1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiến sĩ Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

27 596 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 422,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế trên, cơ chế Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần được nghiên cứu để đổi mới hơn nữa, tạo hiệu quả cao về cả kinh tế lẫn xã hội tron

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐÀO TRUNG CHÍNH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT ĐỔI MỚI PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

MÃ SỐ : 62 85 01 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Phản biện 2 : PGS.TS Trần Văn Tuấn

Trường Đại học Khoa học tự nhiên

Phản biện 3: PGS.TS Dương Đăng Huệ

Bộ Tư pháp

Luận án được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại:

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Vào hồi giờ, ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều tất yếu, phát triển đồng bộ với quá trình này là sự xuất hiện nhiều đô thị mới, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu du lịch, cơ sở hạ tầng cũng cần mở rộng để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Trong khi quỹ đất hiện có dành cho các hạng mục trên không thể đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển, vì vậy việc thu hồi đất đang sử dụng vào các mục đích như đất nông nghiệp, đất ở, đất chưa sử dụng…để chuyển sang mục đích sử dụng là đất chuyên dùng là điều không thể tránh khỏi Nhu cầu chuyển đổi đất đai đang tạo nên một áp lực ngày càng tăng, trong 10 năm qua, giai đoạn năm 2001-2010

đã có 725 nghìn ha đất nông nghiệp chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp như xây dựng đường giao thông, thủy lợi, khu đô thị, khu công nghiệp ; dự báo trong 10 năm tới (2011-2020), diện tích đất chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp sẽ là

907 nghìn ha

Trong tình trạng chuyển đổi đất đai mạnh như vậy, vấn đề phát triển bền vững cần đặt ra thành một ưu tiên hàng đầu, đồng thời với nhiệm vụ tập trung quỹ đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cần phải giải quyết các vấn đề liên quan đến việc làm, thu nhập cho những người dân bị thu hồi đất, giữ ổn định và công bằng xã hội Yêu cầu này đòi hỏi cơ chế, chính sách về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư cần được xem xét, hoàn thiện Việc bồi thường một giá trị lớn hơn giá trị mà người

sử dụng đất nhận được từ đất có thể được coi là đã phù hợp, tuy nhiên, về lý thuyết kinh tế đất đai, do đất đai có những đặc trưng riêng và một trong những đặc trưng đó chính là sự ngày càng khan hiếm, điều này tương ứng với giá đất luôn luôn có xu hướng tăng ngay cả khi nó không được sử dụng Vì vậy, người sử dụng đất luôn có xu hướng yêu cầu giá bồi thường về đất cao hơn nhiều lần so với thực tế

Xuất phát từ thực tế trên, cơ chế Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư cần được nghiên cứu để đổi mới hơn nữa, tạo hiệu quả cao về cả kinh tế lẫn xã hội trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Từ

nhu cầu này, Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi

mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư" nhằm góp phần hoàn

thiện pháp luật về đất đai trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Đề xuất đổi mới, hoàn thiện quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trang 4

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Về khoa học

Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của hệ thống pháp luật đất đai đổi mới, phù hợp hơn với mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh toàn diện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

3.2.Về thực tiễn:

- Góp phần làm rõ cơ sở thực tiễn của các quy định về thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật

- Đáp ứng yêu cầu giải quyết những vấn đề còn nhiều vướng mắc, bất cập trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm làm giảm tình trạng khiếu kiện của người dân

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đất đai và cơ chế thực hiện việc chuyển đổi đất đai sang sử dụng cho các dự

án đầu tư phát triển kinh tế

- Quy định của pháp luật đất đai về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: địa bàn cả nước và có tập trung vào các địa phương có nhiều kinh nghiệm giải quyết vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Đà Nẵng, T.phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An

5 Những đóng góp mới của luận án

- Từ tổng kết thực tiễn, xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN

- Đề xuất đổi mới công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từ quan điểm chỉ đạo, quy định pháp luật cho đến khâu tổ chức thực hiện trên cơ sở nhận thức đúng về vai trò của đất đai là tài nguyên có hạn, là tài sản, là tư liệu sản xuất

6 Bố cục của luận án

Luận án gồm 150 trang không kể tài liệu tham khảo, gồm các phần: Mở đấu 5 trang; tổng quan các vấn đề nghiên cứu 54 trang; nội dung và phương pháp nghiên cứu 5 trang; kết quả nghiên cứu và thảo luận 83 trang; kết luận và đề nghị 3 trang, 30 bảng số liệu, 9 hình vẽ, 11phụ lục; tham khảo 104 tài liệu, trong đó: 97 tài liệu tiếng Việt, 7 tài liệu tiếng Anh

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Khái quát về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.1.1 Một số khái niệm

Thu hồi đất: Ở Việt Nam, quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân, do Nhà

nước là đại diện chủ sở hữu, vì vậy, khái niệm thu hồi đất gắn liền với sự tồn tại của quyền sở hữu toàn dân về đất đai Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành

chính để thu lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho

tổ chức, Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý

Trưng thu, trưng mua: được sử dụng khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng tài sản

thuộc sở hữu tư nhân (của các tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân) để sử dụng cho các nhu cầu của Nhà nước, cho lợi ích chung Như vậy, đối với đất đai, việc trưng mua, trưng thu chỉ xảy ra trong thời kỳ có sở hữu tư nhân về đất đai (thời kỳ trước ngày 18/12/1980)

Trưng dụng: là biện pháp hành chính cho phép một cơ quan nhà nước với điều

kiện có bồi thường, buộc tư nhân phải cho Nhà nước sử dụng một động sản hay bất động sản trong một thời gian nhất định Do đó, có thể hiểu, trưng dụng đất là việc Nhà nước điều chuyển quyền sử dụng một diện tích đất trong một giai đoạn tạm thời từ người sử dụng đất hợp pháp sang Nhà nước một cách bắt buộc theo thủ tục hành chính Như vậy, khác với thu hồi đất, nếu thu hồi đất dẫn đến chấm dứt vĩnh viễn quyền sử dụng đất của người có đất thì trưng dụng đất chỉ chấm dứt quyền sử dụng đất của người có đất một cách tạm thời trong một thời gian nhất định Cũng giống như thu hồi đất, việc trưng dụng đất thực hiện trong điều kiện được quy định chặt chẽ nhằm mục đích vừa bảo đảm trưng dụng trong trường hợp thật cần thiết vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ tài sản hợp pháp của người dân

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Theo Luật Đất đai 2003 thì “bồi thường khi

Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất

bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” Những thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc thu hồi đất gây ra cũng được xem xét bồi thường

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi

đất thông qua các khoản hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác Các khoản hỗ trợ này được hiểu là phần cho thêm của Nhà nước sau khi đã bồi thường theo đúng giá trị sinh lời mà thửa đất đó mang lại

Tái định cư: là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người

Trang 6

bị Nhà nước thu hồi đất ở mà họ không còn chỗ ở nào khác Việc thu hồi đất ở thông

qua một quyết định hành chính là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và đòi hỏi có sự “hy sinh” của người sử dụng đất, do đó, không chỉ đơn thuần là sự đền

bù về mặt vật chất (có đất ở, nhà ở) mà còn phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ

Giá đất: là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc

được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Có những phương pháp xác định giá đất phổ biến trên thế giới và đã được áp dụng tại Việt Nam là: phương pháp

so sánh trực tiếp; phương pháp thu nhập; phương pháp chiết trừ và phương pháp thặng

dư Đối với từng loại đất, sẽ lựa chọn phương pháp cụ thể để áp dụng, ví dụ: phương pháp so sánh trực tiếp chủ yếu áp dụng cho xác định giá đất ở, phương pháp thu nhập chủ yếu áp dụng cho đất nông nghiệp

Địa tô, địa tô chênh lệch, địa tô tuyệt đối

Địa tô là phần hoa lợi hoặc khoản tiền mà người thuê, mướn ruộng đất sản xuất

phải nộp cho chủ sở hữu ruộng đất

Địa tô chênh lệch là kết quả của năng xuất khác nhau giữa hai tư bản ngang

nhau, bỏ vào những đất đai có diện tích ngang nhau, nhưng mức độ phì nhiêu khác nhau, cho nên địa tô chênh lệch trên đây là do sự chênh lệch giữa sản phẩm của tư bản

bỏ vào loại đất xấu nhất không đem lại địa tô và sản phẩm của tư bản bỏ vào một loại đất tốt hơn, quyết định

Địa tô chênh lệch 1 là địa tô thu được do có tư bản ngang nhau, lao động ngang

nhau, diện tích đất đai ngang nhau trên những mảnh ruộng khác nhau, cho kết quả sản phẩm khác nhau Nó là phần lợi nhuận siêu ngạch trên những mảnh ruộng có điều kiện

tự nhiên thuận lợi hơn

Địa tô chênh lệch 2 là kết quả khác nhau của những lần đầu tư tư bản nối tiếp

nhau trên một diện tích

Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải

nộp cho địa chủ, dù ruộng đất đó tốt hay xấu, ở xa hay gần

1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Tiếp cận vấn

đề đất đai luôn luôn đòi hỏi sự nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề xã hội, vì thực tế chính các yêu tố tự nhiên (khí hậu, đất đai ) tạo ra sự khác biệt trong đời sống của con người, tạo ra bản sắc riêng đối với mỗi dân tộc Thu hồi đất đã khiến cho người dân phải di chuyển chỗ ở, việc làm đồng nghĩa với việc thay đổi cách thức canh tác và phương thức sản xuất, thậm chí cả các vấn đề về tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng của từng nhóm cộng đồng dân tộc

Trang 7

- Việc ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật: Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền KT-XH Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế

1.2 Cơ sở lý luận về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.2.1 Vai trò của đất đai trong mô hình phát triển KTTT định hướng XHCN

Việt Nam thực hiện đổi mới, các mối quan hệ và cơ chế thị trường đang hình thành, phát triển và chi phối nền kinh tế, do đó, cần xét xem đất đai như một yếu tố đầu vào, một tài sản quan trọng vận động trong quan hệ và cơ chế thị trường Mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng được thiết lập bởi quan hệ tô - tức

Từ quan hệ thuê - mướn, quan hệ tô - tức, quan hệ tín dụng, cho ta thấy mọi của cải nhàn rỗi ở bất kỳ hình thái nào cũng đều ở trạng thái sẵn sàng trở thành các nguồn lực và được thu hút vào guồng máy kinh tế, để tăng nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Có thể nói, quan hệ tô - tức đã khiến cho của cải có thể và cần phải chuyển hóa, hay được vốn hóa, tư bản hóa Đây chính là một phương thức đặc thù để nền

KTTT phát triển

1.2.2 Bản chất chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta

Hiến pháp và các quy định pháp luật về đất đai khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Nhà nước không sử dụng toàn bộ đất đai

mà trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để sử dụng vào các mục đích thông qua việc giao đất và cho thuê đất

Quyền sử dụng đất là một tính chất đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam Pháp luật đất đai đã từng bước phát triển, hoàn chỉnh các quy định về “người sử dụng đất” và các “quyền sử dụng đất” Với việc trở thành đối tượng trao đổi thông qua các giao dịch này, quyền sử dụng đất được xác định là loại hàng hoá đặc biệt Các giao dịch về quyền sử dụng đất từng bước được mở rộng và ngày càng hoàn thiện

1.2.3.Chính sách phân phối địa tô trong quản lý đất đai theo cơ chế thị trường

Liên quan đến vấn đề địa tô, quyền sở hữu và quyền sử dụng phải được phân định rõ giữa các chủ thể và phải được quy định trong các đạo luật quan trọng như Hiến pháp, Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai,…Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Còn quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức

Đối với Việt Nam, quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân và do Nhà nước là đại diện, còn các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, v.v chỉ có quyền sử dụng trên mảnh đất được Nhà nước giao, cho thuê Hiểu theo khái niệm trên thì những người đang có quyền sử dụng đất không có quyền trong việc thu địa tô Điều này trên thực tiễn đã và đang làm cho các chủ thể tham gia quan hệ đất đai gặp phải những vấn

Trang 8

đề phức tạp từ việc sử dụng một khoảnh đất cụ thể cho đến việc quản lý vĩ mô trong nền KTTT định hướng XHCN Đặc biệt là việc xuất hiện tư tưởng và hành vi “độc quyền” trong việc giao đất, cho thuê đất, định giá bồi thường khi thu hồi đất,…và khi những cơ chế, chính sách liên quan quy định bất hợp lý, tất yếu dẫn tới việc kìm hãm

sự vận động của hàng hoá quyền sử dụng đất, thị trường bất động sản; đồng thời, nó còn làm phát sinh tiêu cực cũng như những phản ứng “bất thường” của người sử dụng đất trong đời sống xã hội

1.2.4 Quan hệ lợi ích kinh tế - xã hội giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Giải quyết lợi ích kinh tế - xã hội không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất của mỗi chủ thể tham gia trong quan hệ đất đai mà còn phải đảm bảo công bằng giữa các chủ thể, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển đúng hướng và cho sự phát triển của các lợi ích khác

Có thể thấy một phần nguồn lực đất đai vẫn chưa được sử dụng có hiệu quả, tác động đến mục tiêu kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà nguyên nhân chủ yếu còn chưa giải quyết được quan hệ lợi ích kinh tế - xã hội trong các quan hệ đất đai giữa nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi (3 bên) Quan hệ lợi ích giữa 3 bên hiện nay còn nhiều bất cập: người sử dụng đất bị thu hồi luôn mong muốn được bồi thường thỏa đáng, các nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi cách, trong khi đó Nhà nước chỉ thực hiện thu các khoản với mức thu thấp và trong nhiều trường hợp còn bị khấu trừ hết bởi tiền bồi thường mà nhà đầu tư đã ứng trước

Trên cơ sở nhận thức rõ quan điểm phát triển kinh tế gắn liền với thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội, cần xem xét, đánh giá đúng mức lợi ích giữa các bên từ đó tìm

ra cách giải quyết hài hòa, không triệt tiêu mà cần tôn trọng và bảo vệ lợi ích của các bên, tăng sự đồng thuận, phù hợp với xu hướng của xã hội hiện đại

Đất đai hàm chứa những giá trị khác nhau: giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị vô hình Vì vậy, mức bồi thường cho người dân khi bị thu hồi đất cần được giải quyết hài hòa giữa các giá trị này

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trên thế giới, nhiều nước, tổ chức quốc tế đã có những sáng kiến, biện pháp thực hiện để giải quyết tốt vấn đề đất đai Luận án đã nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc, Ôxtrâylia, Đức, Canađa, kinh nghiệm của WB, ADB về các nội dung sau:

- Các trường hợp thu hồi đất, điều kiện để thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

- Thu hồi đất theo quy hoạch, tạo quỹ đất sạch

- Phương pháp tính giá bồi thường, giải quyết khiếu nại về giá bồi thường

- Kinh nghiệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong quá trình tài trợ cho một số loại dự án cụ thể như dự án thủy điện lớn, dự án chỉnh trang đô thị theo cơ chế

Trang 9

chia sẻ lợi ích, cơ chế góp đất, điều chỉnh lại đất đai

1.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Từ tình hình nghiên cứu trong nước, kinh nghiệm của các nước, các tổ chức quốc tế, có thể chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như sau:

- Xác định các trường hợp áp dụng theo cơ chế thu hồi đất

- Cơ chế tạo quỹ đất sạch (thu hồi đất theo quy hoạch)

- Tăng cường vai trò của Nhà nước trong trường hợp chủ đầu tư tự thỏa thuận với người dân để có đất thực hiện dự án đầu tư

- Mở rộng quyền của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất để thực hiện mô hình chuyển đổi tự nguyện

- Cơ chế góp đất và điều chỉnh lại đất đai

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

a) Nghiên cứu cơ sở lý luận về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư b) Đánh giá thực trạng về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Biến động đất đai và tình hình thu hồi đất giai đoạn 2000-2010

- Điều tra, đánh giá thực trạng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số địa phương

- Đánh giá những mặt được, chưa được của quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

c) Đề xuất đổi mới quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Nhận diện những thách thức trong sử dụng đất giai đoạn 2011-2020; trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo cơ chế thị trường

- Nêu các quan điểm khoa học về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Phân tích một số hướng đổi mới nhằm lựa chọn phương án tối ưu để hình thành nên đề xuất đổi mới

- Đề xuất tiếp tục đổi mới

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận đa chiều

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp điều tra thu thập số liệu, thông tin

- Phương pháp phân tích, thống kê, xử lý số liệu, thông tin

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp kế thừa và phát triển

- Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu cơ hội và thách thức (SWOT)

Trang 10

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Quy định hiện hành về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam

3.1.1 Về thu hồi đất

3.1.1.1 Giai đoạn từ 1988 đến trước Luật Đất đai 2003

Hiến pháp năm 1980 qui định một hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai là sở

hữu toàn dân, quy định này tiếp tục được duy trì cho đến nay và kể từ đây, trong hệ thống pháp luật đất đai đã sử dụng khái niệm “thu hồi đất”

Luật Đất đai năm 1988 quy định Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất

đã giao sử dụng khi cần cho nhu cầu của Nhà nước hoặc của xã hội Do chưa thừa nhận giá trị quyền sử dụng đất nên khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân thì Nhà nước chỉ bồi hoàn thành quả lao động, hoa lợi và tài sản trên đất

Luật Đất đai năm 1993 quy định trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi

Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 1998 đã cho phép các tổ chức kinh tế được quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Điều này có nghĩa là các nhà đầu

tư có thể tự thực hiện việc nhận chuyển quyền sử dụng đất từ người đang sử dụng đất

để có đất thực hiện các dự án đầu tư Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư năng động đã tự thực hiện cơ chế này, nhưng do chưa có quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục thực hiện nên hầu hết các địa phương vẫn ban hành quyết định thu hồi đất và yêu cầu các nhà đầu tư đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất cho Nhà nước theo đúng quy trình thu hồi đất

3.1.1.2 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 2003 đến nay:

- Về phạm vi áp dụng: Các trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng được tiếp tục duy trì từ Luật Đất đai 1993 Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án kinh tế lớn được tách ra khỏi mục đích vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và được quy định cụ thể, chi tiết

- Về hình thức thu hồi đất: có hai hình thức thu hồi đất là thu hồi theo quy hoạch và thu hồi theo dự án

3.1.2 Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

3.1.2.1 Giai đoạn từ 1988 đến trước Luật Đất đai 2003

Luật Đất đai năm 1987 qui định "Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà nước hoặc xã hội thì được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khác"

Luật Đất đai năm 1993 đã thừa nhận đất có “giá” và quy định trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại, trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý do thu hồi, thời gian, kế

Trang 11

hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại Có thể chia thành 2 thời kỳ như sau:

- Trong thời kỳ đầu thực hiện Luật Đất đai năm 1993 (từ năm 1994 đến nửa đầu năm 1998), chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn còn đơn giản (chưa có quy định về hỗ trợ, tái định cư) và vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế bao cấp

- Trong thời kỳ cuối thực hiện Luật Đất đai năm 1993 (từ nửa sau năm 1998 đến tháng 6/2004) chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được hoàn thiện một bước, chi tiết hơn và đã bước đầu phù hợp với cơ chế thị trường

3.1.2.2 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 2003 đến nay: Bắt đầu từ Luật Đất đai 2003,

quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã cụ thể, chi tiết hơn tiếp tục có những đổi mới, tương đối hoàn thiện và tiệm cận với cơ chế thị trường

3.1.3 Quy định pháp luật có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:

Bộ Luật Dân sự năm 2005, Luật Xây dựng năm 2003, Luật Đầu tư năm 2005,

Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, Pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, Pháp luật về quản lý và bảo vệ đất trồng lúa đã có những quy định về giao dịch dân sự về đất đai; Quyền tài sản của người chiếm hữu và sử dụng đất hợp pháp được quy định cụ thể, trong đó có quy định người sử dụng đất được bồi thường thiệt hại do đất bị thu hồi; quy định việc bồi thường tài sản để giải phóng mặt bằng xây dựng; xây dựng quỹ nhà ở để phục vụ tái định cư; quy định về trách nhiệm tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư; quy định về trách nhiệm tạo điều kiện cho chủ đầu tư dự án thực hiện giải phóng mặt bằng; quy định về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng rừng, đất trồng lúa

3.2 Đánh giá thực trạng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

3.1.1 Biến động đất đai và tình hình thu hồi đất

Trong vòng 10 năm, sự biến động về diện tích, cơ cấu các loại đất cho thấy diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất phi nông nghiệp đều tăng, diện tích đất chưa sử dụng giảm điều này phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Số liệu cụ thể thể hiện trong Bảng 3.1:

Bảng 3.1: Biến động sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010

(Nguồn: Tổng cục Quản lý đất đai, 2010)

Diện tích đất phi nông nghiệp thu hồi gồm: đất ở; đất có các công trình kiến trúc, xây dựng; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; trong đó, chủ yếu là thu hồi đất ở (khoảng 30 nghìn ha đất ở) để sắp xếp, chỉnh trang khu đô thị, khu dân cư, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (bảng 3.2)

Trang 12

Bảng 3.2: Diện tích đất nông nghiệp thu hồi giai đoạn 2006- 2010

(Nguồn: Tổng cục Quản lý đất đai, 2010)

Giai đoạn 2006 - 2010: tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 257.921 ha (mỗi năm thu hồi khoảng 50 nghìn ha) Trong đó: thu hồi đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ là 102.190 ha; phát triển đô thị là 29.517 ha; xây dựng hạ tầng kinh tế

- xã hội là 126.214 ha

Tồn tại, bất cập trong việc thu hồi đất:

- Việc bố trí đất đai cho các khu, cụm công nghiệp nhiều nơi còn chưa hợp lý và tiết kiệm, vẫn tiến hành quy hoạch trên những vùng đất thuận tiện về vị trí, hạ tầng, địa hình bằng phẳng (chủ yếu là đất trồng lúa) để hạn chế phải đầu tư hạ tầng Quá trình phát triển nhanh các khu đô thị, khu, cụm công nghiệp đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt, ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống cộng đồng và tác động xấu lên hệ sinh thái

- Tình hình khiếu kiện của những người bị thu hồi đất, trong đó có khiếu kiện liên quan đến giải phóng mặt bằng ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng: trong một số năm trở lại đây Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết là 6.382 vụ việc/năm

2004, 9.755 vụ việc/năm 2005, 11.441 vụ việc/năm 2007, 10.817 vụ việc/năm 2009, 5.828 vụ việc/8 tháng đầu năm 2010

- Việc bồi thường khi thu hồi đất thường thấp hơn giá trị thị trường và không giải quyết có hiệu quả cơ chế hỗ trợ về gián đoạn sinh kế, chuyển đổi nghề nghiệp nên làm cho người nông dân bị thu hồi đất có xu hướng nghèo đi, khoảng cách giầu nghèo giữa đô thị và nông thôn, vùng đồng bằng và miền núi ngày càng xa hơn

3.2 Điều tra, đánh giá việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số địa phương thuộc địa bàn nghiên cứu

Việc điều tra được thực hiện tại 7 tỉnh, thành phố; 1.445 hộ gia đình; 70 doanh nghiệp; 224 cán bộ địa phương trực tiếp làm công tác bồi thường GPMB

3.2.2.1 Về thu hồi đất

a) Phạm vi áp dụng cơ chế thu hồi đất

- Ý kiến của các hộ dân: đề xuất cần hạn chế các trường hợp Nhà nước thu hồi đất

mà chủ yếu là thực hiện theo hình thức tự thỏa thuận (chuyển đổi đất đai tự nguyện), Nhà nước cần cân nhắc việc thu hồi đất nông nghiệp của dân để thực hiện các dự án phát triển kinh tế Bởi nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi nhưng chưa đưa vào sử dụng để

Trang 13

hoang hóa trong khi nông dân không còn có đất để sản xuất Ý kiến của các hộ dân về phạm vi áp dụng cơ chế thu hồi đất tại địa bàn điều tra được tổng hợp tại bảng 3.3

Bảng 3.3: Ý kiến các hộ dân về phạm vi áp dụng cơ chế thu hồi đất

Nhà nước giao cho DN

Bảng 3.4: Ý kiến doanh nghiệp về phạm vi áp dụng cơ chế thu hồi đất

Đơn vị tính: doanh nghiệp

TT Địa bàn

điều tra

Số doanh nghiệp

Hình thức Nhà nước thu hồi đất

Doanh nghiệp tự thỏa

thuận

Số doanh nghiệp

Tỷ lệ (%)

Số doanh nghiệp

Tỷ lệ (%)

Khi chính sách này được mở ra cũng là lúc rất nhiều dự án phát triển nhà ở, khu

đô thị, các dự án sản xuất kinh doanh ngoài khu công nghiệp được hình thành Sự thành công của các Khu đô thị Nam Vĩnh Yên, Khu đô thị thành phố mới Bình Dương

và hàng loạt các dự án sản xuất kinh doanh ngoài khu công nghiệp ở Long An là những minh chứng và bài học cụ thể về việc áp dụng chính sách này

- Ý kiến của các cán bộ địa phương về phạm vi cơ chế thu hồi đất được tổng hơp trong bảng 3.5

Ngày đăng: 23/06/2015, 21:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức Nhà nước  thu hồi đất - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Hình th ức Nhà nước thu hồi đất (Trang 13)
Bảng 3.3: Ý kiến các hộ dân về phạm vi áp dụng cơ chế thu hồi đất - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.3 Ý kiến các hộ dân về phạm vi áp dụng cơ chế thu hồi đất (Trang 13)
Bảng 3.7: Tổng hợp đề xuất mô hình tổ chức thực hiện thu hồi đất - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.7 Tổng hợp đề xuất mô hình tổ chức thực hiện thu hồi đất (Trang 15)
Bảng 3.6: Đánh giá của người dân về trình tự, thủ tục thu hồi đất - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.6 Đánh giá của người dân về trình tự, thủ tục thu hồi đất (Trang 15)
Bảng 3.8: Kết quả tổng hợp tình hình đào tạo chuyển đổi nghề - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.8 Kết quả tổng hợp tình hình đào tạo chuyển đổi nghề (Trang 16)
Bảng 3.9: Kiến nghị của hộ dân về hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.9 Kiến nghị của hộ dân về hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất (Trang 17)
Bảng 3.11: Nhu cầu chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến năm 2020 - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.11 Nhu cầu chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến năm 2020 (Trang 18)
Bảng 3.12: Phân tích về cơ chế thu hồi đất - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.12 Phân tích về cơ chế thu hồi đất (Trang 22)
Bảng 3.13: Phân tích về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng 3.13 Phân tích về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Trang 23)
Bảng giá - tóm tắt luận án tiến sĩ  Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bảng gi á (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w