Trước năm 1986 khi nền kinh tế nước ta còn là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong hệ thống lý luận cũng như thực tiễn về kế toán người ta chỉ sử dụng duy nhất khái niệm “kế toán” để nói về hệ thống kế toán doanh nghiệp
Trang 1-
-LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP
TÀU THUỶ NAM HÀ
NGƯỜI THỰC HIỆN:
SV TRẦN THỊ CHUNG Lớp: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP B - K50
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TRẦN QUANG TRUNG
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN!
Trong thời gian thực tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu, ngoài sự cố gắng
và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của các đoàn thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Để đạt được kết quả này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cũng như khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình tôi học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Trần Quang Trung, người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà, các phòng ban nói chung và Phòng Kế Toán nói riêng, những người đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở.
Cuối cùng, xin gủi lời cảm ơn đến những người thân yêu trong gia đình và bạn bè, những người đã động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu cũng như trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2009
Sinh ViênTrần Thị Chung
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục bảng iv
Danh mục sơ đồ v
Danh mục các từ viết tắt vi
I - MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tổng quan tài liệu 4
2.1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 4
2.1.2 Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 8
2.1.3 Kế toán quản trị chi phí, giá thành 17
2.1.4 Một số mô hình tổ chức KTQT chi phí, giá thành và kinh nghiệm 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp phân loại chi phí 28
2.2.2 Phương pháp thống kê kinh tế 28
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 28
2.2.4 Phương pháp cân đối 29
2.2.5 Phương pháp kế toán quản trị 29
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Giới thiệu điểm nghiên cứu 30
3.1.1 Giới thiệu chung về Công ty 30
Trang 43.1.2 Tình hình cơ bản của Công ty 40
3.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí, giá thành tại Công ty 46
3.2.1 Khái quát chung về chi phí, giá thành tại Công ty 46
3.2.2 Thực trạng KTQT chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty 49
3.3 Giải pháp hoàn thịên và nâng cao chất lượng công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại Công ty CPCNTT Nam Hà 69
3.3.1 Ý nghĩa 69
3.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị tại Công ty CPCNTT Nam Hà 70
3.3.3 Các biện pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí và tính giá thành tại Công ty CPCNTT Nam Hà 71
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
4.1 Kết luận 75
4.2 Kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1:Tình hình lao động của Công ty qua 3 năm 2006-2008 41
Bảng 3.2: Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty qua 3 năm 2006-200843 Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm 2006-2008 45
Bảng 3.4: Bảng chi tiết dự toán giá thành tàu Thanh Xuân 16 hạng mục phần vỏ tàu 50
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp dự toán giá thành tàu Thanh Xuân 16 trọng tải 3.200 tấn 51
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp CPNVL tàu Thanh Xuân 16 55
Bảng 3.7: Bảng quyết toán chi phí NVLTT tàu Thanh Xuân 16 56
Bảng 3.8: Bảng quyết toán NCTT tàu Thanh Xuân 16 57
Bảng 3.9: Bảng quyết toán CPSXC tàu Thanh Xuân 16 59
Bảng 3.10: So sánh CPSX giữa TH và DT tàu Thanh Xuân 16 59
Bảng 3.11: So sánh CPNVLTT giữa TH và DT tàu Thanh Xuân 16 60
Bảng 3.12: So sánh CPNCTT giữa TH và DT tàu Thanh Xuân 16 62
Bảng 3.13: So sánh CPSXC giữa TH và DT của tàu Thanh Xuân 16 63
Bảng 3.14: Báo cáo thu nhập theo PP LĐG của tàu Thanh Xuân 16 65
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Chi phí khả biến 11
Sơ đồ 2.2: Chi phí bất biến 11
Sơ đồ 2.3: Chi phí hỗn hợp 12
Sơ đồ 2.4: Quá trình tập hợp chi phí công việc 14
Sơ đồ 2.5: Sơ đồ tập hợp chi phí theo quá trình sản xuất 15
Sơ đồ 2.6: Nội dung của KTQT chi phí, giá thành 19
Sơ đồ 2.7: Mối quan hệ giữa chi phí của KTTC và KTQT 26
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty CPCNTT 32
Sơ đồ 3.2: Tổ chức sản xuất của Công ty 34
Sơ đồ 3.3: Quy trình sản xuất đóng mới tàu 35
Sơ đồ 3.4: Quy trình công nghệ sửa chữa tàu 37
Sơ đồ 3.5: Bộ máy kế toán tại Công ty 38
Sơ đồ 3.6: Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty 39
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải thích
CPCNTT Cổ phần công nghiệp tàu thuỷ
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
KPCĐ Kinh phí công đoàn
CCDC Công cụ dụng cụ
CPSX Chi phí sản xuất
NVL Nguyên Vật liệu
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp
CPSXC Chi phí sản xuất chung
Trang 8I - MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước năm 1986 khi nền kinh tế nước ta còn là nền kinh tế kế hoạch hoátập trung, trong hệ thống lý luận cũng như thực tiễn về kế toán người ta chỉ sửdụng duy nhất khái niệm “kế toán” để nói về hệ thống kế toán doanh nghiệp.Hiện nay, kinh tế đất nước đã và đang phát triển mạnh mẽ theo xu hướng đadạng hoá các thành phần kinh tế, đặc biệt là có sự tham gia của các công ty liêndoanh, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài… làm cho hệ thống
kế toán trong các doanh nghiệp đã ít nhiều có sự thay đổi nhằm đảm bảo thựchiện được vai trò quan trọng của nó Xuất phát từ những yêu cầu của thực tế,đòi hỏi kế toán không chỉ cung cấp những thông tin về tình hình sản xuất kinhdoanh trong doanh nghiệp mà còn phải cung cấp thông tin cụ thể về chi phí, giáthành, doanh thu và kết quả của doanh nghiệp để các nhà quản trị doanh nghiệp
có kiểm tra, ra quyết định về giá cả, đầu tư và lựa chọn phương án sản xuất.Chính vì vậy kế toán quản trị đã ra đời và tồn tại cho đến nay như một tất yếukhách quan
KTQT nói chung và KTQT về chi phí, giá thành nói riêng trong cácdoanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thiết lập hệ thống thông tinmột cách chi tiết phục vụ cho việc điều hành và quản lý nội bộ doanh nghiệp.Tuy nhiên, do đặc thù về hoàn cảnh ra đời cũng như mục đích trong việc cungcấp thông tin, cho đến nay khái niệm về KTQT nói chung và KTQT chi phí, giáthành nói riêng vẫn còn là một vấn đề tương đối mới mẻ trong hầu hết cácdoanh nghiệp Điều này cho thấy công tác về quản trị trong hệ thống kế toán ởnước ta còn chưa thật phát huy được vai trò của mình, đòi hỏi các nhà quản lýdoanh nghiệp phải luôn có cái nhìn đúng đắn để có thể sử dụng thông tin mộtcách hữu ích nhất và ra quyết định một cách chính xác nhất
Việt Nam là một nước có lợi thế rất lớn về địa lý, nằm ngay trên trungtâm đường hàng hải quốc tế nên dễ dàng giao lưu kinh tế với các quốc gia trênthế giới, đặc biệt nước ta còn có tới trên 3.200km đường bờ biển, 12 cửa sông
Trang 9và nhiều cảng lớn (Hải phòng, Đà Nẵng, Cái Lân…) đáp ứng đủ tiêu chuẩnquốc tế và hơn 2 triệu km2thềm lục địa, 4 triệu km2 mặt nước, do đó côngnghiệp chế tạo, đóng mới tàu thuỷ nước ta lại càng có điều kiện phát triểnmạnh.Tuy nhiên, công cuộc cải cách kinh tế cùng sự hội nhập khu vực và thếgiới của Việt Nam đã đặt ra một thách thức to lớn đối với nhà máy đóng tàutrong nước, đòi hỏi toàn ngành phải nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh.
Công ty CPCNTT Nam Hà là công ty đóng mới sửa chữa tàu thuỷ thuộcTập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam Để kịp được sự phát triển và sự pháttriển của ngành tàu thuỷ nói riêng, Công ty cần phải có chính sách và nhữngbước đi vững chắc, hiệu quả làm cơ sở cho sự tăng trưởng cũng như sự pháttriển vững mạnh của Công ty
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu công tác KTQT chi phí, giá thành tại Công ty cổ phần côngnghiệp tàu thuỷ Nam Hà, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiệnKTQT chi phí, giá thành tại Công ty
- Đánh giá thực trạng KTQT chi phí, giá thành tại Công ty
- Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác KTQT tại Công ty
cổ phần công nghịêp tàu thuỷ Nam Hà
Trang 101.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là kế toán quản trị chi phí sản xuất,giá thành tại Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2009 đến hết tháng 4/2009
+ Số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập trong phạm vi 3 năm 2006– 2008 và kế hoạch năm 2009
Trang 11II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Tổng quan về kế toán quản trị
2.1.1.1 Khái niệm và mục đích của kế toán quản trị
* Khái niệm về kế toán quản trị
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghịêp, kếtoán góp phần rất quan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tàichính Việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình thu nhập, chiphí, so sánh thu nhập với chi phí để xác định kết quả là một trong những yêucầu của KTTC Song doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kinh doanhnhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau, muốn biết chi phí, thu nhập và kết quảcủa từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nhằm tổng hợp lại trong một cơ cấu
hệ thống kế toán phục vụ cho yêu cầu của quản trị doanh nghiệp thì KTTCkhông đáp ứng được yêu cầu này Do đó, các doanh nghiệp tổ chức hệ thốngKTQT để trước hết nhằm xây dựng các dự toán chi phí, dự toán thu nhập và kếtquả của từng loại sản phẩm hang hoá, dịch vụ Sau đó phải tiến hành theo dõi,kiểm tra suốt quá trình chi phí sản xuất, mua bán hàng hoá dịch vụ, tính toángiá thành sản phẩm, giá vốn hàng mua, hàng bán, doanh thu và kết quả củatừng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý cụ thể củadoanh nghiệp
Xuất phát điểm của KTQT là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quátrình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất nhằm đề
ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinhdoanh theo từng hoạt động Dần dần cùng với sự phát triển của khoa học quản
lý nói chung, khoa học kế toán cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, đặcbiệt từ năm 1957 trở lại đây, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thếgiới đã đi sâu nghiên cứu, áp dụng và sử dụng những thông tin kế toán phục vụcho yêu cầu quản lý Sự phát triển mạnh mẽ của kế toán đã đặt ra hướng nghiên
Trang 12cứu các công cụ kiểm soát và lập kế hoạch, thu nhận và xử lý thông tin phục vụcho công việc ra quyết định gọi là KTQT.
Cho đến nay đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về KTQT
Theo Ronakd W Hiton, giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “KTQT là một
bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong tổ chức mà nhà quản trị dựa vào
để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” [2]
Theo Ray H.Garrison: “KTQT có liên hệ với việc cung cấp các tài liệucho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệmtrong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó” [2]
Theo các giáo sư Đại học South Florida: “KTQT là một hệ thống kếtoán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần đểhoạch định và kiểm soát” [2]
Theo luật Kế toán Việt Nam: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích
và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh
tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [4]
Theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ: “KTQT là lĩnh vực kế toán liênquan đến thu thập và xử lý các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ những nhà quản lýtrong việc đưa ra các quyết định tài chính đặc biệt trong hoạch định kế hoạch
sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này” [6]
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu KTQT là một khoa học thu thập,
xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị mộtcách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định liên quan đếnviệc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hìnhthực hiện các hoạt động của đơn vị
Như vậy, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường, KTQT đã rađời và trở thành công cụ quan trọng trợ giúp cho những người làm công tác
Trang 13quản lý ra quyết định sản xuất kinh doanh và là phương tiện để thực hiện kiểmsoát quản lý trong doanh nghiệp.
* Mục đích của kế toán quản trị
KTQT là loại kế toán dành riêng cho các nhà quản lý, trợ giúp cho việc
ra quyết định theo từng tình huống cụ thể Các quyết định của nhà quản lý hầuhết đều liên quan đến vấn đề chi phí (tiêu dùng nguồn lực) và giá trị thu được(lợi ích) do các chi phí tạo ra Vì vậy mục tiêu của kế toán quản trị tập trungvào hai mục tiêu chủ yếu sau:
- Nhằm liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực (chi phí) và nhu cầutài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó (chi phí phátsinh) để thực hiện các mục đích cụ thể của đơn vị
- Tìm cách tối ưu hoá mối quan hệ giữa chi phí với giá trị (lợi ích) màchi phí đó tạo ra
Song song với việc thực hiện nhiệm vụ của kế toán nói chung như: thuthập, xử lý, phân tích thông tin, số liệu; Kiểm tra, giám sát tình hình tài chính,tài sản; cung cấp thông tin, tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầuquản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị, KTQT còn thực hiện nhiệm
2.1.1.2 Nội dung và vai trò của KTQT trong doanh nghiệp
* Nội dung của KTQT trong doanh nghiệp
Xuất phát từ những đặc thù về cung cấp thông tin như đối tượng sử dụngthông tin mà KTQT bao hàm rất nhiều nội dung và nó được phản ánh một cáchchi tiết, tỉ mỉ cho từng vấn đề nhằm thực hiện vai trò là cơ sở để ra quyết địnhcủa nhà quản trị
Trang 14Có thể tìm hiểu KTQT trên hai bình diện cơ bản sau:
Xét trên nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp:
- KTQT các yếu tố sản xuất kinh doanh: mua sắm, sử dụng đối tượnglao động- hàng tồn kho; Tư liệu lao động- tài sản cố định; Tuyển dụng và sửdụng lao động – lao động và tiền lương…
- KTQT chi phí, giá thành sản phẩm: nhận diện, phân loại chi phí, giáthành; Lập dự toán chi phí sản xuất; tập hợp, tính toán, phân bổ chi phí, giáthành; Lập báo cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theo các tình huống quyếtđịnh…
- KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh: phân loại doanh thu, xác địnhgiá bán, lập dự toán doanh thu; tính toán, hạch toán chi tiết doanh thu, phân bổchi phí chung, xác định kết quả chi tiết; Lập các báo cáo phân tích kết quả chitiết theo bộ phận, theo các tình huống ra quyết định…
- KTQT về các hoạt động đầu tư tài chính
- KTQT các hoạt động khác của doanh nghiệp
Trong tất cả các nội dung trên thì chi phí được coi là trọng tâm củaKTQT Chính vì vậy đã có một số quan điểm cho rằng KTQT là kế toán chiphí
Xét theo quá trình KTQT trong mối quan hệ với chức năng quản lý.
- Chính thức hoá các mục tiêu của đơn vị thành các chỉ tiêu kinh tế
- Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết
- Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu
- Lập các báo cáo KTQT
* Vai trò của KTQT trong doanh nghiệp
KTQT là công cụ quản trị, một công cụ rất quan trọng trong quá trìnhhoạch định và kiểm soát chi phí, thu nhập, tính toán hiệu quả quá trình kinhdoanh nhằm đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn Thật vậy, quá trình sảnxuất kinh doanh của một doanh nghiệp ở bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào,thành phần kinh tế nào muốn đạt được hiệu quả cao cũng cần phải biết đượcthông tin về tình hình hoạt động kinh tế tài chính một cách kịp thời, đầy đủ,chính xác và trung thực Những thông tin về tình hình chi phí mà các doanh
Trang 15nghiệp đã chi ra cho từng hoạt động kinh doanh, từng địa điểm kinh doanhhoặc từng loại sản phẩm Những thông tin về thu nhập và xác định kết quả sảnxuất kinh doanh theo từng hoạt động, địa điểm hoặc sản phẩm đó chỉ có thểnhận biết được một cách cụ thể thông qua việc thu nhận, xử lý và cung cấpthông tin của KTQT Trên cơ sở các thông tin đã thu nhận được, KTQT cónhiệm vụ phân tích, diễn giải, lập dự toán chi tiết để phục vụ cho nhà quản trịlựa chọn, quyết định phương án tối ưu nhất trong quản lý Việc quyết định đưavào sản xuất sản phẩm nào đó, sản lượng là bao nhiêu, chi phi và lợi nhuận ởmức nào, tại sao chi phí thực tế với dự tính vượt và phải có biện pháp gì để giảmthấp chi phí, tăng lợi nhuận Những vấn đề này chỉ có thể quyết định được khinhà quản trị có đầy đủ số liệu do KTQT cung cấp Hoạt động quản trị doanhnghiệp là quá trình liên tục từ khâu lập kế hoạch đến khâu tổ chức kiểm tra thựchiện kế hoạch vì thế không thể thiếu những thông tin do KTQT cung cấp.
Mục đích và yêu cầu của KTQT là phải tính toán được chi phí của từnghoạt động kinh doanh, từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ hoặc từng địađiểm kinh doanh; phân tích chi tiết được kết quả của từng hoạt động, từng sảnphẩm, hàng hoá và dịch vụ đó Tập hợp được các số liệu cần thiết để phác hoạ,lập kế hoạch kinh doanh cho tương lai Ngoài ra, KTQT còn phải tính toán nhucầu thị trường nhằm có kế hoạch ổn định chương trình sản xuất, bán hàng hợp
lý và đưa ra các biện pháp cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển doanhnghiệp theo hướng có lợi nhất
2.1.2 Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
2.1.2.1 Chi phí sản xuất và các cách phân loại chi phí sản xuất
* Chi phí sản xuất
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trìnhtiêu dùng các yếu tố sản xuất và kinh doanh bao gồm: Tư liệu lao động, đốitượng lao động và sức lao động để tạo ra các sản phẩm, công việc, lao vụ nhấtđịnh nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội Trong quá trìnhnày doanh nghiệp đã tiêu dùng một bộ phận nguồn lực làm phát sinh chi phíđồng thời tạo ra nguồn lực mới dưới dạng công việc, sản phẩm, lao vụ
Trang 16Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ hao phí về laođộng sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chỉ
ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền
tệ, được tính cho một thời kỳ nhất định
Trong các doanh nghiệp chi phí sản xuất là một khoản mục quan trọng
có ảnh hưởng lớn tới giá thành sản phẩm và có bản chất như sau:
- Những phí tổn về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinhdoanh gắn liền với mục đích kinh doanh
- Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêuhao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản đã hao phí
- Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đo lườngbằng thước đo tiền tệ và được xác định trong một khoảng thời gian xác định
* Phân loại chi phí sản xuất
Dưới góc độ của KTQT, chi phí sản xuất được chia thành:
- Theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
+ Chi phí hàng sản phẩm: Là những khoản chi phí gắn liền với quá
trình sản xuất sản phẩm hoặc quá trình mua hàng hoá để bán Đây là một kháiniệm tương đối rộng và có sự khác nhau đối với từng loại hình doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh thì chi phí sảnphẩm trong doanh nghiệp sản xuất là chi phí ở khâu sản xuất tính cho sản phẩm
đã hoàn thành và sản phẩm chưa hoàn thành trong sản xuất và khi sản phẩm đãđược bán thì chi phí sản phẩm lại trở thành giá vốn hàng bán
Còn trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì chi phí hàng sảnphẩm là giá vốn hàng mua vào hoặc bán ra bao gồm giá của hàng hoá và cácchi phí liên quan
+ Chi phí thời kỳ: Là các chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ
không tạo nên giá trị của hàng tồn kho – tài sản mà trực tiếp ảnh hưởng đến lợinhuận trong kỳ Chi phí thời kỳ bao gồm: CPBH, CPQL doanh nghiệp
- Theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí.
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối
Trang 17tượng kế toán tập hợp chi phí và được quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịuchi phí Chính vì vậy nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽthuận lợi cho việc kiểm soát chi phí và xác định nguyên nhân tạo ra chi phí.
+ Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng
kế toán tập hợp khác nhau Chính vì vậy phải tập hợp chi phí theo từng nơiphát sinh và sau đó phân bổ gián tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí
Cách phân loại này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật, quy nạp chi phí vào cácđối tượng tập hợp chi phí sản xuất Thông qua đó kế toán có thể tư vấn các nhàquản trị doanh nghiệp đưa ra và thực hiện một cơ cấu tổ chức sản xuất, kinhdoanh hợp lý nhằm mục đích có thể quy nạp trực tiếp các khoản chi phí chotừng đối tượng tập hợp chi phí Từ đó giúp cho việc kiểm soát chi phí đượcthuận lợi hơn
- Theo mối quan hệ của chi phí với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quy trình kinh doanh.
+ Chi phí cơ bản: Là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình
công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm như: CPNVLTT, CPNCTT, chi phí công
cụ, dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng trực tiếp vào sảnxuất sản phẩm…
+ Chi phí chung: Là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý phân
xưởng có tính chất chung như: Chi phí quản lý ở các phân xưởng sản xuất, chiphí quản lý doanh nghiệp
Cách phân loại chi phí này có thể giúp các nhà quản trị đưa ra cácphương án tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm bằng cách quản lý và
sử dụng chi phí theo định mức tiêu hao, cải tiến quy trình công nghệ đối vớicác chi phí cơ bản, đồng thời hạn chế hoặc loại trừ những khoản chi phí chungkhông cần thiết, tăng cường công tác quản lý theo dự toán
- Các cách phân loại khác sử dụng trong việc lập kế hoạch, kiểm tra và ra quyết định.
+ Theo mối quan hệ giữa chí phí và mức độ hoạt động:
_ Chi phí khả biến (chi phí biến đổi, biến phí): Là bao gồm những chi
phí có sự thay đổi về tổng số khi có thay đổi mức độ hoạt động của doanh
Trang 18Mức độ hoạt động của doanh nghiệp ở đây có thể là số lượng sản phẩmsản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu bán hàng thực hiện…Loại chiphí này có đặc điểm, nếu xét theo tổng số thì biến phí thay đổi tỉ lệ thuận vớimức độ hoạt động nhưng khi xét trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì biếnphí có thể là một hằng số
Tổng biến phí(Bp) Biến phí đơn vị(bp)
Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động
Sơ đồ 2.1: Chi phí khả biến
_ Chi phí bất biến (chi phí cố định, định biến): Là những chi phí mà về
tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị.Loại chi phí này có đặc điểm, nếu xét theo tổng số thì định phí là không đổi,ngược lại, xét theo trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì định phí tỉ lệnghịch với mức độ hoạt động Như vậy đối với loại chi phí này thì doanhnghiệp có hoạt động hay không thì luôn tồn tại định phí và ngược lại, khi doanhnghiệp tăng cường mức độ hoạt động thì định phí sẽ giảm dần
Tổng định phí (Đp) Định phí đơn vị(đp)
Đp = C
Đp = C/xMức độ hoạt động x Mức độ hoạt động x
Sơ đồ 2.2: Chi phí bất biến
_ Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà trong đó bao gồm cả chi phí cố
định và chi phí biến đổi
Trang 19Yếu tố biến đổi
Yêú tố cố định
Sơ đồ 2.3: Chi phí hỗn hợp
+ Theo thẩm quyền ra quyết định:
_ Chi phí kiểm soát được: Là những chi phí mà các nhà quản trị ở một
cấp quản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó và có thẩm quyềnquyết định về sự phát sinh chi phí đó
_ Chi phí không kiểm soát được: Là những chi phí mà nhà quản trị ở
một cấp quản lý nào đó không thể dự đoán được chính xác sự phát sinh của nó
và không có thẩm quyền quyết định đối với các khoản chi phí đó
Thông qua cách phân loại này giúp cho các nhà quản trị ở từng cấphoạch định được dự toán chi phí đúng đắn hơn, hạn chế sự bị động về việc huyđộng nguồn lực để đảm bảo cho các khoản chi phí Đồng thời giúp cho các nhàquản trị cấp cao đưa ra phương hướng để tăng cường chi phí kiểm soát đượccho từng cấp đưa ra phương hướng để tăng cường chi phí kiểm soát được chotừng cấp như mở rộng, phát triển các quy trình sản xuất kinh doanh có tỷ lệđịnh phí cao hơn, phân cấp quản lý chi tiết rõ ràng hơn về những chi phí giántiếp phục vụ cho quản lý sản xuất kinh doanh
+ Các loại chi phí được sử dụng trong việc lựa chọn các phương án: _ Chi phí chênh lệch: Là những khoản chi phí có ở phương án sản xuất
kinh doanh này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án sản xuấtkinh doanh khác Có thể nói đây là thông tin thích đáng cho việc xem xét, lựachọn phương án tối ưu
_ Chi phí cơ hội: Là những lợi ích bị mất đi khi lựa chọn phương án sản
xuất kinh doanh này thay vì lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh khác.Loại chi phí này không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại có vai tròrất quan trọng, đòi hỏi nhà quản lý phải cân nhắc và xem xét trước khi đưa raquyết định Trong việc lựa chọn các phương án sản xuất thì chi phí cơ hội được
Trang 20xem là thông tin thích đáng.
_ Chi phí chìm: Là những chi phí đã phát sinh mà buộc nhà quản trị phải
chấp nhận và nó tồn tại trong tất cả các phương án sản xuất kinh doanh Chính
vì vậy không thể loại bỏ chi phí này, đây là thông tin không thích đáng cho việcxem xét, lựa chọn phương án tối ưu và do vậy khi lựa chọn phương án tối ưukhông cần phải xét tới chi phí này
* Phương pháp xác định chi phí trong KTQT
Trên góc độ của KTTC, chi phí được nhìn nhận như những khoản phítổn đã phát sinh gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chiphí đã phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thườngcủa doanh nghiệp và các chi phí khác Những khoản chi phí này được kế toánghi nhận trên cơ sở các chứng từ, tài liệu phản ánh các nghiệp vụ phát sinhtrong kỳ Chẳng hạn như khi xuất kho NVL sử dụng vào sản xuất thì khi đó chiphí nguyên vật liệu tăng lên và giá trị hàng tồn kho giảm xuống Nghiệp vụ nàyđược chứng minh bằng các phiếu xuất kho
Trong khi đó, dưới cái nhìn của KTQT thì mục đích của KTQT chi phí làcung cấp các thông tin thích hợp về chi phí, kịp thời đưa ra các quyết định về sảnxuất, kinh doanh Bởi vậy KTQT không chỉ đơn thuần là nhận diện các chi phínhư KTTC mà đó còn là sự nhận diện thông tin phục vụ cho các cấp quản lý Vìvậy chi phí được phản ánh có thể là những chi phí hiện tại diễn ra hàng ngàyhoặc cũng có thể đó là những chi phí ước tính, dự đoán nhằm thông qua đó cóthể lựa chọn được phương án tối ưu nhất và đưa ra quyết định đúng đắn nhất
Việc xác định chi phí thường được thực hiện theo 2 phương pháp:Phương pháp xác định chi phí theo công việc và phương pháp xác định chi phítheo quá trình sản xuất
- Phương pháp xác định chi phí theo công việc:
Phương pháp này thường được sử dụng trong các doanh nghiệp sản xuấttheo đơn đặt hàng của khách hàng Để áp dụng phương pháp này thì sản phẩmphải đảm bảo ít nhất một trong các đặc điểm sau:
- Có tính độc đáo theo yêu cầu của từng đơn đặt hàng
- Có giá trị lớn
Trang 21- Có kích thước lớn
- Được đặt mua trước khi sản xuất
- Mang tính đơn chiếc, duy nhất
Đặc điểm nổi bật của phương pháp xác định chi phí theo công việc làviệc tính toán, phân bổ chi phí theo từng công việc cụ thể Kế toán phải cộngdồn CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC mỗi công việc để người quản lý có thể nắmđược giá thành của từng bước công việc nhằm tính lỗ lãi cho từng công việc cụthể Đó chính là việc kiểm soát chi phí vì nếu giá thành quá cao sẽ làm giảm lợinhuận hoặc có thể bị lỗ Các nhà quản lý điều khiển công việc để đảm bảo chiphí luôn nằm trong giới hạn kế hoạch cho phép, nếu nằm ngoài giới hạn đó thìphải tìm hiểu nguyên nhân để xử lý, điều khiển kịp thời
Quá trình tập hợp chi phí theo phương pháp này được thể hiện qua sơ đồchữ T như sau:
Sơ đồ 2.4: Quá trình tập hợp chi phí công việc
TK632 TK622
Trang 22- Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất.
Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất đại trà mộtloại sản phẩm và quá trình sản xuất đi qua nhiều công đoạn khác nhau
Theo phương pháp này thì các sản phẩm thường có đặc điểm sau:
- Có cùng hình thái vật chất và kích thước (sữa, ximăng)
- Sản phẩm có nhiều chi tiết
- Được đặt mua sau khi sản xuất vì sản phẩm do doanh nghiệp tự nghiêncứu, sản xuất đại trà rồi mới đưa ra tiêu thụ trên thị trường
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp thường tổ chức theo hai quy trìnhcông nghệ: Quy trình sản xuất liên tục và quy trình sản xuất song song
Với quy trình sản xuất liên tục, phân xưởng là bộ phận sản xuất cơ sở, lànơi phát sinh chi phí của quá trình sản xuất đó, hoạt động sản xuất diễn ra liêntục ở các phân xưởng kế tiếp nhau, sản phẩm có sự vận động và chuyển đổi từphân xưởng này sang phân xưởng khác
Các chi phí sản xuất được tập hợp theo từng phân xưởng được thể hiệnqua sơ đồ chữ T như sau trong trường hợp doanh nghiệp có 2 phân xưởng sảnxuất theo quy trình khép kín
Trang 232.1.2.2 Giá thành sản phẩm và các cách phân loại giá thành
* Giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản haophí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng côngviệc, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành
*Các cách phân loại giá thành
- Theo phạm vi tính toán
+ Giá thành sản xuất theo biến phí: Giá thành sản xuất theo biến phí là
giá thành mà trong đó chỉ bao gồm biến phí thuộc CPNVLTT, CPNCTT,CPSXC tính cho sản phẩm hoàn thành Theo phương pháp này thì toàn bộ địnhphí sản xuất được tính vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ mà không nằmtrong giá thành sản xuất sản phẩm
Giá thành sản xuất theo biến phí là một bộ phận trong giá thành toàn bộtheo biến phí Thông qua đó doanh nghiệp sẽ xác định lãi gộp trên biến phí (lãiđóng góp, số dư đảm phí) và cho phép mô hình hoá một cách đơn giản mốiquan hệ Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận
Thông tin về giá thành sản xuất theo biến phí có vai trò quan trọng trongviệc phục vụ cho việc đưa ra các quyết định ngắn hạn, mang tính sách lược, là
cơ sở để xác định điểm hoà vốn Nó thường được sử dụng chủ yếu trong môitrường kiểm soát hoạt động, ở đó nhà quản trị phải đưa ra các quyết định ngắnhạn, tức thời hoặc đột xuất
+ Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định: Nội dung của
giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định bao gồm: Toàn bộ biếnphí sản xuất (trực tiếp, gián tiếp); phần định phí được phân bổ trên cơ sở mứchoạt động thực tế so với mức hoạt động chuẩn (theo công suất thiết kế và địnhmức) Phần định phí còn lại là chi phí hoạt động dưới công suất được coi là chiphí thời kỳ
+ Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Giá thành toàn bộ sản phẩm
tiêu thụ bao gồm giá thành sản xuất cộng với CPBH và CPQL doanh nghiệp.Chỉ tiêu này chỉ xác định khi sản phẩm đã được tiêu thụ và được sử dụng đểxác định kết quả
Trang 24- Thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
+ Giá thành kế hoạch: Là loại giá thành được tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Loại giá thành này được xác định trướckhi tiến hành sản xuất và đó là mục tiêu của các doanh nghiệp nhằm tiết kiệmđược chi phí sản xuất đồng thời đánh giá tình hình tổ chức thực hiện kế hoạch
để hạ giá thành sản phẩm
+ Giá thành định mức: Là loại giá thành được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản xuất Loại giá thành này cũngđược xác định trước khi tiến hành sản xuất Giá thành định mức là công cụ đểquản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; Là thước đo chính xác để xácđịnh hiệu quả sử dụng tài sản, lao động, tiền vốn trong sản xuất; Là căn cứ đểđánh giá đúng đắn kết quả thực hiện các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanhnghiệp đã đề ra trong quá trình sản xuất kinh doanh
+ Giá thành sản xuất thực tế: Là loại giá thành được xác định trên cơ sở
các chi phí thực tế đã phát sinh và số lượng sản phẩm được sản xuất thực tếtrong kỳ Loại giá thành này được xác định sau khi đã hoàn thành quá trình sảnxuất Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanhnghiệp trong việc sử dụng các giải pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật để thực hiệnquá trình sản xuất sản phẩm Giá thành sản xuất thực tế là căn cứ để xác địnhkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.3 Kế toán quản trị chi phí, giá thành
2.1.3.1 Khái niệm KTQT chi phí, giá thành
KTQT chi phí, giá thành là một chức năng quản trị có ý thức chứ khôngphải là một chương trình cụ thể, nó mang tính liên tục và đều đặn nhằm kiểmsoát tốt chi phí, giá thành để thu lợi và tái đầu tư cho tương lai
2.1.3.2 Ý nghĩa của KTQT chi phí, giá thành
Chi phí và giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ là các chỉ tiêu quan trọngtrong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp
và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất
Trang 25kinh doanh Chính vì vậy đây là chỉ tiêu rất được các nhà quản lý doanh nghiệpquan tâm.
Mục đích sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn là lợi nhuậntối đa Vì thế họ quan tâm đến công tác quản lý chi phí, giá thành để xem phải
bỏ ra những chi phí nào, mức độ bao nhiêu và kết quả sản xuất thu được làgì? Song nếu chỉ biết một cách tổng thể, khái quát như vậy thì chưa đủ để đảmbảo một quá trình sản xuất kinh doanh hiệu quả Một trong những yêu cầu củaquản lý doanh nghiệp là phải chi tiết hoá các nội dung về chi phí, giá thành đốivới từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ do vậy khi bước vào nềnkinh tế thị trường các doanh nghiệp đã tiến hành đa dạng hoá các hoạt động sảnxuất kinh doanh Doanh nghiệp có thể tiến hành nhiều loại hoạt động khác nhautrên cơ sở ngành nghề, giấy phép kinh doanh đã được cấp: vừa sản xuất tiêu thụsản phẩm, vừa mua - bán vật tư, hàng hoá…Trong mỗi hoạt động lại bao gồmnhiều sản phẩm, vật tư, hàng hoá, dịch vụ khác nhau Một câu hỏi đặt ra là phảilàm thế nào để có thể quản lý hiệu quả các hoạt động đó và kiểm soát các khoảnmục phát sinh một cách tốt nhất? Câu hỏi này chỉ được trả lời khi có sự tham giacủa KTQT chi phí, giá thành, doanh thu và kết quả Do vậy, KTQT chi phí, giáthành sản phẩm, lao vụ, dịch cụ là nội dung không thể thiếu được trong toàn bộnội dung tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp và nó có ý nghĩa thiết thựcđối với các nhà quản trị doanh nghiệp bởi một số lý do chủ yếu sau:
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có thông tin hữu ích về chiphí, giá thành của từng hoạt động, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp doanh nghiệp đưa ra được cácquyết định phù hợp cho việc mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động sản xuấtkinh doanh Thông qua số KTQT chi phí, giá thành cùng với số liệu của KTQTdoanh thu, kết quả mà các nhà quản lý có quyết định đúng đắn trong việc mởrộng một hoạt động nào đó hoặc trong từng loại hoạt động thì mở rộng đối vớiloại sản phẩm, dịch vụ nào và ngược lại Điều này có ý nghĩa quan trọng quyếtđịnh sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp quyết định ngừng hay tiếp tụcsản xuất kinh doanh cũng như các quyết định nên tự sản xuất hay nên đi mua
Trang 26hoặc chuyển hướng kinh doanh, đầu tư…
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp định được giá bán sản phẩmdịch vụ, hàng tồn kho…từ đó có chính sách giá cả hợp lý
Có thể nhận thấy những thông tin mà KTQT chi phí, giá thành sảnphẩm, dịch vụ, lao vụ cung cấp là những thông tin cần thiết, nhanh chóng, kịpthời giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đề ra được các quyết định phù hợpvới tình hình thực tế và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ.Tuynhiên cũng cần phải khẳng định một điều rằng KTQT chi phí, giá thành là côngviệc hết sức phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chỉ khi nào doanhnghiệp thực hiện tốt, đầy đủ các nội dung liên quan thì KTQT chi phí, giá thànhmới có thể phát huy được hết vai trò to lớn của nó
2.1.3.3 Nội dung của KTQT chi phí, giá thành
KTQT chi phí, giá thành cũng giống như KTQT trong các lĩnh vực kháccủa quá trình sản xuất kinh doanh, tức là cũng bao gồm đầy đủ các nội dungcủa quản trị , từ giai đoạn lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giácho tới khâu ra quyết định
Trang 27* Lập kế hoạch chi phí, giá thành:
Đây là một chức năng cơ bản của quản trị nói chung và là một nội dungquan trọng của quản trị chi phí, giá thành nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giáthành sản phẩm Lập kế hoạch chi phí, giá thành là xây dựng các mục tiêu phảiđạt và vạch ra các bước thực hiện để đạt được những mục tiêu đó Các kếhoạch này có thể là kế hoạch ngắn hạn hoặc dài hạn
Việc lập kế hoạch được cụ thể hoá thông qua các dự toán về chi phí, giáthành Đây cũng là kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huyđộng, sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu Có thể lập dự toán qua một
số phương pháp sau:
- Phương pháp lập dự toán chi phí căn cứ vào các bộ phận khác Phươngpháp này được dựa trên kết quả tính toán của các kế hoạch về lao động, tiềnlương, cung nguyên liệu
- Phương pháp lập dự toán chi phí căn cứ vào kế hoạch giá thành đượctính theo từng khoản mục chi phí
- Phương pháp lập dự toán chi phí căn cứ vào dự toán chi phí của từngphân xưởng đơn vị nội bộ của các bộ phận
KTQT thu thập thông tin thực hiện (thông tin quá khứ) và những thôngtin liên quan đến tương lai (thông tin dự đoán) để phục vụ cho lập dự toánnhằm:
- Cung cấp thông tin một cách có hệ thống về toàn bộ kế hoạch chi phítrong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Xác định mục tiêu cụ thể cho từng chỉ tiêu chi phí trong từng giaiđoạn
- Dự kiến được những tình huống để sử dụng và huy động các nguồn lựccũng như dự kiến những thuận lợi và khó khăn về vốn trong sản xuất kinhdoanh
- Dự toán chi phí sản xuất còn là căn cứ để đánh giá tình hình thực hiện
Trang 28kế hoạch chi phí, giá thành.
- Dự toán chi phí sản xuất là cơ sở để kiểm soát chi phí trong sản xuất,kinh doanh
* Tổ chức thực hiện chi phí, giá thành:
Việc thực hiện dựa trên các kế hoạch đã được lập nhằm đạt được mụctiêu đã đề ra Trong khâu tổ chức thực hiện đòi hỏi các nhà quản trị phải biếtcách liên kết giữa các yếu tố sao cho kế hoạch được thực hiện ở mức cao nhất
và đạt hiệu quả cao nhất
KTQT có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã và đang thực hiện
để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản trị và chỉ đạo thựchiện các quyết định cả trong ngắn hạn và trong dài hạn Ngoài ra KTQT còn thuthập thông tin thực hiện để phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá sau này
* Tổ chức ghi chép phản ánh các khoản chi phí và tính giá thành sản phẩm:
Cũng giống như KTTC, khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế, KTQT tiếnhành phản ánh các khoản chi phí vào sổ sách có liên quan một cách đầy đủ, kịpthời và chi tiết cho từng loại sản phẩm, công việc khác nhau cùng với chi phíchung của toàn doanh nghiệp Thông qua những con số đã được phản ánh, cácnhà quản trị có được hình dung về tình hình thực tế của doanh nghiệp để cóbiện pháp kết hợp các nguồn lực, đồng thời có cơ sở phát hiện những sai sót,những chi phí bất hợp lý để điều chỉnh kịp thời
Cuối cùng, KTQT thực hiện việc phân bổ chi phí và giá thành sản phẩm,cung cấp số liệu trên các báo cáo chi tiết và tổng hợp cho bộ phận quản lý
*Tổ chức kiểm tra, đánh giá:
Để cho việc quản trị được hiệu quả thì sau khi lập kế hoạch đầy đủ và tổchức thực hiện hợp lý, đòi hỏi nhà quản trị phải tiến hành kiểm tra và đánh giáviệc thực hiện với số liệu của kế hoạch và dự toán, xác định những sai biệt giữakết quả đạt được với mục tiêu đề ra Do đo, KTQT có vai trò cung cấp thôngtin thực hiện từng bộ phận, giúp nhà quản lý nhận diện và đánh giá kết quảthực hiện đồng thời phục vụ cho việc lập kế hoạch trong các kỳ sau
Trang 29* Thực hiện việc ra quyết định:
Mục đích của KTQT không chỉ dừng lại ở việc chi tiết hoá các khoản mục
mà quan trọng hơn nữa đó là giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định sản xuấtkinh doanh Đó là cả một quá trình xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp, từkhâu lập kế hoạch cho đến việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá
KTQT có vai trò cung cấp thông tin, lập các báo cáo quản trị để phântích việc thực hiện các phương án, tư vấn cho các nhà quản trị lựa chọn phương
án tối ưu nhất và đưa ra quyết định phù hợp nhất
2.1.4 Một số mô hình tổ chức KTQT chi phí, giá thành và kinh nghiệm
2.1.4.1 Một số mô hình tổ chức KTQT chi phí, giá thành
Cùng với những thăng trầm của nền kinh tế, kế toán cũng đã được hìnhthành và phát triển qua nhiều giai đoạn và đã có nhiều thay đổi để phù hợp với
sự phát triển của nền sản xuất xã hội Một trong những thay đổi được coi làbước ngoặt đó là sự phân tách giữa KTTC và KTQT Trong quá trình đó,KTQT thực sự đã phát huy được vai trò to lớn của mình và dần trở thành bộphận quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý vàđiều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Quá trình hình thành và phát triển của KTQT ở các nước đều gắn liềnvới quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, đều mang trọng tâm là giải quyếtcác vấn đề quản trị doanh nghiệp Song ở mỗi nước vào mỗi thời kỳ lại cónhững quan niệm khác nhau Có thể khái quát sự khác nhau đó qua một số môhình như sau:
Mô hình kết hợp
Mô hình này nói lên rằng, KTQT kết hợp với KTTC cùng sử dụng mộtchế độ kế toán thống nhất, một hệ thống tài khoản chi tiết, các loại sổ sách và cácbáo cáo giống nhau Tuy nhiên hoạt động trong cùng một bộ máy như vậy, đểmỗi loại kế toán có thể độc lập phát huy được chức năng của mình thì ngay trongviệc tổ chức cũng đã có sự phân chia cụ thể KTTC sử dụng các tài khoản kếtoán tổng hợp, hệ thống báo cáo tài chính theo quy định của Bộ tài chính Còn
Trang 30KTQT đi sâu vào các tài khoản chi tiết, sử dụng báo cáo KTQT cung cấp thôngtin theo từng bộ phận, từng tình huống ra quyết định và được linh hoạt theo yêucầu của quản lý Sự kết hợp giữa hai chức năng kế toán trên nhằm mục đích cungcấp thông tin cho cả đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Mô hình này được sử dụng phổ biến ở hầu hết các nước, đặc biệt là ở
Mỹ và các nước áp dụng kế toán Mỹ hoặc đã tổ chức kế toán theo thông lệ vàchuẩn mực quốc tế
Theo mô hình này, KTQT đặt trọng tâm vào việc hoạch định, kiểm tra,xác định các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ đó để hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, doanh nghiệp có thể ápdụng phương pháp kế toán chi phí, giá thành sau:
* Kế toán chi phí, giá thành sản xuất theo công việc:
Hệ thống kế toán này được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất cácsản phẩm đơn chiếc hoặc từng lô hàng khác nhau về quy cách, nguyên liệu hay
kỹ thuật sử dụng Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các đơn đặt hàng, lô sảnphẩm hoặc từng sản phẩm đơn lẻ Đối tượng tính giá thành là từng đơn đặthàng, lô sản phẩm hoặc từng sản phẩm hoàn chỉnh
Với đặc trưng là các khoản chi phí phát sinh trong kỳ được kế toán tổnghợp và cộng dồn theo công việc đã giúp cho các nhà quản trị có thể so sánh giáthành thực tế với giá thành kế hoạch nhằm kiểm soát chi phí
Kế toán chi phí, giá thành sản xuất theo công việc có đặc điểm:
- Đối với khoản mục CPNVLTT và CPNCTT: Do có liên quan trực tiếptới từng đối tượng chịu chi phí nên chi phí sẽ được tập hợp trực tiếp cho từngđơn đặt hàng Trong trường hợp một phân xưởng đảm nhận thực hiện nhiềuđơn đặt hàng thì chi phí được tập hợp theo phân xưởng và chi tiết theo từngđơn đặt hàng
- Đối với khoản mục CPSXC: Nếu mỗi phân xưởng tiến hành thực hiệnmột đơn đặt hàng riêng biệt thì CPSXC cũng là chi phí trực tiếp nên sẽ được tậphợp trực tiếp cho từng đơn đặt hàng Ngược lại, nếu phân xưởng đó thực hiện
Trang 31đảm nhận nhiều đơn đặt hàng thì CPSXC sẽ tập hợp theo từng phân xưởng sau
đó tiến hành phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức thích hợp
* Kế toán chi phí, giá thành sản xuất theo quá trình sản xuất:
Đây là phương pháp được áp dụng cho các doanh nghiệp mà quá trìnhsản xuất phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau và sản xuất hàng loạt mộtloại sản phẩm Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất theo từng công đoạn hoặctừng bộ phận khác nhau của doanh nghiệp Đối tượng tính giá thành là sảnphẩm hoàn thành ở mỗi giai đoạn hoặc sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn côngnghệ cuối cùng
Hình thức kế toán này được tổ chức tương ứng với từng quy trình sảnxuất ở từng doanh nghiệp: quy trình sản xuất liên tục, quy trình sản xuất songsong hay quy trình sản xuất hỗn hợp
Kế toán chi phí, giá thành sản xuất theo quá trình sản xuất có đặc điểm:
- Quá trình tập hợp chi phí được thực hiện đơn giản, chi phí phát sinhgắn liền với quá trình sản xuất ở từng phân xưởng và được luân chuyển từ phânxưởng này đến sang phân xưởng khác
- Việc tính giá thành đơn vị bán thành phẩm và lập báo cáo chi phí sảnxuất được thực hiện ở từng phân xưởng
- Chi phí sản xuất phát sinh ở phân xưởng nào thì tập hợp trực tiếp chophân xưởng đó Sau đó những chi phí đó được chuyển cho phân xưởng kế tiếp.Chi phí mỗi phân xưởng sau bao gồm giá trị bán thành phẩm của phân xưởngtrước chuyển sang và chi phí phát sinh tại phân xưởng đó Bán thành phẩm củaphân xưởng trước là đối tượng chế biến của phân xưởng sau và sẽ được vậnđộng qua các phân xưởng sản xuất Ở phân xưởng cuối cùng, bán thành phẩmđược hoàn thành và trở thành thành phẩm của doanh nghiệp
Mô hình tách rời
Theo mô hình này thì KTTC và KTQT hoạt động độc lập với nhau.KTQT được tổ chức thành một bộ phận riêng biệt, tách rời với KTTC cả về hệthống tài khoản, sổ sách kế toán và các báo cáo kế toán KTTC thu thập, xử lý,
Trang 32lập các báo cáo tài chính phục vụ sự quan tâm của các đối tượng bên ngoàidoanh nghiệp Còn KTQT cung cấp thông tin, cho đối tượng bên trong doanhnghiệp, phục vụ cho mục tiêu quản trị.
Mô hình này áp dụng chủ yếu ở Cộng hoà Pháp và những nước thựchiện theo kế toán Pháp
Trong mô hình này, KTQT đặt trọng tâm vào việc xác định và kiểm soátchi phí ở các doanh nghịêp sản xuất bằng cách chia chi phí theo các trung tâmtrách nhiệm quản lý, phân tích và đánh giá tìm ra các nguyên nhân làm sai lệchchi phí và điều hoà mối quan hệ giữa KTTC và KTQT Chi phí sẽ được lập dựtoán và tất cả các chi phí sẽ được tập hợp theo các bộ phận tạo thành các trungtâm phân tích, bao gồm trung tâm chính và trung tâm phụ Ở đây, những khoảnchi phí phát sinh ở trung tâm nào thì sẽ được phản ánh vào các trung tâm đó.Cuối kỳ chi phí của các trung tâm phụ được phân bổ cho các trung tâm chínhsau đó được phân bổ vào giá thành theo những tiêu thức thích hợp
Đặc điểm nổi bật là các chi phi trong KTTC được phân loại theo bảnchất kinh tế, việc phân loại này chỉ mang tính tổng quát mà chưa cung cấpđược các thông tin cần thiết để tính toán giá thành trong KTQT Do đó các chiphí của KTTC khi chuyển sang KTQT, đại bộ phận chi phí được đưa vào giáthành, những khoản chi phí này gọi là chi phí phân bổ Tuy nhiên có một sốkhoản chi phí không được đưa vào giá thành, gọi là chi phí không phân bổ Nhưvậy, chi phí không phân bổ là những chi phí mà ở KTTC được coi là chi phínhưng ở KTQT lại không coi đó là chi phí và không được tính vào giá thành.Ngược lại, có một số khoản mục ở KTTC không coi là chi phí như tiền lươngcủa chủ doanh nghiệp, lãi cố định hàng năm của cổ đông…nhưng được KTQTphản ánh vào giá thành Các khoản này được KTQT gọi là chi phí bổ sung Mốiquan hệ giữa chi phí của KTTC và KTQT được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 33Các trung tâm chínhTrung
lý dịchvụ
tâm tiếpliệu (muahàng)
Trungtâm chếtạo (sảnxuất)
Trungtâmthươngmại bánhàng
…
Giá phí và giá thành sản phẩm
Sơ đồ 2.7: Mối quan hệ giữa chi phí của KTTC và KTQT
2.1.4.2 Một số kinh nghiệm về lĩnh vực KTQT của một số nước trên thế giới
Qua hai mô hình nêu trên có thể nhận thấy, mặc dù kế toán đã có sựphân chia song KTTC và KTQT vẫn tồn tại song song với nhau và KTQT đang
Chi phí kế toán tổng quát
(KTTC)
Chi phí không phân bổ Chi phí phân bổ
Chi phí trực tiếpChi phí gián tiếp
Trang 34dần phát huy vai trò quan trọng tron việc cung cấp thông tin cho công tác quản
lý và kiểm soát chi phí KTQT sử dụng thông tin do KTTC cung cấp đồng thờithu thập thông tin liên quan tới tương lai một cách cụ thể và chi tiết nhằm thựchiện chức năng quản lý Ở các nước như Mỹ, Pháp – nơi có hệ thống kế toánphát triển và tương đối hoàn chỉnh thì kế toán đều nhấn mạnh đến tính linhhoạt, kịp thời trong việc xác định chi phí, không bị ràng buộc bởi các quy định,pháp lý mà thể hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đạt đượclợi nhuận cao nhất
Ở mỗi nước, do có sự khác nhau về kinh tế và tài chính nên việc áp dụngtheo mô hình nào tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế của nước đó Song qua thực
tế áp dụng hai mô hình trên ở một số nước trên thế giới mà tiêu biểu là Mỹ vàPháp, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, đối với mô hình kết hợp:
Mô hình này có ưu điểm:
- Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tổng hợp do KTTC đảm nhiệm và quảnlyd chi tiết theo từng chỉ tiêu do KTQT phụ trách
- Việc phân công trách nhiệm cho từng người được thực hiện dễ dàng,đơn giản và tạo điều kiện kiểm soát được khối lượng công việc của từng nhânviên trong phòng kế toán
- Quá trình thu thập và xử lý thông tin được kế toán tiến hành nhanh chóng
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng máy tính trong quá trình làmviệc, tiết kiệm công sức và thời gian cho kế toán
Tuy nhiên, mô hình này lại mang nhược điểm nổi bật là không tạo điềukiện thuận lợi cho việc chuyên môn hoá giữa KTTC và KTQT, không phát huyđược chức năng của từng loại kế toán đó Từ đó hạn chế đến công tác quản lýnội bộ
Thứ hai, đối với mô hình tách rời:
Mô hình này khắc phục được nhược điểm của mô hình kết hợp, tạo điềukiện phát huy vai trò của KTTC và KTQT trong doanh nghiệp
Tuy nhiên, mô hình này cũng mang một số nhược điểm chủ yếu sau:
- Do KTTC và KTQT hoạt động độc lập nên không có sự kết hợp chặt
Trang 35chẽ giữa việc quản lý tổng hợp và quản lý cụ thể.
- Do có sự luân chuyển chứng từ giữa các bộ phận nên làm giảm thờigian thu nhận và xử lý các thông tin
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân loại chi phí
Phân loại các khoản mục chi phí theo yêu cầu của quản trị thông qua cáctiêu thức chi phí thích hợp nhằm đánh giá chính xác mức độ hợp lý của cáckhoản mục chi phí đó trong doanh nghiệp và từ đó rút ra kết luận Áp dụngtrong đề tài là các bảng chi phí đựơc tập hợp theo tiêu thức, theo yếu tố chiphí…
2.2.2 Phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp này nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn, xảy
ra ở nhiều nơi trong nhiều điều kiện Chính vì vậy với mục tiêu là tìm ra tínhquy luật của những hiện tượng phức tạp đó, phương pháp đi sâu tiến hành điềutra thu thập tài liệu trên cơ sở quan sát số lớn, tổng hợp và hệ thống hoá các tàiliệu trên cơ sở phân tổ thống kê và cuối cùng phân tích mối quan hệ ảnh hưởnglẫn nhau giữa các hiện tượng Áp dụng trong đề tài là các bảng so sánh tìnhhình thực hiện chi phí qua các kỳ…
2.2.3 Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên ý kiến của cácchuyên gia Thông qua đó có thể nắm bắt được cả về lý luận và thực trạng củavấn đề nhằm đưa ra định hướng phù hợp Trong đề tài, phương pháp này đượcxưyên suốt quá trình nghiên cứu, đó là các ý kiến về xây dựng định mức chi phí
và kiểm soát chi phí của các phòng ban có liên quan
Trang 362.2.4 Phương pháp cân đối
Phương pháp này dựa trên những tính toán cân đối để rút ra kết luận Ápdụng trong đề tài là việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuấttrong kỳ từ đó có sự điều chỉnh kịp thời những ảnh hưởng xấu, lập lại sự cânđối trong sự phát triển chung
2.2.5 Phương pháp kế toán quản trị
Phương pháp này dựa trên các báo cáo về quan hệ giữa thu nhập- chiphí- lợi nhuận để cung cấp cho thông tin cho nhà quản lý Công ty Từ đó nhàquản lý đưa ra quyết định trong ngắn hạn, dài hạn đồng thời cung cấp thông tincho việc lập kế hoạch sản xuất, định gia sản phẩm Áp dụng trong đề tài là dựatrên các báo cáo thu nhập theo phương pháp lãi đóng góp của các năm, của cácsản phẩm từ đó đưa ra quyết định có nên đầu tư cho hợp đồng kinh tế nàykhông, có nên nhận đơn đặt hàng không?
Trang 37III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu điểm nghiên cứu
3.1.1 Giới thiệu chung về Công ty
- Tên tổ chức kinh doanh: Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà
- Địa chỉ: Số 2 Đê sông Đào - phường Trần Quang Khải –TP Nam Định
- Tên giám đốc: PHẠM HÀO QUANG
- Điện thoại: 03503849797 Fax: 03503867132
- Tài khoản số: 1020000363178 Tại Ngân hàng: Công thương tỉnh NĐ
- Mã số thuế: 0600340784
3.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà trực thuộc Tổng công tycông nghiệp tàu thuỷ Việt Nam, nay là Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ ViệtNam là một thành viên thuộc tổng công ty 91 do nhà nước điều hành và quản
lý Nó được ra đời từ tháng 12 năm 1960, toàn bộ nguồn vốn xây dựng, muasắm máy móc thiết bị, nguyên liệu đều do Nhà nước cấp Tiền thân của công ty
cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà là xí nghiệp 1-5 thuộc tỉnh Nam Hà cũkết hợp với xí nghiệp Xà Lan 1-5 Năm 1993, sau khi chia tách tỉnh Ninh Bình
ra xí nghiệp Xà Lan 1-5 đổi tên là Nhà máy đóng tàu Nam Hà thuộc sở giaothông tỉnh Nam Hà cũ quản lý Đến ngày 01/07/1996 Nhà máy đóng tàu Nam
Hà chuyển về Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam quản lý Ngày12/05/2008 nhà máy đóng tàu Nam Hà đổi tên thành công ty cổ phần côngnghiệp tàu thuỷ Nam Hà
Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà hình thành là một trongnhững công ty đóng tàu đủ điều kiện hạn chế đóng tàu đi biển trong khu vựcĐông Nam Á thoả mãn cấp II, là nhà máy lớn thuộc khu vực Đồng bằng SôngHồng Cho đến nay công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà luôn đượcTập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đặt ở vị trí chiến lược đóng phươngtiện có trọng tải 5000T trở lại
Trang 383.1.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty
+ Nạo vét luồng lạch, san lấp mặt bằng
+ Sản xuất xây dựng khung nhà thép
- Thị trường của Công ty
Sản phẩm của Công ty hiện nay đang có mặt ở hầu hết các tỉnh thuộcđồng bằng Sông Hồng Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà đã thamgia xây dựng cầu cáp Nam định, tàu đẩy, tàu kéo Với thành tích trên Công ty
đã được trao tặng huân chương hạng 2 và hạng 3 Năm 2002, chính phủ quyếtđịnh chỉ thị đầu tư cung cấp cho ngành đóng tàu trong nước và đầu tư dự áncho vay để đóng tàu vận tải thúc đẩy kinh tế thương mại dịch vụ phát triển Vớithực trạng của Công ty, được sự quan tâm của Bộ giao thông vận tải, Tập đoàncông nghiệp tàu thuỷ Việt Nam công ty được nâng cấp cơ sở hạ tầng với dự án
29 tỷ đồng Đây cũng là cơ hội hiếm có đóng dấu một bước ngoặt lịch sử sangmột trang khác trong quá trình hình thành và phát triển của Công ty Qua 49năm xây dựng và trưởng thành, vừa mua sắm đổi mới, đầu tư máy móc thiết bị,nâng cao trình độ sản xuẩt đổi mới công nghệ, nên sản phẩm của Công typhong phú, chất lượng sản phẩm cao, mẫu mã đẹp có uy tín trên thị trường.Nhờ đổi mới cơ chế Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà đã năngđộng khai thác khách hàng có nhu cầu sản xuất… Chính vì thế đến nay (năm2008) doanh thu của Nhà máy đạt 235 tỷ đồng
Trang 393.1.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty CPCNTT Nam Hà
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty CPCNTT
Qua quá trình hoàn thiện tổ chức cơ cấu, hiện nay Công ty có bộ máyquản lý gọn nhẹ, phù hợp với quy mô hiện tại Bộ máy quản lý của Công ty baogồm: Ban giám đốc, các phòng ban, phân xưởng
Ban giám đốc:
Hiện nay ban giám đốc của Công ty bao gồm: 1 giám đốc và 2 phó giámđốc Giám đốc Công ty là người đứng đầu Công ty đại diện cho cán bộ côngnhân viên Công ty điều hành và chỉ huy mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh,đời sống vật chất và là người chịu trách nhiệm cao nhất với Nhà nước về hoạtđộng kinh doanh của Nhà nước
Các phòng ban:
Được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh chịu sự chỉ đạotrực tiếp của ban Giám đốc, là bộ máy tham mưu cho Ban giám đốc có quan hệmật thiết cùng nhau quản lý kiểm soát quá trình sản xuất của Công ty từ đó tínhtoán được hiệu quả kinh doanh Đề xuất với ban Giám đốc những biện pháp tháo
Giám đốc
Phó giám đốc phụ
trách kinh doanh
Phó giám đốc phụ trách sản xuất
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng
kế hoạch
kỹ thuật
Phân xưởng
vỏ tàu
Phân xưởng máy cơ điện
Trang 40gỡ khó khăn đẩy mạnh sản xuất với mục đích sản xuất liên tục, ổn định, pháttriển Công ty cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Nam Hà có 4 phòng ban chức năng:
* Phòng tài chính kế toán: Gồm 7 người chịu trách nhiệm trong việc tổ
chức công tác kế toán theo đúng chế độ nguyên tắc của Nhà nước ban hành,theo dõi quản lý chặt chẽ vốn và tài sản, giám sát các khoản thu chi trong mọihoạt động kinh doanh Tập hợp chi phí tính giá thành một cách chính xác đầy
đủ, cung cấp kịp thời những thông tin kinh tế cho giám đốc để ban giám đốcnắm bắt được tình hình sản xuất từ đó có những biện pháp hữu hiệu tháo gỡkhó khăn thúc đẩy sản xuất phát triển, phát huy luân chuyển vốn nhanh
* Phòng vật tư: Gồm 4 người cung cấp đầy đủ vật tư phục vụ kịp thời
cho sản xuất, giám sát cấp phát đúng định mức vật tư theo đúng phương án kỹthuật, quản lý kho tàng, vật tư đảm bảo chất lượng an toàn không bị thất thoát
* Phòng tổ chức hành chính: Gồm 8 người chịu trách nhiệm sắp xếp nơi
làm việc, chỗ ăn, ở sinh hoạt và chăm lo sức khoẻ cho CBCNV, hỗ trợ nhữngđơn vị khác cùng hoàn thành nhiệm vụ của Công ty giao cho
* Phòng kế hoạch kỹ thuật: Gồm 10 người có chức năng lập kế hoạch
sản xuất theo kỳ báo cáo, ký hợp đồng nghiệm thu và thanh toán các sản phẩmtheo dõi giám sát quá trình thi công, quản lý vật tư bằng những phương pháp
kỹ thuật cụ thể qua từng sản phẩm đồng thời theo dõi chất lượng sản phẩm
3.1.1.4 Hệ thống tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ của Công ty
- 3 tổ máy chuyên lắp đặt và sửa chữa
- 1 tổ điện phay tiện các thiết bị cho tàu và dụng cụ cơ khí sản xuất