Việc làm của lao động nữ trong các doanh nghiệp công nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài thuộc thành phố Hà Nội..
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay trong xu thế phát triển của thế giới, phụ nữ đã được nhìn nhậnmột cách nghiêm túc hơn; người phụ nữ đã khẳng định được vai trò, vị thếcủa mình trong gia đình, trong xã hội cũng như trong phát triển nền kinh tế.Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển từ kế hoạch hoá tậptrung sang nền kinh tế thị trường, các điều kiện kinh tế, xã hội có nhiều biếnđổi lớn, các cơ hội được hưởng thụ và cống hiến của phụ nữ vì vậy cũng cónhiều thay đổi
Khi tham gia thị trường lao động, bên cạnh mặt tích cực là tính năng động
xã hội của phụ nữ được phát huy thì do đặc điểm giới tính (hạn chế về sứckhoẻ, phải thực hiện chức năng tái sản xuất sức lao động ) khả năng cạnhtranh của lao động nữ trong thị trường kém hơn nam giới, cơ hội để phụ nữtiếp cận với các nguồn lực cũng có nhiều hạn chế, vì vậy lao động nữ bị đặtvào tình thế không thuận lợi do các nguyên nhân chủ quan và khách quankhác nhau
Hà Nội là thủ đô, là trung tâm văn hoá - kinh tế - chính trị, là trung tâmcông nghiệp của cả nước nên trong tình hình công nghiệp hoá, hiện đại hoácủa đất nước và thủ đô hiện nay một yêu cầu đặt ra với Hà Nội là phải có nềnkinh tế phát triển cao dẫn đầu khu vực Đồng bằng sông Hồng và trong cảnước Tuy nhiên hiện nay Hà Nội đang phải đối mặt với thách thức lớn lànguy cơ tụt hậu về kinh tế và tỉ lệ thất nghiệp cao ở mức báo động Vì vậytrong những năm tới Hà Nội phải phát triển mạnh ngành công nghiệp để đảmbảo cho sự tăng trưởng cao của nền kinh tế đồng thời giải quyết việc làmgiảm thất nghiệp cho người lao động
Tạo việc làm cho lao động nữ ngành công nghiệp có vai trò hết sức quantrọng đối với sự phát triển của thủ đô Hà Nội Đối với lao động nữ việc làm làđiều kiện để tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện để
Trang 2nghiệp là ngành sản xuất trực tiếp ra của cải vật chất cho xã hội nên tạo việclàm cho lao động nữ còn làm tăng tổng sản phẩm xã hội, chuyển dịch laođộng từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp để tăng năng suất lao động xãhội và hiệu quả kinh tế Trong quá trình thực tập ở Trung tâm nghiên cứukhoa học về lao động nữ, em rất quan tâm đến vấn đề lao động nữ trong cácngành công nghiệp Vì vậy đây là lý do để em lựa chọn đề tài này.
3.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Việc làm của lao động nữ trong các doanh nghiệp công nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài) thuộc thành phố Hà Nội
4.Phương pháp nghiên cứu.
− Tổng hợp và phân tích số liệu thực tế của thành phố Hà nội
− Phương pháp chuyên gia
Trang 3tự nhiên và con người Lao động chính là việc sử dụng sức lao động.
Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động Sức laođộng là năng lực lao động của con người, là toàn bộ thể lực và trí lực của conngười Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhất trong quá trình laođộng Nó phát động và đưa các tư liệu lao động vào hoạt động để tạo ra sảnphẩm Nếu coi sản xuất là một hệ thống gồm 3 phần hợp thành (các nguồnlực, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hoá) thì sức lao động là một trong cácnguồn lực khởi đầu của sản xuất (đầu vào) để tạo ra các sản phẩm hàng hoá(đầu ra)
Vì vậy, trong kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá và phải đượctính đầy đủ vào chi phí sản xuất
Trong sản xuất kinh doanh thì khả năng của con người là một trongnhững khả năng chủ yếu của doanh nghiệp Sức lao động của con người trongsản xuất kinh doanh được coi như:
− Một yếu tố chi phí sẽ đi vào giá thành của sản phẩm (thông qua tiềnlương, tiền thưởng, quyền lợi vật chất khác)
Trang 4− Một yếu tố đem lại lợi Ých kinh tế Nếu biết quản lý tốt sẽ đưa lại nhiềulợi nhuận cho doanh nghiệp.
2.Nguồn lao động
Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việclàm Nguồn lao động cũng bao gồm cả những người trên hoặc dưới tuổi laođộng nhưng thực tế đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân
Nguồn lao động được xem xét trên 2 giác độ số lượng và chất lượng:
- Số lượng nguồn lao động được biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô
và tốc độ tăng nguồn lao động Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiếtvới chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số Quy mô dân số càng lớn,tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăngnguồn nhân lực càng lớn và ngược lại Tuy nhiên, mối quan hệ dân
số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định
- Về chất lượng nguồn lao động được xem xét trên các mặt: trình độvăn hoá, trình độ chuyên môn, sức khoẻ, năng lực phẩm chất Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt là chất lượngnguồn lao động đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vậtchất và tinh thần cho xã hội
3 Việc làm – vai trò của việc làm với nền kinh tế xã hội.
a Việc làm và các dạng của việc làm.
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xãhội Song con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triển khi và chỉ khi
họ có điều kiện sử dụng sức lao động của họ để tạo ra của cải vật chất và tinhthần cho xã hội Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất làquá trình người lao động làm việc hay nói cách khác là khi họ có được việclàm
Trang 5Việc làm theo quy định của bộ luật lao động là những hoạt động có Ýchkhông bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động Việclàm được thể hiện dưới các dạng sau:
− Làm những công việc mà người lao động nhận được tiền lương, tiềncông bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó
− Làm những công việc mà người lao động thu được lợi nhuận cho bảnthân (người lao động có quyền sử dụng quản lý hoặc sở hữu tư liệu sản xuất
và sức lao động của bản thân để sản xuất sản phẩm)
− Làm những công việc cho hé gia đình nhưng không được trả thù laodưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó (chủ gia đình làm chủsản xuất)
Việc làm được biểu hiện ra là:
− Việc làm đầy đủ: là sự thoả mãn nhu cầu về làm việc cho bất cứ ai cókhả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân hay việc làm đầy đủ là trạngthái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìmđược trong thời gian tương đối ngắn
− Thiếu việc làm: được hiểu là việc làm không tạo điều kiện, không đòihỏi người lao động sử dụng hết thời gian lao động theo chế độ và mang lại thunhập thấp dưới mức tối thiểu
Thiếu việc làm gồm có thiếu việc làm hữu hình và thiếu việc làm vôhình:
− Thiếu việc làm hữu hình xảy ra khi thời gian làm việc thấp hơn mứcbình thường
− Thiếu việc làm vô hình xẩy ra khi thời gian sử dụng cho sản xuất kinhdoanh không có hiệu quả dẫn đến thu nhập thấp, không đủ sống người laođộng muốn tìm việc làm bổ sung
Trang 6Tình trạng thiếu việc làm khá phổ biến ở nước ta hiện nay Vì vậy,chúng ta cần từng bước tạo ra việc làm đầy đủ cho người lao động, góp phầncải thiện đời sống cho người lao động Tuy nhiên mục tiêu cao nhất là phảitạo ra "việc làm hợp lý" tức là không những là việc làm đầy đủ mà nó phảiphù hợp với khả năng nguyện vọng của người lao động Do vậy, việc làmhợp lý có năng suất lao động và hiệu quả kinh tÕ cao hơn việc làm đầy đủ.Tuy nhiên, khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý chỉ có tính chấttương đối vì trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại thất nghiệp.
b.Việc làm với sự phát triển kinh tế xã hội.
Sự phát triển của nền kinh tế xã hội được biểu hiện ở sự tăng lêncủatổng sản phẩm xã hội, sự tăng lên này phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là thờigian lao động và hiệu quả của lao động
Muốn tăng tổng sản phẩm xã hội, một mặt phải huy động triệt để mọingười có khả năng lao động tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là mỗingười phải có việc làm đầy đủ (đạt đến mức toàn dụng lao động); mặt khác,phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nhằm khai thác triệt để tiềm năngcủa mỗi người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và hiệu quả Chính vì vậy,việc làm được coi như là giải pháp có tính chiến lược cho sự phát triển kinh tế
xã hội ở nước ta
Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện đểngười lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống, mà còn làm giảm các tệ nạn
xã hội, làm cho xã hội ngày càng văn minh hơn
Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động còn có ý nghĩa hết sức quantrọng với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền vànghĩa vụ của mình, trong đó có quyền cơ bản được làm việc nhằm nuôi sốngbản thân và gia đình, góp phần xây dựng đất nước
4.Tạo việc làm
Trang 7Tạo việc làm cho người lao động tức là đưa người lao động vào làmviệc, tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo rahàng hoá - dịch vụ theo yêu cầu thị trường.
Thực chất của việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức laođộng và tư liệu sản xuất bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng Tuynhiên sức lao động và tư liệu sản xuất kết hợp với nhau trong điều kiện nhấtđịnh mới tạo ra việc làm Chính vì vậy tạo việc làm phải bao gồm:
− Một là: tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất: số lượng, chấtlượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư và tiến bộ khoa học kỹ thuật
áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với tư liệu sản xuấtđó
− Hai là: tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động: số lượng lao độngphụ thuộc vào quy mô dân số và các quy định về độ tuổi lao động và sự dichuyển của lao động, chất lượng của lao động phụ thuộc vào sự phát triển củagiáo dục, đào tạo và sự phát triển của y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
− Ba là: hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và
tư liệu sản xuất Môi trường cho sự kết hợp các yếu tố bao gồm hệ thống cácchính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách khuyến khích và thu hót laođộng, chính sách thất nghiệp, chính sách thu hút và khuyến khích đầu tư
Như vậy, thị trường việc làm chỉ có thể được hình thành khi người laođộng và người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi để đi đến nhất trí về sử dụngsức lao động Hay nói cách khác việc làm chỉ có thể tạo ra khi cả hai ngườilao động và người sử dụng lao động đầu tư cho hoạt động theo mục tiêu củamình và khi mục tiêu đó của người lao động và người sử dụng lao động gặpnhau Do vậy cơ chế tạo việc làm phải được xem xét cả hai phía người laođộng và người sử dụng lao động đồng thời không thể thiếu được vai trò củanhà nước
Về phía người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động bao gồm
Trang 8nước ngoài Trong cơ chế tạo việc làm người sử dông lao động có vai trò tạochỗ làm việc và duy trì chỗ làm việc Để tạo chỗ làm việc người sử dụng laođộng cần phải có vốn, nắm bắt được công nghệ, kiến thức và kinh nghiệmtrong tổ chức quản lý và phải có thị trường Những điều kiện này người sửdụng lao động cần có để tạo ra chỗ làm việc Để tạo việc làm người sử dụnglao động cần phải đến thị trường lao động để thuê lao động Chỉ khi người sửdụng lao động thuê được sức lao động cho chỗ làm việc của họ khi đó việclàm mới hình thành.
Số lượng và chất lượng chỗ làm việc được tạo ra phụ thuộc vào nhiềunhân tố trong đó vốn, công nghệ, trình độ quản lý và thị trường đóng vai tròquan trọng Những vấn đề này có quan hệ mật thiết với nhau trong việc tạochỗ làm việc Có thể nói vốn và công nghệ là điều kiện cần thiết để tạo chỗlàm việc còn trình độ quản lý và thị trường là điều kiện cần thiết để duy trìchỗ làm việc
Về phía người lao động: Người lao động muốn có việc làm phải có
sức khoẻ, kiến thức, kỹ năng kỹ sảo cần thiết phù hợp với công việc đòi hỏi.Người lao động chỉ có việc làm khi họ đáp ứng được yêu cầu của công việc
Do đó người lao động muốn có việc làm phải đầu tư cho chính bản thân họ
Đó là đầu tư cho sức khoẻ, đầu tư vào giáo dục và đào tạo chuyên môn nghềnghiệp Người lao động phải chủ động tìm kiếm việc làm và nắm bắt các cơhội về việc làm Nếu người lao động không tự hoàn thiện bản thân về kỹnăng, nghiệp vụ lao động thì trong ythời đại công nghiệp hoá hiện đại hoángày nay họ sẽ bị lạc hậu, không theo kịp những tiến bộ của khoa học côngnghệ và sẽ không vận hành được máy móc thiết bị trong khi lao động, do đó
họ sẽ bị đào thải Vì vậy, khi muốn tìm kiếm việc làm cũng như để duy trìviệc làm hiện có, người lao động phải luôn chú ý tới việc bồi dưỡng nâng caokiến thức, kỹ năng kỹ sảo lao động
Về phía nhà nước: Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong tạo việc
làm Vai trò của nhà nước thể hiện trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho
Trang 9việc làm hình thành và phát triển, tạo môi trường thuận lợi cho người laođộng và người sử dụng lao động phát huy được khả năng của họ, đưa ra cácchính sách có liên quan: các chính sách về khuyến khích đầu tư trong nước,chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, chính sách bảo hộ sản xuất trongnước Bên cạnh đó còn có các chính sách giáo dục, đào tạo, sức khoẻ y tế xãhội Nhà nước cần đưa ra các chiến lược đào tạo phát triển nguồn nhân lực;đảm bảo phân bố các nguồn lực hợp lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồnlực; tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, khuyến khích các thành phầnkinh tế tham gia sản xuÊt kinh doanh phát triển kinh tế tạo mở việc làm Đốivới người sử dụng lao động (bao gồm người sử dụng lao động hiện tại vàtiềm năng) nhà nước giúp đỡ người sử dụng lao động tạo chỗ làm việc như
hỗ trợ vốn, thông tin, đào tạo nâng cao kiến thức quản lý của các chủ doanhnghiệp Đối với người lao động đó là bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độngười lao động về chất lượng Nhà nước còn có vai trò trong hệ thống hướngnghiệp, các trung tâm dịch vụ việc làm, tạo các cơ sở pháp lý để cho thịtrường lao động phát triển
Tóm lại, cơ chế tạo việc làm đòi hỏi sự tham gia của nhà nước, người
sử dụng lao động và của ngay chính bản thân người lao động Việc làm chỉ cóthể được hình thành trên thị trường lao động, người lao động và người sửdụng lao động gặp gỡ nhau và thống nhất trong sử dụng sức lao động Nhànước đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với người lao động, người sửdụng lao động mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho người lao động vàngười sử dụng lao động phát huy được khả năng của mình Người sử dụng laođộng quyết định trong việc tạo ra chỗ làm việc Chất lượng và số lượng chỗlàm việc được tạo ra phụ thuộc vào khả năng vốn, công nghệ, thị trường vàtrình độ quản lý của họ Đây cũng chính là vướng mắc của các doanh nghiệpnhà nước ta hiện nay Vì vậy, với chính sách mở cưả và khuyến khích cácthành phần kinh tế phát triển thì các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH,doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều đóng
Trang 10một vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn để tạo việc làm cho người laođộng.
Để giải quyết việc làm cho lao động công nghiệp, cần chú ý tới:
− Một là: giải quyết việc làm trong công nghiệp còn tính tới khả năng thuhút những người đến độ tuổi lao động cần có việc làm, những người đangtham gia đào tạo, những người chưa có việc làm có nguyện vọng làm việctrong lĩnh vực sản xuất kinh doanh công nghiệp
− Hai là: đầu tư cho việc tăng thêm chỗ làm việc Đây là vấn đề quan trọnghàng đầu để thu hút và đảm bảo việc làm cho người lao động Để làm đượcviệc đó, cần đa dạng hoá phương thức huy động vốn đầu tư: nhà nước, doanhnghiệp, từng gia đình, từng người; trong nước, ngoài nước
− Ba là: Trong việc hoạch định phát triển, chú ý lựa chọn cơ cấu côngnghiệp, kế hoạch phát triển công nghiệp theo ngành và theo vùng, vừa đảmbảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế và tạo nhiềuviệc làm Với các doanh nghiệp, thực hiện kết hợp chuyên môn hoá và đadạng hoá sản xuất kinh doanh tăng cường liên kết kinh tế giữa các doanhnghiệp
− Bốn là: Trong xác định các chính sách, giải pháp lớn, cần chú ý tới:chính sách công nghệ và lựa chọn công nghệ phù hợp; chính sách lao động vàviệc làm trong nước, xuất khẩu lao động tại chỗ ; chính sách đào tạo v.v
II.SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.Khái niệm doanh nghiệp công nghiệp.
Doanh nghiệp theo điều 3.1 Luật doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanhtheo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh
Trang 11Doanh nghiệp công nghiệp là một hình thức tổ chức cơ bản để tiếnhành hoạt động sản xuất công nghiệp hiện đại Đó là nơi tập trung các phươngtiện sản xuất, thiết bị kỹ thuật và một lực lượng lao động có trình độ nhất định
để tác động vào các nguyên liệu, biến chúng thành các sản phẩm có giá trịphục vụ cho xã hội
Quy mô của các doanh nghiệp lớn hay nhỏ phụ thuộc vào quy mô sảnxuất của chúng, thể hiện ở giá trị tổng sản phẩm do chúng tạo ra, ở vốn đầu tưvào cơ sở vật chất, thiết bị và cả ở số lượng công nhân trực tiếp tham gia sảnxuất Hai xí nghiệp cùng sản xuất cùng một loại mặt hàng, nếu xí nghiệp nào
có giá trị tổng sản phẩm cao, có vốn đầu tư lớn, số lượng công nhân nhiều, thì
xí nghiệp đó có quy mô lớn Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do trình độ
tự động hoá được đề cao, nên có những doanh nghiệp quy mô sản xuất lớnlên, nhưng số lượng công nhân lại giảm đi đáng kể
2.Phân loại doanh nghiệp công nghiệp.
Căn cứ vào giáo trình kinh tế và quản lý công nghiệp của trường Đại học Kinh tế quốc dân – năm 2000.
2.1 Dựa vào công dụng kinh tế của các sản phẩm do các ngành công nghiệp sản xuất ra, các doanh nghiệp được chia ra thành hai nhóm:
Nhóm A: Các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp nặng gồm :
− Các doanh nghiệp thuộc ngành năng lượng (công nghiệp khai thác than;công nghiệp khai thác dầu mỏ, khí đốt; công nghiệp điện)
− Các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp luyện kim
− Các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế tạo máy
− Các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp hoá chất
Sản phẩm của các doanh nghiệp này gồm có các nguyên liệu, nhiênliệu, hoá chất, vật liệu xây dựng, các máy công cụ, các thiết bị được sử dụngtrong các ngành sản xuất vật chất Các sản phẩm này có tầm quan trọng đối
Trang 12với nền kinh tế quốc dân Việc sản xuất ra chúng đòi hỏi phải có trình độ kỹthuật cao, cơ sở thiết bị phức tạp, vốn đầu tư và quy mô sản xuất lớn.
Nhóm B: Các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp
thực phẩm
Sản phẩm của nhóm này bao gồm những vật dụng hàng ngày như vảivóc, thực phẩm, dụng cụ sinh hoạt gia đình Các doanh nghiệp sản xuất racác sản phẩm này đòi hỏi vốn đầu tư Ýt, thời gian xây dựng cơ sở vật chấtngắn và quá trình thu hồi vốn nhanh Ưu thế chính của các doanh nghiệp này
là thường đem lại hiệu quả kinh tế cao và sử dụng nguồn nhân lực lớn
2.2 Theo hình thức sở hữu.
Các doanh nghiệp phân theo hình thức sở hữu gồm có:
− Doanh nghiệp nhà nước (do nhà nước làm chủ sở hữu)
− Doanh nghiệp ngoài nhà nước: Là những doanh nghiệp không thuộc sởcủa nhà nước Bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Hợp tác
xã, các cơ sở sản xuất có sử dụng 10 lao động trở lên
− Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm các doanh nghiệp liêndoanh và các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
3 Đặc điểm của các doanh nghiệp công nghiệp.
a Đặc điểm về kinh tế.
Trong quá trình sản xuất, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệpcông nghiệp luôn có khuynh hướng không ngõng khai thác triệt để hiệu quảcủa các thiết bị, máy móc, không ngừng tăng năng suất lao động và hạ giáthành sản phẩm Để làm được việc đó, các doanh nghiệp công nghiệp hiệnđại thường phải áp dụng những biện pháp sau:
− Luôn cải tiến, đổi mới máy móc, thiết bị sản xuất
− Tổ chức lao động một cách khoa học hợp lý (làm việc theo dây chuyền,theo công đoạn )
Trang 13− Cải tiến quy trình công nghệ.
Ngoài các biện pháp trên, muốn có giá thành hạ, các doanh nghiệp còntriệt để khai thác nguồn nhân công rẻ, có nguồn nguyên liệu tại chỗ
b Đặc điểm về lao động.
Lao động là yếu tố quan trọng hơn so với vốn, thiết bị kỹ thuật Laođộng là nội lực lớn nhất và tạo ra giá trị sáng tạo mới, trong khi vốn và thiết bịchỉ di chuyển giá trị vào sản phẩm
Do khoa học công nghệ tạo nên sự thay đổi liên tục các kỹ năng vànghề mới, luôn luôn thay đổi cái cũ vì vậy sản xuất công nghiệp đòi hỏi lựclượng lao động có phạm vi rộng lớn về chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp
Do đó, việc đào tạo người lao động có trình độ cao là một yêu cầu tất yếu
Sản xuất công nghiệp với nhịp độ nhanh, kỷ luật lao động chặt chẽ tạonên áp lực lớn đối với người lao động cần nỗ lực, kiên trì, có khả năng thíchứng với hệ thống công nghiệp ở mọi nơi
4 Sự cần thiết nghiên cứu tạo việc làm cho lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp.
4.1 Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
♦ Vị trí của ngành công nghiệp trong nền kinh tế:
Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quantrọng trong nền kinh tế quốc dân, vị trí đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
− Công nghiệp là một bộ phận hợp thành của cơ cấu công nghiệp – dịch vụ– nông nghiệp, do những đặc điểm vốn có của nó Trong quá trình phát triểnnền kinh tế lên nền sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trÝ thứ yếu trởthành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó
− Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoảmãn nhu cầu ngày càng cao của con người Trong quá trình sản xuất ra củacải vật chất, công nghiệp là ngành không những chỉ khai thác tài nguyên, mà
Trang 14còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ được khai thác và sảnxuất từ các loại tài nguyên khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩmcuối cùng, nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người.
− Sù phát triển của công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để thựchiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn, tuỳ theo trình độphát triển của bản thân công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế; xuất phát từnhững đặc điểm và điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ cần phải xác định đúngđắn vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Ở thủ đô Hà Nội cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp đang làmục tiêu đặt ra, Hà Nội đang chủ trương phát triển mạnh công nghiệp trongnhững năm trước mắt xây dựng nền công nghiệp hiện đại và chuyển dịch nềnkinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế thủ đô
♦ Vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế:
Công nghiệp là ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất rất
lớn cho xã hội, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Công nghiệpkhông những cung cấp hầu hết các công cụ, tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sởvật chất kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế, mà còn tạo ra các sản phẩm tiêudùng có giá trị, góp phần vào phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ vănminh của xã hội
Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngànhkinh tế khác như nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ Dođặc điểm của sản xuất công nghiệp có những điều kiện tăng nhanh tốc độ pháttriển khoa học – công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ đóvào sản xuất, có khả năng và điều kiện sản xuất hoàn thiện Nhờ đó lực lượngsản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác Doquy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất phát triểncủa lực lượng sản xuất”, trong công nghiệp có được hình thức quan hệ sảnxuất tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất tiên tiến Tính tiên tiến về các
Trang 15hình thức quan hệ sản xuất, sự hoàn thiện nhanh chóng về các mô hình tổchức sản xuất đã làm cho công nghiệp có khả năng định hướng cho các ngànhkinh tế khác tổ chức đi lên nền sản xuất theo “hình mẫu”, theo “kiÓu” củacông nghiệp.
Ngày nay, một nước muốn có trình độ phát triển kinh tế cao nhất thiếtphải có một hệ thống các ngành công nghiệp hiện đại và đa dạng, trong đó cácngành mũi nhọn phải được chú ý thích đáng
4.2 Sự cần thiết nghiên cứu tạo việc làm cho lao động nữ trong ngành công nghiệp thành phố Hà Nội.
Ngành công nghiệp là ngành sản xuất kinh doanh lớn, chiếm vị trí rấtquan trọng trong nền kinh tế của đất nước nói chung và thủ đô Hà nội nóiriêng Chiếm tới 45% lao động toàn ngành, đội ngũ lao động nữ đã và đang cónhững đóng góp to lớn trong sản xuất kinh doanh của ngành nhất là nhữngngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, dệt –
da - may là những ngành đặc thù phù hợp với lao động nữ vì đòi hỏi sựkhéo tay, cần cù, kiên nhẫn mà chỉ có lao động nữ mới có khả năng đáp ứngđược
Lao động nữ trong ngành công nghiệp cũng như lao động nữ nói chung
là nhóm người dễ bị tổn thương theo các mức độ khác nhau Cùng một lúc họphải đảm nhận nhiều chức năng trong phần lớn cuộc đời mình là vừa tham gialao động sản xuất vừa tái sản xuất con người, sức lao động cho xã hội Vì vậytrong công việc họ gặp nhiều khó khăn hơn nam giới Trong ngành côngnghiệp, phụ nữ thường phải làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nhịp độlao động của ngành công nghiệp rất cao Đó là những khó khăn trở ngại đốivới phụ nữ đòi hỏi họ phải biết sắp xếp, tổ chức cuộc sống và công việc chohợp lý nhất Có mặt trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực lao động nữ luônlàm tốt các công việc được giao khắc phục khó khăn trong cuộc sống giađình và công việc
Trang 16Việc làm, nhất là việc làm cho phụ nữ, tạo cho họ có thu nhập luôn làvấn đề được toàn xã hội quan tâm, điều đó tạo cơ hội cho phụ nữ vươn lênlàm chủ cuộc sống, làm chủ vận mệnh của mình, phấn đấu để được bình đẳngvới nam giới nhưng do ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ và donhiều nguyên nhân khác nên trong thực tế phụ nữ vẫn chịu thiệt thòi trongviệc sắp xếp việc làm, đào tạo bồi dưỡng nghề nghiệp, trong thu nhập, đề bạtcất nhắc
Trong công nghiệp đa số lao động nữ làm công việc giản đơn, thủcông, nặng nhọc có khi là độc hại nhưng thu nhập lại thấp Mặt khác trongmột số ngành nghề như nhau nhưng phụ nữ chỉ được nhận tiền lương thấphơn so với nam giới Đây là một thiệt thòi đối với lao động nữ Do đó vấn đềđặt ra không chỉ là tạo việc làm cho phụ nữ mà công việc đó phải phù hợp vớikhả năng và đặc điểm tâm sinh lý cho lao động nữ, giúp họ phát huy đượcđiểm mạnh và hạn chế điểm yếu
Hiện nay thất nghiệp ở Hà nội có xu hướng tăng lên, làm ảnh hưởngxấu tới sự phát triển của thủ đô Thất nghiệp trước hết là thiệt thòi cho bảnthân họ, cho gia đình và cho xã hội Vì vậy, tạo việc làm cho lao động nữ Hànội hiện đang là vấn đề búc xúc của thành phố Vấn đề này không chỉ gópphần giảm nghèo khổ cho người phụ nữ, tăng thu nhập bảo đảm sự bình đẳngnam nữ phát huy sự sáng tạo cũng như nâng cao nhân cách, địa vị người phụ
nữ, đó còn là một giải pháp hữu hiệu hạn chế sự phát sinh những vấn đề tệnạn xã hội ý nghĩa sâu xa của vấn đề tạo việc làm cho lao động nữ còn là tạođiều kiện giúp họ tái sản xuất sức lao động nuôi dưỡng được những đứa trẻthông minh góp phần xây dựng một tương lai tốt đẹp
Như vậy, tạo việc làm cho lao động nữ Hà nội là một vấn đề rất cấpthiết Để có thể giải quyết tốt hơn vấn đề việc làm cho lao động nữ thì trướchết chúng ta cần phải xem xét thực trạng việc làm của lao động nữ ngành
Trang 17công nghiệp Hà nội hiện nay và đưa ra các kiến nghị nhằm tạo được nhiềuviệc làm phù hợp cho lao động nữ.
PHẦN THỨ HAI: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
I.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA HÀ NỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN LAO ĐỘNG NỮ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm của Đồng bằng sông Hồng, là thủ đô củađất nước Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật,công nghệ, thương mại, du lịch v.v là đầu mối giao lưu kinh tế của cả nước,
có vai trò kinh tế quan trọng trong khu vực Hà Nội là nơi tập trung các cơquan đầu não của Đảng, nhà nước, các viện nghiên cứu khoa học, các trungtâm đào tạo, dạy nghề lớn của cả nước Hà Nội có hệ thống giao thông thuậnlợi: đường sắt, đường bộ, đường sông, đường hàng không nối liền với các địaphương trong nước và quốc tÕ Đây là các điều kịên thuận lợi cho việc phân
bố các cơ sở sản xuất công nghiệp
Hiện nay Hà Nội có 44 trường đại học và cao đẳng, 34 trường trunghọc chuyên nghiệp, 41 trường dạy nghề, 112 viện nghiên cứu chuyên ngành,ngoài ra còn có các tổ chức quốc tÕ, các công ty nước ngoài, các ngành côngnghiệp tiên tiến mũi nhọn của cả nước Hà Nội có lực lượng cán bộ khoa học
kỹ thuật, các chuyên gia và công nhân lành nghề rất hùng hậu, có điều kiệntiếp cận với kiến thức và kinh nghiệm tiên tiến của các nước trên thế giới,
Trang 18luôn luôn được bổ xung từ các trung tâm khoa học, các trường đại học, caođẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đóng trên địa bàn Với khả năng
đó, Hà Nội có thể ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học, kỹ thuật, côngnghệ tiên tiến trong và ngoài nước
Hà Nội là thành phố đông dân nhất khu vực phía Bắc và đứng thứ haitrong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh), có sức hút rất lớn về nhân lực vàcác nguồn lực khác, đồng thời cũng có sức lan toả, ảnh hưởng rất mạnh ra cảnước Các chủ trương, chính sách đẩy nhanh sự phát triển kinh tế – xã hộicủa Hà Nội có ảnh hưởng lớn đến dân số, lao động và công tác quản lý laođộng của Hà Nội cũng như các tỉnh lân cận
Sự phát triển mạnh của quá trình đô thị hoá, mở rộng phạm vi phát triển
ở các vùng ven đô cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế, đặcbiệt là khu vực ngoài quốc doanh sẽ làm thay đổi nhanh cả về số lượng, chấtlượng và cơ cấu lao động thủ đô
Hà Nội được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của trung ương và địa
phương và của các ngành, Hà Nội được ưu tiên đầu tư các nguồn lực (con người, tài nguyên, khoa học công nghệ ) của trung ương cũng như các tổ chức quốc tế có điều kiện cũng như khả năng hình thành các khu công nghiệp tập trung, các khu công nghệ, kỹ thuật cao
Cùng với sự chuyển mình đi lên của đất nước, Hà Nội đã và đang cónhững chuyển biến tốt:
− Tốc độ tăng tổng sản phẩm nội địa (GDP) liên tục tăng cao từ năm 1990trở lại đây Do tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền nên tỉ trọng GDPcủa Hà Nội so với cả nước cũng tăng: năm 1995 chiếm 5,5%, năm 2000chiếm 7,3% So với khu vực đồng bằng sông hồng năm 1995 chiếm 34,8%,năm 2000 chiếm 40%
− Cơ cấu nghành kinh tế tiếp tục chuyển biến theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá Nghành công nghiệp tăng từ 29,2% năm 1990 lên 38,0% năm
Trang 19luật doanh nghiệp Sự đóng góp của các thành phần kinh tế với mức tăngtrưởng khá đang diễn ra xu hướng giảm đi của thành phần kinh tế nhà nước.Năm 1995 kinh tế nhà nước chiếm 70,4% GDP của Hà Nội, năm 2000 giảmxuống 63% Khu vực ngoài nhà nước năm 1995 chiếm 22,8% năm 2000chiếm 21,5% Khu vực đầu tư nước ngoài năm 1995 chiếm 6,8%, năm 2000tăng lên 13%.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế mức sống của người dân Hà Nội khôngngừng được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội liên tục tăngnăm 1990 là 470 USD, năm 1995 là 915 USD, năm 2000 là 990 USD bằng 2,29 lần vùng đồng bằng sông hồng, bằng 2,07 lần bình quân chung của cả nước
Tỷ lệ giàu nghèo có sự thay đổi rõ rệt, số hộ giàu năm 1995 là 18,9%,năm 1996 là 21,3% Tỷ lệ hộ nghèo năm 1995 là 18,9%; năm 1996 là 1,94%;năm 1997 là 2,6% Thu nhập tăng, tỷ lệ tích luỹ tăng là yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến tiêu dùng và tích luỹ của mỗi gia đình nói riêng và toàn thành phốnói chung Yếu tố này cũng ảnh hưởng, tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêuthụ các sản phẩm trong nước, tạo điều kiện tích luỹ tư bản để đầu tư vào sảnxuất công nghiệp của thành phố
Về đầu tư nước ngoài năm 1989 Hà Nội chỉ có 4 dự án với số vốn đăng
ký là 48 triệu USD Đến năm 1999 có 399 dự án, năm 2000 có 425 dự án vớitổng số vốn là 8326 triệu USD Năm 2001 có thêm 39 dự án đầu tư nướcngoài được đăng ký cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký thực hiện là 168,2triệu USD Trong đó có 18 dự án đầu tư vào nghành công nghiệp xây dựngvới tổng số vốn đăng ký là 134,8 triệu USD
Như vậy tính đến năm 2001 Hà Nội có 399 dự án còn hiệu lực với tổng
số vốn đăng ký là 7485 triệu USD Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đangtạo việc làm ổn định cho trên 13 nghìn lao động Hà Nội và 11664 lao độngnghành công nghiệp Các khu công nghiệp: Nội Bài, Thăng Long, Sài Đồng,Daewoo – Halen là những khu công nghiệp có sức hút lớn đối với lao độngcông nghiệp nói chung và lao động nữ nói riêng
Truyền thống Hà Nội cũng ảnh hưởng đến lao động nữ ngành côngnghiệp Hà Nội có lịch sử ngàn năm văn hiến, người dân Hà Nội có truyềnthống văn hiến lâu đời Hà Nội là nơi có nhiều ngành nghề truyền thống đãđược khôi phục như: mây tre đan, đan lát, gốm sứ, thêu ren, khảm trai là
Trang 20điều kiện thuận lợi thu hót lao động tiểu thủ công nghiệp góp phần giải quyếtquỹ thời gian nhàn rỗi, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, đặcbiệt là lao động nữ.
2 Đặc điểm về dân số Hà Nội.
a Quy mô dân số.
Hà Nội có dân số vào loại đông, đứng thứ hai trong cả nước (chỉ sau Thànhphố Hồ Chí Minh) Đến năm 2001 dân số bình quân của Hà Nội là 2786100 người
Trang 21Biểu 1: Dân số trung bình của Hà Nội 1996 - 2001
Toàn thành 2395900 2467200 2553700 2688000 2734100 2786100Nội thành 1149600 1211100 13427000 1431500 146000 1493300
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội năm 2000, Nhà xuất bản Thống kê trang
12, Báo cáo sơ bộ lao động việc làm năm 2001, trang 10.
Mật độ dân số của Hà Nội cũng thuộc vào loại cao Năm 2000 mật độdân số bình quân của Hà Nội là 2993người/ km2, cao nhất là quận Đống Đa:
34367 người/km2; thứ hai là quận Hoàn Kiếm: 32684 người/ km2 Theo tínhtoán trung bình mỗi năm dân số Hà Nội tăng lên khoảng 100000 người Vớitốc độ tăng nhanh chóng này, dự báo đến năm 2005 dân số Hà Nội sẽ đạt xấp
xỉ 3 triệu người
Dân cư là một trong những điều kiện quan trọng đối với sự phân bốcông nghiệp Những ngành cần nhiều lao động ví dụ chế tạo máy, côngnghiệp dệt may phải phân bố ở những vùng đông dân Dân cư còn là nguồntiêu thụ các sản phẩm công nghiệp Các ngành công nghiệp phục vụ nhu cầucủa dân cư ví dụ: công nghiệp dệt, thực phẩm, đồ dùng gia đình cần đượcphân bố ở các vùng có mật độ dân cư cao và các điểm tập trung dân cư
b Tốc độ tăng dân số tự nhiên.
Trang 22Kể từ khi thực hiện kế hoạch hoá gia đình, tốc độ tăng dân số tự nhiêncủa Hà Nội tuy có giảm nhưng giảm chậm Tốc độ tăng dân số trung bìnhhàng năm thời kỳ 1996 – 2000 ở mức 1,3% - 1,4% Tuy nhiên, tốc độ tăngdân số của Hà Nội vẫn thấp hơn so với chỉ tiêu trung bình của cả nước Kếtquả này do mức chết Ýt biến động trong khi mức sinh giảm chậm Tỉ lệ sinh ởkhu vực ngoại thành còn cao, nhất là các huyện như: Đông Anh, Sóc Sơn,Thanh Trì.
Biểu 2: Tốc độ gia tăng tự nhiên dân số của Hà Nội giai đoạn 1996- 2000.
Nguồn: Niên giám thống kê Hà nội 2000- trang 12.
c Tốc độ tăng cơ học dân số.
Quá trình đô thị hoá và sự phát triển kinh tế – xã hội đã ảnh hưởng rấtlớn đến tốc độ tăng dân số cơ học của Hà Nội Hàng năm, các dòng di dân tự
do từ các địa phương vào Hà Nội tìm việc làm, chủ yếu là vào khu vực nộithành đã dẫn đến tốc độ tăng cơ học cao Số người di dân tự do đến Hà Nộinăm 1996 khoảng 93000 người, năm 1999 khoảng 200000 người, năm 2000khoảng 236500 người Có hiện tượng này là do sức hấp dẫn của Hà Nội vớinguồn lao động ngoại tỉnh Nguyên nhân chủ yếu là do dân từ các tỉnh khácđến học tập, làm ăn, sinh sống lâu dài hoặc tìm việc làm tạm thời, thời vụ
Hơn nữa bình quân hàng năm Hà Nội phải tiếp nhận khoảng 2 vạn laođộng từ các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tốt nghiệp ởlại Hà Nội tìm việc làm Tình trạng này dẫn đến sức Ðp lớn về mọi mặt, làmgia tăng nguồn nhân lực và gây áp lực lớn cho vấn đề giải quyết việc làm
3 Đặc điểm về nguồn lao động thành phố Hà Nội: Lao động là lực lượng
sản xuất chủ yếu là một trong những điều kiện quan trọng của sự phân bốngành công nghiệp
3.1 Quy mô nguồn lao động.
Hà Nội có quy mô nguồn lao động lớn với tốc độ tăng ngày càng nhanh
Trang 23Biểu 3: Quy mô và tỉ lệ tăng nguồn lao động Hà Nội 1996-2000.
Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001Nguồn lao động
Nguồn: Cục thống kê Hà Nội.
Biểu 3 cho thấy lực lượng lao động thủ đô liên tục tăng qua các năm.Nguyên nhân do:
− Hàng năm Hà Nội có khoảng 4-5 vạn lao động bước vào tuổi lao động
− Tốc độ tăng cơ học của Hà Nội rất cao Trung bình mỗi năm Hà Nội nhận
từ 170000 – 22000 lao động từ các tỉnh khác chuyển về và khoảng hơn 2vạn lao động từ các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tốtnghiệp ở lại tìm việc làm ở Hà Nội
Về độ tuổi lao động: Nhìn chung lực lượng lao động của Hà Nội nói chung
và lực lượng lao động nữ nói riêng tương đối trẻ
Biểu 4: Cơ cấu dân số nguồn lao động Hà Nội năm 2000.
Lao động Hà nội tương đối trẻ số lao động dưới 35 tuổi là 608493 người
(chiếm 44,2%), trong đó lao động nữ là 3104881 người (chiếm 45,47% tổnglực lượng lao động nữ) Lao động trẻ có thuận lợi về sức khoẻ, có khả năngnâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, khả năng tiếp thu khoa họccông nghệ hiện đại vào sản xuất và khả năng thích ứng với cơ chế thị trườngđầy biến động nếu được sự định hướng tốt của nhà nước
3.2 Chất lượng nguồn lao động.
Trang 24Chất lượng lao động nữ là kết quả của quá trình đào tạo bồi dưỡng vềchuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, khả năng ứng dụng thành tựukhoa học vào trong sản xuất Để đánh giá chất lượng nguồn lao động Hà Nộicần xem xét trên 3 chỉ tiêu sau:
♦ Trình độ học vấn.
Trình độ học vấn là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho người lao độnghình thành nhân cách, là cơ sở để họ nâng cao trình độ hiểu biết và tiếp thukhoa học công nghệ hiện đại Ở Hà Nội học vấn của lao động nữ còn thấp hơnnam giới thể hiện ở số lao động nữ không biết chữ và chưa tốt nghiệp cấp Icao hơn nam
Biểu 5: Dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên
chia theo trình độ học vấn năm 2001.
Không biết chữ 8421 0,61 7293 1,04 1128 0,17Chưa tốt nghiệp
cấp I
49973 3,62 32886 4,69 17087 2,51
Tốt nghiệp cấp I 188986 13,69 97187 13,86 91799 13,51
Tốt nghiệp cấp II 443959 32,16 223474 31,87 220485 32,46Tốt nghiệp cấp
III
688990 49,91 340295 48,53 348695 51,33
Nguồn: Báo cáo sơ bộ thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2001trang 32.
Năm 2001, trình dộ học vấn của lực lượng lao động Hà nội nói chung và lao động
nữ khá cao Tốt nghiệp PTCS trở lên là 1132949 người chiếm 82.06% trong đó nữ là
563769 người chiếm 80,40% tổng lực lượng lao động nữ.
Tuy nhiên số người có trình dộ học vấn quá thấp tức là chưa biết chữ vàchưa tốt nghiệp cấp I vẫn còn 8421 người chưa biết chữ chiếm tỉ lệ 0,61%;
49973 người chưa tốt nghiệp cấp I, chiếm 3,2%; trong đó nữ là 7293 ngườichiếm 1,04% và 32886 người chiếm 4,69% lực lượng lao động nữ
Như vậy, lao động nữ có trình dộ học vấn quá thấp còn nhiều hơn namgiới Đây là một vấn đề búc xúc cần được giải quyết ở một trung tâm kinh tế -chính trị - văn hoá của đất nước như thủ đô Hà nội
Trang 25Số người tốt nghiệp cấp II là 443959 người chiếm 32,16%; tốt nghiệpcấp III là 688990 người chiếm 49,91% Khoảng cách giữa nam và nữ cònchênh lệch thể hiện ở số người tốt nghiệp cấp II của nữ là 31,87% thấp hơnnam giới 32,46% Tỉ lệ nữ tốt nghiệp cấp III là 48,53% thấp hơn nhiều so vớinam giới 51,33%.
Rõ ràng trình độ học vấn lao động nữ thấp hơn so với lao động nam.Nguyên nhân do tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại đặc biệt ở nôngthôn, lao động nữ thường làm những công việc chân tay vất vả cùng với nhậnthức kém nên việc xoá mù cho số người này còn khó khăn; do lao động di cưvào Hà Nội nhiều người có trình độ học vấn thấp làm giảm trình độ học vấnchung của thành phố
♦ Trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Đội ngò lao động của thủ đô trong đó có lao động nữ vẫn còn cókhoảng cách về trình độ, kỹ năng nghề nghiệp so với yêu cầu ngày càng caocủa công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá thủ đô
Trang 26Biểu 6: Dân số Hà nội từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường
xuyên chia theo giới tính và trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2001.
Tổng sè Không
có chuyên môn kỹ thuật
Sơ cấp Công
nhân kỹ thuật không có bằng
Công nhân kỹ thuật có bằng
THCN: CNKT là 1: 0,36: 0,90 Sè lao động nữ chưa qua đào tạo chiếm tỉ rất
cao 56,68% và cao hơn tỉ lệ đó của nam (49,48%) Trong sè Ýt ái lao động nữ
đã qua đào tạo thì cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý có tới 18,82% trình độ
CĐ-ĐH và trên CĐ-ĐH trong khi đó chỉ có 2,54% sơ cấp; 13,65% công nhân kỹ thuật
và 8,31% THCN Sè lao động nữ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật lớn,chủ yếu lao động nữ là lao động phổ thông đã hạn chế khả năng cạnh tranhcủa họ trong thị trường lao động, mặt khác cơ cấu đào tạo bất hợp lý thừathầy thiếu thợ cũng dẫn đến tình trạng lãng phí và dẫn đến thất nghiệp cho họngay cả khi có trình độ cao
Từ những phân tích trên đây cho thấy Hà Nội có những điều kiện thuậnlợi trong việc tạo việc làm cho lao động nữ ngành công nghiệp Điều kiệngiao thông thuận tiện; cơ sở hạ tầng tương đối tốt; thị trường tiêu thụ sảnphẩm lớn nhờ quy mô dân số lớn, mật độ cao và thu nhập cao; sù phát triểnmạnh của kinh tế thủ đô cũng như của ngành công nghiệp trong nhiểu nămliền làm nền tảng và sự hình thành các ngành công nghiệp chủ lực sử dụngnhiều lao động trong đó có lao động nữ là những điều kiện thuận lợi cho
Trang 27phát triển công nghiệp đồng thời thu hót lao động nữ vào làm việc trong cácngành công nghiệp của thành phố Song bên cạnh những thuận lợi đó còn tồntại nhiều khó khăn: quy mô nguồn lao động lớn với tốc độ tăng nhanh nhưngtrình độ tay nghề thấp, ngành công nghiệp chưa phát triển tương xứng với yêucầu của nền kinh tế là hạn chế đối với việc tạo việc làm cho lao động nữtrong ngành công nghiệp.
II.PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ NGÀNH CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.Phân tích thực trạng ngành công nghiệp Hà Nội.
a Thành tựu.
Ngành công nghiệp Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội Hà Nội và góp phần vào sự pháttriển công nghiệp của vùng đồng bằng Bắc Bộ và cả nước
Đến nay công nghiệp thủ đô đã có một số lượng rất lớn các cơ sở sảnxuất, trong đó có 163 cơ sở sản xuất công nghiệp của nhà nước trung ương,
102 cơ sở của địa phương, 15880 cơ sở sản xuất ngoài nhà nước và 104 cơ sởsản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Biểu 7: Số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà nội năm 1995 – 2000
Nguồn: Niên giám thống kê Hà nội năm 2000- trang 64, 66, 68, 70, 73.
Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội liên tục tăng:Năm1995 tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội đạt 8466,9 tỉ đồng;năm1997 đạt 12172,3 tỉ đồng; năm1999 đạt 14919 tỉ đồng; năm 2000 đạt
Trang 2817191,8 tỉ đồng; năm 2001 là 7415 tỉ đồng Tỉ trọng đóng góp vào GDP tăngnăm 1999 chiếm 26,3%; năm 2000 là 38%; năm 2001 là 38,7%.
Sản xuất công nghiệp của Hà Nội so với cả nước năm 1995 chiếm6,47%; năm 1999 chiếm 8,19%; năm 2000 chiếm 8,95% Quy mô côngnghiệp của Hà Nội lớn gấp 2,9 lần của Hải Phòng; 9,2 lần của Thái Nguyên;8,2 lần của Phú Thọ; 3,4 lần của Hải Dương là những tỉnh có công nghiệptương đối lớn ở Bắc Bộ
Biểu 8: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà nội qua các năm.
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2000 trang 64, 66, 68, 70, 73.
Những năm qua công nghiệp Hà Nội phát triển liên tục với tốc độ tăngbình quân thời kỳ 1996-2000 là 15,2% Những nhóm ngành công nghiệp có
xu hướng tăng cao trong thời kỳ này là: kỹ thuật điện, điện tử, chế biến lươngthực- thực phẩm, dệt- da - may, sản xuất xe có động cơ Nhiều sản phẩm củacông nghiệp Hà Nội đạt chất lượng khá, được thị trường chấp nhận như: máychế biến gỗ, động cơ điện, sản phẩm dệt may, sản phẩm cơ kim khí tiêu dùng,sản phẩm nhựa gia dông
Cơ cấu thành phần kinh tế trong công nghiệp có sự chuyển biến rõ rệttrong thời kỳ 1996-2000, nhịp độ tăng trưởng của khu vực có vốn đầu tư nước
Trang 29ngoài đạt tới 31,3%/năm cao hơn hẳn khu vực kinh tế trong nước, nhịp độtăng trưởng của công nghiệp trung ương đạt 11,55%; công nghiệp địa phươngđạt 6,5%; khu vực ngoài nhà nước là 18,7%.
Những năm qua công nghiệp thủ đô đã tạo dựng được quy mô lớn,tương đối đa dạng, khai thác được nhiều tiềm năng, thế mạnh của thủ đô Mặtkhác đã bắt đầu tập trung, hình thành một số nhóm ngành và sản phẩm mũinhọn: cơ kim khí, dệt, da, may, chế biến lương thực, thực phẩm và côngnghiệp điện tử; đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Tổ chứcsản xuất, quản lý đã bước đầu đổi mới phù hợp với cơ chế thị trường, cácthành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển và quản lý vĩ mô củanhà nước Chính quyền các cấp đã giảm dần can thiệp trực tiếp vào quyền tựchủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hợp tác và liên doanh với nướcngoài đem lại tác dụng thiết thực Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã gópphần quan trọng trong sự phát triển của thành phố nói chung và công nghiệpnói riêng
Tuy đã đạt được một số thành tựu như đã kể trên nhưng công nghiệp
Hà Nội đang phải đối mặt với những thách thức lớn:
− Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị nhìn chung còn lạc hậu, yếukém là một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay của công nghiệp thủ
đô Thiết bị máy móc đã lạc hậu và lại lắp ghép của nhiều nước, nhiều thế
hệ kỹ thuật khác nhau không đồng bộ Mấy năm gần đây, các xí nghiệp sảnxuất công nghiệp của thủ đô đã mạnh dạn vay vốn, liên doanh, liên kết đầu
tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ tiên tiến và hiện đại hoá nhưng đó mới
là bước đầu còn nhiều hạn chế
− Chi phí vật tư, năng lượng lớn nên giá thành sản phẩm cao, sức cạnhtranh của hàng hoá còn hạn chế
− Đội ngũ cán bộ quản lý điều hành các doanh nghiệp, lao động đã quađào tạo, có tay nghề khá tuy cao nhất cả nước nhưng hiện nay và trong thờigian sắp tới vẫn ở trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu, vừa yếu, bất cập sovới yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thủ đô
− Quy hoạch không gian phát triển công nghiệp đang là vấn đề búc xúc
Hà Nội đang đứng trước yêu cầu chiến lược phải tổ chức lại không gian
Trang 30công nghiệp, khu vực nội thành đã tới mức quá tải đòi hỏi phải phân bố bớtcác khu công nghiệp các cơ sở công nghiệp nhà nước về khu vực nông thôn
để giảm sức Ðp về cơ sở hạ tầng và lao động di dân tự do vào thành thị tìmviệc làm
2.Thực trạng việc làm lao động nữ Hà nội.
Năm 2000 công nghiệp Hà nội tạo được việc làm thường xuyên cho
184745 lao động So với số lao động đang làm việc thường xuyên trong nÒnkinh tế quốc dân là 1280237 người, lao động công nghiệp chiếm tỉ trọng14,42% Tuy nhiên xét theo giá trị sản xuất đóng góp vào GDP của Hà nội là38% thì số lao động công nghiệp Hà nội còn quá nhỏ dẫn đến cơ cấu lao độnglạc hậu Trong khi cơ cấu kinh tÕ theo ngành CN - DV- NN là 38% - 58,2% -3,8% thì tỉ trọng lao động công nghiệp 14,42% là quá nhỏ Trong những nămtiếp theo cần tăng số lao động công nghiệp lên chiếm tỉ trọng trên 30%
Biểu 9: Sè lao động công nghiệp trên điạ bàn Hà nội.
sè lao động
Nguồn: Niên giám thống kê Hà nội 2000 Trang 75, 77, 81, 82, 84, 85.
Trong đó số lượng việc làm mới được tính bằng số lượng việc làm củanăm sau trừ đi số lượng việc làm của năm trước liền kề
Trang 31Từ biểu trên cho thấy số lượng lao động công nghiệp tăng qua các nămnhưng tăng chậm Lao động ngành công nghiệp tập trung nhiều trong khu vựcnhà nước sau đó đến khu vực tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉchiếm số lượng nhỏ.
Biểu 10: Số lượng lao động nữ năm 2000.
số lượng % số lượng % số lượng %Toàn ngành 184745 100 83135 100 101610 100Thành thị 121858 65,96 57120 72,23 62084 61,10Nông thôn 62887 34,04 23087 27,77 39526 38,90
Nguồn: Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam 1998.
Lao động nữ ngành công nghiệp có 83135 người chiếm 45% trong tổng
số lao động toàn ngành tham gia vào hầu hết mọi lĩnh vực và ngành nghề
Lao động nữ chủ yếu tập trung vào thành thị với 60048 người chiếm72,23% tống số lao động nữ; lao động nữ nông thôn là 23087 chiếm 27,77%.Lao động tập trung ở khu vực thành thị cũng là xu hướng chung của ngànhcông nghiệp Hà nội Việc tập trung quá nhiều cơ sở công nghiệp và lao độngcông nghiệp ở thành thị gây quá tải cho khu vực này Vấn đề đặt ra là phảiphát triển công nghiệp, các khu công nghiệp ở nông thôn để giảm bớt sức Ðpviệc làm trong khu vực thành thị và giảm di dân tự do vào thành thị tìm việclàm
Về phân bố lao động Các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thựcphẩm thu hút nhiều lao động nữ, các ngành công nghiệp nặng thu hót Ýt laođộng nữ
Trang 32Biểu 11: Tỉ trọng lao động nữ theo ngành năm 2000
Đơn vị: %
DNNN Tư nhân ĐTNN Chung1.Cơ khí – Năng lượng 29,52 22,65 24,36 28,33
vì thế nó phù hợp với lao động nữ Các ngành dệt - da - may chiếm 76,22%;công nghiệp chế biến chiếm 60,96% Các ngành công nghiệp nặng như cơ khínăng lượng, sản xuất vật liệu xây dựng có tỉ lệ nữ thấp Đây là những ngànhlao động có tính chất nặng nhọc, làm việc ngoài trời nên không phù hợp vớilao động nữ Tuy nhiên với các ngành có lao động nặng nhọc như cơ khí nănglượng hoặc các ngành vừa nặng nhọc vừa độc hại như hoá chất – cao su, sảnxuất vật liệu xây dựng thì tỉ lệ lao động là: 28,33%; 40,79%; 23,75% như trênvẫn còn cao không phù hợp với sức khoẻ của phụ nữ
Trang 33III.PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC LÀM - TẠO VIỆC LÀM TRONGCÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
1.Thực trạng các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn,thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công Ýchnhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế do nhà nước giao Doanh nghiệp nhànước gồm các doanh nghiệp do nhà nước quản lý và các doanh nghiệp do địaphương quản lý
Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận quan trọng có vai trò nòng cốt trong
hệ thống kinh tế nhà nước và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiềuthành phần
Trong bối cảnh doanh nghiệp nhà nước hoạt động trì trệ yếu kém, kinhdoanh thua lỗ kéo dài, không còn thể hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tếquốc dân, Đảng và nhà nước đã thực hiện chính sách cải cách doanh nghiệpnhà nước làm cho các doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.Các chính sách quan trọng: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, giao, bán,khoán kinh doanh, cho thuê, phá sản doanh nghiệp nhà nước đã đem lại kếtquả khích lệ
Cùng với xu hướng chung đó của cả nước, các doanh nghiệp côngnghiệp nhà nước trong thời gian qua đã giảm đi 22 doanh nghiệp từ 287doanh nghiệp năm 1995 xuống còn 272 doanh nghiệp năm 1997 và 265 doanhnghiệp năm 2000
Biểu sè 12: Số cơ sở sản xuất công nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội.
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2000.
Các doanh nghiệp nhà nước còn lại đã được củng cố tăng cường Doanhnghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc trung ương quản lý có
ưu thế lớn về vốn, công nghệ, lao động sản xuất toàn bộ hoặc chiếm tỉ trọnglớn những sản phẩm trọng yếu của nền kinh tế quốc dân như: sản xuất điện,
Trang 34than, phân bón, thuốc trừ sâu, xi măng, thuốc chữa bệnh, đường kính, bia,thuốc lá, sản xuất sợi, thép, máy nông nghiệp, máy công cụ, động cơ điesel,động cơ điện
Số lượng các doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng khả năng tích luỹ,phát triển quy mô mở rộng năng lực sản xuất của một số ngành quan trọngđược bổ sung, sản xuất kinh doanh phát triển và nâng cao dần hiệu quả Đâyvẫn là khu vực trọng yếu của công nghiệp Hà Nội hiện nay
Biểu 13: Giá trị sản xuất công nghiệp của nhà nước
Các doanh nghiệp nhà nước trung ương có thế mạnh hơn các doanhnghiệp nhà nước địa phương về vốn và công nghệ nên chiếm lĩnh được thịtrường Trong thời kỳ 1996 – 2000 có tốc độ tăng trưởng cao là 15,2% đặcbiệt năm 2001 tăng 19,4% Doanh nghiệp nhà nước địa phương thời kỳ 1996– 2000 chỉ tăng với tốc độ 6,5% Các doanh nghiệp nhà nước địa phương cónhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ làm giảm tốc độ tăng bình quân
Trang 35Các doanh nghiệp nhà nước tăng trưởng cao trong nhiều năm liền là:Công ty dệt Minh Khai, dệt mùa đông, dệt 10 - 10, May 40, may 10, MayThăng Long, Công ty Thăng Long, Sơn Hà Nội, Kim khí Thăng Long, KhoáViệt Tiệp, Điện cơ thống nhất, Công ty thiết bị kỹ thuật điện, Bia Hà Nội, BiaViệt Hà, Công ty phân lân nung chảy Văn Điển, Bóng đèn và phích nướcRạng Đông, Thuốc lá Thăng Long Các doanh nghiệp này đÒu thuộc nhómnghành chủ đạo là cơ - kim khí, điện, điện tử, chế biến lương thực thực phẩm
Biểu 14: Lao động công nghiệp trong doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2000 Trang 75, 76
Cho đến nay, so với lực lượng lao động công nghiệp toàn thành phố thì doanh nghiệp nhà nước vẫn là khu vực có số lao động đông nhất Các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước sử dụng bình quân 351 lao động trong đó doanhnghiệp nhà nước trung ương là 474,7 lao động, doanh nghiệp nhà nước địa phương là 268,8 lao động Tuy nhiên doanh nghiệp nhà nước đang giảm dần
Trang 36về số lượng lao động và tỷ trọng Trong những năm tiếp theo xu hướng giảm còn tiếp tục Số việc làm mới trong các doanh nghiệp nhà nước tăng chậm từ năm 1995 – 1997: 1849 chỗ làm mới, từ 1997 đến 1999 chỉ tăng 4304 chỗ làm mới, từ1999 đến 2000 giảm 697 chỗ làm.
Trong công nghiệp, lao động nữ tham gia vào mọi ngành nghề vàchiếm tỷ trong khá cao khoảng 45% Trong đó các ngành công nghiệp nhẹnhư chế biến lương thực thực phẩm và dệt – da – may lao đông nữ chiếm tỉ lệrất cao tới 70% Đây là những ngành có thể nói là đặc thù, có khả năng thuhút nhiều lao động nữ hơn cả bởi lẽ công nghệ sản xuất của ngành này hầunhư là công nghệ sử dụng nhiều lao động, tính chất công việc nhẹ nhàng, đòihỏi phải có sự khéo tay, kiên nhẫn mà chỉ có lao động nữ mới đáp ứngđược Trong các ngành công nghiệp nặng và một số ngành công nghiệp chếbiÕn có lao động nặng nhọc tỉ lệ nữ chiếm thấp Đây là những công việc nặngnhọc, môi trường lao động không phù hợp với chị em vì phần lớn những côngviệc diễn ra ngoài trời nắng nóng và nhiều bụi Xét trên giác độ công việcthì phân bố lao động nữ tập trung trong các ngành công nghiệp nhẹ và giảm tỉtrọng trong các ngành công nghiệp nặng,khai khoáng là hợp lý Lấy một số vídụ: Tổng công ty dệt may Hà Nội có 4871 lao động thì có tới 3410 lao động
nữ chiếm 70%; Công ty bánh kẹo Hải Hà có 1900 lao động thì có 1316 laođộng nữ, chiếm 69,26%; Xí nghiệp gia công xuất khẩu giầy Đông Anh có
2767 lao động, số lao động nữ là 2631; chiếm 95,08%; Công ty may ThăngLong có 2182 lao động trong đó nữ là 1882 chiếm 86,25% Trong khi đóCông ty than nội địa có 4800 lao động, nữ là 1500 chỉ chiếm 31,25%
Tình hình thiếu việc làm và lao động dôi dư trong DNNN: Trong
DNNN hiện nay rất phổ biến tình trạng thiếu việc làm dẫn đến lao động dôi
dư Tính đến tháng 9/2001 toàn thành phố có 6413 lao động không có việclàm bị dôi dư trong đó nhiều nhất là DNNN với 3000 người, doanh nghiệp tưnhân đứng thứ hai với 2000 người, hơn 1000 người còn lại là trong doanhnghiệp có vốn ĐTNN và các loại hình khác Trong đó ước tính có đến 3500người phải nghỉ dài ngày chủ yếu là ở DNNN Trong sè lao động dôi dư nữchiếm tỉ lệ lớn 85,14% Điều tra 20 doanh nghiệp có lao động dôi dư số laođộng dôi dư chiếm 11,66% lao động bình quân của doanh nghiệp: Công ty cổphần giầy da Hà Nội có tỉ lệ lao động dôi dư cao nhất: 50,03%; nữ chiếm50,67%; lao động dôi dư trong doanh nghiệp chủ yếu là lao động có trình độ
Trang 37tay nghề thấp có 3,45% chưa tốt nghiệp cấp III; 92,3% lao động chưa qua đàotạo; Công ty kỹ thuật điện thông Hà Nội có hơn 700 lao động thì có 68% đangngồi chờ việc Điều đó chứng tỏ quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhànước có tác động mạnh mẽ đến số lượng và cơ cấu lao động trong doanhnghiệp Dưới áp lực của cơ chế thị trường, nhiều doanh nghiệp không còngiấu nổi yếu kém của mình, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, khó khăn vềthị trường, bộ máy quản lý cồng kềnh, kỹ thuật sản xuất lạc hậu cũ kỹ làm chosản phẩm thiếu sức cạnh tranh, sản xuất bị thu hẹp dẫn đến thiếu việc làm củangười lao động.
Đặc điểm của lao động dôi dư là số năm công tác Ýt (dưới 5 năm),trình độ học vấn thấp: Công ty may Chiến Thắng có 79% lao động có số nămcông tác dưới 5 năm, Công ty xe máy xe đạp Đống Đa là 43% Lao động dôi
dư đông nhất là ở độ tuổi 25 – 40 chiếm 41,42%; 41 – 50 tuổi chiếm 33,33%;thấp nhất là độ tuổi dưới 24: 7,41% Thu nhập bình quân tháng của lao độngdôi dư đã tìm được việc làm rất thấp bình quân là 367000 đồng, nữ là 324000đồng
Như vậy, trong số những người bị mất việc trong các doanh nghiệpcông nghiệp nhà nước thì lao động nữ là những người bị ảnh hưởng nhiềunhất Phần lớn lao động nữ bị mất việc làm chủ yếu là do họ không còn phùhợp với phương thức hoạt động mới của doanh nghiệp sau khi cải cách chủyếu là lao động phổ thông, sức khoẻ và năng suất lao động thấp hơn nam giới.Điều này gây cho họ rất nhiều khó khăn vì tính năng động của nữ thường kémhơn Thực tế cho thấy người lao động phải mất 3 đến 9 tháng sau mới tìmđược việc làm mới nhưng vẫn chưa thực sự ổn định và có thu nhập thấp Vìvậy, phụ nữ thường tham gia vào khu vực phi kết cấu là khu vực có năng suấtlao động thấp, thời gian làm việc dài và hiệu quả kinh tế thấp
b Sử dụng thời gian lao động.
Theo kết quả điều tra của Trung tâm môi trường Viện khoa học laođộng và các vấn đề xã hội thì thời gian làm việc thực tế trong năm của laođộng nữ là 277 ngày
Trang 38Biểu 15: Thời gian làm việc thực tế của lao động nữ phân theo ngành
Nguồn: Nguyễn Thị Tuy Hoà - “ Tác động của chính sách lao động nữ hiện hành”- trung
tâm nghiên cứu lao động nữ 1998.
Số ngày làm việc thực tế bình quân của lao động nữ Ýt hơn nam giới
13 ngày So với luật lao động thì số ngày công không chênh lệch nhiều lắm (íthơn 3 ngày so với quy định) Các ngành có số ngày làm việc Ýt là: Cơ khí -Năng lượng: 262 ngày, Hoá chất - Cao su: 278 ngày, Sản xuất vật liệu xâydựng: 274 ngày và In - Xenlulo - Giấy: 271 ngày Các ngành có số ngày làmviệc cao là những ngành đông lao động nữ như chế biến lương thực thựcphẩm: 290 ngày, dệt - da - may: 281 ngày, thời gian làm việc thực tế của laođộng nữ bằng nam thậm chí cao hơn nam Số ngày làm việc chung trong cácdoanh nghiệp nhà nước là 277 ngày cũng cho thấy tình trạng thiếu việc làmcủa lao động trong khu vực này
Tình trạng làm thêm ca thêm giờ khá phổ biến trong các doanh nghiệpcông nghiệp Ngành của lao động nữ thường xuyên làm 3 ca và làm thêm giờ
là ngành dệt - da - may Lao động nữ thường xuyên làm thêm giờ chiếm68,04% lao động làm thêm giờ trong các doanh nghiệp
Khảo sát ở một số doanh nghiệp có đông lao động nữ như: công ty dệt 8/3, công ty giầy Thụy Khuê, công ty dệt Phong Phó cho thấy: do sản xuất theo mùa vụ hoặc đơn đặt hàng nên không Ýt công nhân bị đặt vào tình trạng
Trang 39làm việc bấp bênh có lúc thì phải làm thêm ca thêm giờ, còn những lúc khôngphải mùa vụ các doanh nghiệp phải luân phiên cho lao động làm cầm chừng hoặc chờ nghỉ việc.
c Trình độ lao động.
Mặc dù phụ nữ có nhiều việc làm nhưng chủ yếu là những công việc không đòi hỏi tay nghề cao Do đó nguy cơ mất việc luôn là mối đe doạ đối với lao động nữ nhất là lao động phổ thông
Đối với người sử dụng lao động chất lượng lao động là điều kiện hàng đầu để tuyển dụng nhưng vì hệ thống đào tạo nghề chưa phát triển theo kịp xuthế của nền kinh tế nên số lao động chuyên môn kỹ thuật còn quá nhỏ, không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng
Lao động trong các doanh nghiệp nhà nước nói chung có trình độ học vấn và tay nghề cao hơn so với các thành phần kinh tế khác Tuy nhiên, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn rất Ýt Hầu hết số lao động mới tuyển vào doanh nghiệp đều không có hay nghề trước khi vào làm việc buộc các doanh nghiệp phải dành một khoản kinh phí và thời gian nhất định để đào tạo số lao động mới tuyển Việc này ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và làm giảm mức thu nhập của doanh nghiệp, làm cho nhiều doanh nghiệp rơi vào thế bị động vì số lao động được đào tạo không đáp ứng
đủ nhu cầu sản xuất cần thiết của doanh nghiệp
d Về thu nhập.
Theo kết quả điều tra của Trung tâm nghiên cứu lao động nữ thì thunhập của nữ công nhân thấp hơn nam công nhân ở mọi ngành nghề và mọikhu vực Phụ nữ có mặt trong mọi lĩnh vực của ngành công nghiệp nhưngthường tập trung vào những nghề nghiệp có tay nghề thấp dẫn đến thu nhậpthấp Nếu phân loại các công việc theo mức độ tay nghề thì lao động nữchiếm tỷ trọng lớn ở những công việc đơn giản và giảm dần ở những loạicông việc phức tạp Lao động nam cũng có xu thế như vậy nhưng các tỷ lệ đóthấp hơn so với nữ ở những công việc đơn giản và cao hơn ở những công việcđòi hỏi có chuyên môn Trong khu vực quốc doanh thu nhập bình quân của nữcông nhân bằng 86,3% so với nam công nhân do sức khoẻ, năng suất laođộng, tay nghề thấp hơn nam giới Thu nhập của nữ công nhân cũng có sự
Trang 40phân biệt giữa lao động phổ thông và lao động kỹ thuật, giữa các loại doanhnghiệp Thu nhập của lao động kỹ thuật cao hơn lao động phổ thông, thu nhậpcủa công nhân trong các doanh nghiệp thuôc nhà nước quản lý cao hơn trongcác doanh nghiệp do địa phương quản lý Theo báo cáo của sở lao độngthương binh xã hội Hà Nội năm 2001 thì thu nhập bình quân của các DNNN
là 936480 đồng, trong đó lao động nam là: 1058000 đồng, của lao động nữ là
850432 đồng Lấy một số ví dụ: Thu nhập bình quân của Công ty may 10 làtrên 1,3 triệu đồng/ người/ tháng; Công ty rượu bia nước giải khát Hà Nội là1,2 – 1,5 triệu đồng/ người/ tháng; Công ty xe máy xe đạp Thống Nhất là1,182 triệu đồng/ người/ tháng Trong khi đó các doanh nghiệp có đông laođộng nữ và thuộc địa phương quản lý có thu nhập thấp hơn: Bánh kẹo Hải Hà
là 690 nghìn đồng, lao động nữ là 629 nghìn đồng trong đó lao động nữ phổthông là 372 nghìn đồng, lao động nữ kỹ thuật là 745 nghìn đồng Xí nghiệpgia công giầy xuất khẩu Đông Anh thu nhập bình quân là 650 nghìn đồng, nữ
là 540 nghìn đồng trong đó lao động nữ phổ thông là 500 nghìn đồng, laođộng nữ kỹ thuật là 750 nghìn đồng
2.2 Chi phí tạo việc làm
Chi phí tạo việc làm được tính bằng mức vốn trên một lao động đồngthời đây cũng là chỉ tiêu phản ánh chất lượng việc làm theo đầu vào Vốn vàcông nghệ thường có quan hệ thuận chiều với nhau nên với những điều kiệnkhông thay đổi, tỉ lệ vốn trên lao động càng cao phản ánh trình độ công nghệcàng cao Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đi theo phương hướng sử dụngnhiều yếu tố lao động hay công nghệ Những ngành có chỉ số vốn trên laođộng thấp là những ngành sử dụng nhiều lao động Trong công nghiệp đó lànhững ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến
Theo tính toán sơ bộ, số vốn cần có để tạo ra một chỗ làm trong côngnghiệp nhà nước là 40-50 triệu đồng (3000-4000 USD) Chỉ tiêu này cao hơn
so với các doanh nghiệp ngoài nhà nước nhưng thấp hơn nhiều so với cácdoanh nghiệp có vốn đâù tư nước ngoài (mức vốn bình quân/lao động là
64570 USD trong ngành công nghiệp nặng, 16486 USD trong ngành côngnghiệp nhẹ)(1)
Do mức vốn bình quân/ lao động còn thấp nên trong doanh nghiệp nhà nước tỉ lệ lao động làm việc với các loại công cụ lao động thủ công cao