1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp HCM (HOSE)

46 2,6K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 682 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tintrên BCTC nhằm đề xuất các biện pháp khắc phục và hoàn thiện thông tin trên BCTC của cáccông ty

Trang 1

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1.1 Lý do lựa chọn đề tài:

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường của các quốc gia, trong đó có ViệtNam, thị trường chứng khoán (TTCK) đóng một vai trò quan trọng, trở thành một kênh huyđộng vốn dài hạn và hiệu quả Nhưng điều đáng quan tâm hiện nay là thị trường chứng khoánViệt Nam không còn tăng mạnh như trước do trãi qua những tăng giảm thất thường Nhìnchung, thị trường có xu hướng giảm và nếu việc đó tiếp tục diễn ra, có thể điều này sẽ gây nênnhiều khó khăn cho nền kinh tế Theo tác giả Ricardo N.Bebczuk (năm 2003), để TTCK vàthị trường vốn nói chung phát triển thì sự minh bạch hóa thông tin là cần thiết và một trongnhững sự thiếu minh bạch trong cung cấp thông tin sẽ khiến cho TTCK không thể hoạt độnghiệu quả Vậy để góp phần giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển và không chìmhẳn thì đòi hỏi sự minh bạch của thông tin đem đến cho nhà đầu tư, đặc biệt là thông tin trongbáo cáo tài chính (BCTC) vì minh bạch hóa thông tin sẽ tạo được lòng tin của nhà đầu tư đốivới thị trường chứng khoán

Tại Việt Nam, vấn đề minh bạch hóa thông tin trên TTCK và việc tìm ra các yếu tố ảnhhưởng đến tính minh bạch của thông tin, đặc biệt là trên BCTC là vấn đề hết sức quan trọng

Do đó, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tintrên BCTC nhằm đề xuất các biện pháp khắc phục và hoàn thiện thông tin trên BCTC của cáccông ty niêm yết trên TTCK thông qua đề tài:

“Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin báo cáo tài chính của các công ty

niêm yết trên sàn Hose”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xem xét, đánh giá sự minh bạch của thông tintrình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đếntính minh bạch của thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn HOSE.Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất các kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện các chuẩn mựcgiúp năng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC, góp phần thúc đẩy thị trường chứngkhoán hoạt động hiệu quả hơn Và để đạt được mục tiêu chung của đề tài, các câu hỏi nghiêncứu được đề ra như sau:

Câu hỏi 1: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính của các công

ty niêm yết trên sàn HOSE?

Câu hỏi 2: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó như thế nào ?

Câu hỏi 3: Giải pháp tăng cường tính minh bạch thông tin BCTC của các công ty niêm yết?

Trang 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu:

- Những vấn đề liên quan đến tính minh bạch của báo cáo tài chính trên thị trườngchứng khoán

- BCTC và các thông tin trên BCTC của các công ty, những người lập thông tin BCTC những người nhận thông tin BCTC

- Các cơ quan quản lý của Nhà nước và cấp cấp

Đối tượng khảo sát: tài liệu thứ cấp của một số doanh nghiệp thuộc địa bàn Tp HCM

và một số tỉnh lân cận

Phạm vi nghiên cứu:

- Giới hạn: Các công ty đã niêm yết trên HOSE

- Phạm vi: thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận

- Thời gian: giai đoạn 2007-2012

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu định tính : Tổng hợp lý thuyết, xử lý thông tin (tham khảo sách báo, tàiliệu, phỏng vấn chuyên sâu, thảo luận chúng tôi), đề xuất giải pháp, lấy ý kiến chuyêngia và các đối tượng có liên quan thông qua bảng khảo sát

- Nghiên cứu định lượng : Sử dụng kết quả bảng khảo sát

- Phương pháp xử lý số liệu: thống kê, bằng chứng cụ thể, khảo sát thực tế Áp dụngcông cụ phân tích dữ liệu: SPSS 16.0 Vận dụng những mô hình phân tích đo lườngtác động của các yếu tố tới tính minh bạch thông tin BCTC, dưới sự giúp đỡ và hướngdẫn của giảng viên

1.5 Ý nghĩa thực tiễn

- Đem lại một môi trường lành mạnh, minh bạch, một kênh huy động vốn dài hạn quantrọng trong nền kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư trong nước vàquốc tế

- Giảm thiểu rủi ro đầu tư tài chính cũng như tổn thất các nhà đầu tư phải gánh chịu,nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn Tăng hiệu quả thực hiện các chính sách quản lý

và điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà Nước

1.6 Kết cấu bài nghiên cứu

Chương mở đầu:

- Trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu

- Trình bày đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Trình bày phương pháp nghiên cứu

Trang 3

- Trình bày ứng dụng thực tiễn của đề tài.

Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về thông tin tài chính và minh bạch thông tin tài chính

- Đưa ra các lý thuyết về thông tin tài chính, về minh bạch thông tin tài chính, tầm quanquan trọng của minh bạch thông tin tài chính

- Đưa ra các tiêu chí đo lường minh bạch thông tin tài chính và các yếu tố ảnh hưởngđến chất lượng thông tin tài chính

- Khái quát các nghiên cứu về minh bạch thông tin tài chính, từ đó đề xuất mô hìnhnghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Chương 2 : Thực trạng thông tin tài chính và minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết

- Thống kê các công ty niêm yết theo thời gian gia nhập TTCK, ngành nghề hoạt động

- Thống kê thực trạng TTTC, công bố TTTC và tính minh bạch TTTC của các công ty niêm yết trên sàn Hose về các khía cạnh:

o Tình hình lập và trình bày công bố thông tin trên BCTC

o Khảo sát mức đột minh bạch TTTC của các công ty niêm yết trên sàn Hose

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Giới thiệu quy trình thực hiện nghiên cứu

- Ứng dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

- Đề xuất mô hình 2 và thang đo các biến trong mô hình

Chương 4 : Kết quả nghiên cứu

- Đánh giá độ tin cậy các thang đo và phân tích nhân tố EFA

- Thiết kê mô hình hồi quy và kiểm định giả thuyết nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tài chính

Chương 5 : Kết luận và kiến nghị.

- Trình bày kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính

- Kiến nghị các giải pháp nhằm gia tăng minh bạch thông tin tài chính

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ MINH BẠCH

THÔNG TIN TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm Thông tin tài chính

Ngày nay, những tiến bộ trong các ứng dụng tin học hóa quá trình quản lý, lý thuyết về

hệ thống thông tin tài chính, sự mở rộng về quy mô và tính phức tạp của các dữ liệu cũng nhưcác yêu cầu ngày càng gia tăng về khối lượng và thời gian đối với thông tin tài chính là nhữngyếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường tài chính Trên góc độ hệ thống, thông tin tàichính là thông tin phản ánh các tác động tài chính của các sự kiện tài chính được thu thập, xử

lý và báo cáo nhằm thông tin một cách hữu ích cho nhiều người sử dụng trong việc tiến hànhđưa ra các quyết định kinh tế

Trong phạm vi nghiên cứu, vì thông tin tài chính là kết quả của quá trình soạn lập vàcông bố báo cáo tài chính nên thông tin tài chính đồng nghĩa với thông tin trên báo cáo tàichính

1.2 Khái niệm về minh bạch thông tin tài chính

Sự minh bạch là thuật ngữ có thể sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau với nhiềukhía cạnh khác nhau, nó có thể đề cập đến sự minh bạch của thị trường tài chính hoặc có thể

đề cập đến sự minh bạch của thông tin tài chính Trong phạm vi nghiên cứu, sự minh bạchthông tin tài chính công bố hay là sự minh bạch của thông tin được trình bày trên các báo cáotài chính công bố bởi các công ty niêm yết là như nhau Đã có nhiều định nghĩa về sự minhbạch được đưa ra bởi các tổ chức nghề nghiệp cũng như trong nghiên cứu khác nhau, có thểnêu một vài định nghĩa phổ biến như sau:

Trên góc độ thực hành

Theo Hiệp hội các phân tích viên tài chính công chứng (CFA), sự minh bạch có nghĩa là

người sử dụng có thể thấy bản chất kinh tế của việc kinh doanh được phản ánh một cách rõràng trên các báo cáo tài chính.Việc công bố đầy đủ và trình bày trung thực sẽ tạo ra sự minhbạch

Theo tổ chức S&P (Standard & Poors), sự minh bạch là sự công bố kịp thời và phù hợp

của những thành quả về hoạt động và tài chính của công ty cũng như các thông lệ quản trị liênquan đến cấu trúc sở hữu, ban giám đốc, cấu trúc và quá trình quản lý

Trên góc độ nghiên cứu

Các tác giả Blanchet (2002), Prickett (2002) và Kulzick (2004) nghiên cứu sự minhbạch trên quan điểm của người sử dụng thông tin, theo họ minh bạch của thông tin bao gồm:

Sự chính xác: thông tin phản ánh chính xác dữ liệu tổng hợp từ sự kiện phát sinh.

Sự nhất quán: thông tin được trình bày có thể so sánh được và là kết quả của những

phương pháp được áp dụng đồng nhất

Trang 5

Sự thích hợp: khả năng thông tin tạo ra các quyết định khác biệt, giúp người sử dụng

dự đoán kết quả trong quá khứ, hiện tại và tương lai hoặc giúp xác nhận và hiệu chỉnhcác mong đợi

Sự đầy đủ: thông tin phản ánh đầy đủ các sự kiện phát sinh và các đối tượng có liên

quan

Sự rõ ràng: thông tin truyền đạt được thông điệp và dễ hiểu.

Sự kịp thời: thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin giảm khả năng ảnh

hướng đến các quyết định

Sự thuận tiện: thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng.

Robert Bushman và các tác giả (2003) xem xét sự minh bạch ở góc độ công ty, theo đó

sự minh bạch được định nghĩa là sự sẵn có của các thông tin cụ thể về công ty đối với bênngoài của các công ty niêm yết Các thông tin được chia thành 3 nhóm: Báo cáo tài chính, sựđạt được các thông tin bí mật và sự phổ biến của thông tin Trong đó sự minh bạch thông tintài chính thông qua các báo cáo tài chính đề cập đến 5 nội dung:

 Mức độ của sự công bố về tài chính

 Mức độ của sự công bố về quản trị công ty

 Các nguyên tắc kế toán sử dụng để đo lường sự công bố về tài chính

 Thời gian công bố các báo cáo

 Chất lượng kiểm toán độc lập

Theo Barth và Schipper (2008), sự minh bạch là một đặc tính được mong đợi của báocáo tài chính, được định nghĩa là phạm vi mà các báo cáo tài chính cho thấy các giá trị kinh tếngầm định của tổ chức theo cách sẵn sàng cho sự hiểu biết của những người sử dụng các báocáo này

Tổng hợp từ các nghiên cứu trên và theo quan điểm của chúng tôi, sự minh bạch thôngtin tài chính có thể xem là sự sẵn có của các thông tin tài chính cho người sử dụng được thểhiện qua các đặc tính chất lượng của thông tin tài chính bao gồm: sự kịp thời, sự thuận tiện, sựchính xác, sự đầy đủ và sự nhất quán nhằm cho phép những người sử dụng thông tin đó có thểđánh giá chính xác về tình hình, hiệu quả và mức độ rủi ro của doanh nghiệp này

1.3 Tầm quan trọng của minh bạch thông tin tài chính

Minh bạch thông tin tài chính có vai trò rất quan trọng đối với không chỉ các công tycông bố, người sử dụng thông tin mà còn cho cả hệ thống thị trường tài chính, đặc biệt là thịtrường vốn Có thể nêu một số kết quả của các nghiên cứu dẫn đến các kết luận này như sau:

Trang 6

Nghiên cứu của Tara Vishwanath và Daniel Kaufmann (1999) chứng minh: nếu giatăng sự minh bạch thông tin tài chính sẽ giúp giảm bớt sự chênh lệch giữa số liệu trước vàsau kiểm toán.

Kết quả khảo sát của PWC (2002) cho thấy: nhà đầu tư, các chuyên viên phân tích vàcác điều hành viên tài chính (giám đốc tài chính) đều cho rằng việc công bố thông tin tốthơn, minh bạch hơn sẽ mang lại lợi ích rõ rệt cho công ty: có thêm nhiều nhà đầu tư giá trị,gia tăng khả năng thâm nhập vào các thị trường vốn mới và với một chi phí sử dụng vốnthấp hơn; gia tăng độ tin cậy của nhà quản lý, gia tăng trách nhiệm giải trình và giá chứngkhoán

Theo Field và các tác giả (2004), công bố và minh bạch thông tin cũng giúp cho giảmthiểu chi phí phát sinh về sự không tuân thủ và giảm những rủi ro về tranh chấp, kiện tụng

về mặt pháp lý, thuế

Nghiên cứu của Hwei Cheng Wang, Ninghsin Chen và Hsain Jane Chang (2004) chothấy: gia tăng sự minh bạch trong thông tin công bố sẽ gia tăng giá trị cho thông tin về thunhập kế toán

Kết quả nghiên cứu của James Hunton, Robert Libby và Cheri Mazza (2004) kết luận:thông tin tài chính càng minh bạch sẽ giúp giảm thiểu, ngăn chặn khả năng nhà quản lýđiều tiết thu nhập (Earnings Management) theo chủ ý

Sự minh bạch và công bố đầy đủ thông tin tài chính là những thành phần không thểthiếu của khuôn mẫu về quản trị công ty Nghiên cứu của Beeks và Brown (2005) đãchứng minh: các công ty với chất lượng quản trị tốt hơn sẽ công bố thông tin nhiều hơn Sự

dễ hiểu, sự liên quan, sự minh bạch, tính đáng tin, tính kịp thời và sự công bố đầy đủ củacác thông tin về kết quả hoạt động kinh tế, cấu trúc của tổ chức cũng như quá trình được sửdụng trong các tổ chức sẽ cung cấp cho các bên liên quan những cái nhìn trung thực vềcông ty và chất lượng của chính sách quản trị mà công ty đang áp dụng Cơ chế công bố vàminh bạch được thiết lập giúp bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số và các bên có liênquan vì cơ chế này làm giảm tính bất cân xứng của thông tin và khả năng phát sinh cácgian lận

Theo Berglof và Pajuste (2005), công bố và minh bạch thông tin giúp gia tăng nhậnthức và lòng tin của nhà đầu tư, làm giảm sự không chắc chắn về lợi ích mang lại cho nhàđầu tư, giảm chi phí vốn và gia tăng giá trị khoản đầu tư

Theo kết quả nghiên cứu của Carol Ann Frost, Elizabeth A Gordon và Grace Pownall(2008), minh bạch thông tin tài chính ảnh hưởng đến sự thâm nhập của các công ty ở thịtrường mới nổi vào các thị trường vốn quốc tế Các công ty thuộc thị trường mới nổi càng

Trang 7

minh bạch thông tin tài chính thì càng dễ dàng thâm nhập vào thị trường vốn quốc tế vàngược lại.

Qua các thống kê nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng dưới góc độ người sử dụng, minh

bạch thông tin tài chính mang đến cho người sử dụng một niềm tin và sự bảo đảm về thông tinnhận được, đồng thời giúp người sử dụng thông tin có sự nhìn nhận đúng và đưa ra các quyết

định đầu tư hợp lý và hiệu quả Dưới góc độ công ty, việc cung cấp không đủ thông tin BCTC

của công ty có thể giúp DN “làm đẹp” được con số lợi nhuận tức thời Nhưng với các khoảnngoại trừ trên báo cáo kiểm toán, DN sẽ không đáp ứng điều kiện phát hành thêm cổ phiếu đểhuy động vốn theo quy định của Luật Chứng khoán Và như vậy, DN niêm yết là đối tượngchịu thiệt đầu tiên Vì vậy, minh bạch thông tin tài chính giúp cho các công ty giảm bớt cácrủi ro, gian lận tài chính, gia tăng giá trị và giảm chi phí sử dụng vốn thông qua việc thâm

nhập vào các thị trường vốn quốc tế để tìm các nguồn vốn giá rẻ Dưới góc độ thị trường,

minh bạch thông tin tài chính sẽ giúp giá chứng khoán phản ánh đúng giá trị nội tại mà đâychính là đặc trưng của thị trường hiệu quả và bền vững Và những lợi ích này có thể chia rathành ba loại:

1 Minh bạch làm gia tăng hiệu quả nhà đầu tư.

2 Minh bạch khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào thị trường, thúc đẩy tính thanh

khoản của thị trường

3 Minh bạch góp phần phát triển tính hiệu quả của thị trường chứng khoán.

Mỗi lợi ích này vừa thúc đẩy và là chức năng của các lợi ích còn lại Ví dụ, bằng cáchtạo ra sự bảo vệ cho nhà đầu tư, tính minh bạch khuyến khích sự tham gia ngày càng nhiềucủa nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, và vì thế làm tăng tính thanh khoản của những thịtrường này Ngược lại, sự gia tăng trong tính thanh khoản sẽ làm tăng tính hiệu quả của thịtrường Tương tự như vậy, bằng cách giảm đi những ảnh hưởng của phân khúc thị trường vàtăng tính hiệu quả của giá cả trên thị trường chứng khoán, minh bạch cũng thúc đẩy sự côngbằng của thị trường

1.4 Tiêu chí đo lường minh bạch thông tin tài chính

Do được tiếp cận nhiều quan điểm và mức độ khác nhau nên việc đo lường sự minhbạch thông tin nói chung, và minh bạch thông tin tài chính nói riêng được đo lường bằngnhiều phương pháp và biến đại diện khác nhau

Sự minh bạch được xem là sự sẵn có của thông tin nên sự minh bạch có thể đo lườngbằng mức độ công bố thông tin, nếu mức độ công bố thông tin càng cao thì sự minh bạchthông tin càng rõ và ngược lại Theo quan điểm này, các nghiên cứu trước đây thường sử

Trang 8

dụng chỉ số CIFAR, được phát triển bởi Trung tâm nghiên cứu và phân tích tài chính quốc tế,làm thước đo sự minh bạch thông tin Chỉ số CIFAR bao gồm khoảng 90 các thông tin tàichính và phi tài chính được công bố trên các báo cáo thường niên của các công ty niêm yết,chỉ số này được xây dựng riêng cho từng quốc gia khác nhau tùy thuộc vào môi trường kinhdoanh và pháp luật Chỉ số này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu của các tác giả LaPorta, Lopez-De-Silanes, Shleifer và Vishny, (1999) làm thước đo chất lượng của hệ thống kếtoán; trong nghiên cứu của Busman và các tác giả (2003) làm thước đo mức độ công bố thôngtin

Một chỉ số cũng được sử dụng phổ biến trong đo lường sự minh bạch và công bố thôngtin do tổ chức S&P xây dựng và phối hợp với các tổ chức khác tiến hành hàng năm trên một

số thị trường chứng khoán nhằm đánh giá mức độ minh bạch và công bố thông tin của cáccông ty niêm yết Chỉ số này bao gồm 108 các khoản mục thông tin được chia thành ba nhóm:

 Cấu trúc sở hữu và quyền lợi của cổ đông

 Thông tin tài chính và hoạt động kinh doanh

 Cấu trúc và quy trình của Ban giám đốc và nhà quản lý

Trong đó, đo lường về sự minh bạch và công bố liên quan đến thông tin tài chính baogồm 30 khoản mục:

1 Chính sách kế toán sử dụng

2 Các chuẩn mực kế toán và áp dụng cho các khoản mục trên các báo cáo tài chính

3 Các khoản mục tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia

4 Báo cáo tài chính năm tuân thủ theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổ biến:Chuẩn mực quốc tế (IFRS), chuẩn mực Hoa kỳ (U.S GAAP)

5 Thuyết minh báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP

6 Báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính năm tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP

7 Ý kiến chấp nhận toàn bộ của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính năm tuân thủtheo IFRS/U.S GAAP

8 Báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP được kiểm toán được công bốtrước 30/04 hàng năm

9 Báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP chưa được kiểm toán được công

12 Các điều khoản chính xác về các bên có liên quan

13 Báo cáo giữa kỳ (quý/ 6 tháng) tuân thủ theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổbiến: Chuẩn mực quốc tế (IFRS), chuẩn mực Hoa kỳ (U.S GAAP)

14 Thuyết minh cho các báo cáo giữa kỳ

Trang 9

15 Sự soát xét hoặc kiểm toán các báo cáo giữa kỳ.

16 Hợp nhất báo cáo tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia

17 Phương pháp đánh giá tài sản

18 Liệt kê các bên liên kết mà công ty nắm phần lợi ích thiểu số

19 Cấu trúc sở hữu của các bên liên kết

20 Một bản dự báo thu nhập cơ bản

21 Một bản chi tiết dự báo thu nhập

22 Báo cáo phân tích theo bộ phận

23 Cấu trúc doanh số

24 Cấu trúc chi phí

25 Tên của công ty kiểm toán

26 Công ty kiểm toán có phải là những công ty hàng đầu trong nước hoặc quốc tế

27 Chính sách thay đổi kiểm toán

28 Mức phí kiểm toán

29 Công ty kiểm toán báo cáo tài chính có đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn

30 Mức phí của dịch vụ tư vấn

Bảng 1.1: Các khoản mục sử dụng trong chỉ số của S&P

Ngoài việc được sử dụng để đánh giá và xếp hạng sự minh bạch và công bố thông tintrên các thị trường chứng khoán, chỉ số này còn được sử dụng trong các nghiên cứu của MineAksu (2006) về cải thiện sự minh bạch và công bố thông tin của thị trường chứng khoánIstanbul, Thổ Nhĩ Kỳ

Hiệp hội nghiên cứu quản lý đầu tư và liên đoàn các phân tích viên tài chính FAF) cũng xây dựng chỉ số đánh giá mức độ công bố và minh bạch đối với các công ty niêmyết hàng năm Một số các nghiên cứu cũng sử dụng chỉ số này làm thước đo sự minh bạch.Gelb và Zarowin (2002) đã kiểm tra mối liên hệ giữa tự nguyện công bố và sự đầy đủ thôngtin về giá chứng khoán; kết quả cho thấy, nếu gia tăng sự công bố sẽ làm thông tin về cáckhoản thu nhập tương lai đầy đủ hơn Bens và Monahan (2004) cũng sử dụng chỉ số AIMR đểnghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ của sự công bố thông tin và sự đa dạng hóa

(AIMR-Một số quốc gia cũng tự xây dựng những hệ thống đánh giá hoặc xếp hạng về sự minhbạch và công bố thông tin của các công ty niêm yết Đài Loan là một ví dụ điển hình, họ sửdụng hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin ITDRS từ năm 2003 Hệ thốngnày bao gồm 88 khoản mục công bố được phân chia thành năm nhóm:

 Tuân thủ với các quy định về công bố

 Sự kịp thời của các báo cáo

 Công bố dự báo tài chính

 Công bố báo cáo thường niên

 Công bố trên Website của công ty

Trang 10

Hàng năm các kết quả xếp hạng theo chỉ số ITDRS sẽ được công bố rộng rãi làm cơ sởcho các nghiên cứu cũng như các thay đổi trong thực tế về chính sách quản lý thị trường vàquản trị của các công ty niêm yết

Tại Singapore và Malaysia, chỉ số CTI cũng được sử dụng từ năm 2000 để đánh giámức độ minh bạch của các công ty niêm yết Đến năm 2009, chỉ số CTI được thay thế bởi chỉ

số GTI và được công bố hai lần mỗi năm Cấu trúc chỉ số này gồm hai phần:

 Quản trị công ty: tập trung vào các nội dung liên quan đến các Ban điều hành, trách nhiệmgiải trình và kiểm toán

 Sự minh bạch: tập trung vào sự giao tiếp giữa công ty với các cổ đông

Để đo lường sự minh bạch thông tin tài chính, các nghiên cứu trước đây thường sử dụngcác thông tin được công bố trên các báo cáo tài chính làm biến đo lường mức độ của sự minhbạch.Trong các môi trường khác nhau và dưới các quan điểm khác nhau, các biến này được

sử dụng đa dạng và không thống nhất Theo quan điểm riêng, chúng tôi cho rằng để đo lường

sự minh bạch thông tin tài chính một cách đầy đủ chúng ta sẽ sử dụng các biến đại diện cho

sự minh bạch thông tin tài chính như: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và sựnhất quán Trong đó, mỗi biến đại diện có nội dung được thể hiện như sau:

1 Sự kịp thời: là thời điểm công bố thông tin tài chính (báo cáo tài chính) phải khớp

hoặc sớm hơn đối với thời hạn công bố thông tin mà cơ quan chức năng quy định.Nếu thông tin được công bố sớm và kịp thời thì người sử dụng thông tin sẽ dự đoánchính xác và đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp nhất

2 Sự thuận tiện: được thể hiện qua sự phổ biến của các kênh thông tin cái mà người

tiêu thông qua đó tiếp cận các nguồn thông tin khác nhau Các kênh thông tin nàybao gồm: báo chí, phát thanh, truyền hình, bảng công bố thông tin, Internet, phátbiểu bằng lời nói

3 Sự chính xác: thể hiện ở mức độ phản ánh trung thực của thông tin được công bố

với thực trạng tại doanh nghiệp Nếu thông tin không chính xác sẽ dẫn đến nhữngquyết định sai lầm và làm mất đi niềm tin của người sử dụng

4 Sự đầy đủ: được thể hiện ở tính đầy đủ của nội dung thông tin được công bố.Việc

cung cấp thông tin đầy đủ chẳng những giúp cho người sử dụng thông tin dễ dàngđưa ra các quyết định mà còn tạo nên sự công bằng, hoàn hảo trong thị trườngchứng khoán

5 Sự nhất quán: được thể hiện ở sự trùng khớp, ý kiến đồng ý toàn phần, giữa ý kiến

của kiểm toán viên với báo cáo tài chính của công ty niêm yết Sự sai lệch trọng yếu

Trang 11

càng cao càng nói lên tình trạng kém minh bạch của thông tin được công bố dẫn đếnviệc kém thu hút đối với các nhà đầu tư

Nói tóm lại, việc sử dụng các biến đại diện cho sự minh bạch thông tin tài chính là mộtphương pháp cơ sở có tính tiện nghi và đạt được hiệu cao

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính

Các nghiên cứu trước đây trên thế giới cho rằng có hai loại yếu tố lớn của một doanhnghiệp có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và minh bạch doanh nghiệp trong mộtthị trường Loại thứ nhất bao gồm các yếu tố thuộc về tài chính của một doanh nghiệp, cònloại thứ hai bao gồm các yếu tố thuộc về quản trị doanh nghiệp Có một vài chứng cứ giántiếp ủng hộ giả thuyết này như Bushman, Piotroski, và Smith (2003) đã căn cứ vào kết quảphân tích nhân tố và phân loại được hai nhân tố này từ các biến đo lường môi trường thông tin

ở phạm vi doanh nghiệp thu thập từ các công ty tại một số quốc gia Họ cũng nhận ra rằng hailoại nhân tố này, các yếu tố về tài chính và các các yếu tố về quản trị, cũng có liên quan đến

hệ thống luật pháp và kinh tế chính trị Dựa trên tìm hiểu này, các nghiên cứu này cũng đãđưa ra những biến về tài chính và những biến về quản trị công ty như là những nhân tố ảnhhưởng tính minh bạch và công bố thông tin của doanh nghiệp trong phạm vi mỗi thị trường

1.5.1 Các yếu tố tài chính

Những đặc điểm tài chính có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và minh bạchdoanh nghiệp như sau:

1.5.1.1 Quy mô doanh nghiệp

Các công ty có quy mô lớn thì minh bạch hơn các công ty có quy mô nhỏ, do doanhnghiệp có quy mô lớn thì có nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và thu hút nhiều

sự chú ý hơn từ các nhà phân tích Ngoài ra, doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ luôn có nhiềunguồn thông tin công bố cho nhà đầu tư hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ Một nghiêncứu xuyên quốc gia đã phát hiện mối quan hệ thuận chiều giữa các điểm về vốn hóa thị trường

và minh bạch thông tin tổng thể Những dẫn chứng bằng tài liệu về sự liên kết không thốngnhất giữa quy mô doanh nghiệp được đo bằng tổng tài sản và tổng số điểm về công bố thôngtin

Trang 12

1.5.1.3 Tình hình tài chính

Đối với một doanh nghiệp, tình hình tài chính trong quá khứ s ẽ ảnh hưởng đến mức

độ công bố thông tin của doanh nghiệp (theo Khanna & Srinivasan 2004) Ví dụ, các doanh nghiệp có nhiều lợi nhuận có thể s ẽ muốn công bố thông tin của doanh nghiệp cho nhà đầu tư bên ngoài hơn là doanh nghiệp có ít lợi nhuân

1.5.1.4 Tài sản cầm cố

Các doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định cao, cần phải công bố thông tin nhiều hơn

để giúp cho người bên ngoài đưa ra được quyết định đầu tư Điều này dẫn đến mối liên

hệ thuận chiều giữa giá trị tài sản cầm cố và mức độ công bố thông tin Jensen và Meckling(1976) cũng cho rằng tài sản bị cầm cố có thể làm giảm đi mâu thuẫn về quyền sở hữu, vìngười cho vay sẽ nắm quyền sở hữu tài sản cố định trong trường hợp doanh nghiệp bịphá sản và việc giảm mâu thuẫn về quyền sở hữu có thể làm giảm nhu cầu công bốthông tin

1.5.1.5 Hiệu quả sử dụng tài sản

Các công ty với mức độ hiệu quả sử dụng tài sản cao thì có mức độ công bố thôngtin về doanh nghiệp cao hơn so với doanh nghiệp có mức độ hiệu quả sử dụng tài sảnthấp Do các doanh nghiệp với mức độ hiệu quả sử dụng tài sản cao có thể thu hút nhiềunhà đầu tư và nhà nhà phân tích hơn và do vậy các công ty này cũng sẽ phải công bốnhiều thông tin hơn cho nhà đầu tư bên ngoài, dẫn đến mức độ công bố thông tin và minhbạch cao hơn đối với công ty có mức độ hiệu quả sử dụng tài sản cao

1.5.2 Các yếu tố quản trị

Nhiều nghiên cứu ở Mỹ đã tập trung vào mối quan hệ giữa quản trị và hiệu quả doanhnghiệp Các kết quả được tổng hợp cho thấy rằng hoạt động quản trị tốt không nhất thiết dẫnđến hiệu quả doanh nghiệp tốt hơn Mặt khác một số nghiên cứu về công ty ở vùng Đông

Á đã nhận thấy rằng các yếu tố quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc đánh giádoanh nghiệp (Mitton 2002, Lins 2003) Sự khác nhau của các phát hiện này có thể do việcquản trị doanh nghiệp không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả doanh nghiệp Giả thiết rằng,

có một biến trung gian: công bố thông tin và minh bạch doanh nghiệp, nói cách khácquản trị công ty tốt dẫn đến công bố thông tin và minh bạch tốt hơn mặc dù không có sự bảođảm nào việc công bố và minh bạch tốt hơn sẽ dẫn đến hiệu quả doanh nghiệp tốt hơn Bađặc điểm về quản trị doanh nghiệp là những yếu tố quyết định mức độ công bố thông tin vàminh bạch doanh nghiệp được thảo luận dưới đây:

1.5.2.1 Mức độ tập trung vốn chủ sở hữu

Gần đây, tác động của mức độ t ập t ru ng c ủa vốn chủ sở hữu đối với giá trị

Trang 13

doanh nghiệp thu hút được nhiều sư chú ý về kinh tế tài chính Giả thiết rằng việc sở hữutập trung cổ phiếu có thể dẫn đến quản trị năng động hơn và việc tập trung này s ẽ dẫnđến quản trị doanh nghiệp tốt hơn do việc quản trị năng động này làm giảm một cáchhiệu quả khả năng người quản lý làm mất tài sản của cổ đông Tuy nhiên, các nghiên cứugân đây về các thị trường ở vùng Đông Á kết luận rằng sự tập trung vốn chủ sở hữu có thểdẫn đến mâu thuẫn về quyền sở hữu giữa người chủ sở hữu bên trong và nhà đầu tư bênngoài doanh nghiệp vì tỷ lệ của cổ phiếu hiện hành được nắm giữ bởi năm cổ đông lớnnhất có thể liên quan mức độ công bố thông tin và tính minh bạch doanh nghiệp.

1.5.2.2 Cơ cấu Hội Đồng Quản Trị

Một yếu tố then chốt của quản trị doanh nghiệp là vai trò của HĐQT trong việcgiám sát giới quản lý Việc giám sát giới quản lý là cần thiết bởi vì những người quản lýthường hành động vì lợi ích riêng và không thể luôn hành động vì lợi ích của cổ đông Sựlười nhác, sự lên mặt quá đáng và những khoản đầu tư không mang lại lợi ích tối ưu lànhững ví dụ điển hình cho hành động lạm quyền của người quản lý HĐQT có thể làmgiảm bớt mâu thuẫn quyền đại diện bằng cách thực thi quyền hạn của mình để giám sát

và kiểm tra giới quản lý Những giám đốc không thuộc HĐQT được cho là người thựchiện chức năng giám sát thay mặt cổ đông nhằm bảo đảm rằng sự quản lý công ty đi đúngtheo đường lối và tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông, bởi vì chính bản thân cổ đông cảmthấy khó khăn trong việc giám sát do sự phân tán quá rộng quyền sở hữu cổ phần thường.Fama & Jensen (1983) lập luận rằng kể cả những giám đốc độc lập bên ngoài HĐQTlàm gia tăng khả năng đứng vững được của HĐQT và làm giảm đi khả năng chiếm đoạttài sản của cổ đông của những người quản lý hàng đầu Việc khái quát của lập luận về giámsát hiệu quả này là các giám đốc bên ngoài phục vụ hội đồng quản trị càng độc sự độclập hơn thì hiệu quả doanh nghiệp càng cao hơn

Rosenstein & Wyatt (1990) ghi nhận mặt tích cực đáng kể của lợi nhuận trên cổphiếu quanh việc thông báo chỉ định các giám đốc bên ngoài Bằng việc sử dụng mẫu cáccông ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Thái Lan trong giai đoạn

1990 - 2001, Limpaphayom và Sukchareonsin (2003) phát hiện mối liên hệ tích cực giữathành phần hội đồng quản trị và đánh giá thị trường của doanh nghiệp

Agrawal (1996) chỉ ra khả năng giám đốc bên ngoài được chỉ định là kết quả của lý

do chính trị hơn là lý do quản lý Cuối cùng, họ chứng minh bằng tài liệu mối quan hệtiêu cực giữa thành phần HĐQT và hiệu quả doanh nghiệp Hermalin (1991) quan sátthấy một tỷ lệ cao các giám đốc độc lập trong HĐQT không phải luôn luôn phỏngđoán hiệu quả kế toán trong tương lai tốt hơn Do vậy, quan điểm bảo thủ hoặc cố thủ dự

Trang 14

đoán có mối quan hệ tiêu cực giữa thành phần HĐQT và hiệu quả doanh nghiệp.

Trong nghiên cứu này, giả thiết cho rằng thành phần HĐQT có thể ảnh hưởngđến mức độ công bố thông tin và minh bạch doanh nghiệp Lý do là giám đốc độc lập muốncông bố thông tin nhiều hơn để đem lại lợi ích cho các người có quyền lợi khác của doanhnghiệp

1.5.2.3 Quy mô Hội Đồng Quản Trị

Đặc điểm quan trọng khác của HĐQT là quy mô của HĐQT Khi xem xét quy môHĐQT, có sự cân bằng giữa kinh nghiệm hoặc lợi ích quản lý được gia tăng giá trị và cácbất lợi phát sinh từ vấn đề phối hợp Jensen (1993) lập luận rằng quy mô HĐQT lớnhơn dẫn đến thảo luận ít chân thật hơn về các vấn đề quan trọng và đổi lại, dẫn đến quản lýkém Yermack (1996) phát hiện mối quan hệ tích cực giữa quy mô HĐQT và giá trị doanhnghiệp trong các doanh nghiệp lớn ở Mỹ Huther (1997) kiểm tra mẫu các tiện ích côngcộng ở Mỹ và phát hiện rằng quy mô HĐQT ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả doanhnghiệp Eisenberg & Wells (1998) phát hiện sự tương quan tiêu cực quan trọng giữaquy mô HĐQT và lợi nhuận trong mẫu các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Phần Lan vàThụy Điển

1.6 Tổng quan các nghiên cứu về minh bạch thông tin tài chính

Đến nay, đã có một số các nghiên cứu về về minh bạch thông tin của doanh nghiệptrong và ngoài nước với n h ữ n g đóng góp v ề mô hì nh quan trọng góp phần xem xéttính minh bạch và các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của doanh nghiệp.Trong nghiên cứu của Stephen Yan-Leung Cheung (Trường Đại học HongKong),J.Thomas Connelly (Khoa thương mại và kế toán – trường đại học Chulalongkorn - TháiLan), Piman Limpaphayom (Trường đại học Chulalongkorn-Thái Lan), Lynda Zhou(Trường Đại học HongKong) đã đưa ra mô hình nghiên cứu tại Thái Lan và HongKonggồm 9 biến để đo lường tính minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết, trong đó

có 5 biến về đặc điểm tài chính của một doanh nghiệp và 4 biến về quản trị công ty để kiểmđịnh nhân tố nào ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp tại hai nướcnày Kết quả nghiên cứu cho thấy các đặc điểm tài chính thể hiện qua các biến trong môhình chỉ có tác động mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp ở Hồng Kông và cácđặc điểm về quản trị như quy mô công ty và cấu trúc hội đồng quản trị đã thể hiện mức ảnhhưởng đối với các công ty Thái Lan hơn là các công ty ở Hồng Kông Bên cạnh đó, nghiêncứu cũng đã chỉ ra rằng quản trị doanh nghiệp tốt sẽ đem lại tính minh bạch và công bốthông tin doanh nghiệp tốt hơn trong thị trường kém phát triển

Một nghiên cứu khác “A multinational test of determinants of corporate disclosure”

Trang 15

(Tạp chí The International Journal of Accounting, 38 (2003) 173 – 194) của Jeffrey J.Archambault và Marie E Archambault nghiên cứu mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tínhminh bạch thông tin của công ty Bằng nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thiếtnghiên cứu trên với mẫu khảo sát là 1.000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia (trongquá trình chạy mô hình thì chỉ còn lại 33 quốc gia), Jeffrey J Archambault và Marie E.Archambault đã đưa ra được mô hình hồi quy về sự tương quan giữa mức độ công bố thôngtin của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống tài chính thông qua các yếutố: quyền sở hữu (ownership), tình trạng niêm yết trên thị trường chứng khoán (exchangelistings), chính sách cổ tức (Dividends), công ty kiểm toán (Auditor) và đòn bẩy tài chính/Nợ(leverage) ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp Ngoài ra, đối với quátrình hoạt động của doanh nghiệp, các công ty có thể ra các quyết định kinh doanh có thể ảnhhưởng đến nhu cầu thông tin của người sử dụng báo cáo tài chính, trong đó, quá trình hoạtđộng của công ty được nghiên cứu này xem xét gồm: quy mô công ty (Firm size), quy môngành nghề kinh doanh (Number of industries) và doanh thu xuất khẩu (Foreign sales) Cũng trong năm 2003, với đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minhbạch thông tin doanh nghiệp”, Bushman, Piotroski, và Smith căn cứ vào kết quả phân tíchnhân tố từ các biến đo lường môi trường thông tin ở phạm vi doanh nghiệp được thu thập từcác công ty tại một số quốc gia và chúng tôi được hai nhân tố: nhân tố tài chính và nhân tốquản trị Họ cũng đã đặt hai chúng tôi yếu tố này trong mối quan hệ với hệ thống luật pháp vàkinh tế chính trị để đưa ra kết luận về sự tác động qua lại của chúng Kết quả là các yếu tốquản trị liên quan đến hệ thống luật pháp trong khi các yếu tố tài chính liên quan đến kinh tếchính trị quốc gia.

Một số nghiên cứu trong nước gần đây cũng chỉ đề cập đến vai trò của thông tin tài chính, tiêu biểu ở cấp tiến sĩ có nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2009), cấp thạc sĩ có nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng (2008), Đoàn Thị Thảo Uyên (2008)… Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ về thực trạng công bố báo cáo tài chính của các công ty niêm yết, tiêu biểu có các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh (2008), Phạm Đức Tân (2008), Nguyễn Thị Hồng Thủy (2010)…

Tuy nhiên, luận văn thạc sĩ của Lê Trường Vinh với mục tiêu nghiên cứu là xác định nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết đã cho thấy yếu tố quy mô, yếu tố lợi nhuận đo lường theo đại lượng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, chỉ số nợ trên tổng tài sản, chỉ số tài sản cố định trên tổng tài sản không ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết Trong khi đó, yếu tố lợi nhuận

đo lường bằng chỉ số Q lại ảnh hưởng đến minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm

Trang 16

yết Và tác giả cũng đã đề xuất và gợi ý chính sách nhằm nâng cao minh bạch thông tin các doanh nghiệp niêm yết: (i) đưa thêm chỉ số Q vào báo cáo tài chính (quý, năm) đồng thời giải thích chỉ số này cho nhà đầu tư biết một cách rõ ràng; (ii) thực hiện khiêm khắc biện pháp chế tài và biện pháp thị trường; (iii) bổ sung bảng báo cáo vốn cổ phần của cổ đông vì nó cung cấp thông tin và nguyên nhân gây ra những biến động của các tài khoản trong vốn cổ phần.

1.7 Đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.7.1 Mô hình nghiên cứu

Dựa trên mô hình nghiên cứu của các tác giả tại Thái Lan và HongKong, trong đề tàinghiên cứu này, chúng tôi ứng dụng 5 biến về đặc điểm tài chính được thể hiện qua mô hìnhsau:

Mô hình 1.1: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng tính minh bạch BCTC của công ty niêm yết trên

sàn Hose

1.7.2 Giả thuyết nghiên cứu

Quy mô doanh nghiệp : Giả thiết cho rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn thì

minh bạch hơn công ty có quy mô nhỏ,có thể giải thích rằng doanh nghiệp có quy mô lớnthì có nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và thu hút nhiều sự chú ý hơn

từ các nhà phân tích Doanh nghiệp có quy mô lớn có nhiều nguồn thông tin công bố chonhà đầu tư tốt hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ

Đòn bẩy tài chính: Các công ty mà có đòn bẩy tài chính cao nên có mức độ minh

bạch cao hơn bởi vì các chủ nợ yêu cầu công ty công bố thông tin nhiều hơn

Tình hình tài chính Có thể tình hình tài chính trong quá khứ ảnh hưởng đến

Quy mô doanh nghiệp

Minh bạch thông tin

Tình hình tài chính

Đòn bẩy tài chính

Hiệu quả sử dụng tài sảnTài sản cầm

cố

Trang 17

mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp (Khanna & Srinivasan 2004).Ví dụ, các doanhnghiệp có lợi nhuận có thể muốn công bố thông tin của doanh nghiệp cho nhà đầu tưbên ngoài hơn là doanh nghiệp có ít lợi nhuân.

- Tài sản cầm cố: Các doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định cao, cần phải công bố

thông tin nhiều hơn để giúp cho người bên ngoài đưa ra được quyết định đầu tư Điềunày dẫn đến mối liên hệ thuận chiều giữa giá trị tài sản cầm cố và mức độ công bố thông tin

- Hiệu quả sử dụng tài sản: Có thể các công ty với mức độ hiệu quả sử dụng tài sản

cao thì có mức độ công bố thông tin về doanh nghiệp cao hơn so với doanh nghiệp mà

có mức độ hiệu quả sử dụng tài sản thấp Lý do rằng các doanh nghiệp với mức độ hiệu quả

sử dụng tài sản cao có thể thu hút nhiều nhà đầu tư và nhà phân tích hơn

Kết luận chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày các cơ sở lý thuyết làm tiền đề cho bài nghiêncứu với các khái niệm về thông tin tài chính về minh bạch thông tin tài chính trên cả góc độnghiên cứu và góc độ thực hành Chúng tôi cũng đã nêu được tầm quan trọng của minh bạchthông tin tài chính và lựa chọn phương pháp đo lường phù hợp với 5 chỉ tiêu: sự kịp thời, sựđầy đủ, sự chính xác, sự thuận tiện và sự nhất quán và trình bày các yếu tố ảnh hưởng đếnchất lượng thông tin tài chính Các nghiên cứu trước đây trên thế giới cho rằng có hai loại yếu

tố lớn của một doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và minh bạchdoanh nghiệp trong một thị trường Loại thứ nhất bao gồm các yếu tố thuộc về tài chính củamột doanh nghiệp như quy mô doanh nghiệp, đòn bẫy tài chính, tình hình tài chính, hiệu quả

sử dụng tài sản và tài sản cầm cố; còn loại thứ hai bao gồm các yếu tố thuộc về quản trị doanhnghiệp như mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, quy mô Hội Đồng Quản Trị, cơ cấu Hội ĐồngQuản Trị

Ngoài ra, chúng tôi cũng đã sơ lược được kết quả của các nghiên cứu tính minh bạchthông tin doanh nghiệp trong và ngoài nước Dựa trên mô hình nghiên cứu của các tác giả tạiThái Lan và Hồng Kông, trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi ứng dụng 5 biến về đặcđiểm tài chính như quy mô doanh nghiệp, đòn bẫy tài chính, tình hình tài chính, hiệu quả sửdụng tài sản và tài sản cầm cố trong mô hình nghiên cứu đề xuất

Tiếp theo, chương 2 sẽ trình bày khái quát về tình hình thực trạng công bố thôngtin của các công ty niêm yết trên sàn HOSE Và dựa trên mẫu 50 công ty lập bảng thống

kê đánh giá tình hình minh bạch thông tin dựa trên các tiêu chí đo lường thông tin

Trang 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN TÀI CHÍNH, MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

2.1 Tình hình công ty niêm yết đang hoạt động tại sở giao dịch chứng khoán TP HCM:

2.1.1 Theo thời gian lên sàn

Thị trường chứng khoán TP HCM ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên với 2 mã

cổ phiếu niêm yết đã chính thức được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoánTP.HCM, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam Sau 7năm hoạt động, đến thời điểm tháng 08/2007 đã có 111 doanh nghiệp niêm yết và 55 công tychứng khoán thành viên, 18 công ty quản lý quỹ, 61 tổ chức lưu ký Cấu trúc thị trường đã rõ

Trang 19

ràng và chuyên biệt hơn Qua khảo sát thông kê, nắm bắt được tình hình các công ty niêm yếttrên sở giao dịch chứng khoán TP HCM như sau:

Số năm lên sàn Số lượng công ty

công ty

4 SX và PP điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và ĐHKK 14

7 Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ

9 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 15

Trang 20

10 CC nước; HĐ Quản lý và xử lý rác thải, nước thải 2

15 Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 2

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp phân loại chúng tôi ngành.

2.2 Thực trạng thông tin tài chính, công bố thông tin tài chính và tính minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM

2.2.1 Tình hình lập, trình bày và công bố thông tinh trên BCTC

- Tình hình chung

o Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn 10 năm đi vào hoạt động đã có những bướcphát triển đáng kể Theo báo cáo của Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN), sốlượng các tổ chức trung gian trên TTCK đã tăng từ 7 công ty chứng khoán và 1 công tyquản lý quỹ lên 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ; từ 5 công ty năm

2000 đến nay đã có gần 600 công ty và tổ chức niêm yết, giá trị vốn hóa thị trường chiếm42% GDP Bên cạnh đó, các ngân hàng, công ty tài chính, công ty chứng khoán, công tyquản lý quỹ, các doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư tham gia thị trường cũng đã gópphần hình thành nên một hệ thống nhà đầu tư chuyên nghiệp

o Hiện nay, việc công bố thông tin của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam đượcthực hiện theo Luật Chứng khoán và Thông tư số 09/2010/TT-BTC, ngày 15 tháng 01năm 2010 của Bộ Tài chính và gần đây nhất là thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 5 tháng 4năm 2012 Xét về quy định lẫn thực tiễn, việc trình bày và công bố thông tin của các công

ty niêm yết hiện nay tồn tại một số bất cập làm ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến tínhminh bạch, công khai và sự phát triển bền vững của TTCK Việt Nam

o Năm 2011, hàng loạt công ty xin gia hạn thời gian công bố BCTC điển hình là công tychứng khoán Mê Kông xin dời đến 29/4 vì nguyên nhân công ty nâng cấp hệ thống, saisót số liệu kế toán Tiếp đến là công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 (HT1) gia hạn thờigian công bố BCTC năm 2010 đến 25/4/2011 với lý do tương tự Thậm chí có công tyniêm yết xin gia hạn thời gian công bố BCTC đã kiểm toán năm 2010 chậm đến 1 thángnhư Công ty cổ phần Dược phẩm Cửu Long (DCL) gia hạn thời gian công bố BCTC đến13/5/2011 với lý do “ phần mềm kế toán của công ty đang bị lỗi”…

- Bức xúc của cổ đông vì sự thiếu minh bạch thông tin của doanh nghiệp

Trang 21

 Cùng với sự phát triển của thị trường, ngày càng xuất hiện nhiều dạng vi phạm mới, tinh

vi hơn, phức tạp hơn Đặc biệt, vấn đề minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoánViệt Nam lâu nay vẫn chưa đạt mức kỳ vọng của nhà đầu tư Những năm trước đây, khithị trường tăng nóng, đạt được lợi nhuận dễ dàng nên hầu hết các nhà đầu tư không quantâm lắm đến tính minh bạch trong thông tin Nhưng giờ đây, khi thị trường có xu hướnggiảm, những tin đồn thiếu cơ sở khiến nhiều nhà đầu tư thua thiệt nặng nề Minh bạchkém cũng đồng nghĩa là thông tin chính thống lép vế trước các thông tin hành lang, tinđồn, tin nội gián Và hiện vẫn còn nhiều tác động của thông tin không chính thống đến thịtrường Thông tin gắn liền với lợi ích nên có những nhóm chủ động tạo ra và sử dụngthông tin có lợi cho mình Tình trạng “nhập nhoạng”, không minh bạch ở thị trườngchứng khoán Việt Nam đang phát sinh nhiều vấn đề rất phức tạp, nhưng vẫn chưa có cơchế giám sát, chế tài hữu hiệu từ phía các cơ quan quản lý thị trường Vì vậy, mong muốncủa toàn thị trường là Uỷ ban chứng khoán phải nổ lực đầu tư thời gian, công sức choviệc cải thiện mức độ minh bạch thông tin:

o Quy định về việc công ty đại chúng (CTĐC) phải công bố thông tin được Bộ Tàichính hướng dẫn thi hành tại Thông tư số 09/2010/TT-BTC và mới đây là Thông tư số52/2012/TT-BTC thay thế Thông tư 09 Các thông tin phải công bố bao gồm báo cáo tàichính được kiểm toán có kèm thuyết minh, báo cáo thường niên, báo cáo tình hình quảntrị công ty, số liệu sở hữu của cổ đông lớn và của hội đồng quản trị, biên bản và nghịquyết đại hội đồng cổ đông

o Không chỉ các CTĐC chưa niêm yết, ngay một số doanh nghiệp đã niêm yết cũngthường xuyên mắc lỗi chậm công bố thông tin, nhất là thông tin về báo cáo kết quả kinhdoanh, về việc thay đổi các thành viên trong ban lãnh đạo Các doanh nghiệp niêm yếtcũng thường xuyên chậm công bố những thông tin bất thường phải công bố trong vòng

24 tiếng

o Về phía các nhà đầu tư, nhiều ý kiến cho rằng, cơ quan quản lý cần sử dụng các biệnpháp mạnh tay hơn thì các CTĐC mới thay đổi được thói quen “giấu” thông tin Theo tìmhiểu của , tại một số CTĐC, nhiều cổ đông lớn đang tìm cách gom cổ phiếu để số cổ đôngchỉ đạt thấp hơn con số 100 người, sau đó, doanh nghiệp sẽ xin rút đăng ký CTĐC đểkhông phải công bố thông tin Trên sàn niêm yết, một số doanh nghiệp đang tính đến việchủy niêm yết cũng chỉ vì ngại công bố thông tin

o Tình trạng chậm công bố thông tin, thậm chí không công bố thông tin tại một sốCTĐC đã diễn ra trong một thời gian dài Đến nay, dù nhiều doanh nghiệp đã “đổi mới tưduy” về việc cần phải minh bạch thông tin, nhưng mức độ công bố thông tin vẫn còn rất

Trang 22

hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của cổ đông Bên cạnh việc chờ đợi những giải phápmạnh tay hơn từ phía cơ quan quản lý, nhà đầu tư mong muốn các doanh nghiệp cần có ýthức hơn cũng như chủ động hơn trong việc đưa thông tin doanh nghiệp ra công chúng.

(Theo tin nhanh chứng khoán)

- Sự minh bạch thông tin tài chính ở mức độ kém

o “Báo cáo tài chính của hầu hết doanh nghiệp không trích lập dự phòng giảm giá hàng

tồn kho” ( Nhận định của lãnh đạo ủy ban chứng khoán nhà nước ).

o Tình trạng kém minh bạch thông tin được nêu ra như sau

 Bà Hà Thị Ngọc Hà, Phó vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tàichính nhận xét: “Chỉ cần nhìn qua là chúng tôi đã nhận thấy sự vô lý trong cách lập BCTCcủa DN, thấy BCTC của DN chưa tuân thủ đúng quy định chuẩn mực kế toán” Bà Hà giảithích, trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, sức cầu suy giảm, hàng tồn kho trong DN tăng cao

và nợ phải thu khó đòi cũng theo đó tăng vọt, vì vậy, một BCTC trung thực, chính xác phảiphản ánh được những thực tế này Tuy nhiên, trên BCTC năm 2011 và BCTC bán niên,BCTC quý của hầu hết các DN công bố thời gian qua đã không thực hiện trích lập dự phònggiảm giá hàng tồn kho, nợ phải thu khó đòi.“Việc lập BCTC tại nhiều DN không chỉ là một

kỹ thuật, mà phải nói đã là một nghệ thuật”, bà Hà ví von Nhiều DN dựa vào chính sách kếtoán như “cái van” để điều chỉnh lợi nhuận, chẳng hạn thay đổi thời gian khấu hao tài sản cốđịnh từ 15 năm lên 25 năm để giảm con số chi phí khấu hao trong năm, làm tăng lợi nhuận

của DN (Theo kiemtoan.com.vn).

 Ông Bùi Hoàng Hải, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý phát hành, UBCK nói khônghiếm trường hợp DN niêm yết đã không cung cấp đủ BCTC của các công ty con, công ty liênkết cho phía công ty kiểm toán Do vậy, kiểm toán viên thiếu căn cứ để xác định tính chínhxác của số liệu trên BCTC hợp nhất Kết quả là báo cáo kiểm toán của DN sẽ tồn tại mộtkhoản ngoại trừ của kiểm toán viên về khoản đầu tư vào công ty liên kết.Việc cung cấp không

đủ BCTC của công ty liên kết có thể giúp DN “làm đẹp” được con số lợi nhuận tức thời.Nhưng với khoản ngoại trừ trên báo cáo kiểm toán, DN sẽ không đáp ứng điều kiện phát hànhthêm cổ phiếu để huy động vốn theo quy định của Luật Chứng khoán Và như vậy, DN niêm

yết là đối tượng chịu thiệt đầu tiên (Theo kiemtoan.com.vn).

 Tình trạng chậm CBTT, thậm chí không CBTT tại một số CTĐC đã diễn ratrong một thời gian dài Đến nay, dù nhiều doanh nghiệp đã “đổi mới tư duy” về việc cần phảiminh bạch thông tin, nhưng mức độ CBTT vẫn còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầucủa cổ đông Bên cạnh việc chờ đợi những giải pháp mạnh tay hơn từ phía cơ quan quản lý,

Trang 23

nhà đầu tư mong muốn các doanh nghiệp cần có ý thức hơn cũng như chủ động hơn trong

việc đưa thông tin doanh nghiệp ra công chúng (Theo tin nhanh chứng khoán).

Nghiên cứu của Phạm Đức Tân (2008) kết luận, hiện tượng che dấu thông tin, dàn xếp

số liệu, làm đẹp báo cáo tài chính vẫn là hiện tượng phổ biến trong các công ty niêm yết Bêncạnh đó hệ thống công nghệ thông tin còn yếu kém, cộng với các yếu tố chưa phát triển đồng

bộ của thị trường dẫn đến hiện tượng quá tải, gây ra sự chậm trễ kéo dài thời gian công bốthông tin

Nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng (2008) kết luận, đa số các nhà đầu tư đều rất quantâm đến thông tin kế toán và kỳ vọng vào sự minh bạch, trung thực của số liệu mặc dù hiện họcòn chưa tin tưởng vào số liệu được công bố

2.2.2 Khảo sát mức độ minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên sàn TPHCM

2.2.2.1 Đối tượng và phạm vi khảo sát

- Đối tượng khảo sát là các công ty niêm yết và hoạt động trên sàn chứng khoán TPHCM (Hose) Sau khi dựa trên dựa vào những tiêu chí đế ra, cũng như các công ty tài chính,công ty con, phỏng vấn một số chuyên gia và chọn mẫu ngẫu nhiên, chúng tôi đã chọn đượcmẫu 50 công và tiến hành thu thập dữ liệu để đánh giá mức độ minh bạch thông tin qua 5 tiêuchí gồm sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và nhất quán của các công ty này

- Phạm vi khảo sát là BCTC hợp nhất và BCTC quý 4 vào năm 2011 của 50 công ty đãchọn mẫu

2.2.2.2 Nội dung khảo sát

- Dựa trên thông tin được công bố trong các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báocáo quý 4 năm 2011, chúng tôi đã tiến hành thu thập và xử lý để nêu ra thực trạng của các tiêuchí đã lựa chọn và mối tương quan giữa các tiêu chí này đến sự minh bạch thông tin tài chínhcông bố của các công ty niêm yết tại sàn Hose

- Từ mẫu các công ty đã chọn trên sàn Hose, chúng tôi tiến hành các bước thu thập dữliệu chi tiết như sau:

o Sử dụng phương pháp quan sát trong quá trình phân tích do phương pháp này kháchquan, thuận tiện và tiết kiệm trong việc thu thập dữ liệu về ngày công bố báo cáo tài chính,hình thức công bố, của báo cáo thường niên, báo cáo quý 4 năm 2011 Quan sát được tiếnhành theo thời gian trong mục Thông tin công bố của các doanh nghiệp niêm yết trên trangweb Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh tại địa chỉ: http://hsx.vn Qua quá

Ngày đăng: 24/06/2015, 00:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các khoản mục sử dụng trong chỉ số của S&P - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 1.1 Các khoản mục sử dụng trong chỉ số của S&P (Trang 9)
Bảng 2.1:Tổng hợp thời gian niêm yết trên sàn HOSE các công ty niêm yết. - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 2.1 Tổng hợp thời gian niêm yết trên sàn HOSE các công ty niêm yết (Trang 19)
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp phân loại chúng tôi ngành. - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp phân loại chúng tôi ngành (Trang 20)
Bảng 2.3:  Thống kê loại ý kiến của kiểm toán viên - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 2.3 Thống kê loại ý kiến của kiểm toán viên (Trang 30)
Bảng 2.4: Bảng thông kê điểm của mẫu 50 công ty được chọn - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 2.4 Bảng thông kê điểm của mẫu 50 công ty được chọn (Trang 32)
Bảng 3.1: Quy trình nghiên cứu tính minh bạch BCTC của công ty niêm yết trên sàn Hose - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 3.1 Quy trình nghiên cứu tính minh bạch BCTC của công ty niêm yết trên sàn Hose (Trang 33)
Bảng 4.1 Giới thiệu đặc điểm mẫu nghiên cứu. - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 4.1 Giới thiệu đặc điểm mẫu nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến định tính - Nguồn: số liệu phân tích dữ liệu nghiên cứu chính thức bằng SPSS 13.0 - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
Bảng 4.1 Thống kê mô tả biến định tính - Nguồn: số liệu phân tích dữ liệu nghiên cứu chính thức bằng SPSS 13.0 (Trang 39)
Bảng Phân tích nhân tố khám phá từ 12 biến gốc Factor loadings - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
ng Phân tích nhân tố khám phá từ 12 biến gốc Factor loadings (Trang 40)
Bảng  Kết quả tính Cronbach alpha lần 2 - Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp  HCM (HOSE)
ng Kết quả tính Cronbach alpha lần 2 (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w