Mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh” Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử, xã hội và xuất phát điểm về kinh tế khác nhau nênkhông có mô hình chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nào chun
Trang 1Tiểu luận môn Kinh tế phát triển
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH”
CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Nguyễn Thúy Hạnh 0951010066 Giáo viên hướng
dẫn
Nguyễn Thị Hải Yến
Nguyễn Văn Hiếu (Nhóm trưởng) 0951010075
Nguyễn Thị Thùy Linh 0951010138
Trang 2MỤC LỤC
CH ƯƠNG I NG I
C S LÝ LU N VÀ T NG H P NH NG NGHIÊN C U V MÔ HÌNH “TĂNG TR ƠNG I Ở ĐẦU ẬN VÀ TỔNG HỢP NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG ỔNG HỢP NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG ỢP NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG ỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG ỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG Ề MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG ƯỞ ĐẦU NG
CH ƯƠNG I NG II
TH C T V N D NG MÔ HÌNH “TĂNG TR ỰC TẾ VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG Ế VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG ẬN VÀ TỔNG HỢP NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG ỤC BẢNG BIỂU ƯỞ ĐẦU NG NHANH” C A NH NG CON R NG ỦA NHỮNG CON RỒNG ỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG Ồ
Trang 33 Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hồng Kông 26
2.1 Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh
2.3 Tạo bước phát triển vượt bậc trong khu vực dịch vụ theo hướng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng
36
2.5 Đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu ngành
K T LU N Ế VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG ẬN VÀ TỔNG HỢP NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG 43
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Distribution of FDI by Industry (Stock as at Year – End)
Bảng 2: Tăng trưởng GDP của Hồng Kông những năm gần đây
Bảng 3: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế (%)
Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân qua các thời kì
Bảng 5:Các chỉ số về quy định pháp lý của Singapore trong sự so sánh với Việt Nam
Bảng 6: Đánh giá tính hiệu quả của các chỉ tiêu về khung pháp lý FDI của Việt Nam vàSingapore năm 2004
Bảng 7 : So sánh thuế quan giữa Việt Nam và Singapore
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc giai đoạn 1977 - 1999
Biểu đồ 2: Giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc giai đoạn 2000 – 2010
Biểu đồ 3: GDP Hồng Kông phân bổ theo ngành
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế thế giới có những chuyển biến mạnhmẽ.Một số cường quốc kinh tế mới xuất hiện, làm biến đổi diện mạo của bản đồ kinh tế thếgiới Những nghiên cứu về sự phát triển sau chiến tranh thế giới thứ hai đều đi tới kết luận: đãxuất hiện một sự thành công đặc biệt của những "con rồng châu á" là Hồng Kông, Hàn Quốc,Singapo và Đài Loan Đương nhiên đây không phải là những nước duy nhất thành công trongphát triển Nhưng những con rồng ở tốp dẫn đầu, đồng thời mặc dù có nhiều những khác biệt,song chúng là những nền kinh tế cùng chung khu vực và có những nét tương đồng Sự thànhcông của những nền kinh tế này đã làm nên cái mà cả thế giới ngưỡng mộ gọi tên là “Sự thần
kỳ Đông Á”
Trong bối cảnh giao thời của sự phát triển, sự tăng trưởng thần kỳ của những "con rồngchâu Á" trước hết và cơ bản chính là việc tìm ra mô hình hay con đường phát triển hợp quyluật Các phép thuật mà các nhà phù thuỷ Đông á phù phép để trong một khoảng khắc lịch sử
đã biến một nền kinh tế tiểu nông, một đống đổ nát hoang tàn và sau ba thập kỷ thành một nềnkinh tế phát triển hiện đại, là xuất phát từ chỗ, các nền kinh tế này đã bắt đúng mạch của tiếntrình phát triển hiện đại và sớm hội nhập sâu trong tiến trình phát triển hiện đại của nền kinh tếtoàn cầu Bởi vậy, có thể nói việc nghiên cứu bài học phát triển của các “con rồng châu Á” cómột ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra một con đường phát triển đúng đắn cho các nước thếgiới thứ ba Trong khuôn khổ của bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ mới đề cập tới được nhữngyếu tố cơ bản nhất trong quá trình tăng trưởng kinh tế thần kỳ của những “con rồng châu Á”.Tất nhiên với sự phức tạp của vấn đề nghiên cứu, cùng với sự thiếu kinh nghiệm trong việcphân tích những vấn đề kinh tế như trên, bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sótthường thấy Tuy vậy chúng tôi vẫn mong sẽ đem tới cho người đọc một số kiến giải căn bảnhợp lý như là kết quả của một quá trình làm việc tập trung và nghiêm túc Những người thựchiện xin gửi lời cảm ơn chân thành vì những bài giảng và sự hướng dẫn nhiêt tình của cô giáoNguyễn Thị Hải Yến
Trang 6hương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG HỢP NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ
MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH”
I Cơ sở lý luận: Mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh”
1 Khái niệm chiến lược
Chiến lược thường được hiểu là đường hướng và cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra mangtính toàn cụ, tổng thể và trong thời gian dài
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội được hiểu là một bản luận cứ có cơ sở khoa học xácđịnh mục tiêu và đường hướng phát triển cơ bản của đất nước trong khoảng thời gian 10 nămhoặc dài hơn, là căn cứ để hoạch định chính sách và kế hoạch phát triển Chiến lược xác địnhtầm nhìn của một quá trình phát triển mong muốn, thể hiện sự nhất quán về con đường và cácgiải pháp cơ bản để thực hiện
2 Mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh”
Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử, xã hội và xuất phát điểm về kinh tế khác nhau nênkhông có mô hình chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nào chung áp dụng cho mọi quốc gia.Tổng kết kinh nghiệm của nhiều nước trong quá trình công nghiệp hoá, tổ chức phát triển côngnghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh”
Một chiến lược dựa trên cơ sở tốc độ tăng trưởng nhanh sẽ tập trung vào việc phân bổ cácnguồn đầu tư và nhân lực vào các ngành mà đặc biệt là các ngành công nghiệp, các hoạt độngkinh tế và các dự án có mức hoàn vốn cao nhất Muốn đạt được điều này cần phải hướng mạnhvào xuất khẩu là chủ yếu.Chiến lược này đòi hỏi:
Thu hút được nhiều đầu tư trực tiếp và công nghệ nước ngoài, đặc biệt với các nước đangphát triển
Thực hiện chiến lược ngoại thương “Sản xuất hướng về xuất khẩu”
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Nhanh chóng tạo ra kết cấu hạ tầng hiện đại (bao gồm cả kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu
hạ tầng xã hội) để hỗ trợ
Trang 7 Hiệu quả cao – yêu cầu này đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng về chi phí và lợi ích thương mạicho các ngành, các lĩnh vực; áp dụng các phương pháp quản lý mới nhất; nhanh chóng nângcấp, thay đổi thiết bị một cách cơ bản; hoàn toàn hội nhập, cạnh tranh trong nước với nướcngoài.
Phải tạo ra một thị trường trong và ngoài nước một cách chủ động
Phải nhập khẩu khá nhiều các linh kiện, thiết bị và các sản phẩm trung gian (nhằm mục tiêuxuất khẩu)
Phải nhận được bí quyết công nghệ của nước ngoài
Như vậy mô hình tăng trưởng nhanh cần rất nhiều yếu tố đòi hỏi Do hạn chế về quy mô,bài tiểu luận này xin đề cập đến yếu tố của chiến lược tăng trưởng nhanh, đó là:
(1) Thực hiện chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu
(2) Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(3) Thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Đây cũng là 3 đặc điểm nổi bật nhất trong quá trình tăng trình của các nền kinh tế HànQuốc, Sing-ga-po và Hồng Kông - đối tượng của bài tiểu luận này
Nôi dung cụ thể của các chiến lược này sẽ được trình bày cụ thể trong từng phần tương ứng ởchương 2 của bài tiểu luận
II Tình hình nghiên cứu về Mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh”
Những tài liệu trích dẫn dưới đây là những tài liệu nghiên cứu tương đối đầy đủ vàchuyên sâu về đề tài mà nhóm lựa chọn từ những tài liệu tham khảo
1 Bài học hóa rồng của Ireland – TS Hồ Thiệu Hùng [Viện nghiên cứu giáo dục – Bài đăng trên tạp chí trên trang Tuổi trẻ, 3 – 9 – 2005]
Nghiên cứu đã chỉ ra lí do vì sao một nước Ireland là thuộc địa của nước Anh, bị coi là
“người bà con nghèo khổ” của châu Âu giàu có và nổi tiếng về nạn đói và nội chiến lại cónhững biến đổi thần kì, ngoạn mục khi vào đầu thế kỉ 21, quốc gia này đã là một trong ba nướcgiàu nhất thế giới, chỉ đứng sau Luxembourg và vượt xa nước đã từng đô hộ mình là Anh
TS Hồ Thiệu Hùng cho rằng sự thay đổi có tính chất bước ngoặt ở Ireland được chỉ ra là
có vận dụng một khía cạnh của mô hình tăng trưởng nhanh, đó là rất tích cực thu hút đầu tư
nước ngoài
Trang 8Những ngành có tỉ suất lợi nhuận cực cao mà nhiều nước trên thế giới muốn thu hút vàomình nhưng thất bại như dược, phần mềm, thiết bị y tế đã đều được Ireland thu hút đầu tư mộtcách thành công Hiện nay, 10 Tập đoàn dược phẩm lớn nhất thế giới, 16 trong 20 tập đoàn sảnxuất thiết bị y tế lớn nhất thế giới, 7 trong 10 công ty phầm mềm lớn nhất thế giới đang hoạtđộng tại đây Một trong những thành công của Ireland là đã đáp ứng được những đòi hỏi khákhắt khe về chất lượng nguồn nhân lực nhờ những chính sách giáo dục táo bạo là miễn phí cảtrung học và cao đẳng – đại học, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đủ sức làm việctrong và phục vụ những ngành kinh tế mũi nhọn
2 Mô hình phát triển Đông Á và mô hình phát triển Đông Nam Á – GS David Dapice và các cộng sự ở ĐH Havard (Báo cáo tư vấn cho chính phủ Việt Nam năm 2008)
Nghiên cứu chỉ ra những kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc, Đài Loan và một sốnước Đông Á khác trong quá trình nhanh chóng trở thành các xã hội công nghiệp (NICs/NIEs)
và những kinh nghiệm thất bại của các nước Đông Nam Á
Trong báo cáo của mình, David Dapice và các chuyên gia Harvard nhận định rằng, ở khuvực Đông Nam Á, trước đây, một số nước đã có một thời tăng trưởng khá nhanh (trung bình 6-8%/năm) Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các nước này hiện đã giảm, chỉ còn ở mức 4-6%.Mức thu nhập trung bình của người dân còn tương đối thấp, chỉ khoảng dưới 3.000 USD.Ngược lại, thu nhập trên đầu người của các nước Đông Á hiện nay đều vượt mức 15.000 USD
So với Đông Nam Á thì các nền kinh tế Đông Á đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao hơntrong một thời gian dài hơn mặc dù họ cùng một điểm xuất phát sau Thế Chiến thứ 2
Nghiên cứu cũng chỉ ra điểm khác biệt lớn nhất giữa các nước Đông Á và các nước ĐôngNam Á cũng như các nước đang phát triển nói chung: ngay cả trong những lúc tăng trưởng
nhanh nhất, các nước Đông Nam Á cũng chưa thể thực hiện được sự chuyển hóa về chính trị,
kinh tế, và xã hội như Đông Á Nền kinh tế của Đông Nam Á dựa vào việc khai thác tài nguyên
tự nhiên, qua những giai đoạn thăng trầm chính trị và biến động xã hội, chính phủ suy yếu vì
tham nhũng và chính trị,… Còn ngược lại, “Các nước Đông Á đã thành công hơn các nước
Đông Nam Á gần như trên mọi phương diện…” “Con đường của các nước Đông Á là con
đường thẳng để đạt tới sự thịnh vượng, ổn định và kính trọng của cộng đồng quốc tế Còn con
Trang 9đường của các nước Đông Nam Á thì vòng vèo và gồ ghề hơn.Bài nghiên cứu nhận định
“Đáng tiếc là dường như Việt Nam lại đang đi lại con đường của các nước Đông Nam Á”.
Bài nghiên cứu tổng kết lại“Đặc trưng cơ bản của mô hình phát triển Đông Á¸” gồm:đầu
tư hết sức mạnh mẽ cho giáo dục ở tất cả các cấp, có tầm nhìn chiến lược toàn diện cho sự pháttriển nguồn lực con người : Xây dựng Cơ sở hạ tầng và đô thị hóa; tập trung phát triển thànhphố trung tâm là động lực cho tăng trưởng và đổi mới kinh tế; phát triển doanh nghiệp có sứccạnh tranh quốc tế; hệ thống tài chính năng động, hiệu quả, minh bạch; nhà nước chính phủhiệu quả, có quyền năng; công bằng xã hội
3 Phát triển nhanh và bền vững – Mô hình mới thiết yếu cho Việt nam giai đoạn
2011-2020 và xa hơn – PGS,TS Đỗ Đức Định ( Viện trưởng viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông)
Bài nghiên cứu khẳng định Tăng trưởng nhanh là mục tiêu hàng đầu của một nước kinh tếkém phát triển như Việt Nam PGS,TS Đỗ Đức Định đã khẳng định công cuộc đổi mới đều cơbản đã thành công, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao do vận dụng có sáng tạo
mô hình tăng trưởng nhanh Tuy nhiên ông cho rằng việc áp dụng mô hình tăng trưởng nhanh ởViệt Nam mới chỉ phát huy tính hiệu quả cao về mặt lượng, còn thấp về mặt chất Để góp phầnđảm bảo không những tăng trưởng nhanh mà còn phát triển cân đối về cả chất và lượng tronggiai đoạn tiếp theo của công cuộc đổi mới 2-3 thập kỉ tới, công trình nghiên cứu đề xuất một
mô hình chiến lược mới – mô hình phát triển nhanh và bền vững với 4 trụ cột chính là 1) đảmbảo tăng trưởng cao cả về lượng và chất; 2) áp dụng chiến lược công nghiệp hóa phát huy lợithế so sánh động; 3) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; 4) mở rộng hội nhập quốc tế theohướng kết hợp nội lực và ngoại lực
4 Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam nhìn từ góc độ chuyển dịch cơ cấu – Bùi
Quang Bình (Trường Đại học kinh tế, Đại Học Đà Nẵng) – bài đăng trong tạp chí Khoa học và công nghệ ĐHĐN)
Vấn đề chính mà bài viết đưa ra để giải quyết là những khuyết điểm nhất định bộc lộ rõkhi các điều kiện bên trong và bên ngoài nước đã thay đổi, và đưa ra những kiến nghị về sựđiều chỉnh mô hình tăng trưởng cho phù hợp với điều kiện mới đảm bảo cho sự phát triển bền
Trang 10vững ở Việt Nam thông qua việc phân tích cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mớicho tới nay để nhận ra điểm mạnh và yếu của mô hình tăng trưởng này.
Kết luận:
Phần lớn các tài liệu hiện nay, với những lý thuyết và mô hình lượng hóa đầy đủ, đều khẳngđịnh tăng trưởng nhanh và bền vững là con đường duy nhất cho Việt Nam và các nước đangphát triển khác.Tuy nhiên, vẫn còn thiếu rất nhiều những tài liệu, nghiên cứu đánh giá mức độthành công của các quốc gia đã áp dụng những mô hình này, cũng như những bài học rút ra để
có thể áp dụng một cách phù hợp và hiệu quả nhất với tình hình Việt Nam
Trước tình hình đó , nhóm đã chọn đề tài “Kinh nghiệm vận dụng mô hình “Tăng trưởngnhanh” của những con rồng châu Á và những giải pháp kiến nghị cho Việt Nam”, với mongmuốn đưa ra những phân tích, đánh giá về từng chiến lược trong mô hình tăng trưởng nhanh
mà những “con rồng Châu Á” là Hàn Quốc, Sing-ga-po và Hồng Kông đã áp dụng thành công
Từ đó, hi vọng có thể rút ra những bài học bổ ích và đối chiếu với tình hình Việt Nam hiện naynhằm đưa ra một số giải pháp kiến nghị phù hợp để Việt Nam có thể trở thành con rồng tiếptheo trong những năm tới
C
hương II:
THỰC TẾ VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG
NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
Như đã phân tích ở chương I, mô hình tăng trưởng nhanh cần rất nhiều yếu tố đòi hỏi Do hạn chế
về quy mô, bài tiểu luận này xin đề cập đến yếu tố của chiến lược tăng trưởng nhanh, đó là (1)
thực hiện chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu, (2) thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
và (3) thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Đây cũng là 3 đặc điểm nổi bật nhất trong
quá trình tăng trưởng của các nền kinh tế Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông - đối tượng của bàitiểu luận này
A CHIẾN LƯỢC HƯỚNG SẢN XUẤT HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU
Trang 11I Nội dung chiến lược
Chiến lược này được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước Mỹ La Tinh từ những năm 50 và nhữngnước Đông Bắc Á những năm 60 của thế kỷ XX, sau đó lan sang các nước Đông Nam Á, trong đóđiển hình là sự thành công của bốn con hổ châu Á
1 Nội dung chiến lược
Phương pháp luận của chiến lược này là sự phân tích về việc sử dụng các “lợi thế so sánh”,hay những nhân tố sản xuất thuộc tiềm năng của một nước như thế nào trong sự phân công laođộng quốc tế, để mang lợi ích tối ưu cho một quốc gia Theo cách tiếp cận đó, chiến lược hướng
về xuất khẩu là giải pháp mở cửa nền kinh tế quốc dân để thu hút vốn và kỹ thuật vào khai tháctiềm năng lao động và tài nguyên của đất nước Chiến lược này nhấn mạnh vào 3 nhân tố cơ bảnsau:
Thay cho việc kiểm soát nhập khẩu để tiết kiệm ngoại tệ và kiểm soát tài chính là khuyếnkhích mở rộng nhanh chóng khả năng xuất khẩu
Hạn chế bảo vệ công nghiệp địa phương mà thực chất là nuôi dưỡng ỷ lại, thay thế vào đó lànâng đỡ và hỗ trợ cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu
Đảm bảo môi trường đầu tư cho các nhà tư bản nước ngoài thông qua một hệ thống cácchính sách khuyến khích và kinh tế tự do để thu hút đến mức tối đa vốn đầu tư của các công tynước ngoài
Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là dựa vào mở mang đầu tư trong nước và đầu tư trựctiếp nước ngoài cũng như hỗ trợ của tư bản nước ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh cao củahàng xuất khẩu
2 Đánh giá về chiến lược
2.1 Ưu điểm của chiến lược
Nhờ áp dụng chiến lược này, nền kinh tế nhiều nước đang phát triển trong vài ba thập kỷ qua
đã đạt được một tốc độ tăng trưởng cao, một số ngành công nghiệp (chủ yếu là các ngành chếbiến xuất khẩu) đạt trình độ kỹ thuật tiến tiến, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.Ngoại thương trở thành “đầu tàu” của nền kinh tế
Tận dụng được những lợi thế từ thị trường thế giới về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản
lý từ những nước tiên tiến
Trang 122.2 Nhược điểm của chiến lược:
Do tập trung hết khả năng cho xuất khẩu và các ngành có liên quan nên dẫn đến tình trạngmất cân đối trầm trọng giữa các ngành xuất khẩu và không xuất khẩu
Do ít chú ý tới các ngành công nghiệp thiết yếu nhất, nên mặc dù tốc độ tăng trưởng nhanhnhưng nền kinh tế đã gắn chặt vào thị trường bên ngoài và dễ bị tác động bởi những sự biến đổithăng trầm của thị trường các nước lớn
Nhận thức được điểm yếu này, một số nước đang tìm tòi, lựa chọn một chiến lược phù hợp vớigiai đoạn phát triển của mình Nhiều nước đang phát triển lúc đầu chọn chiến lược “sản xuất thaythế nhập khẩu”, rồi đến giai đoạn nào đó chuyển sang “sản xuất hướng về xuất khẩu” Trong mộtgiai đoạn nhất định, có nước trong cùng thời gian thực hiện cả hai chiến lược này
III Hàn Quốc và “Kì tích sông Hàn” với chiến lược sản xuất hướng ra xuất khẩu
1 Quá trình áp dụng chiến lược và những chuyển biến của nền kinh tế
Sự chuyển đổi thành một nền kinh tế có trình độ phát triển cao của Hàn Quốc được khởi đầu
chủ yếu do sự mở rộng xuất khẩu, duy trì sự phát triển bằng các ngành công nghiệp xuất
khẩu, sự cung cấp của các nguồn đầu tư thông qua sự tham gia rất tích cực vào thị trường của Chính phủ và các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô.
Khi mà các khoản đầu tư không được cung cấp từ khu vực đầu tư tư nhân, nhất là trong suốtthời kì đầu của sự phát triển kinh tế, Chính phủ sử dụng chính các nguồn đầu tư của mình cho việcxây dựng các ngành công nghiệp quan trọng và hình thành các nguồn vốn phúc lợi xã hội Nhiềungành công nghiệp xuất khẩu và trên thực tế là cả nền kinh tế trong suốt thời kì đầu phụ thuộc vào
sự tham gia trên rất nhiều mặt của Chính phủ, và những sự mở rộng bước đầu của xuất khẩu cũng
là một sự “cưỡng ép” có hiệu quả của Chính phủ
Quan điểm cơ bản của Chính phủ trong thời kì của Tổng thống Park Chung Hee là “Xuất
khẩu trước tiên” hay “Xây dựng đất nước thông qua thúc đẩy xuất khẩu” Việc đạt được những
mục tiêu đầy tham vọng và Chính phủ đặt ra, sau đó vượt qua cả mục tiêu này được đánh giáthành quả rất đáng ghi nhận cho các nhà kinh doanh cũng như những công chức, cán bộ phụ tráchxúc tiến xuất khẩu Các công ty lớn của Hàn Quốc được chỉ định mục tiêu xuất khẩu hàng nămbởi Bộ Thương mại và Công nghiệp, và nó được coi như những đơn đặt hàng ảo hay các nhiệm
vụ được giao Nếu họ thành công trong việc thực hiện mục tiêu xuất khẩu, họ sẽ thu được nhiều
Trang 13lợi ích dành cho các nhà xuất khẩu, bao gồm cả tín dụng ưu đãi và cho vay, hỗ trợ hành chính,thuế và lợi ích khác Do đó, các nhà xuất khẩu Hàn Quốc đã nhìn nhận việc nỗ lực để đạt đượccác mục tiêu xuất khẩu của họ - thường được xác định cùng với chính phủ - như là nền tảng củachiến lược kinh doanh của mình Tuy nhiên, những năm 1970 tập trung nhiều hơn cho sự pháttriển của việc thay thế nhập khẩu, chiến lược công nghiệp nặng và hóa chất (HCIs), cũng như duytrì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành công nghiệp nhẹ và phát triển các ngành mới xuấtkhẩu hàng hóa nặng Những năm 1980 chứng kiến một sự tập trung trở lại vào tự do hóa thươngmại, bao gồm mở cửa thị trường trong nước và giảm trợ cấp xuất khẩu, phát sinh từ áp lực từ phíacác đối tác kinh doanh.
Chúng ta sẽ xem xét các giai đoạn cụ thể trong việc thực hiện chiến lược của Hàn Quốc:
Giai đoạn 1962 – 1966
Hàn Quốc thực sự bắt đầu một chiến lược mới cho kinh tế nước nhà Kế hoạch 5 năm lầnthứ nhất (1962-1966) ra đời với khẩu hiệu “phát triển kinh tế là hàng đầu” và “công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu” Tuy nhiên chiến lược “công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu” thực tế chưa
làm biến đổi nền kinh tế , đặc biệt là chưa tạo ra nhiều công ăn việc làm do sức mua của thịtrường nội địa qua thấp, vốn đầu tư và nguồn cung cấp nguyên liệu đều khan hiếm, kỹ thuật côngnghiệp và trình độ quản lý sản xuất còn thấp kém Việc tập trung đại bộ phận vốn đầu tư phát triểncông nghiệp đã dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân
Giai đoạn 1967-1976
Từ những hạn chế của kế hoạch 5 năm lần 1, Hàn Quốc đã chuyển sang những chiến lược
mới, chiến lược “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu” Kế hoạch 5 năm lần 2 (1967- 1971)
được coi như kế hoạch đặt nền móng cho việc thực hiện chiến lược này
Trong thời gian này, bên cạnh hàng rào thuế quan bảo hộ, Nhà nước Hàn Quốc thực hiệnbiện pháp cấm hoặc hạn chế số lượng nhập khẩu Năm 1967, có tới 118/1312 mặt hàng nhập khẩuchính bị cấm và 402 mặt hàng bị hạn chế
Kế liền sau đó là kế hoạch 5 năm lần 3 (1971-1976) sản xuất xuất khẩu trên thực tế mới trởthành động lực chính cho nền kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng đạt tốc độ tăng trưởng lớn.Trong giai đoạn 1970-1975 kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng với mức độ tăng hàng năm khá cao,
từ 18.9% đến 98.6% Giá trị xuất khẩu tăng vọt lên 7,8 tỷ USD năm 1976 và chiếm một tỷ trọng
Trang 1428,5% trong GDP, cao hơn so với 12,6 tỷ và 12,4 % GDP năm 1971 (theo Korea International
Trade Association, http://global.kita.net/ )
Giai đoạn 1977-1999
Đặc điểm của kinh tế Hàn Quốc thời kỳ này là tăng cường đầu tư phát triển công nghiệpnặng có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, hiện đại, có thế mạnh xuất khẩu lớn trên thị trườngquốc tế Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 5 trong nửa thập kỷ 80 này, nền kinh tế Hàn Quốc phảiđối phó với những khó khăn lớn trong nước như chống lạm phát, đa dạng hoá cơ cấu công nghệ
để tăng năng suất lao động xã hội, cán cân thanh toán đang thâm hụt cùng những tác động tiêu cựccủa bối cảnh quốc tế Mặc dù vậy, kinh tế Hàn Quốc vẫn phát triển với tốc độ tăng trưởng đạt11.4%, thu nhập quốc dân đạt 10,600USD/người và dần trở thành một con rồng châu Á
GIÁ TRỊ XUẤT
KHẨU CỦA HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1977 - 1999
(Nguồn: Korea International Trade Association, http://global.kita.net/ )
Qua biểu đồ trên chúng ta thấy kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc liên tục tăng trong giaiđoạn 1977-1999 dù tốc độ tăng không đều qua các năm Tốc độ tăng khoảng xấp xỉ 20% mỗi nămtrong những năm đầu và sau đó có sự suy giảm một chút xuống trên dưới 10% từ sau năm 1988.Nguyên nhân có thể là do thời kỳ này Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của những biến động trên thế
Trang 15giới và đối mặt với những khó khăn trong nước như đã đề cập trên Năm 1995 đánh dấu sự tăngtốc trở lại với mức tăng 30% kim ngạch xuất khẩu và từ đó tiếp tục tăng từ 125.058 triệu USDnăm 1995 lên 143.685 triệu USD năm 1999 trừ một năm giảm nhẹ là năm 1998 do ảnh hưởng củakhủng hoảng tài chính tiền tệ Xét trong cả giai đoạn thì kim ngạch xuất khẩu năm 1999 đã tănggấp 18.7 lần so với năm 1976
Giai đoạn 2000-nay
Giai đoạn này Hàn Quốc vẫn tập trung cho xuất khẩu, hoà mình vào tiến trình hội nhập kinh tế thếgiới Qua biểu đồ ta thấy, từ năm 2000 đến năm đến năm 2001, giá trị xuất khẩu Hàn Quốc giảm
từ 172.268 triệu USD xuống còn 150.430 triệu USD (giảm 12.7%) Từ sau năm 2001, giá trị xuấtkhẩu của Hàn Quốc liên tục tăng, đạt mức 422.007 triệu USD vào năm 2008, với tốc độ tăngtrưởng trung bình trong khoảng thời gian này là xấp xỉ 16.1%/năm Giai đoạn từ 2008 – 2009,trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, xuất khẩu Hàn Quốc có sự sụt giảm đáng kể, từ 422.007triệu USD xuống còn 363.534 triệu USD (giảm 13.9%) Sự phục hồi dần dần của nền kinh tế toàncầu nói chung và của Hàn Quốc nói riêng đã đưa giá trị xuất khẩu tăng tới 28.3 % và đạt 466.384triệu USD vào năm 2010 ( vượt mức năm 2008)
(Nguồn: Korea International Trade Association, http://global.kita.net/ )
2 Những thành tựu mà nền kinh tế Hàn Quốc đã đạt được
Hàn Quốc từng được biết đến là một trong những nước nghèo nhất thế giới hơn 30 năm vềtrước nhưng đã nghiêm túc thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế từ năm 1962 Hình ảnh đấtnước kiệt quệ do chiến tranh tàn phá đã bắt đầu thay đổi từ năm 1992 khi quốc gia này áp dụng
Trang 16chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và tích cực tham gia vào thương mại quốc
tế trên toàn thế giới Hàn Quốc bắt đầu mở rộng quan hệ đối ngoại thông qua việc tăng cường mốiquan hệ với các đồng minh truyền thống và xây dựng quan hệ hợp tác với các nước trong thế giớithứ ba
Năm 2010, nền kinh tế Hàn Quốc đã vươn lên vị trí thứ 13 thế giới khi tính GDP theo PPP.Nếu như năm 1963 GDP trên một đồng vốn là 100 USD thì đến năm 2010 là 1.459 tỷ USD Nềnkinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử thế giới từ giữađến cuối thế kỷ 20, và điều đó đã tạo nên một “kỳ tích sông Hàn” được cả thế giới biết đến vàngưỡng mộ Để đạt được điều này, chính phủ Hàn Quốc đã lựa chọn đúng đắn chiến lược pháttriển cho quốc gia mình: sản xuất hướng về xuất khẩu Ngày nay, Hàn Quốc đang thực hiện cảithiện môi trường kinh doanh tổng thể với mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế mới của khu vực
Đông Bắc Á (Nguồn CIA – The World Factbook, www.cia.gov )
3 Đánh giá quá trình thực hiện chiến lược
Sự đúng đắn khi áp dụng chiến lược của chính phủ Hàn Quốc
Áp dụng chiến lược một cách đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn phát triển Việc chọnchiến lược “sản xuất thay thế nhập khẩu” vào thời kì đầu rồi chuyển sang “sản xuất hướng về xuấtkhẩu” ở thời kì sau đã hạn chế được rất nhiều sự mất cân đối giữa các ngành xuất khẩu và khôngxuất khẩu cũng như hạn chế đáng kể sự phụ thuộc của Hàn Quốc vào nền kinh tế thế giới
Những mặt còn hạn chế khi áp dụng chiến lược
Trong giai đoạn đầu thực hiện chiến lược, các mục tiêu xuất khẩu được thống nhất giữaChính phủ và các công ty tư nhân và được thực hiện bởi các nhà kinh doanh như một lệnh bắtbuộc Các công ty thất bại trong việc hoàn thành mục tiêu xuất khẩu mà không có lí do chính đáng
sẽ có nguy cơ bị xử phạt hành chính rất nặng Các giải pháp cho sự thành công của các công tychính là khả năng xuất khẩu của họ, chính vì vậy mà bản thân họ sẽ phải tăng khả năng sản xuấtcũng như khả năng xuất khẩu càng nhiều càng tốt Sự mở rộng “mang tính cưỡng ép” của sản
lượng đầu ra và sản lượng xuất khẩu này lại đưa lại kết quả là một tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu cao,
cũng như sự sai lệch trong việc đưa ra các quyết định trong nội bộ các công ty
Trang 17Sự tập trung chủ yếu dồn vào các công ty lớn, những người được xem là đang ở một vị trítốt hơn so với các công ty nhỏ để mở rộng khả năng xuất khẩu, thu hút và sử dụng công nghệ.Chính phủ cũng ủng hộ một số ít các công ty lớn thay vì một số lượng lớn của các công ty nhỏ vìđiều này giúp thu hẹp giới hạn kiểm soát hành chính Điều này đã dẫn đến sự mất cân đối trongnền kinh tế giữa các công ty lớn và các công ty nhỏ khi không được sự khuyến khích và hỗ trợgiống nhau Ngay sau đó, Chính phủ Hàn Quốc đã có sự điều chỉnh trong chiến lược, tập trunghơn trong việc khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
B THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
I Nội dung của chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1 Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng gópmột số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hànhđối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư
2 Tác dụng của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1 Đối với chủ đầu tư nước ngoài:
FDI cho phép chủ đầu tư nước ngoài ở mức độ nhất định tham dự vào điều hành quá trìnhkinh doanh của xí nghiệp nên họ có thể trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và kịp thời đưa ranhững quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra
FDI giúp các chủ đầu tư nước ngoài dễ chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ và nguồn cung cấpnguyên liệu chủ yếu của nước chủ nhà
FDI giúp chủ đầu tư khai thác lợi thế của các quốc gia khác: thị trường, vị trí địa lý, tàinguyên, nguồn nhân lực, đất đai… nhằm giảm chi phí để tăng lợi nhuận
Chủ đầu tư có thể tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch vì thông qua FDI họ tạo được các xínghiệp, công ty nằm trong lòng các nước thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch
Các nhà đầu tư mở các công ty con tại những nước khác nhau có thể lợi dụng cơ chế thuếđối với hoạt động đầu tư ở những nước đó để thực hiện “chuyển giá” nhằm tối đa hoá lợinhuận
Trang 181.2 Đối với nước nhận đầu tư trực tiếp:
FDI giúp các nước nhận đầu tư tăng cường khai thác vốn của từng nước chủ đầu tư nướcngoài
Các nước nhận đầu tư tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanhcủa chủ đầu tư nước ngoài
Nhờ có vốn đầu tư nước ngoài các nước chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những lợithế của mình về tài nguyên, vị trí, mặt đất, mặt nước…
FDI giúp nước chủ nhà đẩy nhanh tiến trình hội nhập của quốc gia với nền kinh tế thế giới vìđầu tư trực tiếp là nhân tố tác động mạnh đến tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách và môitrường đầu tư
FDI góp phần thay đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ làm cho tínhhiệu quả của sự phát triển kinh tế được nâng lên
FDI cũng góp phần nâng cao mức sống của nước nhận đầu tư thông qua giải quyết việc làm,tăng thu nhập, tạo đội ngũ lao động có tay nghề
IV Singapore và những thành tựu thần kì nhờ chiến lược thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI
Như chúng ta đã biết, Singapore là một quốc đảo với diện tích nhỏ bé là 712,4 km2, dân số vào khoảng 5.077.000 người tính đến tháng 6 năm 2010 (Nguồn: U.S Department of State, www.state.gov), tuy vậy Singapore lại là một quốc gia có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất ở Đông Nam Á hiện nay Một trong những nguyên nhân giúp Singapore trở nên giàu
có là nhờ chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài phù hợp, đúng đắn của các nhà lãnh đạo Singapore Sau đây chúng ta sẽ đi xem xét tầm quan trọng của chính sách này.
1 Thực trạng dòng vốn FDI
Năm 1963 , các công ty nước ngoài bắt đầu rót vốn vào Singapore với tổng số vốn đầu tưkhoảng 158 triệu S$ cho lĩnh vực sản xuất như Đến năm 1970, con số này tăng lên 995 triệuS$, và đạt khoảng 3054 triệu S$ vào năm 1974 Trong giai đoạn từ năm 1974-1977, tốc độ tăngtrưởng của vốn đầu tư nước ngoài không tăng do những biến động của tình hình dầu mỏ trênthế giới, tuy nhiên tình trạng này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn Đến năm 1984, tổng số
Trang 19vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất đã lên tới hơn 12000 triệu S$ (Nguồn: Singapore
Department of Statistics.)
Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về đầu tư thế giới vào năm 2003, đầu tư trực tiếp nước ngoàivào Singapore đạt mức kỷ lục là 7.7 tỷ USD, mặc dù đã giảm 29 % so với năm 2001, nhưngSingapore vẫn được xếp là nước đứng thứ 3 trên châu Á về thu hút FDI Đến năm 2005, con sốnày đã lên đến 16 tỷ USD, và tiếp tục đứng thứ 3 châu Á chỉ sau Trung Quốc và Hồng
Kông.Bảng số liệu dưới đây được trích từ World Invesment Report 2011 của UNCTAD cho
thấy sự biến chuyển của dòng FDI chảy vào Singapore giai đoạn 2005-2010
Trang 20Trong giai đoạn này, do cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, dòng vốn FDIvào Singapore bị giảm mạnh từ hơn 35 tỉ USD (2007) xuống còn gần 11 tỉ USD (2008), tỉ lệFDI trong GDP cũng tụt từ hơn 20% xuống còn hơn 5% Mặc dù vậy, FDI của Singapore vẫnđứng ở mức cao nhất trong khu vực Đến năm 2009, nền kinh tế thế giới dần phục hồi, FDI vàoSingapo bắt đầu tăng trở lại và đạt 15-16 tỉ USD Năm 2010, Singapo có FDI đạt mức kỉ lục là
39 tỉ USD, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2009 và đứng thứ 22 trong các quốc gia thu hút FDInhiều nhất trên thế giới (theo Báo cáo về đầu tư thế giới 2011 của UNCTAD)
UNCTAD cũng dự đoán trong thời gian tới, giai đoạn 2011-2013, Singapore vẫn tiếp tụcphát huy mô hình chiến lược chú trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và là 1 trong những nướcchủ nhà có FDI lớn nhất trên thế giới
2 Các lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn đầu, lĩnh vực lọc dầu thu hút nhiều nhà đầu tư nhất Tiếp theo đó là lĩnhvực dệt may với các nhà đầu tư nước ngoài đến từ Đài Loan và Hồng Kông; tuy nhiên hìnhthức đầu tư chỉ dưới dạng các doanh nghiệp có quy mô hộ gia đình chứ chưa phải là các tậpđoàn đa quốc gia lớn
Kể từ sau những năm 1968, lĩnh vực đầu tư đã mở rộng hơn với: ngành điện-điện tử; hàngcông nghiệp, cơ khí chính xác Vào đầu những năm 70 cho đến năm 2003, sự phân phối FDIvào các ngành đã có nhiều thay đổi: lĩnh vực điện tử luôn đứng trong top đầu về thu hút FDIvới 4.22 tỷ S$ (2.5 tỷ USD) vào năm 2003; tiếp đến là lĩnh vực hoá chất với 1.5 tỷ S$ (885triệu USD); công nghiệp dược phẩm thu hút 851 triệu S$ (504 triệu USD); dịch vụ 2.08 tỷ S$(1.22 tỷ USD) vào năm 2002; đến năm 2003 giảm 8% xuống còn 1.92 tỷ S$ (1.1 tỷ USD).Tuy nhiên hiện nay, như một xu thế tất yếu của thế giới, nguồn FDI đã chuyển hướngsang các ngành dịch vụ là chủ yếu và Singapore cũng không phải ngoại lệ Cụ thể là năm 2009,riêng ngành dịch vụ tài chính và bảo hiểm đã thu hút 230,8 tỉ đô Sing, chiếm 41,8% tổng sốvốn FDI đầu tư vào Singapore Các ngành nhận được nhiều FDI tiếp theo là lĩnh vực sản xuấtvới 120,7 tỉ USD, ngành thương mại bán buôn, bán lẻ với 17,2 tỉ USD
Bảng 1 Distribution of FDI by Industry (Stock as at Year – End)
2008 ($ bil) 2009 ($ bil) Share in 2009 (%)
Trang 21Total 508.3 552.3 100.0
Wholesale and Retail Trade 92.5 95.2 17.2
Financial and Insurance
Services
Professional and Technical,
Administrative and Support
Services
(Nguồn: Singapore Department of Statistics.)
3 Tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế Singapore
Đóng góp cho xuất khẩu
Sự góp mặt của các nhà đầu tư nước ngoài đã mang lại cho quốc đảo nhỏ bé này nhữngbiến chuyển to lớn về mọi mặt, trong đó phải kể đến lĩnh vực xuất khẩu Có thể nói đây là mộttrong những đóng góp quan trọng của khu vực đầu tư nước ngoài vào tăng trưởng kinh tế.Đóng góp nhiều nhất cho xuất khẩu là ngành lọc dầu (với 7% GDP năm 1981), tiếp đến là mặthàng máy móc, thiết bị vận tải, thiết bị viễn thông, tàu biển (với 22% tổng kim ngạch xuất khẩunăm 1981) Ngoài ra còn có gỗ trang trí, dệt may, thiết bị chụp ảnh
Trong thành tựu trên thì sự đóng góp của các nhà đầu tư là khác nhau: các nhà đầu tư đến
từ European Economic Community (EEC) đóng góp 44.6% vào tổng giá trị xuất khẩu; 34%vào tổng sản lượng, tiếp theo đó là Mỹ rồi đến Nhật, Hồng Kông và Đài Loan
FDI góp phần tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở Singapore đãgiảm từ 9% vào năm 1965 xuống chỉ còn 4% vào năm 1974
Trang 22 Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế không chỉ giúp gia tăng nguồnlực trong nước mà còn tạo ra sự cạnh tranh buộc các doanh nghiệp trong nước phải tiến hành
cơ cấu, hiện đại hoá thúc đẩy hoạt động sản xuất và dịch vụ
Trong đó, phải kể đến các doanh nghiệp Singapore có cơ hội được tiếp cận với khoa họccông nghệ, kỹ thuật hiện đại của các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) từ khắp mọi nơi trên thếgiới Sự hiện diện của họ không chỉ giúp các công ty trong nước theo kịp với các tiến bộ khoahọc kỹ thuật mà còn có thể sở hữu những thương hiệu nổi tiếng thế giới, các chiến lượcmarketing toàn cầu, và tiếp cận với các luồng thông tin quốc tế Đây thực sự là một cơ hội tốtcho các doanh nghiệp Singapore được vươn ra bên ngoài thế giới
4 Đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thành công của chiến lược thu hút FDI
4.1 Môi trường tổng thể của Singapore
Bên cạnh vai trò to lớn của chính sách công nghiệp, các chính sách kinh tế vĩ mô cũng đãđóng một vai trò quan trọng, nhất là trong việc hỗ trợ cho các TNC Kết cấu hạ tầng đã đượcxây dựng để đáp ứng nhu cầu của các TNC Chính sách thương mại của Singapore đã luôn luôn
tự do hơn so với các nước khác thể hiện qua các các rào cản thương mại (thuế quan và phi thuếquan) rất thấp (thậm chí là 0%) và sự áp dụng rộng rãi các giấy chứng nhận tiêu chuẩn ISO.Ngoài ra, Singapore có những nhân tố đặc thù tác động tới việc định hình các chính sách vềFDI hoặc có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút FDI, là:
Singapore là một nước thành phố với nhà nước có quyền lực tương đối mạnh để có thể xâydựng các chính sách mà không gặp sự phản đối mạnh từ các cấp chính quyền khác hoặc từ cáctầng lớp xã hội
Đảng Hành động Nhân dân (PAP) đã chiến thắng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ năm
1959 và quyền lực cũng như tính chính thống của chính phủ PAP trở nên không thể phủ nhận.Điều này đã cho phép chính phủ trở nên kỹ trị trong việc thực thi một chiến lược FDI
Singapore chưa bao giờ gặp phải tình trạng thâm hụt ngân sách chính phủ nên có thể dễ dànghuy động vốn cho các khoản đầu tư
Một nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến việc thu hút FDI là tuy có nhiều chủng tộc nhưngngôn ngữ làm việc ở Singapore là tiếng Anh