá nguyên vật liệu xuất dùng
Trang 26Ví dụ mẫu phiếu xuất kho như sau:
(Biểu số 2.3.2-1)
Công ty CP chè Kim Anh
Ngày 25 thàng 12 ngăm2002
Họ tên người nhận hàng: Nguyễn Hoàng
Địa chỉ: Phân xưởng sản xuất
Lý do xuất kho: Xuất kho cho sản xuất
số
Đơn vị tính
Số lợngYêu cầu Thực xuất
Giá xuất kho được tính theo phương pháp bình quân gia quyền vào cuối
kỳ Giá trị nguyên vật liệu nhập kho được tính bằng giá thực tế sản xuất tại các đơn vị thành viên cộng thêm chi phí vận chuyển
Bên cạnh các phiếu xuất kho thủ kho còn theo dõi tình hình nhập, xuất từng loại nguyên vật liệu qua thẻ kho từ 5 đến 7 ngày, kế toán xuống kho kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ, đối chiếu phiếu xuất kho, phiếu nhập kho với thẻ
Trang 27kho Sau đó kế toán tiến hành ghi vào sổ chi tiết vật liệucho tường loại vật liệu Cuối tháng tổng hợp trên từng trang sổ để tính ra giá trị thực tế của từng loại vật liệu xuất dùng cho sản xuất và các nhu cầu khác.
Cụ thể mẫu sổ chi tiết vật liệu như sau:
( Biểu số 2.3.2-2 )
SỔ CHI TIẾT VẬT LIỆUTháng 12 năm 2002Tên vật liệu: chè Tân Cương
Trang 28xanh qua sấy Kế toán lập bảng chi tiết theo dõi kêt quả thu hồi cahè xanh qua sấy, sàng như sau:
Hao Lương(kg) %
Ví dụ: Giá 1 kg bán thành phẩm chè Tân Cương qua sấy là: 9269000/301.6=30733(đồng)
Kết quả tính toán trên là căn cứ quan trọng trong việc xác định giá trị bán thành phẩm chè xanh qua sấy phục vụ cho việc đem đấu trộn theo yêu cầu sản xuất và là căn cứ cho việc xác định giá trị nguyên liệu chính trong công tác tính giá thành đối với chè xanh xuất khẩu
Nếu tiến hành sản xuất chè hương kế toán tiếp tục theo dõi cho quy trình trộn, sàng, ướp hương, kết thúc quy trình này sẽ tạo ra bán thành phẩm sao hương Giá trị của bán thành phẩm sao hương được cộng thêm phần hương liệu
Trang 29Ngoài nguyên liệu chính công ty còn sử dụng một số nguyên liệu phụ bổ trợ thêm cho sản phẩm.
b Hạch toán chi phí vật liệu phụ:
Chi phí vật liệu phụ bao gồm cả chi phí về hương liệu và bao bì đóng gói Tình hình sử dụng nguyên vật liệu phụ được trình bày trên bảng tổng hợp chi tiết vật liệu phụ như sau:
c Hạch toán chi phí nhiên liệu.
Chi phí nhiên liệu được công ty tính vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
là các chi phí nhiên liệu phục vụ quá trình sấy chè Với khoản chi này kế toán tập hợp phản ánh trên nhật ký chứng từ số 7 để theo dõi và cuối tháng phân bổ cho các sản phẩm Chỉ tiêu được kế toán dùng để phân bổ là khối lượng sản phẩm hoàn thành cuối tháng của từng loại chè Cụ thể như sau:
x
Khối lượng
th nh phà ẩm sản xuất của sản phẩm j
Trang 302.3.2.1.2 Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu trực tiếp.
Việc tính toán để xác định giá trị thực tế của vật liệu xuất dùng trong tháng được thể hiện trên bảng kê số 3 _ bảng tính giá thành thực tế của vật liệu ở
và công cụ dụng cụ Sau khi đã xác định trị giá thực tế của hàng xuất trong tháng, kế toán lập bảng phân bổ NVL, CCDC Toàn bộ công tác phân bổ nguyên vật liệu xuất dùng được ghi trên bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ
Trang 31Kế toán ghi sổ Ngày…tháng…năm 2002
Kế toán trưởng
( Biểu số 2.3.2-6 )
Công ty CP chè Kim Anh
Trích: Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Trang 32Cộng phát sinhCó 2.959.780.280
Kế toán ghi sổ Ngày… tháng ….năm 2002
Kế toán trưởng
2.3.2.2 Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, sản phẩm của công ty chè Kim Anh luôn đảm bảo chất lượng, số lượng nhằm tạo uy tín và mở rộng thị trường Công ty rất coi trọng việc sử dụng tiền lương như một công cụ tích cực
để khuyến khích nâng cao năng suất lao động, tiết kiêm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm
Hình thức trả lương áp dụng tại công ty là lương khoán sản phẩm cho từng bước của quá trình công nghệ Trên cơ sở định mức kỹ thuật, đơn giá hiện hành, mức sản xuất và tiêu thụ của công ty trong một khoảng thời gian Ba phòng Tài chính kế toán, phòng Kinh tế thị trường, Hành chính tổng hợp sẽ bàn bạc thống nhất về đơn giá tiền lương rồi trình giám đốc duyệt
Hàng tháng, dựa vào khối lượng công việc đã thực hiện được, phòng Hành chính tổng hợp lập bảng thanh toán lương làm theo sản phẩm
Sau khi đã tính toán tiền lương phải trả công nhân sản xuất, tổng hợp tiền lương của toàn công ty, bảng thanh toán tiền lương được gửi sang phòng Tài chính kế toán
Tiền lương Công khoán trên Đơn giá Khối lượng
sản
phải trả công = một tấn x một công x phẩm (Tấn)
Trang 33Cuối tháng, kế toán dựa vào bảng thanh toán tiền lương của công ty và các
số liệu trên nhật ký chứng từ số1, phần Nợ TK338 ( tiền công nhân nợ) để lập bảng phân bổ tiền lương và BHXH
Để theo dõi khoản mục này, kế toán mở TK622 – chi phí nhân công trực tiếp Trong quá trình hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương được trích theo tỷ lệ quy định của Nhà nước và theo chế độ hiện nay công ty đang áp dụng:
• BHXH được trích hàng tháng theo tỷ lệ 20% trên tổng lương cơ bản Trong đó 15% tính vào chi phí sản xuất, 5% trừ vào thu nhập của người lao động
• BHYT được trích hàng tháng theo tỷ lệ 3% trên tổng lương cơ bản Trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất, 1% trừ vào thu nhập của người lao động
• KPCĐ được trích 2% trên tổng lương thực tế Trong đó cả 2% đều tính vào chi phí sản xuất
Hiện nay công ty gồm có 410 cán bộ công nhân viên trong đó:
o Bộ phận quản lý doanh nghiệp: 110 người
o Bộ phận sản xuất trực tiếp: 250 người
o Bộ phận phục vụ sản xuất: 50 người
Mức lương tối thiểu của một công nhân được áp dụng là:290 000 đồng
Hệ số lương cấp bậc bình quân của công ty tính theo năm công tác
Quỹ lương cơ Mức lương tối Hệ số lương Số công nhânbản của từng = thiểu của một x bình quân của x của từng bộ
bộ phận công nhân công nhân phận
Trang 34( Biểu số 2.3.2-8 )
Công ty CH chè Kim Anh
Trích: Bảng phân bổ tiền lương và BHXH