BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TĂNG XUÂN LƯU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BÒ SỮA CHẬM SINH VÀ ỨNG DỤNG HORMONE ĐỂ KHẮC PHỤC Chu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TĂNG XUÂN LƯU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BÒ SỮA CHẬM SINH VÀ ỨNG DỤNG HORMONE ĐỂ KHẮC PHỤC
Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc
Mã số: 62 64 01 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI, 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn Khoa học:
1 GS.TSKH Cù Xuân Dần
2 PGS.TS Trần Tiến Dũng Phản biện 1:
PGS TS Nguyễn Văn Thanh Học viện Nông nghiệp Việt Nam Phản biện 2:
TS Đào Đức Hà Viện Chăn nuôi Phản biện 3:
TS Lê Văn Thông Trung tâm Gia súc lớn trung ương
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại Học viện nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đã và đang phát triển mạnh trong những năm gần đây, đem lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định thu nhập cho người chăn nuôi Chăn nuôi tập trung chiếm khoảng 35%, còn lại là chăn nuôi nông hộ Chăn nuôi nông hộ có đặc điểm: quy mô nhỏ, không đồng
bộ, thiếu khoa học kỹ thuật khả năng sinh sản của đàn bò thấp, biểu hiện cụ thể là tuổi động dục lần đầu cao, khoảng cách hai lứa đẻ dài, tỷ
lệ chậm sinh cao
Chậm sinh ở bò sữa là tình trạng chung của cả nước cũng như ở vùng Ba Vì, Hà Nội Bò sữa thường bị các bệnh về buồng trứng như thể vàng tồn lưu, u nang và buồng trứng không hoạt động
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh chậm sinh ở bò sữa Bên cạnh yếu tố giống, thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, vùng miền, còn phải kể đến yếu tố kỹ thuật: phát hiện động dục, phối giống, điều trị các bệnh về sinh sản Tất cả những điều này đều có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bò sữa
Vì vậy, xuất phát từ yêu cầu rút ngắn tuổi động dục lần đầu, rút ngắn khoảng cách lứa đẻ, tăng số con được sinh hay nói cách khác là tăng sản lượng sữa trong một đời con cái, chúng tôi tiến hành đề tài này
2 Mục tiêu đề tài
Đánh giá được thực trạng sinh sản của đàn bò sữa nuôi tại Ba Vì,
Hà Nội và tình trạng hoạt động của buồng trứng ở bò chậm sinh, từ đó giúp cho người chăn nuôi có được thông tin và hướng tác động đúng nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Đánh giá được động thái của hormone progesterone trong những trường hợp buồng trứng hoạt động không bình thường (không hoạt động,
u nang, thể vàng tồn lưu), giúp cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản có hiệu quả
Sử dụng một số hormone hướng sinh sản điều trị bệnh buồng trứng
để nâng cao khả năng sinh sản của bò sữa
Trang 43 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài làm rõ thêm quy luật hoạt động sinh lý, sinh sản của bò sữa nuôi theo vùng sinh thái, giúp cho việc nghiên cứu, sản xuất có tác động phù hợp, chủ động và hiệu quả Kết quả sẽ góp phần bổ sung số liệu, tài liệu khoa học về đặc điểm sinh lý sinh sản của bò nói chung và bò sữa nói riêng cũng như khả năng điều khiển hoạt động sinh sản của bò bằng các chế phẩm hormone sinh sản
Ứng dụng kỹ thuật ELISA để định lượng hormone progesterone (P4), trong sữa hoặc huyết tương, để làm rõ tình trạng hoạt động của buồng trứng, hỗ trợ hữu hiệu trong chẩn đoán lâm sàng (qua trực tràng), nâng cao độ chính xác của các kỹ thuật trong chẩn đoán bệnh của buồng trứng, sử dụng hormone có hiệu quả hơn
Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đánh giá, phân tích được thực trạng sinh sản của đàn bò sữa cũng như chỉ ra các yếu tố hạn chế năng suất chăn nuôi, giúp cho các nhà quản lý có cơ sở để đưa ra những chính sách, quản lý, kỹ thuật phù
hợp nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Ứng dụng một số chế phẩm hormone hướng sinh sản để điều trị triệu chứng rối loạn sinh sản của bò sữa hiện có hiệu quả không những tăng năng suất sinh sản mà còn hạn chế được sự ảnh hưởng của hormne tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi
4 Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã tiếp cận một phương pháp nghiên cứu mới trong việc xác định, đánh giá, phân loại cụ thể các nguyên nhân gây chậm sinh trên bò sữa Đó là phương pháp số hóa (định lượng hormone progesterone), kết hợp với phương pháp truyền thống (lâm sàng) làm cho kết quả lâm sàng được chính xác hơn trong chẩn đoán và điều trị bệnh trên buồng trứng
Việc đưa ra các phác đồ điều trị bệnh một cách cụ thể cho từng trạng thái trên buồng trứng đã giúp cho các kỹ thuật ở cơ sở sản xuất có
Trang 5thể áp dụng một cách thuận thiện và chính xác hơn, đạt được hiệu quả cao Nhất là đối với các địa bàn không có những kỹ thuật giỏi
Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà chuyên môn tham khảo dùng trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Sinh sản là đặc tính sinh học tự nhiên của gia súc nói chung và bò sữa nói riêng nhằm duy trì và bảo vệ nòi giống Hoạt động sinh sản có tính chất quy luật, chịu sự điều khiển của cơ chế thần kinh và thể dịch đồng thời phụ thuộc vào môi trường, điều kiện sống Khi con người nắm được quy luật đó, chúng sẽ có tác động và điều khiển chúng theo ý muốn để thúc đẩy sản xuất có hiệu quả hơn, phục vụ nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của xã hội
Cụ thể đối với bò sữa, khả năng sinh sản của chúng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: di truyền (giống), độ tuổi, thời tiết khí hậu, phương pháp quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật
Ngày nay, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong công nghệ sinh học để điều khiển sinh sản không còn là vấn đề khó khăn và phức tạp Chúng ta đã chủ động trong việc gây động dục, gây rụng trứng, điều khiển giới tính thông qua những tác động bằng hormone Chính nhờ những kỹ thuật này, năng suất sinh sản của bò sữa đã được
nâng lên rất nhiều
1.2 Một số nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước có liên quan đến luận án
1.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Những nghiên cứu trên bò sữa đã chỉ ra rằng, nguyên nhân gây
ra tỷ lệ thụ thai thấp ở bò sữa, nhất là bò cao sản là do mất cân đối về
năng lượng trong khẩu phần ăn (Opsomer et al., 2000), dẫn đến u
nang buồng trứng, viêm nhiễm đường sinh dục, sảy thai, chết thai
Trang 6sớm, thai chết lưu, sót nhau, đẻ khó Theo Nakao (1982, 1983), sử dụng kỹ thuật ELISA để phân tích hàm lượng hormone P4 giúp cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản (u nang, thể vàng, không hoạt động) hiệu quả hơn, kỹ thuật này đã có hiệu quả trong điều khiển sinh sản
Dùng kỹ thuật ELISA để chẩn đoán các trường hợp bị rối loạn sinh
sản trên bò đã được nghiên cứu bởi Nakao et al (1983), Prakash et al (1987), Lee et al (1996) Dochi et al (1998), Ake-Lopez et al (1999)
sử dụng P4 để gây rụng trứng nhiều trong công nghệ cấy truyền phôi ở gia súc đều cho kết quả tốt
Sử dụng P4, prostaglandin (PG) hoặc chế phẩm tương đương đã được
nghiên cứu bởi Henricks (1986), Agarwal (1987), Buse (1995), Fukui et
al., (1999), Baruselli et al (2003), Cutaia et al (2003), Gavara et al
(2003), Su et al., (2009)
Sử dụng kết hợp GnRH-PGF2α-GnRH-Estradiol nhằm nâng cao
khả năng sinh sản đã được nghiên cứu bởi Martiner et al (2001), Fabio
de Rensis et al (2002), Alinmer (2005), Bilego et al (2013), Giordano
et al (2013)
1.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu ứng dụng hormone sinh sản (P4, estradiol, GnRH, PGF2α ) bởi Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Văn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong và Đào Đức Thà (1995), Nguyễn Thị Ước (1996), Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương (1997), Chung Anh Dũng (2001), Nguyễn Xuân Trạch (2004), Lưu Công Khánh và cs (2004), Quản Xuân Hữu, (2006), Tăng Xuân Lưu và cs (2010), Trịnh Quang Phong và cs (2012) Nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật ELISA xác định hàm lượng (P4)
và điều trị rối loạn sinh sản đã được thưc hiện bởi Phan Văn Kiểm và
cs (1998, 2000, 2006), Trần Tiến Dũng và cs.(2003), Nguyễn Hùng Nguyệt (2009)
Trang 7Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Đàn bò cái lai hướng sữa HF (HF ≥ 75%) đến tuổi sinh sản và sau đẻ Sữa để định lượng hormone P4, kít chẩn đoán P4 của Trường đại học Hiroshima, Nhật Bản (2002)
Các chế phẩm hormone hướng sinh sản: P4 (vòng CIDR), PGF2, GnRH của hãng Fizer và Intervet
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
2.1.2.1 Đánh giá tình hình sinh sản của đàn bò sữa tại Ba Vì, Hà Nội
Thông qua các chỉ tiêu: tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng đẻ lứa đầu, thời gian động dục lại sau khi đẻ, khoảng cách giữa hai lứa đẻ, tỷ lệ đẻ toàn đàn, tỷ lệ thụ thai, hệ số phối giống, tỷ lệ chậm sinh, tỷ lệ sảy thai, đẻ non và tình trạng hoạt động của buồng trứng sau khi đẻ 120 ngày
2.1.2.2 Đánh giá tình trạng hoạt động của buồng trứng bò sau khi đẻ
Qua các chỉ tiêu: Động dục trở lại của bò sữa đến 120 ngày sau
đẻ, nguyên nhân ở buồng trứng, ảnh hưởng của mùa vụ, lứa đẻ, thể trạng
2.1.2.3 Định lượng hormone P 4 , để phát hiện bệnh buồng trứng và chẩn
đoán thai sớm nhằm nâng cao khả năng sinh sản ở bò sữa
Qua các nội dung: Xác định nguyên nhân bằng phương pháp khám qua trực tràng, định lượng P4 trong sữa đối với các trường hợp chậm sinh do buồng trứng (thể vàng tồn lưu, u nang buồng trứng, buồng trứng kém phát triển (thiểu năng)), chẩn đoán có thai sớm ở 21, 28 và 35 ngày sau phối giống
2.1.2.4 Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng
sinh sản của bò sữa
Sử dụng thiết bị đặt âm đạo CIRD; hormone: GnRH, PGF2
Trang 82.1.3 Phương pháp nghiên cứu
2.1.3.1 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh sản
Theo dõi ghi chép trực tiếp, qua sổ sách giống và điều tra trực tiếp các hộ chăn nuôi (theo phương pháp của Nguyễn Trọng Tiến và cs., 1991)
2.1.3.2 Phương pháp đánh giá thể trạng và khám lâm sàng để phân loại
buồng trứng của bò
Chấm điểm thể trạng BCS (Body Condition Scoring In Dairy Cattle) theo phương pháp đánh giá cho điểm của Nhật Bản
2.1.3.3 Phương pháp định lượng progesterone (P4)
Sử dụng phương pháp định lượng miễn dịch enzyme - ELISA để
định lượng P4, theo phương pháp của Isobe et al (2004), Mann et al
(2005) và Su Thanh Long et al., (2009):
2.1.3.4 Phương pháp xác định bệnh buồng trứng qua định lượng
Khám buồng trứng (qua trực tràng) 2 lần liên tiếp cách nhau 7 –
10 ngày (Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương, 1997)
2.1.3.6 Phương pháp ứng dụng một số hormone hướng sinh dục để
nâng cao khả năng sinh sản
- Sử dụng CIRD, GnRH, PGF2α buồng trứng không hoạt động;
- Sử dụng GnRH, PGF2 đối với bò bị u nang buồng trứng;
- Sử dụng PGF2 đối với bò có thể vàng tồn lưu;
- Sử dụng công thức tổng hợp: GnRH-PGF2-PGF2-GnRH trong trường hợp bò chậm sinh không rõ nguyên nhân;
Trang 9Phương pháp phối giống và khám thai cho bò trong thí nghiệm:
Phối giống cho bò bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (tinh bò đông lạnh) Thời gian phối giống từ 12-18 giờ kể từ khi bò xuất hiện động dục
(Sato et al., 1992) Định lượng P4 sau 21 ngày và khám thai qua trực
tràng ở 45 - 60 ngày sau phối
2.2 Xử lý số liệu
Các chỉ tiêu tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng
cơ thể khi đẻ lần đầu, thời gian mang thai, thời gian dộng dục lại sau đẻ, khoảng cách giữa hai lứa đẻ Số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Minitab 16 Các tham số thống kê bao gồm dung lượng mẫu (n), giá trị trung bình (X), độ lệch chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất (Min), giá trị lớn nhất (Max)
Các chỉ tiêu bao gồm tỷ lệ đẻ, xẩy thai, đẻ non, sát nhau, hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai, hiện tượng chậm sinh, động dục trở lại của
bò đến 120 ngày sau khi đẻ, ảnh hưởng mùa vụ đến chức năng buồng trứng sau đẻ, chẩn đoán lâm sàng bệnh buồng trứng bằng khám qua trực tràng, định lượng progesterone trong sữa, điều trị bệnh buồng trứng không hoạt động, điều trị bệnh u nang buồng trứng, điều trị bệnh thể vàng tồn lưu, điều trị bò chậm sinh không rõ nguyên nhân bằng phác đồ tổng hợp
Các tham số thông kê được xác định bao gồm: dung lượng mẫu, tần xuất quan sát và tỷ lệ Dữ liệu được phân tích thống kê và so sánh bằng phép thử (χ2) (Chi-square test) và phép thử chính xác của Fisher (Fisher’s exact test) Phép thử chính xác của Fisher được sử dụng trong trường hợp mẫu bé (có ít nhất một giá trị tần suất ước tính lý thuyết <5)
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Vùng chăn nuôi bò sữa Ba Vì, Hà Nội
- Phòng thí nghiệm trọng điểm, Bộ môn Sinh lý sinh sản và Tập tính vật nuôi - Viện Chăn nuôi
- Bộ môn Ngoại Sản - Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 102.4 Thời gian nghiên cứu
Các nội dung của đề tài là sự tiếp tục kế thừa của những nghiên cứu
từ năm 2003-2005 (về hormone); phần đánh giá sinh sản, phân loại buồng trứng và điều trị sinh sản được nghiên cứu hoàn thiện và cập nhật
từ năm 2010 - 2014
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình sinh sản của đàn bò sữa vùng Ba Vì, Hà Nội
3.1.1 Tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lần đầu
Kết quả được thể hiện qua bảng(3.1) Theo Tăng Xuân Lưu và cs (2004a), bò lai HF ≥75% chọn lọc tại Ba Vì có tuổi phối giống lần đầu nhóm 3/4 HF là 16,53±0,21 tháng và nhóm 7/8 HF là 16,93±0,28 tháng, tuổi đẻ lứa đầu tương ứng là 26,02±0,21 và 26,43±0,28 tháng Nguyễn Xuân Trạch (2004b), bò lai HF ≥75% HF ở khu vực Hà Nội và vùng phụ cận có tuổi phối giống lần đầu 18,7±0,2 tháng, tuổi đẻ lứa đầu 29,3 tháng Trần Thị Loan và cs (2012) cho biết bò lai ≥75% HF tại Ba Vì có tuổi phối giống lần đầu nhóm 75% HF là 24,06±0,94 tháng, nhóm F3 (87,5% HF) là 24,48±1,04 tháng và tuổi đẻ lứa đầu tương ứng ở nhóm F2
là 33,61±0,98 tháng và nhóm F3 là 33,93±1,11 tháng Nguyễn Ngọc Tấn
và cs (2014), bò lai ≥75% HF ở TP Hồ Chí Minh có tuổi phối giống lần đầu là 18,4 tháng và tuổi đẻ lứa đầu 28,2 tháng
Bảng 3.1 Tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lần đầu
Chỉ số Tuổi phối giống lần đầu
(tháng)
Tuổi đẻ lần đầu (tháng)
Trang 11thấp (Vũ Chí Cương và cs., 2006) Kết quả của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu khác trên cùng một địa điểm ở các thời gian khác nhau
3.1.2 Khối lượng cơ thể khi đẻ lứa đầu
Trong nghiên cứu của Tăng Xuân Lưu và cs (2001), KL cơ thể khi đẻ lần đầu của nhóm bò F1 là 334,476,3kg, nhóm F2 355,35 5,16
kg và nhóm F3 363,334,09 kg, trung bình nhóm bò lai 353,065,18 kg Đánh giá về KL đàn bò lai HF theo tháp giống ở phía Bắc, Phạm Văn Giới và cs (2007) cho biết KL biểu thị sự sai khác rõ rệt giữa các tầng của tháp giống, cao nhất là tầng hạt nhân 426,99kg, tầng nhân giống 413,09kg và thấp nhất là tầng sản xuất 405,73kg
Bảng 3.2 Khối lượng cơ thể bò cái khi đẻ lần đầu
Chỉ số Khối lượng cơ thể khi đẻ lần đầu (kg)
Khối lượng ảnh hưởng bới tỉ lệ máu lai HF, bò máu lai HL cao sẽ có
KL cao hơn bò có máu lai HF thấp KL cơ thể ảnh lớn bởi chế độ chăm sóc nuôi dưỡng giai đoạn đầu cũng như khả năng sản xuất của chúng Kết quả này phù hợp với nhận xét của Nguyễn Văn Đức (2005) và Phạm Văn Giới (2007b) là khối lượng cơ thể tăng tỷ lệ thuận với sự tăng mức độ lai và năng suất sữa Kết quả của chúng tôi ở thời điểm này có cao hơn so với các nghiên cứu trên đàn bò vùng Ba Vì (bảng 3.2)
3.1.3 Thời gian mang thai của đàn bò sữa qua các lứa đẻ
Kết quả nghiên cứu theo dõi từ lứa đẻ 1 đến trên lứa đẻ 6 của 1.068
Trang 12thai của bò dao động trong khoảng 278 - 290 ngày Nguyễn Quốc Đạt
và Nguyễn Thanh Bình (2006), thời gian mang thai của bò HF nhập nội
TP Hồ Chí Minh là 276,57 ngày Theo Sato et al (1992a) thời gian
mang thai của bò HF là 281 ngày Kết quả của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu trên từ 5-7 ngày, sự sai khác này đều nằm trong ngưỡng dao động chung, tuy nhiên chúng tôi không loại trừ yếu tố stress nhiệt do phương pháp nuôi nhốt tại chuồng gây ra
Bảng 3.3 Thời gian mang thai qua các lứa đẻ
3.1.4 Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Trong nghiên cứu của Tăng Xuân Lưu và cs (1999) bò lai F1 HF tại Ba Vì động dục lại sau 91,88±4,2 ngày đẻ; F2 là 106,17±5,45 ngày Chung Anh Dũng (2001), đàn bò lai HF ở TP Hồ Chí Minh có điểm thể trạng 3,0-3,5 thì thời gian động dục lại sau khi đẻ là 62,81 ngày, trung bình là 88 ngày Đinh Văn Cải và cs (2005), bò lai HF phía Nam có thời gian động dục lại sau đẻ vào mùa khô 76,72 ngày, mùa mưa 76,62 ngày,
bò HF thuần mùa khô 130,1 ngày và mùa mưa 154,4 ngày
Bảng 3.4 Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Chỉ số Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Trang 13Trần Thị Loan và cs (2012), bò F2 động dục sau đẻ 102,13 ± 4,46 ngày, F3: 118,11 ± 4,52 ngày Nguyễn Ngọc Tấn và cs (2014), bò lai HF
ở TP Hồ Chí Minh động dục sau 95,9 ngày (78,4-136,4 ngày), khoảng cách từ sau đẻ đến phối giống có chửa là 209,9 ngày Bò vùng Ba Vì có thời gian động dục lại sau đẻ cao là do thay đổi tỷ lệ máu lai cao, bò chuyển vùng nhiều, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng không đồng đều giữa các nơi (bảng 3.4)
3.1.5 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
TheoTrần Trọng Thêm (1986), bò sữa ở Phù Đổng có khoảng cách lứa đẻ là 503±37,8 ngày; Vũ Chí Cương và cs (2004), khoảng cách lứa đẻ bò lai F2 và F3 tại Phù Đổng 440,6±7,2 và 442,8±10,9 ngày; ở Ba
Vì 443,12±10,12 và 461,58±19,24 ngày Nguyễn Văn Đức (2005), bò lai
HF Bắc bộ và Nam bộ có khoảng cách lứa đẻ 419,6 ngày Nguyễn Quốc Đạt và Nguyễn Thanh Bình (2006), đàn bò HF nhập nội nuôi tại TP Hồ Chí Minh và Lâm Đồng có khoảng cách lứa đẻ 1-2 là 15,3 ± 2,1 tháng Trần Thị Loan và cs (2012), nhóm bò lai F1 ở Ba Vì có khoảng cách lứa
đẻ 432,2±7,16 ngày, F3 là 441,01 ± 7,86 ngày
Như vậy khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò Ba Vì là khá dài so với một số nơi khác (bảng 3.5) Đây là do tỷ lệ máu lai HF tăng cao trên
87,5% Bảng 3.5 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Chỉ số Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày)
3.1.6 Tỷ lệ đẻ, sảy thai đẻ non, sát nhau trên đàn bò sữa
Tác giả Phan Văn Kiểm (1998) cho biết tỷ lệ đẻ toàn đàn bò lai HF
Hà Nội là 60 – 65%, đẻ non, sảy thai là 5,86%, sát nhau là 4,34% và có chiều hướng gia tăng ở bò có tỷ lệ máu lai HF cao và bò HF thuần Trịnh Quang Phong và cs (2012), tỷ lệ đẻ của bò lai HF tại Ba Vì và Gia Lâm