1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng thí nghiệm trong dạy học một số bài thuộc chương trình Sinh học 10 và 11

28 623 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 882,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh đượclàm các tiêu bản hiển vi, tiến hành quan sát dưới kính lúp, biết sử dụng kính hiển vi, thu thập xử lý mẫu, biết bố trí thực hiện một số thí nghiệm đơn giản để tìm hiểu nguyê

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Giáo dục - đào tạo luôn được xem

là nhân tố quan trọng, quyết định cho sự phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững Thế kỉXXI được xem là thế kỉ của công nghệ thông tin và truyền thông , sự phát triển như vũ bãocủa cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm cho khối lượng tri thức của nhân loại tănglên một cách nhanh chóng Để không bị tụt hậu trong chặng đường thế kỉ này, giáo dục cầnphải có sự đổi mới để đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo đáp ứng được yêu cầucủa thời đại

Kết hợp tốt học đi đôi với hành, học tập gắn liền với lao động sản xuất, thực nghiệm vànghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp dạy học hiệnđại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo Điều này cho thấy để nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện thì giáo dục đào tạo phải đổi mới về nội dung, phương pháp, phương tiện

và thiết bị dạy học

Xuất phát từ mục tiêu của chương trình Sinh học trung học phổ thông với mục tiêu về

kỹ năng thực hành là: “ Rèn luyện và phân tích kỹ năng quan sát , thí nghiệm Học sinh đượclàm các tiêu bản hiển vi, tiến hành quan sát dưới kính lúp, biết sử dụng kính hiển vi, thu thập

xử lý mẫu, biết bố trí thực hiện một số thí nghiệm đơn giản để tìm hiểu nguyên nhân của một

số hiện tượng, quá trình sinh học Muốn thực hiện mục tiêu này, việc áp dụng các thí nghiệmvào trong các khâu dạy học là rất cần thiết

Trong dạy học sinh học, giáo viên sử dụng các thí nghiệm khi nghiên cứu nội dung bàimới, kiểm tra đánh giá và thực hành vận dụng Việc áp dụng thí nghiệm vào trong dạy họcgiúp học sinh tự mình khám phá ra những điều mới mẻ từ những tác độngc ó chủ đích lên đốitượng thí nghiệm Qua đó kích thích hứng thú học tập, say mê nghiên cứu và củng cố niềm tinvào khoa học Đồng thời các em cũng thấy được vai trò của con người trong cải tạo và chinhphục tự nhiên Do đó các thí nghiệm không chỉ giúp học sinh nâng cao kỹ năng, kỹ xảo màkết quả thí nghiệm còn củng cố niềm tin khoa học ở các em

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học một số bài thuộc chương trình Sinh học 10 và 11”.

Trang 2

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Thí nghiệm là gì?

Thí nghiệm được xem như là một trong những phương tiện trực quan quan trọng hàngđầu trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng Thí nghiệm giúp học sinh trựctiếp quan sát các hiện tượng, quá trình, tính chất của các đối tượng nghiên cứu

Theo từ điển Wikipedia thì Thí nghiệm, hay thực nghiệm, là một bước trong phươngpháp khoa học dùng để phân minh giữa mô hình khoa học hay giả thuyết Thí nghiệm cũngđược sử dụng để kiểm tra tính chính xác của một lý thuyết hoặc một giả thuyết mới để ủng hộchúng hay bác bỏ chúng Thí nghiệm hoặc kiểm nghiệm có thể được thực hiện bằng phươngpháp khoa học để trả lời một câu hỏi hoặc khảo sát vấn đề

Theo Klaus ( từ điển triết học Leipig 1976) thí nghiệm là cách thức là phương pháp màbằng cách nào đó con người tác động có ý thức, hệ thống lên các sự vật hiện tượng xảy ratrong một điều kiện nhất định

Theo lý thuyết thông tin, thí nghiệm là một hệ thống thông tin Nó bao gồm một thiết

bị thí nghiệm tác đông qua lại chặt chẽ với bộ phận thứ hai cảu hệ là hiện thwucj khách quan,tức đối tượng thí nghiệm (chẳng hạn một quá trình sinh học)

Như vậy thí nghiệm được hiểu là gây ra một hiện tượng, một biến đổi nào đó trongđiều kiện nhất định để tìm hieur, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh

Trong sinh học, thí nghiệm có thể được tiến hành trong lớp, trong phòng thí nghiệm,vườn trường, ngoài ruộng và ở nhà Thí nghiệm có thể do giáo viên biểu diễn hoặc do họcsinh thực hiện Hiện nay, trong thực tế dạy học thì thí nghiệm thường mới được sử dụng trongcác buổi thực hành trên lớp hoặc để giải thích minh họa cho những kiến thức lý thuyết Songgiáo viên có thể căn cứ vào nội dung kiến thức cũng như điều kiện thực tế giảng dạy mà sử

Trang 3

Thí nghiệm vừa là phương tiện vừa là nguồn cung cấp tri thức mới có vai trò đặc biệtđối với sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh Thí nghiệm có thể sử dụng ở những khâukhác nhau của quá trình dạy học Chẳng hạn, sử dụng thí nghiệm trong khâu đặt vấn đề, hìnhthành kiến thức mới, củng cố ôn tập Trên thực tế có nhiều cách phân loại thí nghiệm khácnhau tùy thuộc vào dấu hiệu này hay dấu hiệu khác để phân loại

1.2.1 Phân loại trong nghiên cứu khoa học

Trong nghiên cứu khoa học, nhằm đánh giá đối tượng bằng các tác động vào hiệntượng tự nhiên hay tạo ra các hiện tượng trong những điều kiện khác nhau để có thể quan sátchính xác hoen hay có thể kiểm chứng một giả thuyết Thsi nghiệm cso thể chia thành cácdạng sau:

- Thí nghiệm trực tiếp: Là thí nghiệm ngay trên đối tượng được khảo sát hay các đốitượng cùng loại hoặc tiến hành cùng một thí nghiệm nhưng trong các điều kiện khác nhau

- Thí nghiệm gián tiếp: khi một giả thuyết không thể kiểm chứng trực tiếp thì sẽ đượckiểm chứng gián tiếp bằng cách dùng phép diễn dịch, suy từ giả thiết ra những kết quả rồikiểm chứng những kết quả đó Vì vậy phương pháp này còn có tên là phương pháp diễn dịchhay phương pháp suy luận thực nghiệm

- Thí nghiệm chứng minh: là những thí nghiệm bố trí để làm sáng tỏ một giả thuyếtphải kiểm chứng, buộc phải kiểm soát được các hợp phần và sản phẩm của thí nghiệm cũngnhư các điều kiện chi phối thí nghiệm cả về định tính và địn lượng làm sáng tỏ giả thuyết đặtra

- thí nghiệm đối chứng: là thí nghiệm bố trí song song với thí nghiệm chứng minh chỉkhác ở một hợp phần tham gia hay một điều kiện chi phối thí nghiệm để so sánh rút ra saikhác tin cậy được và có thể lặp lại để đạt kết quả tương tự Vì thí nghiệm sinh học có tínhchất phức tạp nên phải theo phương pháp phân tích tách từng phần chỉ tiêu cấn so sánh thànhtừng cặp thí nghiệm chứng minh và thí nghiệm đối chứng song song rồi tổng hợp chúng lại đểchứng minh giả thuyết

- Thí nghiệm lặp lại: mỗi thí nghiệm phải bố trí lặp lại nhiều lần để độ tin cậy cao theoxác xuất thống kê

1.2.2 Phân loại theo mục đích sử dụng

Trang 4

Thí nghiệm mở bài: là những thí nghiệm được tiến hành vào đầu bài học hay đầu mộtvấn đề nhằm định hướng vấn đề nghiên cứu Sử dụng để tạo tình huống có vấn đề, tạo sựhứng thú, tạo động cơ học tập cho học sinh.

Thí nghiệm trong khâu dạy bài mới: bao gồm thí nghiệm nghiên cứu và thí nghiệmminh họa

- Thí nghiệm nghiên cứu: là những thí nghiệm nhằm đi tới phát hiện và tìm ra nhữngthuộc tính của sự vật hiện tượng Con đường nhận thức trong trường hợp này là con đườngquy nạp, thường là không đầy đủ Tuy nhiên, học sinh lại được bắt gặp những vấn đề mới lạ,những điều bất ngờ lý trú trong thí nghiệm, mà chính nó gây ra và duy trì hứng thú cho họcsinh tiếp tục đi tìm kiến thức mới

- Thí nghiệm minh họa: là thí nghiệm nhằm xác định kết quả đã có bằng những thínghiệm và những phép tư duy logic Vì vậy con đường nhận thức trong trường hợp này là conđường suy luận diễn dịch Chính những thí nghiệm này đã củng cố niềm tin khoa học cho họcsinh

Thí nghiệm củng cố: là thí nghiệm được sử dụng vào cuối mỗi phần bài học hoặc cuốigiờ học nhằm củng cố khắc sâu các kiến thức, kỹ năng đã được học, tập dượt trước đó

Thí nghiệm về nhà: là những thí nghiệm yêu cầu học sinh làm ở nhà thường dưới dạngmột bài tập vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã có hoặc để giải thích các hiện tượng thực

tế, nhờ đó có thể đào sâu mở rộng kiến thức, kỹ năng của học sinh, cũng có thể tìm hiểu trướcmột thí nghiệm liên quan đến những bài học sau

Thí nghiệm thực hành: là những thí nghiệm được tiến hành tại lớp, sau một bài học,cuối mỗi chương hay một vài chương Các thí nghiệm này thường được tiến hành theo nhóm.Trong đó các nhóm có thể cùng tiến hành một thí nghiệm hay mỗi nhóm tiến hành một thínghiệm khác nhau và sau đó hoán đổi vị trí các nhóm theo thời gian thực hành

1.2.3 Phân loại thí nghiệm theo người tiến hành

Trang 5

Khi tiến hành thí nghiệm giáo viên cần chsu ý sử dụng các thiết bị có kích thước lớn để họcsinh dễ dàng quan sát.

Trong thực tế, không phải lúc nào các thí nghiệm cũng có thể tiến hành trên mẫu vậtthật để học sinh quan sát trực tiếp bằng các giác quan, mà một số thí nghiệm rất khó hoặckhông thể thực hiện được với các đối tượng sống Với các thí nghiệm có tính chất như trên,muốn để học sinh hiểu biết sâu sắc hơn về quá trình hay hiện tượng sinh học diễn ra bên trongđối tượng sống người ta có thể sử dụng các thí nghiệm sau:

 Thí nghiệm ảo: Là tập hợp các tài nguyên số đa phương tiện dưới hình thức đối tượnghọc tập, nhằm mô phỏng các hiện tượng vật lý, sinh học,… xảy ra trong tự nhiên hay trongphòng thí nghiệm, có đặc điểm là có tính năng tương tác cao, giao diện thân thiện với conngười và có thể mô phỏng những quá trình, điều kiện tới hạn khó xảy ra trong tự nhiên haykhó thu được trong phòng thí nghiệm Thí nghiệm ảo giúp giảm thiểu việc học chay, dạychay thường gặp do thiếu phương tiện, điều kiện thí nghiệm giúp người học chủ động họctập phù hợp với tinh thần nguwoif học là trung tâm của giáo dục hiện đại

 Thí nghiệm mô phỏng:

Trong sinh học, để giúp cho người học hiểu rõ bản chất của một vấn đề khoa học mà ngườihọc không thể tư duy trực tiếp bằng các giác quan thì chúng ta có thể sử dụng thí nghiệm môphỏng

Theo Lawrence Leemis, thí nghiệm mô phỏng được sử dụng bắt chước theo một hệ thốngđiển hình nào đó Mặc dù không nhất thiết phải được thwucj hiện trên máy tính Thí nghiệm

mô phỏng khác với mô hình mẫu, trong đó người điều khiển được vận hành tại một môitrường thực tế Đối vói thí nghiệm mô phỏng, các mô hình được góp nhặt từ những thông tin

mà hệ thống quan tâm và sau đó phát triển thành các phương trinh và các thuật toán để môphỏng theo hệ thống

Theo định nghĩa này thì bản chất của thí nghiệm mô phỏng không phải là một thí nghiệmthật hoặc thay đổi hệ thống thực Thay vào đó làm việc với một mô hình toán học của hệthống thực tế

- Thí nghiệm của học sinh: Thí nghiệm do học sinh tiến hành với các biến dạng sau+ Thí nghiệm biểu diễn bài học mới

Trang 6

+ Thí nghiệm luyện tập trong quá trình vận dụng kiến thức lĩnh hội

+ Thực hành trong phòng thí nghiệm thường tổ chức sau một loạt bài và vào cuối kỳ mangtính chất tổng hợp

+Thí nghiệm tại nhà, một hình thức thực nghiệm đơn giản nhưng dài ngày giao cho học sinh

tự làm tại nhà

1.3 Vai trò của thí nghiệm

Mục đích giáo dục ở nhà trường không chỉ đào tạo ra những con người nắm vững cáckiến thức khoa học , mà còn cần giỏi thực hành, có bàn tay khéo léo để thực hiện những điều

bộ óc suy nghĩ Nếu không có những điều đó thì những hiểu biết của con người chỉ dừng lại ởmức độ nhận biết lí thuyết, chưa tác động vào thực tiễn để tái tạo thế giới và cải tạo nó Nhậnthức lý luận và vận dụng lý luận vào thực tiễn là 2 mặt của một quá trình nhận thức nhưnggiữa chúng có khoảng cách rất xa mà chúng ta không thể vượt qua nếu không thông qua hoạtđộng thực hành, thí nghiệm

Trong quá trình thí nghiệm, thực hành, các kiến thức lý thuyết mà học sinh tiếp thuđược trên lớp thường ở dạng hỗ trợ làm cho chúng trở nên sinh động , làm lộ rõ bản chất vàkhả năng của chúng Nhờ vậy học sinh sẽ thấy rõ vị tri, vai trò của từng kiến thức trong hoạtđộng thực tiễn

Như vậy, thí nghiệm đóng vai trò hết sức quan trognj trong quá trình dạy học nóichung và dạy học sinh học nói riêng, bởi sinh học là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức lýthuyết luân gắn liền với giải quyết vấn đề của thực tiễn đời sống xã hội Do đó việc nâng caohiệu quả của thí nghiệm trong dạy học sinh học là hết sức cần thiết

Từ đó ta có thể thấy được vai trò của thí nghiệm như sau:

- Thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện tượng khách quan, là cơ sở, điểm xuất phát chonhận thức của học sinh Từ đây xuất phát quá trình nhận thức cảm tính của trò, để rồi từ đódiễn ra sự trừu tượng hóa và tiến lên sự trừu tượng cụ thể trong tư duy

Trang 7

quan cảm giác, đồng thời học sinh phải động não suy nghĩ giúp phát triển tư duy sáng tạo ởhọc sinh Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng là con đường nhận thức cơ bản màhọc sinh cần hướng tới.

- Thí nghiệm do giáo viên trình bày sẽ là mẫu mực về thao tác cho học trò học tập mà bắtchước, để rồi sau đó khi làm thí nghiệm học sinh sẽ học được cách thức làm thí nghiệm

- Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn Vì vậy nó là phương tiện duy nhất giúphọc sinh hình thành kĩ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy kỹ thuật

Qua hoạt động thực hành, thí nghiệm, học sinh hiện thực hóa được những kiến thức lýthuyết đã học , làm cho những kiến thức đó trở nên thiết thực và gần gũi với thực tiễn Được

tự mình tiến hành các thí nghiệm, suy nghĩ tìm tòi bản chất của các sự vật hiện tượng giúpcho học sinh có những hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về các vấn đề sinh học, thực tiễn Donhững yêu cầu chặt chẽ của thí nghiệm đã giúp học sinh hình thành nên những phẩm chất tốtđẹp của người lao động, hình thành và phát triển các kỹ năng, kỹ xão và tư duy lao động kỹthuật

- Thí nghiệm giúp học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất cua r cac sự vật hiện tượng, các quá trình

Do các hiện tượng sinh học thường xảy ra đồng thời trong mối quan hệ phức tạp, nên để pháthiện các mối quan hệ nhân quả, tìm hiểu quy luật của hiện tượng nguwoif ta phải tổ chức cácthí nghiệm trong đó chủ thể nhận thức chủ động đề xuất gải thuyết và trên cơ sở đó tách rahiện tượng để nghiên cứu cho đơn giản hơn, sau đó đặt nó vào hệ thống vốn có của sự vật đểcuối cùng nhận thức đầy đủ

- Thí nghiệm có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức cảu học sinh với các mức

độ tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau

Thí nghiệm có thể sử dụng được trong cả 5 phương pháp dạy học: các phương pháp dạy họcdùng trong nghiên cứu tài liệu mới; các phương pháp dạy học dùng trong củng cố kiến thức ;các phương pháp dạy học dùng khi vận dụng phức hợp kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo; cácphương pháp dạy học dùng trong nkhái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức; các phương phápdạy học dùng trong kiểm tra – đánh giá Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên có thể sử dụngtrong 3 khâu của quá trình dạy học:

+ Trong khâu nghiên cứu tài liệu mới

Trang 8

+ Trong khâu củng cố hoàn thiện kiến thức.

+ Trong kiểm tra – đánh gái kiến thức

- Ngoài ra, thí nghiệm còn giúp học sinh them yêu môn học, có đức tính của người laođộng :cần cù, kiên trì, có ý thức kỷ luật,…

1.4 Yêu cầu của thí nghiệm

Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên cần chú ý đến một số nguyên tắc sau:

- Đảm bảo tính an toàn cho cả giáo viên và học sinh

- Đảm bảo tính khoa học của thí nghiệm: sự chuẩn bị chu đáo, thí nghiệm nên lặp lạinhiều lần để chọn ra điều kiện tốt nhất, giải thcish được diễn biên và kết quả thínghiệm

- Bố trí thí nghiệm ở vị trí sao cho cả lớp đều có thể quan sát được Đặc biệt là kết quảthí nghiệm

- Thí nghiệm đơn giản, vừa sức học sinh

- Thời gian cho mỗi thí nghiệm được tính toán cẩn thận và khoogn kéo dài nhằm đảmbảo thời gian chung cho cả tiết học

- Nếu làm thí nghiệm để minh họa thì nội dung của thí nghiệm phải phù hợp với chủ đềbài học

Trang 9

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI THUỘC CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 VÀ 11

2.1 Hệ thống thí nghiệm sử dụng trong dạy học một số bài thuộc chương trình Sinh học

- Lá khoai lang đã được bịt kín trong 3 ngày

- Rượu hoặc cồn pha loãng

- Cắt một mảnh lá cho vào nước đang đun sôi

- Tiếp tục đun mảnh lá trong cốc rượu đến khi lá mất màu xanh

- Đổ hết rượu rồi rửa lá bằng nước sạch

- Lấy lá ra cho vào chén sứ hoặc đĩa petri sau đó nhỏ dung dịch Iôt vào

- Quan sát hiện tượng

Hướng dẫn học sinh quan sát

Quan sát sự đổi màu của lá cây sau khi nhỏ dung dịch Iôt

Kết quả/ Yêu cầu cần đạt được

Lá bắt màu xanh tím hoặc xanh đen

2.1.2 Thí nghiệm 2: Thí nghiệm phát hiện diệp lục và carotenôit

Trang 10

 Cân khoảng 0,2g các mẫu lá (đã loại bỏ cuống và gân chính)

 Dùng kéo cắt ngang lá thành từng lát cắt thật mỏng để có nhiều tế bào bị hư hại Cho vào cối nghiền nát

 Bỏ vào các cốc đốt 100ml đã ghi nhãn (đối chứng hoặc thí nghiệm), với khối lượng tương đương nhau

 Đong 20ml cồn 90 rót vào các cốc thí nghiệm lấy 20ml nước sạch rót vào cốc đối chứng

 Để các cốc chứa mẫu trong thời gain 20 – 25 phút

 Chiết lấy dung dịc vào ống nghiệm Quan sát

- Chiết rút Carotenoit

 Tiến hành thao tác chiết rút từ lá vàng tương tựu như chiết rút diệp lục

 Sau thời gian chiết rút từ 20 -25 phút, cẩn thận nghiêng các cốc đốt, rót dung dịch có màu vào các ống nghiệm sạch và trong suốt sao cho không có các mẫu xác thí nghiệm lọt vào

 Quan sát màu sắc trong các ống nghiệm tương ứng từ các cốc đối chứng và thí nghiệm

Hướng dẫn học sinh quan sát

Quan sát sự tách lớp của sắc tố diệp lục và carotenoit với dung môi

Kết quả/ Yêu cầu cần đạt được

Tách riêng được diệp lục và carotenoit khỏi hỗn hợp và có thể quan sát bằng mắt thường

Trang 11

2.1.3 Thí nghiệm 3: Quan sát các kì nguyên phân qua tiêu bản tạm thời

a) Lược sử phát hiện tế bào

Hầu hết các tế bào đều có kích thước rất nhỏ nên mắt trần không thể quan sát được, do

đó lược sử phát hiện tế bào gần như là lịch sử phát minh ra kính hiển vi Galileo (1564 1642) chế tạo ra viễn vọng kính để quan sát bầu trời, tình cờ khám phá ra những vật rất nhỏkhi quan sát bằng cách lật ngược đầu kính lại

Antoni Van Leeuwenhoek (1632 - 1723) người Hà Lan, do yêu cầu kiểm tra tơ lụa,ông mài các thấu kính để quan sát chất lượng của vải, nhờ đó quan sát được những vật li tiquanh môi trường sống và khám phá ra sự hiện diện của thế giới vi sinh vật

Robert Hooke (1635 - 1703) người Anh, lần đầu tiên mô tả các lỗ nhỏ có vách bao bọccủa miếng bấc (nút bần) cắt ngang dưới kính hiển vi năm 1665 và Hooke dùng thuật ngữ tếbào (cellula có nghĩa là phòng, buồng nhỏ, vì ý nghĩa lịch sử từ này vẫn còn được dùng chođến ngày nay) để chỉ các lỗ đó

b) Quan sát các kì nguyên phân qua tiêu bản tạm thời

Mục đích

- Biết cách làm tiêu bản tạm thời và quan sát dưới kính hiển vi

- Quan sát và nhận biết được các kỳ của quá trình nguyên phân trên tiêu bản tạm thời

Chuẩn bị

- Hành củ

- Kính hiển vi quang học

Trang 12

- Đặt lên phiến kính một giọt axit acetic, dùng kim mũi mác lấy rễ hành đặt lên phiến kính, dùng dao cạo cắt phần mô phân sinh ở đầu mút rễ chừng 1,5 – 2mm và bổ đôi Loại bỏ phần còn lại.

- Đậy lamen lại, dùng giấy thấm hút axit axetic còn thừa Dùng đầu cán gỗ của kim mũi mác chà lên lamen theo 1 chiều để các tế bào của mô phân sinh rễ hành dàn thành một lớp

- Đưa tiêu bản tạm thời lên kính và tiến hành quan sát

Hướng dẫn học sinh quan sát

- Mức độ co xoắn của nhiễm sắc thể

- Phân bố NST ( tản mát trong tế bào hay dàn thành 1 hàng hoặc phân thành 2 nhóm)

- Quan sát xem có hay không có hình ảnh phân chia tế bào chất

Kết quả/ Yêu cầu cần đạt được

Học sinh quan sát được và vẽ lại được hình dạng các kỳ của quá trình nguyên phân

Trang 13

2.1.4 Thí nghiệm 4: Thí nghiệm sự thẩm thấu của tế bào

Mục đích

- Quan sát được hiện tượng thẩm thấu của tế bào

- Chứng minh được màng tế bào sống có tính thấm chọn lọc còn màng tế bào chết mất tính thấm chọn lọc

- Rót nước cất vào các đãi petri Rót dung dịch đường đậm đặc vào các cốc B và C rồi đánh dấu mức dung dịch ban đầu bằng các dùng ghim gắn vào thành mỗi cốc khoai Cốc A vẫn để rỗng, không chứa dịch

- Quan sát hiện tượng xảy ra tại các cốc sau 10 phut, 20 phut, 30 phút Giải thích hiện tượng

Hướng dẫn học sinh quan sát

Quan sát sự thay đổi mực nước ở bên trong các cốc theo thời gian

Trang 14

Kết quả/ Yêu cầu cần đạt được

Sau một thời gian, hiện tượng tại các cốc như sau

- Cốc A: Nước không vào

- Cốc B : Nước tích lũy ở đáy cốc

- Cốc C: Nước không vào

2.1.5 Thí nghiệm 5: Thí nghiệm co và phản co nguyên sinh

Ngày đăng: 23/06/2015, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w