1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC THEO ĐINH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

16 4,6K 30

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 146,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định.. Weitnert 20

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH HỌC - -TIỂU LUẬN Chuyên đề

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Đề tài ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC THEO ĐINH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Giảng viên hướng dẫn Học viên thực hiện

TS Văn Thị Thanh Nhung Nguyễn Thị Ái Nhi

Chuyên ngành: LL & PPDH môn Sinh học

Khóa học: 2013-2015

H uế, 04/2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Giáo dục phổ thông của nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Để đảm bảo được điều đó nhất định phải thực hiện thành công việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất

Một trong những thành tố quan trọng của quá trình dạy học là kiểm tra – đánh giá Nhiệm vụ cơ bản của việc kiểm tra - đánh giá là làm rõ được tình hình lĩnh hội kiến thức, sự thành thạo về kỹ năng và trình độ phát triển tư duy trong quá trình dạy và học của học sinh Thông qua kiểm tra - đánh giá, giáo viên có thể tự đánh giá quá trình dạy và học sinh nhận biết, tự đánh giá quá trình học, từ đó điều chỉnh quá trình dạy học để đạt được mục tiêu môn học

Việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo

Trang 3

dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập

của học sinh Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ

năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa (Leen pil, 2011) Để hiểu rõ hơn, chúng

ta cùng tìm hiểu nội dung để tài: “Đánh giá trong dạy học Sinh học theo định

hướng phát triển năng lực.”

NỘI DUNG

1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.1 Năng lực là gì?

Có nhiều tác giả đã định nghĩa khái niệm “năng lực”:

Theo P.A Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định

Gerard và Roegiers (1993) đã coi năng lực là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp

và một cách tự nhiên

De Ketele (1995) cho rằng năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra

Trang 4

Xavier Roegiers (1996) quan niệm năng lực là một vấn đề tích hợp ở chỗ nó bao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động

Theo John Erpenbeck, năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và thực hiện hóa qua chủ định

Weitnert (2001), năng lực là những khả năng và kỉ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sang về động

cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt

Nếu lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để định nghĩa, thì năng lực được định nghĩa như sau: năng lực là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp

Nếu lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa, thì năng lực được định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” Hay một quan niệm khác: “Năng lực là một tích hợp các kĩ năng (tập hợp trật tự các kĩ năng/hoạt động) cho phép nhận biết một tình huống và có sự đáp ứng tình huống đó tương đối tự nhiên và thích hợp (sự tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước có ý nghĩa đối với cá nhân để giải quyết vấn đề do tình huống này đặt ra); thể hiện một năng lực là biết sử dụng các nội dung và các

kỹ năng trong một tình huống có ý nghĩa, có năng lực có nghĩa là làm được

Trang 5

1.2 Các đặc điểm của năng lực

- Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân,…) Như vậy không tồn tại năng lực chung chung

- Có sự tác động của một tác nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan

hệ xã hội,…) để có một sản phẩm nhất định; do đó có thể phân biệt người này với người khác

- Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể Vì thế, năng lực vừa

là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó Quá trình dạy học, giáo dục nhằm hình thành, rèn luyện, phát triển năng lực ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào hoạt động

Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc

1.3 Phương pháp và hình thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Việc dạy học định hướng năng lực về bản chất không thay thế mà chỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo ra môi trường, bối cảnh cụ thể để học sinh được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kỹ năng

và thể hiện thái độ của mình

Việc dạy học đinh hướng năng lực được thể hiện ở trong các thành tố quá trình dạy học như sau:

a Về mục tiêu dạy học

Trang 6

Mục tiêu kiến thức: ngoài các mục tiêu về nhận biết, tái hiện kiến thức cần có những mục tiêu về vận dụng kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế Với các mục tiêu về kỹ năng cần có thêm những mục tiêu rèn luyện các kỹ năng thực hiện hoạt động đa dạng

b Về phương pháp dạy học

Ngoài các cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn

Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, học sinh sẽ hình thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là hình thành đồng thời nhiều năng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần (và cũng không thể) tách biệt từng thành

tố trong quá trình dạy học

c Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, chủ đề, nhiệm vụ đa dạng

gắn với thực tiễn

d Về kiểm tra, đánh giá: Đánh giá năng lực cũng phải thông qua đánh giá khả

năng vận dụng kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của học sinh

Như vậy, để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau, đặc biệt cần tổ chức các hoạt động học tập gắn liền với thực tiễn để kích thích và hoạt động hóa người học

2 Đánh giá trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực

2.1 Khái niệm

2.1.1 Đánh giá

Trang 7

- Theo sách “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: Sự đánh giá là gắn một giá trị cho một sự kiện, tình huống, sản phẩm cá nhân theo mức độ, tiêu chuẩn nhất định

- Theo “ Từ điển giáo dục học”, đánh giá là một hoạt động của con người nhằm phán xét một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người mà mình quan tâm, theo những quan niệm chuẩn mực mà người đánh giá tuân theo

- Theo C.E.Beeby (1997), “Đánh giá là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan niệm hành động

- Theo P.E.Griffin (1996), “Đánh giá là đưa ra phán quyết về giá trị của một sự kiện, nó bao hàm việc thu thập thông tin sử dụng trong việc định giá cuả một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm mục đích nhất định”

- Theo Marger (1993): “Đánh giá là việc miêu tả tình hình học tập của học sinh và giáo viên để quyết định công việc cần phải tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ.”

- Theo R.Tiler (1984): “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục.”

-Theo G.S Trần Bá Hoành, đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quá của công việc, dựa vào sự phân tích nhữn thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quá công việc

Từ các định nghĩa trên cho thấy: Đánh giá được nhìn nhận trên các khía cạnh

khác nhau, có thể quan niệm: Đánh giá là quá trình thu thập thông tin để xác định

Trang 8

mức độ đạt được các mục tiêu giáo dục đề ra và đưa ra quyết định tác động vào quá trình giáo dục, đào tạo nhằm đạt được kết quá dạy học tối ưu nhất.

2.1.2 Đánh giá năng lực

Đánh giá các kỹ năng nhận thức và xã hội, kỹ năng hợp tác về các năng lực sáng tạo, các phong cách tư duy khác nhau,… điều này có nghĩa là đánh giá chiều rộng

Đánh giá không chỉ là yêu cầu sự nhắc lại (kỹ năng tư duy bậc thấp) , mà là các kỹ năng học tập, kỹ năng xây dựng kiến thức và kỹ năng ứng dụng (kỹ năng tư duy bậc cao) Điều này có nghĩa là đánh giá theo chiều sâu

Đánh giá năng lực thông qua sản phẩm của hoạt động học và quá trình học.

Xét về bản chất thì không có mâu thuẩn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức, kỹ năng, mà đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng

Để chứng minh học sinh có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo điều kiện cho học sinh giải quyết vấn đề trong tình huống năng tính thực tiễn Khi đó học sinh vừa phải vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng, xã hội, )

Như vây, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thưc, người ta

có thể đồng thời đánh giá được cả kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đnáh gá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục môn học nhưu đnáh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hóa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị chuẩn

Trang 9

mực đạo đức,…được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của con người

2.2 Nguyên tắc đánh giá năng lực

- Đảm bảo tính giá trị: phải đo lường chính xác mức độ phát triển năng lực người

học (đo lường các kỹ năng thành phần, chỉ số hành vi theo chuẩn đầu ra)

- Đảm bảo độ tin cậy: kết quả đánh giá người học ổn định, chính xác, không bị phụ

thuộc vào người đánh giá, những nhiệm vụ ở các lĩnh vực học tập khác nhau Kết quả đánh giá phải thống nhất khi được lặp đi lặp lại nhiều lần

- Đảm bảo tính linh hoạt: thực hiện đa dạng các hình thức, phương pháp đánh giá

để người học có cơ hội thể hiện tốt nhất năng lực của họ (phụ thuộc vào nhịp độ, thời điểm họ đáp ứng các yêu cầu chuẩn đầu ra của năng lực)

- Đảm bảo tính công bằng: người đánh giá và người được đánh giá đều hiểu chuẩn,

tiêu chí, hành vi đánh giá như nhau; công cụ đánh giá không có sự thiên vi cho giới, dân tộc, vùng miền, đối tượng cách phân tích, xử lý kết quả chuẩn hoá để không bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ cá nhân

- Đảm bảo tính hệ thống: kết quả đánh giá chẩn đoán được sử dụng để xác nhận

vùng phát triển hiện có của học sinh, từ đó lập kế hoạch cho những can thiệp sư phạm thích hợp; kết quả đánh giá quá trình được sử dụng để điều chỉnh hoạt động dạy và học theo hướng chuyển sang vùng phát triển gần của mỗi học sinh; kết quả đánh giá tổng kết được sử dụng để xác nhận mức độ phát triển năng lực của học sinh và lập kế hoạch can thiệp sư phạm cho giai đoạn giáo dục tiếp theo

- Đảm bảo tính toàn diện: kết quả đánh giá phải phản ánh đầy đủ sự phát triển của

các thành tố và chỉ số hành vi của năng lực được đo lường

Phát triển học sinh: đảm bảo đánh giá được sự tiến bộ so với chính bản thân học

sinh về năng lực Qua đó phát triển khả năng chịu trách nhiệm với việc học tập và giám sát sự tiến bộ của bản thân

Trang 10

- Đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: công cụ đánh giá cần được thực hiện trong bối

cảnh thực (cá nhân, trường lớp, dân cư, khoa học) nhằm phản ảnh đúng năng lực của người học khi thực hành trong môi trường thực tế

2.3 Chức năng của đánh giá

- Chức năng sư phạm: Làm sáng tỏ được thực trạng, định hướng việc điều chỉnh hoạt động dạy và học

- Chức năng xã hội: Công khai kết quả học tập của mỗi học sinh, báo cáo kết quả học tập, giảng dạy trước phụ huynh, các cấp quản lý

- Chức năng khoa học: Nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực trạng dạy học, về hiệu quả thực nghiệm 1 sáng kiến cải tiến trong dạy học

2.4 Các loại đánh giá

- Đánh giá mang tính đào tạo: Là sự đánh giá thường xuyên giúp cho học sinh tự kiểm tra, tự điều chỉnh hoạt động dạy học

Đánh giá mang tính đào tạo bao gồm: Đánh giá định hướng (có chức năng định hướng cho học sinh) và đánh giá uốn nắn (có chức năng chẩn đoán những điểm yếu của học sinh để khắc phục)

Ví dụ: Bài khảo sát chất lượng đều năm không đánh giá mà chỉ mang tính định hướng, điều chỉnh để khi giáo viên vào dạy dễ dàng, phù hợp hơn

- Đánh giá xác nhận: Dùng để xác nhận trình độ đạt tới trong học tập

- Đánh giá chẩn đoán: Là loại đánh giá giúp giáo viên nắm được tình hình những kiến thức liên quan đã có, để quyết định dạy học thích hợp

- Đánh giá tổng kết: Các bài kiểm tra cuối kỳ, giữa kỳ

Trang 11

3 Công cụ đánh giá

3.1 Những yêu cầu của công cụ đánh giá

- Tính hiệu lực: Công cụ dùng trong kiểm tra đánh giá (Câu hỏi, bài tập,…) phải thể hiện được kiến thức và kỹ năng cơ bản của từng bài, từng chương, các chương trình Sinh học phổ thông

- Độ tin cậy, độ bền vững: Kiểm tra, đánh giá phải tìm ra được những kết luận có tính thuyết phục, vững bền làm cơ sở đưa ra những giải pháp cho từng cá nhân học sinh và từng nhóm (trung bình, khá, giỏi,…)

- Khách quan, chính xác

- Thuận tiện khi sử dụng

3.2 Công cụ đánh giá

a Số đo

- Kết quả bài làm kiểm tra của mỗi học sinh được ghi nhận bằng một số đo dựa theo những quy tắc đã định/

- Thông thường, kết quả làm bài kiểm tra kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh được ghi nhận bằng điểm số theo thang bậc 10, 20, 100

- Khi chấm bài người ta xác định đáp án và biểu hiện rồi dựa vào đó mà cho điểm cho toàn bài

- Điểm số là ký hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của mỗi học sinh về mặt định tính (Giỏi, khá, trung bình,…) và định hạng (thứ bậc cao thấp của mỗi cá thể học sinh trong tập hợp) không có ý ngĩa về mặt định lượng

b Lượng giá

Trang 12

c Rubrics

3.3 Rubrics

a Khái niệm

Rubrics là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của người học được thể hiện bằng bản mô tả các tiêu chí đánh giá theo các cấp độ khác nhau trên cơ sở các yêu cầu, mục tiêu cần đạt của môn học

b Vai trò của Rubrics

Rubrics có vai trò quan trọng đối với người dạy, người học và cán bộ quản lí nhà trường

Đối với người dạy, Rubrics là sự liên kết quan trọng giữa đánh giá và giảng dạy Rubrics giúp người dạy có thể hình dung được các yêu cầu về chất lượng cụ thể ở từng bài học, từng môn học, từng chuyên đề để từ đó người dạy có thể thiết

kế bài giảng, tổ chức giảng dạy và hướng dẫn người học một cách hiệu quả Ngoài

ra, rubrics còn làm cho việc đánh giá trở nên khoa học, minh bạch và thuyết phục hơn Việc chấm bài trở nên nhất quán hơn, tạo sự công bằng cho người học, tiết kiệm thời gian giải thích lí do tại sao cho điểm như vậy đối với các thắc mắc từ nhiều phía và có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc giúp người học cải tiến việc học

Đối với người học, Rubrics được thiết kế để giúp cho người học hiểu rõ hơn các mong đợi của người dạy, của nhà trường, của yêu cầu môn học đối với bản thân Từ đó, người học có động cơ học tập tốt hơn, chủ động hơn, tích cực hơn, có trách nhiệm hơn, có thể tự giám sát, tự đánh giá việc học tập của mình và có biện pháp tự cải tiến để đạt được kết quả học tập như mong muốn

Đối với nhà quản lí, Rubrics sẽ là cơ sở để các cán bộ quản lí kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo, nắm được những thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong nhà trường để có thể chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích,

Ngày đăng: 23/06/2015, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w