1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG I VÀ II SINH HỌC 12 NÂNG CAO

22 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 343,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trongcác hướng đổi mới phương pháp khai thác tốt yếu tố trên đó là dạy học bằng tình huống.Bằng việc dẫn dắt học sinh vào bài mới thông qua các tình huống sẽ khơi gợi được trí tò mò,

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN SINH HỌC

Mã số: 60 14 01 11

Huế, 11/2014

Trang 2

MỤC LỤC 2

Phần I: Đặt vấn đề 4

Phần II: Nội dung 5

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

1.1 Một số khái niệm 5

1.1.1 Tình huống 5

1.1.2 Tình huống dạy học 5

1.1.3 Bài tập tình huống dạy học 6

1.2 Các kỹ năng tư duy 6

1.2.1 Kỹ năng quan sát 6

1.2.2 Kỹ năng phân tích tổng hợp 6

1.2.3 Kỹ năng so sánh 7

1.2.4 Kỹ năng khái quát hóa 7

1.2.5 Kỹ năng suy luận 8

1.3 Nguyên tắc thiết kế bài tập tình huống 9

1.4 Ưu điểm, hạn chế và yêu cầu đối với giáo viên khi sử dụng BTTH 9

1.4.1 Ưu điểm 9

1.4.2 Hạn chế 10

1.4.3 Yêu cầu 10

Trang 3

Chương 2: Thiết kế bài tập tình huống để rèn luyện một số kỹ năng

trong dạy học chương 1 và chương 2 – Sinh học 12 Nâng cao 11

2.1 Quy trình thiết kế và sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện các kỹ năng nhận thức 11

2.1.1 Quy trình thiết kế 11

2.1.2 Quy trình sử dụng 11

2.2 Thiết kế và sử dụng bài tập tình huống 11

2.2.1 Địa chỉ sử dụng bài tập tình huống 11

2.2.2 Thiết kế, sử dụng bài tập tình huống 13

2.2.2.1 Bài tập tình huống 1 13

2.2.2.2 Bài tập tình huống 2 14

2.2.2.3 Bài tập tình huống 3 16

2.2.2.4 Bài tập tình huống 4 17

2.2.2.4 Bài tập tình huống 5 19

Phần III: Kết luận 21

Tài liệu tham khảo 22

Trang 4

ở một số em khá giỏi trong lớp Những điều này xảy ra một phần do phương pháp dạyhọc chưa phù hợp, chưa gây hứng thú cho học sinh đồng thời không gây sự tương táctrong tư duy của đa số học sinh.

Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, các kiến thức liên quan đến thực tiễn khánhiều mà phần lớn với kiến thức của học sinh phổ thông, các em vẫn chưa thể giải thíchđược, đây chính là điều chúng ta có thể khai thác để sử dụng trong các tiết dạy Một trongcác hướng đổi mới phương pháp khai thác tốt yếu tố trên đó là dạy học bằng tình huống.Bằng việc dẫn dắt học sinh vào bài mới thông qua các tình huống sẽ khơi gợi được trí tò

mò, hứng thú học tập và nhu cầu tìm đến tri thức để giải quyết vấn đề đặt ra Chính

những lý do như vậy, chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế bài tập tình huống để rèn luyện

một số kỹ năng thông qua dạy học chương I và chương II – Sinh học 12 Nâng cao”

Trang 5

Phần 2: Nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận:

Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên, Ths Bùi Hồng Thái [6]: Tình huống dạy học làkhái niệm mô ta hoàn cảnh, điều kiện dạy học cụ thể như: thầy, trò, sách giáo khoa, có gìđặc biệt? Mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học như thếnào? Tình huống dạy học luôn thay đổi, vì vậy để dạy học tốt đòi hỏi người thầy phảiquan sát thực tế, nhạy cảm và tập trung sự chú ý của mình vào công việc

Tóm lại, bản chất của tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lên lớp, chứađựng mối quan hệ giữa nội dung, phương pháp, phương tiện tại một thời điểm nào đó

Trang 6

1.1.3 Bài tập tình huống dạy học:

Bài tập tình huống dạy học là những tình huống dạy học được giáo viên cấu trúclại dưới dạng bài tập rồi đưa bài tập đó vào quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu củabài học

Bài tập có 2 dạng:

- Bài tập tình huống dạy học thật

- Bài tập tình huống mô phỏng (tình huống giả định)

1.2 Các kỹ năng tư duy

+ Xác định các yếu tố tạo thành đối tượng

+ Tìm mối liên hệ giữa các yếu tố đó

+ Xác định yếu tố trung tâm, yếu tố điều khiển

+ Môi trường và điều kiện hoạt động

Tổng hợp là sự kết hợp trong tư duy những yếu tố thành phần đối tượng thànhchỉnh thể nhằm nhận thức sự vật hiện tượng một cách toàn vẹn

Trang 7

Phân tích – tổng hợp là 2 mặt của 1 quá trình tư duy thống nhất, liên hệ mật thiếtvới nhau Tổng hợp sơ bộ ban đầu cho ta ấn tượng chung về đối tượng, từ đó có phươnghướng để phân tích đối tượng, về sau sự tổng hợp đầy đủ hơn, cao hơn.

Kỹ năng phân tích – tổng hợp có thể diễn đạt bằng sơ đồ, lời, bảng hệ thống, tranh

sơ đồ

1.2.3 Kỹ năng so sánh:

So sánh là sự phân tích đặc điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng.Tùy vào mục đích mà khi so sánh nặng về tìm đặc điểm giống nhau hay khác nhau

Khi so sánh nên rèn luyện cho học sinh theo tuần tự các bước sau

B1: Nêu được định nghĩa đối tượng cần so sánh

B2: Phân tích đối tượng, tìm ra dấu hiệu bản chất của mỗi đối tượng cần so sánh.B3: Xác định những đặc điểm giống nhau

So sánh có thể đạt được bằng những hình thức như lời, bảng hệ thống, tranh – sơ

đồ, biểu đồ, sơ đồ logic

1.2.4 Kỹ năng khái quát hóa:

Khái quát hóa là 1 hoạt động trí tuệ cấp cao nhằm gom những đối tượng có cùngthuộc tính vào 1 nhóm là quá trình chuyên từ cái đơn nhất thành cái chung

Trang 8

Khái quát hóa giữ vai trò chủ yếu trong sự hình thành những khái niệm mới.

Có các hình thức khái quát hóa sau:

+ Khái quát hóa sơ bộ

+ Khái quát hóa cục bộ

+ Khái quát hóa chuyên đề

+ Khái quát hóa tổng kết

+ Khái quát hóa liên môn

1.2.5 Kỹ năng suy luận:

Suy luận là 1 hình thức của tư duy, nhờ đó rút ra phán đoán mời từ 1 hay nhiềuphán đoán trước đó theo 1 quy tắc logic

Có 3 yêu tố:

+ Tiền đề: là phán đoán xuất phát

+ Kết luận: là phán đoán mới

+ Lập luận: cách thức logic để rút ra kết luận

Suy luận có 3 kiểu:

+ Suy luận quy nạp:

Là suy luận trong đó khái quát những tri thức của đối tượng thành tri thức chung,

đi từ cái riêng đến cái chung

Trong Sinh học, suy luận quy nạp thường liên quan đến lý thuyết xác suất

Có hai loại suy luận quy nạp: hoàn toàn và không hoàn toàn, trong đó suy luậnkhông hoàn toàn được ứng dụng trong Sinh học

Trang 9

+ Suy luận diễn dịch:

Là suy luận đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái phổ biến đến cái cá biệt

Trong dạy học Sinh học, suy luận diễn dichk là quá trình đi từ các khái niệm, cácquy luật đến các sự kiện, hiện tượng cụ thể

Suy luận diễn dịch thường được sử dụng nhiều ở các lớp lớn

+ Suy luận loại suy Là suy luận mà trong đó, suy luận ở kết luận có cùng cấp độvới suy luận ở tiêu đề, người ta gọi đó là phép tương tự

1.3 Nguyên tắc thiết kế bài tập tình huống:

- Bài tập tình huống nêu ra phải tạo ra được nhu cầu nhận thức, tạo được tính sángtạo, kích thích tư duy của người giải

- Bài tập tình huống nêu ra phải xuất phát từ nhiệm vụ của giáo viên, từ các kỹnăng cần thiết cho việc đặt câu hỏi để dạy học

- Bài tập tình huống nêu ra phải gắn với cơ sở lý luận với một liều lượng tối đa chophép

- Bài tập tình huống gồm 2 phần: tình huống và yêu cầu

1.4 Ưu điểm và hạn chế của bài tập tình huống và yêu cầu đối với giáo viên khi sử dụng bài tập tình huống trong giảng dạy:

1.4.1 Ưu điểm:

- Nâng cao được tính thực tiễn của môn học

- Nâng cao được tính chủ động, tích cực, khơi gợi sự hứng thú ở người học

- Nâng cao được kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng trình bày và phát biểu trướcđám đông

Trang 10

- Thông qua câu trả lời của học sinh, giáo viên có được các thông tin phản hồi và

sử dụng các câu trả lời đó để làm câu nhiễu trong việc soạn câu hỏi trắc nghiệm

- Các bài tập tình huống có khả năng liên kết lý thuyết cao

1.4.2 Hạn chế:

- Khó kiểm soát trong việc điều tiết được giờ lên lớp

- Các bài tập tình huống mô phỏng đưa ra không phù hợp làm học sinh khó khăntrong việc nhận thức dẫn đến mục tiêu đặt ra cho bài tập tình huống không thể thực hiện

1.4.3 Yêu cầu:

- Chọn nguồn thiết kế bài tập tình huống từ sản phẩm của người học

- Tình huống phải hướng tới rèn luyện các kỹ năng thông qua kiến thức

- Cần có sự đâu tư của giáo viên trong việc lựa chọn bài tập tình huống cũng nhưphương pháp tổ chức, hình thức diễn đạt phù hợp

- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong tiết dạy để có thể xử lý kịp thời

- Cần có sự tương tác đến đa số các học sinh trong lớp

- Biến đổi linh hoạt mức độ khó để phù hợp với đối tượng

Trang 11

Chương 2: Thiết kế bài tập tình huống để rèn luyện một

số kỹ năng trong dạy học chương I và chương II – Sinh học

12 Nâng cao

2.1 Quy trình thiết kế và sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện các kỹ năng nhận thức:

2.1.1 Quy trình thiết kế:

B1: Xác định các kỹ năng nhận thức cần rèn luyện cho học sinh

B2: Nghiên cứu thực tiễn: có từ câu phát biểu, câu trả lời của học sinh, dự giờ, bàikiểm tra, từ đó phân tích câu trả lời đúng, sai? Vì sao lại sai?

B3: Xử lý sư phạm, thiết kế tình huống

2.1.2 Quy trình sử dụng:

B1: Giới thiệu bài tập tình huống

B2: Cho học sinh thảo luận để giải bài tập tình huống (các nhóm làm việc)

B3: Cho học sinh thảo luận kết quả (thông báo kết quả)

B4: Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức

2.2 Thiết kế và sử dụng bài tập tình huống:

2.2.1 Địa chỉ sử dụng bài tập tình huống

- Học sinh chỉ ra được các nguyên tăccủa quá trình nhân đôi ADN

Phân tích –tổng hợp

Trang 12

nhân đôi của

ADN

ADN và phân biệt được sự sai khác giữa

quá trình nhân đôi ADN ở sinh vậtnhân sơ và nhân chuẩn

hòa hoạt

động gen

II Cơ chếđiều hòahoạt độnggen ở sinhvật nhân sơ

- Nêu được thành phần tham gia và ýnghĩa của điều hòa hoạt động gen

- Trình bày được cơ chế điều hòa hoạt

động gen ở vi khuần E.coli.

Kỹ năngsuy luận

kỹ năng sosánh

- Phân tích và giải thích được kết quảcác thí nghiệm trong bài

- Nêu được bản chất của các kiểu tácđộng của gen đối với sự hình thànhtính trạng

Kỹ năngphân tích –tổng hợp

- Rèn luyện kỹ năng giải bải tập ditruyền

Kỹ năngkhái quáthóa

Trang 13

2.2.2 Thiết kế, sử dụng bài tập tình huống:

2.2.2.1 Bài tập tình huống 1:

2.2.2.1.1 Mục tiêu:

- Giúp học sinh nhận ra các yếu tố bản chất của quá trình nhân đôi ADN

- Giúp học sinh nhận thức rõ hơn về quá trình nhân đôi ở hai mạch của ADN

- Rèn luyện kỹ năng phân tích – tổng hợp cho học sinh

- Học sinh suy nghĩ, trả lời câu hỏi

- Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức

Nguyên nhân của việc hai mạch của phân tử ADN nhân đôi theo hai cách khácnhau là do:

+ Hai mạch của phân tử ADN sau khi tách ra, một mạch có chiều 5’ – P, một mạch

Trang 14

2.2.2.2 Bài tập tình huống 2:

2.2.2.2.1 Mục tiêu:

- Giúp học sinh hiểu rõ vai trò các thành phần của một Operon

- Nắm vững cơ chế hoạt động của Operon Lac ở E.coli

- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng suy luận

Kiểu gen nòi vi khuẩn Protein được tạo ra (có hoặc không)

- Học sinh thảo luận, hoàn thành bảng

- Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức:

Kiểu gen nòi vi khuẩn Hoạt động phiên mã (có hoặc không)

Trang 15

- Ở nòi 1 và 2 có gen cấu trúc bị hỏng lần lượt là gen Z và Y nên quá trình phiên

mã không thể xảy ra hoàn chỉnh, do đó không tạo ra các protein từ các gen này dù môitrường có hay không Lactozo

- Ở nòi 3, tất cả các gen đều bình thường vì vậy vi khuẩn chỉ sản xuất các proteinkhi môi trường có lactozo và không tạo ra các enzim khi môi trường không có lactozo(theo đúng cơ chế điều hòa hoạt động gen bằng Operon Lac)

- Ở nòi 4, do vùng vận hành bị hỏng nên protein điều hòa không thể nhận biết đểbán vào Vì vậy Operon Lac luôn ở trạng thái hoạt động, nghĩa là tạo ra các protein dùmôi trường có hay không lactozo

- Ở nòi 5, do vùng khởi động bị hỏng nên ARN polymeraza không thể nhận biếtbám vào để khởi động phiên mã Vì vậy Operon Lac luôn ở trạng thái không hoạt động,nghĩa là không thể tạo ra các protein dù môi trường có hay không lactozo

Trang 16

2.2.2.3 Bài tập tình huống 3:

2.2.2.3.1 Mục tiêu:

- Củng cố kiến thức về quá trình nhân đôi và quá trình phiên mã

- Rèn luyện kỹ năng phân tích – tổng hợp, kỹ năng so sánh cho học sinh.

2.2.2.3.2 Hoạt động

- Giáo viên đưa ra bài tập: Dựa vào kiến thức đã học, hãy so sánh quá trình nhânđôi và quá trình phiên mã của ADN (gợi ý một số tiêu chí như: vị trí xảy ra quá trình,enzim tham gia vào quá trình, sản phẩm của quá trình …)

- Học sinh suy nghĩ để giải bài tập

- Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức

- Chịu sự điều khiển của enzyme

- Sản phẩm tạo thành là ARN mạch đơn

- Khi thực hiện tự nhân đôi hoặc phiên mã thì NST chứa ADN phải ở trạng thái tháoxoắn

- Đều được thực hiện theo nguyên tắc bổ sung và khuôn mẫu

- Được thực hiện trong nhân tế bào với khuôn mẫu là ADN

- Mạch mới luôn được tổng hợp theo chiều 5’ > 3’

2.2.2.4 Bài tập tình huống 4:

Trang 17

- Giáo viên đưa ra bài toán di truyền:

Cho hai thứ đậu Hà Lan thuần chủng hạt vàng và hạt xanh lai với nhau:

Pt/c: Hạt vàng x Hạt xanh

F1: 100% hạt vàng

F1 x F1:

F2:

Biện luận và lập sơ đồ lai theo kiểu gen đối với bài toán trên

- Dựa vào kiến thức đã học ở bài 11 và 12, học sinh dễ dàng giải được bài toántrên

F1: 100% Aa

F1 x F1: Aa x Aa

F2: 1/4 AA : 2/4 Aa : 1/4 aa

- Giáo viên tiếp tục đưa ra bài toán di truyền:

Cho hai thứ đậu thơm thuần chủng hoa đỏ thẫm và hoa trắng lai với nhau:

Trang 18

Pt/c: Trắng x Đỏ thẫm

F1 x F1:

F2:

Biện luận và lập sơ đồ lai đối với bài toán di truyền trên

- Học sinh giải bài toán này tương tự như bài toán trên

- Giáo viên thông báo kết quả: tỉ lệ kiểu hình của F2 không phải là 1:2:1 như phéplai ở đậu Hà Lan mà có tỉ lệ là 9:7

Giáo viên đưa ra câu hỏi: Vậy vì sao lại có sự khác nhau trong kết quả của phéplai, mặc dù đây đều là phép lai một cặp tính trạng?

- Học sinh do chưa có kiến thức về quy luật tương tác gen nên chưa thể giải thíchđược

- Giáo viên dẫn dắt học sinh giải thích kết quả bài toán lai bằng hệ thống câu hỏi:+ Số tổ hợp tạo ra ở F2 là bao nhiêu?

+ Muốn có số tổ hợp như vậy thì số giao tử tạo ra ở F1 là bao nhiêu? Từ đó suy rakiểu gen của F1 và P như thế nào?

+ Tỉ lệ các nhóm kiểu gen ở F2 (A - B - ) : (A - bb ) : (aaB - ) : (aabb) như thế nào?Xác định mối tương quan giữa tỉ lệ kiểu hình và tỉ lệ nhóm kiểu gen ở F2

+ Lập sơ đồ lai về kiểu gen đối với bài toán di truyền trên

- Dựa vào hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra, học sinh có thể lập được sơ đồ lai:

Quy ước: A - B - : đỏ thẫm

Trang 19

A - bbaaB - trắngaabb

- Học sinh hoạt động theo nhóm, lập sơ đồ theo yêu cầu của giáo viên

- Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức

Trang 21

Phần 3: Kết luận

Dạy học truyền thống đã và đang bộc lộ những hạn chế đồng thời không đáp ứngđược yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đạt ra hiện nay Với tình hình đó, phươngpháp dạy học sử dụng bài tập tình huống được xem là một hình thức giảng dạy phù hợp

và đạt hiệu quả cao, nó đem đến một hình thức tiếp cận kiến thức mới cho học sinh dựatrên sự gia công sư phạm các tình huống và xử lý tình huống của giáo viên Điều này tạonên sự thích thú trong việc học và kích thích khả năng tích cực, tìm tòi, sáng tạo của họcsinh trong việc chiếm lĩnh tri thức Ngoài ra, thông qua bài tập tình huống, giáo viên cóthể đồng thời rèn luyện cho các kỹ năng nhận thức mà các ví dụ chúng tôi đã đưa ra ởtrên đã chứng minh điều đó Các kỹ năng này đều thật sự cần thiết đối với các em tronghọc tập và rộng hơn là trong đời sống Mặc dù vẫn tồn tại một số hạn chế trong việc sửdụng bài tập tình huống trong dạy học, tuy nhiên trên hết phương pháp này cần được vậndụng phù hợp trong nhà trường phổ thông để góp phần nâng cao chất lượng học tập cũngnhư phát triển toàn diện học sinh

Trang 22

Tài liệu tham khảo

1 Vũ Văn Vụ (Tổng chủ biên), Sách Giáo Khoa Sinh học 12 - Nâng cao, NXB

Giáo dục Việt Nam

2 Vũ Văn Vụ (Tổng chủ biên), Sách Giáo viên Sinh học 12 - Nâng cao , NXB

Giáo dục Việt Nam

3 Hoàng Trọng Phán, 2011, Ứng dụng xác suất và thống kê trong giảng dạy

phần Di truyền học – Sinh học 12, Tài liệu bồi dưỡng cho Giáo viên THPT tỉnh Bình

Ngày đăng: 24/06/2015, 02:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w