---TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG Đề tài: Giải quyết vấn đề “trựng lắp” trong quá trình điều phối, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA của các cơ quan quản lý nhà nước HỌC
Trang 1-TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG
Đề tài: Giải quyết vấn đề “trựng lắp” trong quá trình điều phối, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA)
của các cơ quan quản lý nhà nước
HỌC VIÊN: VŨ THỊ LAN PHƯƠNG ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: VỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
LỚP: BỒI DƯỠNG QLNN NGẠCH CHUYÊN VIÊN
HÀ NỘI, 06/2011
MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU 2
PHẦN I: MÔ TẢ TÌNH HUỐNG 4
1 Hoàn cảnh ra đời 4
2 Diễn biến tình huống 4
PHẦN II: PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ TÌNH HUỐNG 6
1 Phân tích tình huống 6
2 Xử lý tình huống 9
PHẦN III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 17
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, ODA là một nguồn vốn quan trọng trong phát triểnkinh tế xã hội của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.Chính vì vậy mà việc thu hút, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này
là vô cùng quan trọng
Kể từ năm 1993 cho đến nay, nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) luôn là mộtkênh huy động vốn quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam.Trong chặng đường 17 năm có mặt tại Việt Nam, lượng ODA mà chúng tahuy động được không ngừng tăng lên qua từng năm, so với các nước đangphát triển trong khu vực và trên thế giới, thành tích huy động ODA của chúng
ta thật đáng tự hào Tuy nhiên, bên cạnh công tác thu hút vốn rất tốt đó là nỗi
lo về công tác quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ nhiều ưu đãi này Trong giaiđoạn 1993-2009, số vốn ODA ký kết mà chúng ta có được là 42010,25 triệuUSD trong khi giải ngân thời kỳ này chỉ đạt 26184 triệu USD (khoảng 62%),
đó là chưa kể có những giai đoạn mà giải ngân ODA của chúng ta chỉ đạtkhoảng 30% tổng số vốn ký kết ( giai đoạn 1993-1994)
Việt Nam là một nước đang phát triển với quy mô nhỏ, đại bộ phận dân cưcũn nghốo, cơ sở hạ tầng còn khó khăn, nên cần phải tận dụng nguồn vốn ưuđãi này sao cho có hiệu quả để củng cố tiềm lực kinh tế của đất nước, nângcao đời sống nhân dân Hơn nữa, hiện nay Việt Nam đã trở thành một nước cóthu nhập trung bình, nên số vốn ODA được tài trợ sẽ giảm dần cộng với lãisuất sẽ tăng lên, nếu không sử dụng hợp lý thì sẽ tạo ra gánh nặng nợ nần chothế hệ mai sau
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy vấn đề quản lý và sử dụng ODAhiện nay là một vấn đề quan trọng, cần nghiên cứu tìm ra nguyên nhân dẫnđến nhữngạư chồng chéo trong chính sách quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợphát triển chính thức nhằm đưa ra giải pháp khắc phục
Trang 4Chính vì vậy tụi đó chọn Đề tài “Giải quyết vấn đề trùng lắp trong quátrình điều phối, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức(ODA) của các cơ quan quản lý Nhà nước” để khắc phục những mặt hạn chếnhằm nâng cao hoạt động quản lý và sử dụng ODA của Việt Nam có hiệuquả.
Nội dung Đề tài gồm 3 phần:
Trang 5Á (ADB) tại Hà Nội và một số cán bộ của Ngân hàng này đề nghị Chính phủViệt Nam cho biết cơ quan nào là cơ quan đối tác chính đối với các dự ánHợp tác Hỗ trợ kỹ thuật vùng do ADB tài trợ.
Vì không rõ về đối tác chính của mỡnh nờn đó xảy ra một số vấn đề vướngmắc trong công tác quản lý các dự án Hỗ trợ kỹ thuật khu vực do ADB tài trợ
2 Diễn biến tình huống
Trong năm X, đó cú lần Ngân hàng Phát triển Châu Á gửi thư cùng mộtthời điểm tới hai cơ quan đối tác của Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước và Bộ
Kế hoạch và Đầu tư) đề nghị cử một cán bộ tham gia Hội thảo của khu vực tổchức tại Manila, Philipin Nhận được thư mời của ADB, cả hai cơ quan cùnggửi công văn đi các Bộ/cơ quan liên quan đề nghị cử cán bộ tham dự Hộithảo, dẫn đến sự trùng lắp trong việc cử cán bộ tham dự hội thảo nói trên.Cán bộ Chương trình của ADB khi tới công tác tại Việt Nam có đưa vàobiên bản ghi nhớ một đoạn ý nói rằng: Các công văn, thư từ liên quan tới các
dự án Hợp tác khu vực do ADB tài trợ sẽ được chuyển đến Bộ Kế hoạch vàĐầu tư để xử lý Tại cuộc họp tổng kết của Đoàn công tác, đại diện của Bộ Kế
Trang 6hoạch và Đầu tư đã thống nhất với quan điểm của ADB, nhưng đại diện củaNgân hàng Nhà nước lại không đồng ý và đề nghị được bảo lưu ý kiến Dovây, một lần nữa, các cán bộ của ADB tham dự cuộc họp nói trên và ADB nóichung không rõ đối tác chính đối với các dự án Hỗ trợ kỹ thuật vùng do ADBtài trợ Cho đến nay, vẫn còn những điểm trùng lắp, chưa rõ ràng trong việcphối hợp công tác chưa được giải quyết dứt điểm Các cán bộ đối tác của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng nhà nước vẫn giữ quan điểm của chínhmình làm cho quá trình hợp tác với ADB đối với các dự án hợp tác khu vựccòn gặp khó khăn, hạn chế
Đứng trước tình hình đó, ADB tiếp tục đề nghị Chính phủ Việt Nam làm
rõ cơ quan nào của Việt Nam là đối tác chính đối với các dự án Hỗ trợ kỹthuật khu vực do ADB tài trợ để tạo điều kiên cho quá trình hợp tác, điều phối
và quản lý các dự án này tốt hơn
Trang 7án hợp tác khu vực một cách thống nhất trong một tổng thể thống nhất Dovậy có thể làm giảm uy tín của các cơ quan quản lý ODA của Nhà nước ViệtNam
Muốn tìm nguyên nhân gây ra sự chồng chéo trong chức năng điều phối,quản lý và sử dụng nguồn vốn của các dự án hợp tác khu vực nói riêng vànguồn vốn ODA nói chung nhằm đưa ra các kiến nghị xử lý vấn đề này, cầnlưu ý tới các yếu tố lịch sử và chức năng nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư và của Ngân hàng Nhà nước được quy định trong các văn bản pháp luật vàcác Nghị định của Chính phủ liên quan tới công tác điều phối, quản lý và sửdụng nguồn vốn ODA
Mặt khác, cần phải xem xét về các yếu tố xuất xứ của nguồn vốn ODA,các thủ tục cấp vốn ODA tức là xem xét về đối tác nước ngoài cấp vốn ODA
để tìm nguyên nhân tháo gỡ những vướng mắc nêu trên
Trang 8Có thể nói nguồn vốn ODA mới bắt đầu vào Việt Nam kể từ khi Việt Namtiến hành công cuộc đổi mới (1986) Từ đó đến nay, ta đã tăng cường hợp tác
và cũng nhận được sự hỗ trợ của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế
Hiện nay đã có nhiều nhà tài trợ lớn nhỏ từ các châu lục khác nhau cungcấp hỗ trọ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam dưới nhiều hình thứckhác nhau và cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế xó hụi Việt Nam
Về thực chất, nguồn hỗ trọ phát triển chính thức là sự hợp tác phát triểngiữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia,
tổ chức quốc tế thông qua các hình thức chủ yếu sau đây: Hỗ trợ cán cânthanh toán; Hỗ trợ theo chương tình; Hỗ trọ kỹ thuật; Hỗ trợ theo dự án
a Cỏc bên nước ngoài cung cấp ODA bao gồm:
- Chính phủ nước ngoài
- Các tổ chức phát triển của Liên Hiệp Quốc (LHQ), bao gồm:Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP); Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEP);Chương trình Lương thực Thế giới (WFP); Tổ chức Lương thực và Nôngnghiệp của LHQ (UNFPA); Quỹ Trang thiết bị của LHQ (UNCDF); Tổ chứcPhát triển Công nghiệp của LHQ (UNDO); Cao uỷ LHQ về người tị nạn(UNHCR); Tở chức Y tế Thế giới (WHO); Tổ chức Văn hoá, Khoa học vàGiáo dục của LHQ (UNESCO), v.v…
- Các tổ chức Liên Chính phủ, bao gồm: Liên minh Châu Âu(EU); Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD); Hiệp hội các nướcASEAN…
- Các tổ chức Tài chính quốc tế, bao gồm: Ngân hàng Thế giới(WB); Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB); Quỹ các nước Phát triển dầu mỏ(OPEC); Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB) và Quỹ Phát triển Bắc Âu (NID);Quỹ Kuwait; Quỹ Quốc tế và phát triển nông nghiệp (IFAD), v.v…trừ QuỹTiền tệ Quốc tế (IMF)
Trang 9- Các tập đoàn, công ty nước ngoài tài trợ cho Chính phủ, QuỹODA của Chính phủ nước ngoài viện trợ cho các chương trình, dự án thôngqua các tổ chức phi Chính phủ (NGO).
b Các hình thức cung cấp ODA bao gồm:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: gồm các khoản ODA được cung cấpdưới dạng tiền mặt hoặc hàng hoá để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ
- Hỗ trợ theo chương trình: Gồm các khoản ODA được cung cấp
để thực hiện một chương trình nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu vớimột tập hợp các dự án thực hiện trong một thời gian xác định tại các địa điểm
cụ thể (Chương trình tín dụng ngành của Nhật Bản tài trợ khôi phục và pháttriển giao thông nông thôn, phát triển lưới điện nông thôn, phát triển hệ thốngnước sinh hoạt ở các thị trấn, thị tứ…)
- Hỗ trợ kỹ thuật: Nhằm giúp phát triển thể chế, tăng cương nănglực của các cơ quan Việt Nam, chuyển giao công nghệ, thông qua cung cấpchuyên gia, người tình nguyện, cung cấp một số trang thiết bị, nhận đào tạocán bộ Việt Nam tại chỗ hoặc ở nước ngoài tại cỏc khoỏ học ngắn hạn dưới 1năm, hỗ trợ nghiên cứu, điều tra cơ bản (lập quy hoạch, báo cáo nghiên cứukhả thi…) Một hỗ trợ kỹ thuật có thể bao gồm một số hoặc tất cả các nộidung nói trên
- Hỗ trợ theo dự án: ODA được cung cấp để thực hiện dự án xâydựng cơ bản bao gồm xây lắp, trang thiết bị hoặc chỉ thuần tuý cung cấp trangthiết bị Trong nội dung dự án xây dựng cơ bản có thể bao gồm dịch vụ tưvấn, đào tạo cán bộ Việt Nam tại chỗ hoặc gửi ra nước ngoài
c Các loại ODA:
- ODA không hoàn lại: Bên nước ngoài cung cấp viện trợ khônghoàn lại để thực hiện chương trình, dự án ODA (mức độ tài trợ theo sự thoảthuận với Bên nước ngoài)
Trang 10- ODA cho vay bao gồm:
+ ODA cho vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là các khoản ODAcho vay có yếu tố không hoàn lại đạt ớy nhất 25% trị giá khoản vay Bênnước ngoài thường quy định cụ thể các điều kiện cho vay ưu đãi
+ ODA cho vay hỗ hợp: là khoản ODA bao gồm kết hợp một phần ODAkhông hoàn lại (hoặc ODA cho vay ưu đãi) và một phần tín dụng thương mạitheo các điều kiện của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD)
Tóm lại, nguồn vốn ODA là một phần của ngân sách nhà nước, mặt khác,nguồn vốn ODA được cung cấp từ nhiều nước, nhiều tổ chức Quốc tế với cáchình thức và thủ tục cấp vốn ODA đa dạng và phức tạp Do vậy, công tác điềuphối, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA có liên quan tới chức năng củanhiều cơ quan quản lý của Nhà nước
2 Xử lý tình huống
Mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định liên quan tới công tácđiều phối, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA), tuyvậy tình hình điều phối, quản lý và sử dụng nguồn vốn này vẫn còn nhiềuphức tạp và chồng chéo Các cơ quan thực hiện chức năng điều phối, quản lý
và sử dụng nguồn vốn ODA vẫn còn có một số cách hiểu khác nhau dẫn tới
nhiều hoạt động trùng lắp Vì cách hiểu còn khác nhau nên dẫn tới cách giải
thích về các Nghị định, Quy chế cho các đối tác nước ngoài còn khác nhaulàm cho một số đối tác nước ngoài nhầm lẫn, không rõ đối tác chính của mình
là ai và cần phải phối hợp với ai để giải quyết các công việc cần thiết Do vậy,tình hình hợp tác giữa các đối tác Việt Nam và nước ngoài còn gặp nhiều khókhăn, dẫn tới chậm trễ trong quá trình chuẩn bị, thực hiện và giải ngõn cỏc dự
Trang 11nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế vào tháng 11 năm 1993, Chínhphủ đã nhận thức được trách nhiệm của mình đối với việc sử dụng hiệu quảnguồn vốn ODA cũng như tầm quan trọng của nguồn vốn này đối với sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đặt ra yêu cầu phải quản lýchặt chẽ nguồn vốn này như một nguồn lực công của quốc gia Theo tinh thần
đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước lúc đó(nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và các cơ quan hữu quan Việt Nam bắt taynghiên cứu và xây dựng Nghị định của Chính phủ về quản lý và sử dụngODA và ngày 15 tháng 3 năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định đầutiên về quản lý và sử dụng ODA (Nghị định 20/CP)
Tiếp theo Nghị định 20/CP, căn cứ vào tình hình thực tế và thực tiễn củaviện trợ phát triển, Chính phủ đã ban hành Nghị định 87/CP (ngày05/8/1997), Nghị định 17/2001/NĐ-CP (ngày 04/5/2001) và Nghị định131/2006/NĐ-CP (ngày 9/11/2006) Trong quá trình thực hiện có thể thấy rõNghị định sau tiến bộ và hoàn thiện hơn Nghị định trước Nếu như trong Nghịđịnh 20/CP quy trình quản lý và sử dụng ODA còn đơn giản và tập trung chủyếu ở cấp Trung ương thì trong Nghị định 131/2006/NĐ-CP quy trình ODA
đã bao quát toàn diện và phân cấp mạnh mẽ cho các Bộ, ngành và địaphương
Căn cứ vào các Nghị định trên của Chính phủ, các cơ quan quản lý nhànước về ODA như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, Bộ Ngoại giao đãban hành các thông tư, quyết định hướng dẫn thi hành
Trong thời gian gần đây, để hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010), thực hiện Tuyên bốPa-ri và Cam kết Hà Nội về Hiệu quả viện trợ, trên cơ sở tham vấn rộng rãicác nhà tài trợ, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án định hướng thu hút
và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thời kỳ 2006-2010 (ban hành kèm theo Quyết định 290/2006/QĐ-TTg) Đây được xem là “cuốn sách trắng”
Trang 12tuyên bố về chính sách thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam trong thời kỳ2006-2010 và tầm nhìn sau năm 2010
Có thể nói, quá trình hoàn thiện không ngừng khung thể chế về quản lý
và sử dụng ODA của Chính phủ đã thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của ViệtNam đối với việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này Quá trình này cũng phùhợp với tiến trình cải cách luật pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền trongquá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng.Trong Nghị định 131/2006/NĐ-CP hiện hành có những bước đột pháquan trọng sau đây:
Thứ nhất, tính đồng bộ cao của Nghị định về quản lý và sử dụng ODA
với các văn bản pháp luật chi phối khác trong các lĩnh vực như đầu tư, xâydựng công trình, thuế, đền bù di dân, giải phóng mặt bằng, ký kết và tham giacác điều ước quốc tế khung và cụ thể về ODA Sự hài hòa với các quy địnhcủa nhà tài trợ cũng được thể hiện rõ trong Nghị định này, đặc biệt là khâutheo dõi và đánh giá các chương trình và dự án ODA
Thứ hai, Nghị định đã thể hiện sự phân cấp mạnh mẽ trong quản lý và
sử dụng vốn ODA tương tự như đối với đầu tư công Theo Nghị định, Thủtướng Chính phủ chỉ phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ; các chương trình,
dự án ODA quan trọng quốc gia; các chương trình, dự án kèm theo khungchính sách và trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng Việc quyết định đầu tư vàphê duyệt các chương trình và dự án ODA khác đều phân cấp cho Thủ trưởngcác cơ quan chủ quản Sự phân cấp mạnh mẽ này một mặt tạo ra sự chủ động
và nâng cao vai trò làm chủ, trách nhiệm của các ngành, các cấp, song mặtkhác cũng đặt ra thách thức về năng lực quản lý và tổ chức thực hiện đối vớicác bộ, ngành và địa phương
Thứ ba, công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ODA thông qua
việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các nhà tài trợ công bố rộng rãi thông tin vềnguồn ODA, các chính sách và điều kiện tài trợ để các đơn vị đề xuất có điềukiện để chuẩn bị và đề xuất các chương trình, dự án ODA
Trang 13Thứ tư, công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA
được quy định cụ thể và toàn diện, tiệm cận với tập quán quốc tế
Căn cứ vào Nghị định 131/2006/NĐ-CP, các cơ quan quản lý nhà nước
về ODA đã ban hành các thông tư, quyết định hướng dẫn việc thực hiện, baogồm Thông tư 04/2007/TT-BKH hướng dẫn thực hiện Nghị định131/2006/NĐ-CP và Thông tư 03/2007/TT-BKH hướng dẫn về cơ cấu tổchức và chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý các chương trình, dự án ODAcủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Thông tư 108/2007/TT-BTC của Bộ Tài chínhhướng dẫn quản lý tài chính trong nước vốn ODA; Thông tư 01/2008/TT-BNG của Bộ Ngoại giao hướng dẫn việc ký kết các điều ước quốc tế vềODA,
Trong thời kỳ sau năm 2010 nguồn vốn ODA sẽ có những thay đổi vềlượng và cơ cấu vốn ODA Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra là cần phải cóchính sách mới về thu hút và sử dụng ODA cũng như các văn bản quy phạmpháp luật mới phù hợp với tính chất nguồn vốn ODA có nhiều thay đổi trongthời gian sắp tới
Trong số các văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực điều phối và quản lýnguồn vốn ODA, Nghị định 131/2006/NĐ-CP ban hành ngày 09/01/2006 làmột văn bản quản lý Nhà nước đã quy định cụ thể nhiệm vụ của các cơ quanquản lý Nhà nước về ODA tương đối rõ ràng, do vậy tránh được sự trùng lặptrong quá trình hợp tác Tuy nhiên, trong các hoạt động điều phối giữa Bộ Kếhoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước còn nhiều trùng lắp