KHOA SINH HỌCChuyên đề: Giáo dục bảo vệ môi trường trong bộ môn Sinh học ở Phổ thông TÍCH HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC BỘ MÔN SINH HỌC Ở PHỔ THÔNG Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG
Trang 1KHOA SINH HỌC
Chuyên đề:
Giáo dục bảo vệ môi trường trong bộ môn Sinh học ở Phổ thông
TÍCH HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC Ở PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 60 14 01 11
Giảng viên hướng dẫn: Học viên thực hiện:
Phạm Thị Hồng Hạnh Nguyễn Thị Kim Nữ
Huế, 11/2014
Trang 2Ví dụ: Khi nội dung bài học nói về quá trình quang hợp thì giáo viên có thể nhấn mạnh quang hợp của cây xanh đã góp phần giữ cân bằng hàm lượng khí ôxi và cacbonic trong không khí, qua đó giáo dục học sinh ý thức bảo vệ cây xanh, trồng cây gây rừng,…Phần kiến thức giáo viên bổ sung sau chính là một dạng tích hợp kiến thức giáo dục bảo
vệ môi trường vào bài học
2 Phân loại tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào môn học
Sự tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào môn học, đối với môn Sinh học có thể chia thành 2 dạng khác nhau:
2.1 Dạng lồng ghép
Ở dạng này, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường đã có trong chương trình và SGK trở thành một bộ phận kiến thức môn học Trong SGK THPT, kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường được lồng ghép có thể:
- Chiếm một vài chương: Ví dụ, trong Sinh học 12 có các phần nói về các kiến thức
có thể lồng ghép bảo vệ môi trường: Chương I phần Di truyền học: Cơ chế di truyền và biến dị; Chương I phần Sinh thái học: Cơ thể và môi trường
- Chiếm một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng ghép một phần)
Trang 3Ở dạng này, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường không được đưa vào chương trình và SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể bổ sung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường có liên quan với bài học qua giờ giảng lên lớp.
Trong SGK Sinh học THPT có hàng loạt các bài học có khả năng liên hệ kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường Tuy nhiên, giáo viên cần xác định các bào học có khả năng lồng ghép và lựa chọn các kiến thức và vị trí hay nơi có thể đưa kiến thức giáo dục bảo
vệ môi trường vào bài học một cách hợp lí Muốn làm được điều này có hiệu quả cao thì người giáo viên sinh học THPT luôn phải cập nhật các kiến thức về môi trường
3 Nguyên tắc giáo dục bảo vệ môi trường
Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, tích hợp vào các môn học và các hoạt động Giáo dục bảo vệ môi trường không phải ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một bộ môn riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một hướng hội nhập vào chương trình Giáo dục bảo vệ môi trường là cách tiếp cận xuyên bộ môn Mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của cấp học, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học.Giáo dục bảo vệ môi trường phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường và kỹ năng bảo vệ môi trường, phù hợp với tâm lý lứa tuổi
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi trường của từng địa phương
Cách tiếp cận cơ bản của giáo dục bảo vệ môi trường là:
Giáo dục về môi trường, trong môi trường và vì môi trường, đặc biệt là giáo dục vì môi trường
Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường nhằm tạo cho người học chủ động tham gia vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh phát hiện các vấn đề môi trường và tìm hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên Tận dụng các cơ hội để giáo dục bảo vệ môi trường nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản của môn học, tính logic của nội dung, không là quá tải lượng kiến thức và tăng thời gian của bài học
4 Phương thức giáo dục bảo vệ môi trường
Trang 4Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì vậy, được triển khai theo phương thức tích hợp Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong các môn học thông qua các chương, bài cụ thể.
Mục đích tích hợp: Không làm quá tải chương trình SGK.Khai thác các kiến thức sẵn có trong SGK để làm rõ hơn kiến thức về BVMT, nâng cao ý thức, trách nhiệm của học sinh về BVMT
Việc tính hợp thể hiện ở 3 mức độ: Mức độ toàn phần; Mức độ bộ phận và mức độ liên hệ
4.1 Tích hợp ở mức độ toàn phần (lồng ghép toàn phần )
Đối với bài học lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường mức độ này, giáo viên giúp học sinh hiểu cảm nhận đầy đủ và sâu sắc nội dung bài học chính là góp phần giáo dục học sinh một cách tự nhiên về ý thức bảo vệ môi trường Các bài học này là điều kiện tốt nhất để nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phát huy tác dụng của học sinh thông qua môn học
Ở dạng này, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường đã có trong chương trình và SGK trở thành một bộ phận kiến thức môn học
4.2 Tích hợp ở mức độ bộ phận (lồng ghép một phần)
Ở dạng này, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường đã có trong chương trình và SGK và trở thành một bộ phận kiến thức môn học và chiếm một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng ghép một phần)
* Giáo viên lưu ý :
- Nghiên cứu kĩ nội dung bài học
- Xác định nội dung giáo dục bảo vệ môi trường tích hợp vào bài học là gì ?
- Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường tích hợp vào nội dung nào, hoạt động dạy học nào, hoạt động dạy học nào trong quá trình tổ chức dạy học ?
- Cần chuẩn bị thêm đồ dùng dạy học gì ?
Trang 5viên giúp học sinh hiểu, cảm nhận đầy đủ và sâu sắc bộ phận kiến thức, kĩ năng giáo dục bảo vệ môi trường nhẹ nhàng, không gò bó, áp đặt.
4.3 Tích hợp ở mức độ liên hệ
Ở dạng này, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường không được đưa vào chương trình và SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể bổ sung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường có liên quan với bài học qua giờ giảng lên lớp
* Giáo viên lưu ý :
- Giáo viên cần xác định nội dung, mục tiêu nào trong bài có thể liên hệ giáo dục bảo vệ môi trường
- Khi chuẩn bị bài dạy, giáo viên cần có ý thức tích hợp và chuẩn bị những vấn đề cần hướng dẫn học sinh liên hệ về bảo vệ môi trường
- Khi tổ chức dạy học, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học bình thường, phù hợp với hình thức, phương pháp dạy học của bộ môn Đồng thời lưu ý liên hệ, mở rộng giáo dục môi trường thật tự nhiên, hài hòa, tránh lan man, sa đà, gượng ép
5 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong nội dung của các môn học nên các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cũng được tích hợp vào các phương pháp giảng dạy bộ môn Tuy nhiên, muốn đạt được mục tiêu của giáo dục bảo vệ môi trường là không chỉ giúp cho người học có kiến thức mà phải hình thành cho họ sự quan tâm, hành vi đối với môi trường thì không chỉ dừng lại ở phương pháp truyền thống
mà nên kết hợp với việc sử dụng các phương pháp tích cực, việc sử dụng phương pháp này sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo của người hoc
5.1 Phương pháp trần thuật
Đây là phương pháp dùng lời Sử dụng phương pháp này để mô tả sự vật, hiện tượng của môi trường
Ví dụ: Có thể mô tả, kể chuyện cho học sinh về các hoạt động gây ô nhiễm môi trường
5.2 Phương pháp giảng giải
Trang 6Đây là phương pháp thường sử dụng khi giải thích các vấn đề Giáo viên nêu ra các dẫn chứng để làm sáng tỏ những kiến thức mới và khó về môi trường
Ví dụ: giảng giải về hiệu ứng nhà kính , thủng tầng ozon , biến đổi khí hậu, mưa axit…
5.3 Phương pháp vấn đáp
Trong phương pháp này, giáo viên đưa ra câu hỏi, học sinh trả lời, cũng có khi học sinh hỏi, giáo viên trả lời hoặc giữa học sinh và học sinh… Ví dụ:
“Vì sao nhiệt độ Trái Đất ngày càng tăng cao?”
“Sẽ ra sao nếu khí hậu của Trái Đất sẽ trở lên nóng hơn?”
Việc sử dụng các câu hỏi này khuyến khích học sinh quan tâm đến các vấn đề môi trường và dự đoán các vấn đề môi trường sẽ xảy ra trong tương lai
5.4 Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan
Các phương tiện trực quan như: TranhHYPERLINK "hinh%20anh%20BVMT.pptx" HYPERLINK "hinh%20anh%20BVMT.pptx"ảnh, băng hình video, phim ảnh… Đó là những phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường Việc sử dụng các phương tiện trực quan gây hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho học sinh
*Khi lựa chọn và sử dụng băng hình, giáo viên nên chú ý:
- Nội dung (phim, băng hình phải phù hợp với nội dung bài học và có ý nghĩa trong việc giáo dục bảo vệ môi trường
- Thời gian sử dụng
- Hệ thống các câu hỏi (để học sinh trả lời sau khi xem)
- Tổng kết (nêu lên những ý chính của bài theo mục đích)
Bước 1: Làm việc chung cả lớp
Bước 2: Làm việc theo nhóm:
Trang 7Ví dụ: Chủ đề ô nhiễm môi trường (SH 9)
* Bước 1: Giáo viên làm việc chung: Đưa ra ba câu hỏi sau:
- Ô nhiễm môi trường là gì? Các tác nhân chủ yếu nào gây ô nhiễm môi trường?
- Các biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường là gì?
- Địa phương em có những tác nhân nào gây gây ô nhiễm môi trường? Nêu tác hại….?
* Bước 2: Chia nhóm: Mỗi nhóm 2 bàn liền kề
- Các nhóm thảo luận và trình bày kết quả lên bảng hoặc giấy khổ lớn
- Cử đại diện trình bày
* Bước 3: Tổng kết: Giáo viên tổng kết 3 vấn đề nêu ra cơ sở kết quả thảo luận của các nhóm
5.5 Phương pháp dạy học hợp tác trong các nhóm nhỏ
Lớp được chia thành các nhóm nhỏ, hoạt động theo nhóm (mỗi nhóm 6- 8 người) được duy trì ổn định trong cả tiết học hay thay đổi tuỳ theo hoạt động Các nhóm được giao cùng nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau
*Bước 1: Làm việc chung cả lớp: Giáo viên nêu vấn đề, phân công nhiệm vụ cho các nhóm, cung cấp nguồn tài liêu tham khảo
*Bước 2: Làm việc theo nhóm:
- Từng cá nhân làm việc độc lập
- Trao đổi ý kiến trong nhóm (chú ý: Mỗi nhóm bầu một trưởng nhóm và thư ký ghi chép các ý kiến thảo luận)
- Các nhóm báo cáo thảo luận, dưới hình thức: nói, bài viết, kết hợp với hình ảnh
- Trong quá trình thảo luận giáo viên làm nhiệm vụ quan sát, theo dõi và không tham gia thảo luận
*Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
Trang 8- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết ý kiến của các nhóm
5.6 Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề
* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
- Tạo tình huống có vấn đề
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
-Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc nhóm
+ Khích lệ: mọi người phát biểu và đóng góp ý kiền càng nhiều càng tốt
Trang 9+ Liệt kê các ý kiến của mọi người và ghi lên bảng hoặc giấy to, không loại trừ một
ý kiến nào
+ Phân loại ý kiến
+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận các ý kiến vừa nêu ra
+ Tổng hợp ý kiến của học sinh xem có thắc mắc hay thay đổi gì không?
5.8 Phương pháp giáo dục cho học sinh làm các bài tập thực hành ở nhà
Các bài tập giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Vì vậy, hình thành cho học sinh kỹ năng sống, học tập bảo vệ môi trường
Ví dụ: Tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường ở địa phương
- Các khu vực bị ô nhiễm ở địa phương
- Các tác nhân gây ô nhiễm
Trang 10phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy.
* Cách tiến hành
Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau:
- GV nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
- Các nhóm lên đóng vai
- Lớp thảo luận, nhận xét, thường thì thảo luận bắt đầu về cách ứng xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống trong vở diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm vi xem thảo luận những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề và vở diễn chứng minh
- GV kết luận
* Giáo viên cần lưu ý :
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục học để cùng chung sống, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học
- Tình huống nên để mở, không cho trước “ Kịch bản” , lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề
- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai
Trang 11Theo dõi sự sinh trưởng của cây ta nhận thấy:
C1 Sinh trưởng còi cọc
C2: sinh trưởng ổn định, phát triển tốt
Kết luận Cây sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện môi trường trong lành, không bị
ô nhiễm
2 Thí nghiệm trồng cỏ Vetiver làm sạch nước trong đầm hồ chăn nuôi cá ở nhà.
• Cỏ Vetiver có bộ rễ đồ sộ, rất phát triển, mọc rất nhanh và ăn rất sâu, trong 12 tháng đã
có thể ăn sâu tới 3,6m trên đất tốt, chịu hạn rất khỏe, có thể hút độ ẩm từ tầng đất sâu bên dưới, và xuyên qua các lớp đất bị lèn chặt, qua đó giảm bớt lượng nước thải thấm xuống quá sâu
• Phần lớn các sợi rễ trong bộ rễ khổng lồ của nó lại rất nhỏ và mịn, đường kính trung bình chỉ khoảng 0,5-1,0mm , tạo nên một bầu rễ rất lớn, rất thuận lợi cho sự phát triển
của vi khuẩn và nấm, là điều kiện cần thiết để hấp thụ và phân hủy các chất gây ô nhiễm
như Nitơ v.v .
Trang 12• Cỏ Vetiver có thể thích nghi với đất có độ chua, độ mặn, độ phèn cao, có hàm lượng Na
và Mg cao, thích nghi với đất và nước có hàm lượng Al, Mn cao và những kim loại nặng như As, Cd, Cr, Ni, Pb, Hg, Se và Zn
• Cỏ Vetiver có thể hấp thụ một lượng lớn N và P hòa tan trong nước thải
• Cỏ Vetiver có thể thích nghi với đất có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, chịu nồng độ và phân hủy một số hợp chất hữu cơ của thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ
• Cỏ Vetiver có khả năng phục hồi rất nhanh sau khi bị ảnh hưởng của hạn hán, giá lạnh, cháy, nhiễm mặn và những điều kiện bất thuận khác sau khi những điều kiện này kết thúc
Bể nuôi 1 Đổ nước bị ô nhiễm vào
Bể nuôi 2: trồng cỏ vetiver rồi đổ nước ô nhiễm vào
Theo dõi sau 1 tháng
Đo
lường/
quan sát
Bể cá 1: sau 1 tuần cá chết nổi bề mặt nước
Bể cá 2: sau 1 tuần một số con chết nổi bề mặt nước
Trang 13II – PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Ví dụ 1: Dạy bài 40: ảnh hưởng của các yếu tố hóa học đến sinh trưởng của vi sinh vật
(sinh học 10)
a) Tạo tình huống nêu vấn đề
GV: Nhà ông A đang nạo vét giếng Khi ông A xuống sâu phía dưới giếng thì bị ngất xỉu Em hãy cho biết nguyên nhân ? đề xuất khắc phục tình trạng đó?
b) Giải quyết vấn đề
Nguyên nhân là do các VSV kị khí sống ở dưới sâu lòng giếng và lớp bùn dưới đáy giếng đã sản sinh ra các khí độc tích tụ dưới đáy giếng sâu ( khí độc gồm : trong đó có metan (CH4) là một khí độc có thể gây chết người Trong thành phần khí còn lẫn một số tạp chất như oxit nitơ (NO) hay sunfua hydro (H2S) sinh ra từ bùn sâu, ủ lâu ngày trong lòng đất
Trang 14Hôm trước bà A có nấu một nồi thịt nhưng do ăn không hết nên bà để lại Bà để trong
tủ lạnh Vì quên nên hai hôm sau bà mới lấy ra dung tiếp thì thấy có mùi lạ Theo em mùi
lạ này do đâu mà có? Vì sao để trong tủ lạnh rồi mà thức ăn vẫn bị hỏng ? Giải thích?b) Giải quyết vấn đề
Thức ăn còn dư thường nhiễm vi sinh vật Khi để trong tủ lạnh vi sinh vật vẫn hoạt
động làm hỏng thức ăn
c) Kết luận
- Khi bảo quản thực phẩm đặc biệt là các thực phẩm có nguồn gốc động vật thì cần phải tránh sự xâm nhập của các vi sinh vật phân giải protein vì có thể gây ngộ độc đối với người sử dụng thực phẩm
- Nên đun sôi thức ăn còn dư, dùng nhiệt độ tiêu diệt vi sinh vật trước khi cho vào tủ lạnh
Trang 15III – PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI
1 Ví dụ 1
Áp dụng trong dạy học Bài : Vai trò của các nguyên tố khoáng (Sinh học 11) Mục III.2 Phân bón cho cây trồng
* Chủ đề lựa chọn
Sử dụng phân bón trong nông nghiệp với vấn đề bảo vệ môi trường
- Vấn đề: Tại địa bàn chúng ta, tình trạng sử dụng số lượng lớn và dư thừa phân bón hóa học cho cây trồng đang diễn ra thường xuyên Có nhiều ý kiến khác nhau về việc
sử dụng hay không sử dụng phân bón hóa học cho cây trồng Cơ quan thẩm định hỏi ý kiến của một số người sau về việc sử dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp
- Các vai:
- Nông dân
- Cán bộ bảo vệ thực vật
- Đại diện nhà sản xuất phân bón
- Thương lái tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
- Người tiêu dùng Các vai đưa ra phương án trả lời
Theo bạn phương án nào là hợp lí? Vì sao?
* Dự kiến phương án trả lời
- Nông dân
+ Bón càng nhiều phân hóa học càng tốt Phân hóa học giúp cây sinh trưởng nhanh cho năng suất cao, nên bón càng nhiều thì lợi ích kinh tế càng lớn, càng bán được giá Việc dư thừa chất hóa học trên cây trồng và ô nhiễm môi trường là do các cơ quan nhà nước xử lý
+ Không nên bón quá nhiều phân hóa học cho cây trồng Bón vừa phải, kết hợp chăm sóc tốt sẽ cho năng suất cao, đồng thời không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng nên
có lợi cho việc phát triển sản xuất về sau
- Cán bộ bảo vệ thực vật