1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÂU HỎI BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC CỦA CÁC CHỦ ĐỀ TRONG GDPT CẤP THPT HIỆN HÀNH

21 5K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 273 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ TRONG DHSH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Đề tài: CÂU HỎI/ BT KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC CỦA CÁC CHỦ ĐỀ TRONG

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

… …

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ TRONG DHSH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Đề tài: CÂU HỎI/ BT KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG

NĂNG LỰC CỦA CÁC CHỦ ĐỀ TRONG GDPT CẤP THPT HIỆN

HÀNH

Giảng viên hướng dẫn: Học viên thực hiện:

TS Văn Thị Thanh Nhung TRẦN THỊ HẢI

Lớp: LL & PPDH BM Sinh học Khóa K22

Huế 4/2015

Trang 2

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Hoạt động kiểm tra đánh giá hiện nay chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiệnkiến thức và đánh giá qua điểm số đã dẫn đến tình trạng giáo viên và học sinhduy trì dạy học theo lối "đọc-chép" thuần túy, học sinh học tập thiên về ghi nhớ,

ít quan tâm vận dụng kiến thức Nhiều giáo viên chưa vận dụng đúng quy trìnhbiên soạn đề kiểm tra nên các bài kiểm tra còn nặng tính chủ quan của ngườidạy Hoạt động kiểm tra đánh giá ngay trong quá trình tổ chức hoạt động dạy họctrên lớp chưa được quan tâm thực hiện một cách khoa học và hiệu quả Các hoạtđộng đánh giá định kỳ, đánh giá diện rộng quốc gia, đánh giá quốc tế được tổchức chưa thật sự đồng bộ hiệu quả Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả làkhông rèn luyện được tính trung thực trong thi, kiểm tra; nhiều học sinh phổthông còn thụ động trong việc học tập; khả năng sáng tạo và năng lực vận dụngtri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế

Nhận thức được thực trạng trên cũng như tầm quan trọng của việc tăng

cường đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG) nên tôi chọn đề tài: “Câu hỏi/bài tập kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực của các chủ đề trong GDPT cấp THPT hiện hành” nhằm tìm hiểu về câu hỏi/bài tập và kỹ thuật biên soạn

câu hỏi/bài tập để KTĐG kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triểnnăng lực

Trang 3

PHẦN 2: NỘI DUNG

I Định hướng xây dựng câu hỏi/ bài tập đánh giá năng lực học sinh.

1 Tiếp cận theo định hướng năng lực:

* Các nghiên cứu thực tiễn về bài tập trong dạy học đã rút ra những hạnchế của việc xây dựng bài tập truyền thống như sau:

- Tiếp cận một chiều, ít thay đổi trong việc xây dựng bài tập, thường lànhững bài tập đóng

- Thiếu về tham chiếu ứng dụng, chuyển giao cái đã học sang vấn đề chưabiết cũng như các tình huống thực tiễn cuộc sống

- Kiểm tra thành tích, chú trọng các thành tích nhớ và hiểu ngắn hạn

- Quá ít ôn tập thường xuyên và bỏ qua sự kết nối giữa cái đã biết và cáimới

- Tính tích lũy của việc học không được lưu ý đến một cách đầy đủ…

* Còn đối với việc tiếp cận năng lực, những ưu điểm nổi bật là:

- Trọng tâm không phải là các thành phần tri thức hay kỹ năng riêng lẻ mà

là sự vận dụng có phối hợp các thành tích riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đềmới đối với người học

- Tiếp cận năng lực không định hướng theo nội dung học trừu tượng màluôn theo các tình huống cuộc sống của HS, theo “thử thách trong cuộc sống”.Nội dung học tập mang tính tình huống, tính bối cảnh và tính thực tiễn

- So với dạy học định hướng nội dung, dạy học định hướng phát triển nănglực định hướng mạnh hơn đến HS và các quá trình học tập

Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực được xây dựng trên

cơ sở chuẩn năng lực của môn học Năng lực chủ yếu hình thành qua hoạt động

Trang 4

học của HS Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực chính là công cụ để

HS luyện tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ để GV và các cán bộ quảnlưc giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của HS và biết được mức độ đạt chuẩncủa quá trình dạy học

Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người

GV cần thực hiện Vì vậy, trong quá trình dạy học, người GV cần biết xây dựngcác bài tập định hướng phát triển năng lực

Các bài tập trong Chương trình đánh giá HS quốc tế (Programme for

International Student Assesment * PISA) là ví dụ điểm hình cho xu hướng xây

dựng các bài kiểm tra, đánh giá theo năng lực Trong các bài tập này, người tachú trọng sự vận dụng các hiểu biết riêng lẻ khác nhau để giải quyết một vấn đềmới đối với người học, gắn với tình huống cuộc sống PISA không kiểm tra kiếnthức riêng lẻ của HS mà kiểm tra các năng lực vận dụng như năng lực đọc hiểu,năng lực toán học và khoa học tự nhiên

2 Phân loại bài tập theo định hướng phát triển năng lực.

Đối với GV, bài tập là yếu tố điều khiển quá trình giáo dục Đối với HS,bài tập là một nhiệm vụ cần thực hiện, là một phần nội dung học tập Các bài tập

có nhiều hình thức khác nhau, có thể là bài tập miệng, bài tập viết, bài tập ngắnhạn hay dài hạn, bài tập theo nhóm hay cá nhân, bài tập trắc nghiệm đóng hay tựluận mở Bài tập có thể đưa ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một đề nghị, mộtyêu cầu hay một câu hỏi

Những yêu cầu chung đối với các bài tập là:

- Được trình bày rõ ràng

- Có ít nhất một lời giải

- Với những dữ kiện cho trước, HS có thể tự lực giải được

- Không giải qua đoán mò được

Trang 5

* Theo chức năng tự luận dạy học, bài tập có thể bao gồm: Bài tập học vàbài tập đánh giá (thi, kiểm tra):

- Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức

mới, chẳng hạn các bài tập về một tình hướng mới, giải quyết bài tập này để rút

ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đãhọc

- Bài tập đánh giá: Là các bài kiểm tra ở lớp do GV ra đề hay các đề tập

trung như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển

Thực tế hiện nay, các bài tập chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểmtra Bài tập học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tậphọc tập dưới dạng học khám phá có thể giúp HS nhiều hơn trong làm quen vớiviệc tự lực tìm tòi và mở rộng tri thức

* Theo dạng của câu trả lời của bài tập “mở” hay “đóng”, có các dạng bàitập sau:

- Bài tập đóng: Là các bài tập mà người học (người làm bài) không cần tự

trình bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trongloại bài tập này, GV đã biết câu trả lời, HS được cho trước các phương án có thểlựa chọn

- Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả GV

và HS (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là “mở” Chẳnghạn GV đưa ra một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, HS cần tự bình luận,thảo luận về đề tài đó HS tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận củamình là các ví dụ điển hình về bài tập mở

Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của các nhân và không cómột lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không giancho sự tự quyết định của người học Nó được sử dụng trong việc luyện tập hoặc

Trang 6

kiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết cácvấn đề Tính độc lập và sáng tạo của HS được chú trọng trong việc làm dạng bàitập này Tuy nhiên, bài tập mở cũng có những giới hạn như có thể khó khăntrong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, mất nhiều công sức hơnkhi xây dựng và đánh giá cũng không phù hợp với mọi nội dung dạy học Trongviệc đánh giá bài tập mở, chú trọng việc người làm bài biết lập luận thích hợpcho con đường giải quyết hay quan điểm của mình.

Trong thực tiễn giáo dục trung học hiện nay, các bài tập mở gắn với thựctiễn còn ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập mở là hình thức bài tập có ý nghĩaquan trọng trong việc phát triển năng lực HS Trong dạy học và kiểm tra đánhgiá giai đoạn tới, GV cần kết hợp một cách thích hợp các loại bài tập để đảm bảogiúp HS nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản và năng lực vận dụng trong cáctình huống phức hợp gắn với thực tiễn

3 Những đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực.

Các thành tố quan trọng trong việc đánh giá việc đổi mới xây dựng bài tậplà: Sự đa dạng của bài tập, chất lượng bài tập, sự lồng ghép bài tập vào giờ học

và sự liên kết với nhau của các bài tập

Những đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực:

a) Yêu cầu của bài tập

- Có mức độ khó khác nhau

- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu

- Định hướng theo kết quả

b) Hỗ trợ học tích lũy

- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học

- Làm nhận biết được sự gia tăng của năng lực

- Vận dụng thường xuyên cái đã học

Trang 7

c) Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập

- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân

- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân

- Sử dụng sai lầm như là cơ hội

d) Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn

- Bài tập luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở

- Thay đổi bài tập đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xâydựng tri thức thông minh)

- Thử các hình thức luyện tập khác nhau

đ) Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp

- Tăng cường năng lực xă hội thông qua làm việc nhóm

- Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức

e) Tích cực hóa hoạt động nhận thức

- Bài tập giải quyết vấn đề và vận dụng

- Kết nối với kinh nghiệm đời sống

- Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề

g) Có những con đường và giải pháp khác nhau

- Nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp

- Đặt vấn đề mở

- Độc lập tìm hiểu

- Không gian cho các ý tưởng khác thường

- Diễn biến mở của giờ học

h) Phân hóa nội tại

- Con đường tiếp cận khác nhau

- Phân hóa bên trong

- Gắn với các tình huống và bối cảnh

Trang 8

4 Các bậc trình độ trong bài tập theo định hướng năng lực

Về phương diện nhận thức, người ta chia các mức quá trình nhận thức vàcác bậc trình độ nhận tương ứng như sau:

- Nhận biết lại cái gì đã học theo cáchthức không thay đổi

- Tái tạo lại cái đã học theo cách thứckhông thay đổi

2 Xử lí thông

tin

Hiểu và vậndụng

Nắm bắt ý nghĩaVận dụng

- Phản ánh đúng bản chất, ý nghĩa cái đãhọc

-Vận dụng các cấu trúc đã học trong tìnhhuống tương tự

3 Tạo thông

tin

Xử lí, giải quyếtvấn đề

- Nghiên cứu có hệ thống và bao quát mộttình huống bằng những tiêu chí riêng

- Vận dụng các cấu trúc đã học sang mộttình huống mới

- Đánh giá một hoàn cảnh, tình huốngthông qua những tiêu chí riêng

- Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức Bài tập

tái hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng phát triển năng lực

- Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các

tình huống không thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện

kỹ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo

- Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích,

tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giảiquyết vấn đề Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học

Trang 9

- Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập vận

dụng và giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với các bối cảnh và tình huống thựctiễn Những bài tập này là những bài tập mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận,nhiều con đường giải quyết khác nhau

II Hướng dẫn biên soạn câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực của các chủ đề trong chương trình GDPT cấp THPT hiện hành 2.1 Yêu cầu, tiêu chí biên soạn câu hỏi/bài tập

* Tiêu chí hoá chuẩn kiến thức, kĩ năng

Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học được hiểu là mức độ tối thiểu học sinh

có thể và cần phải đạt được

Nhìn chung, chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổthông được phân loại theo tinh thần thang phân loại mục tiêu của Bloom (đãđược Lorin Anderson cùng các cộng sự chỉnh sửa ở những năm 1990): Nhớ,Hiểu, Vận dụng, Phân tích-tổng hợp, Đánh giá và Sáng tạo

Song không phải ở bất kỳ tình huống nào, ở môn học nào cũng chỉ dùngcác thuật ngữ ”Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích-tổng hợp, Đánh giá, Sáng tạo”,

mà còn có thể dùng nhiều động từ khác Quá trình mô tả mỗi mức độ của chuẩnthành các động từ, hành động, thao tác tương đương được gọi là tiêu chí hoáchuẩn

Hệ thống các động từ hành động thể hiện các kĩ năng cấu thành năng lực

hệ thống hóa

- Mức độ biết: Đếm, đọc, xác định, nhắc lại, viết, thuật lại, vẽ, ghi lại, liệt

kê, đưa ra lại, tìm, chọn lựa, gọi tên, sắp xếp theo, đặt tên, liệt kê, trình bày…

- Mức độ hiểu: Cho ví dụ, giải thích, trích dẫn, định vị, kết luận, giảinghĩa, chuyển đổi, diễn đạt lại, mô tả, dự đoán, thảo luận, báo cáo, ước lượng,khái quát sơ bộ, tóm tắt, minh họa, phác họa, …

Trang 10

- Mức độ phân tích: Phân chia, minh họa, phân loại, so sánh, đối chiếu,phác thảo, chỉ ra, tranh luận, suy diễn, sơ đồ hóa, phân biệt, khảo sát, phânchia,…

- Mức độ vận dụng: Thực hiện, phỏng theo, điều hành, thực hiện, vậnhành, đánh giá, báo cáo, vẽ đồ thị, chỉ dẫn, chọn lựa, liên hệ, tham gia, tạo ra, dựđoán, xây dựng, vận dụng, chứng minh, liên hệ, khám phá, giải quyết, thành lập,

* Yêu cầu đối với việc lựa chọn chuẩn để đánh giá.

• Lựa chọn chuẩn đánh giá

Do thời gian tổ chức kì kiểm tra, thi thường giới hạn (45 hoặc 90 phút)nên:

+ Những chuẩn được chọn để đánh giá phải có vai trò quan trọng trongchương trình môn học Ở đó một chuẩn có thể coi là quan trọng:

(i) Nếu HS không đạt chuẩn này rất khó có thể đạt được các chuẩn kháccủa chương trình

(ii) Thời lượng dành cho việc đạt chuẩn này tương đối nhiều so với thờilượng dành cho các chuẩn khác

+ Phải chọn những chuẩn đại diện cho tất cả các mức độ mục tiêu cần đạt

đã quy định trong chương trình Trong đó, tập trung nhiều hơn ở các chuẩn kĩnăng và đòi hỏi mức độ tư duy cao (vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo)

• Số lượng chuẩn cần đánh giá

Trang 11

+ Tất cả các chủ đề thuộc chương, tất cả các chương đều phải có nhữngchuẩn đại diện được chọn vào đánh giá.

+ Số lượng chuẩn cần đánh giá ở mỗi chủ đề cần đảm bảo: có sự tươngquan về thời lượng học tập dành cho mỗi chủ đề, có tính đến tầm quan trọnggiữa các chủ đề với nhau

+ Chú trọng đến những chuẩn kiến thức, kĩ năng có liên quan nhiều và làm

cơ sở cho việc học tập của chương tiếp theo

* Yêu cầu đối với việc biên soạn câu hỏi để đo đúng mức độ cần đạt của chuẩn.

Mỗi câu hỏi hoặc một bài tập chỉ nên dùng để đo một tiêu chí nhất định.Thường có hai loại câu hỏi:

(i) Câu hỏi khách quan (Objective question): là hình thức đặt câu hỏi trong

đó chỉ có một câu trả lời đúng duy nhất

(ii) Câu hỏi chủ quan (Subjective question): là hình thức đặt câu hỏi mà cóthể có nhiều hơn một câu trả lời đúng, hoặc nhiều hơn một cách thể hiện câu trảlời đúng

* Yêu cầu biên soạn câu hỏi khách quan

- Phải thể hiện đúng nội dung và mức độ tư duy cần đo đã nêu trong CT

- Đặt một câu hỏi trực tiếp hoặc tạo một tình huống cụ thể

- Không sử dụng câu, từ chính xác như trong sách giáo khoa

- Viết các phương án lựa chọn thật khéo để những HS yếu không thể dùngphương pháp loại trừ một cách dễ dàng

- Các phương án nhiễu nên dựa trên các lỗi, các nhận thức sai lệch của HS

- Câu trả lời cho câu hỏi này không nên phụ thuộc vào đáp án câu hỏikhác

- Dùng từ và các cấu trúc câu đơn giản để viết câu hỏi

Trang 12

- Phần lựa chọn nên được viết nhất quán và phù hợp với phần dẫn.

- Tránh các lựa chọn như “các đáp án trên đều đúng”, “các đáp án trên đềusai”

* Yêu cầu biên soạn câu hỏi tự luận.

- Phải thể hiện đúng nội dung và mức độ tư duy cần đo đã nêu trong CT

- Phải phù hợp với thời gian tìm hiểu đề bài, tìm tòi lời giải và viết câu trảlời, phù hợp với số điểm dành cho nó trong tương quan với các câu hỏi khác

- Chỉ rõ nhiệm vụ HS cần thực hiện bằng các hướng dẫn cụ thể (không nên

để yêu cầu quá rộng mà bất kỳ câu trả lời nào cũng có thể là đáp án đúng)

- Sử dụng độ khó phù hợp với khả năng nhận thức của HS

- Yêu cầu HS phải thể hiện sự am hiểu, xác định và bảo vệ ý kiến của cánhân nhiều hơn là việc chỉ cần nhớ sự kiện, định nghĩa, thông tin,…

- Nếu có thể nên nêu rõ các vấn đề sau:

(i) Độ dài cần thiết của bài viết;

(ii) Mục đích bài viết

(iii) Thời gian cần thiết để viết bài

Ngày đăng: 23/06/2015, 22:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w