Từ đó trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi sẽ đưa ra một số giải pháp với mong muốn có thể áp dụng được phần nào vào thực tiễn hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các biểu đồ iii
Danh mục các sơ đồ, đồ thị iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ 6
1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ 6
1.1.1 Khái niệm công ty quản lý quỹ 6
1.1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ 8
1.1.3 Khái niệm quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ 10
1.1.4 Quy trình quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ 11
1.2 Hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ 17
1.2.1 Khái niệm hiêu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ 17 1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ 19
1.2.3 Những nhân tố tác động tới hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY TNHH QUẢN LÝ QUỸ SSIAM 37
2.1 Giới thiệu về công ty TNHH Quản lý quỹ SSIAM 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 40
2.1.3 Các nghiệp vụ kinh doanh 42
2.2 Thực trạng hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM từ năm 2010-2012 46
2.2.1 Quy trình quản lý danh mục đầu tư 46
Trang 42.2.2 Thực trạng hiệu quả quản lý danh mục đầu tư 51
2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM từ năm 2010-2012 64
2.3.1 Những thành công đạt được 65
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 68
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY TNHH QUẢN LÝ QUỸ SSIAM 75
3.1 Định hướng phát triển của công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM 75
3.1.1 Định hướng phát triển chung của công ty 75
3.1.2 Định hướng nâng cao quản lý danh mục đầu tư 77
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại TNHH quản lý quỹ SSIAM 80
3.2.1 Thay đổi nhận thức của cấp lãnh đạp công ty trong quản lý danh mục đầu tư 80
3.2.2 Nâng cao trình độ nhân lực trong quản lý danh mục đầu tư 82
3.2.3 Hoàn thiện quy trình quản lý danh mục đầu tư 85
3.2.4 Tăng cường quản trị rủi ro trong quản lý danh mục đầu tư 88
3.2.5 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý danh mục đầu tư 91
3.2.6 Hoàn thiện hệ thống thông tin trong quản lý danh mục đầu tư 91
3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM 93
3.3.1 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước 93
3.3.2 Kiến nghị đối với công ty chứng khoán và ngân hàng lưu ký 96
3.3.3 Kiến nghị đối với những nhà đầu tư uỷ thác 99
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 APT Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch: Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch
2 CAPM Mô hình định giá tài sản vốn
3 CTCK Công ty chứng khoán
4 TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
5 DMĐT Danh mục đầu tư
6 SSIAM Công ty trách nhiệm hữu hạn quản lý quỹ SSIAM
7 NAV Giá trị tài sản ròng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Số hiệu
1 Bảng 2.1 Kết quả hoạt động của SSIAM trong 5 năm 38
2 Bảng 2.2 Thông tin tổng quát về công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM hiện nay 39
3 Bảng 2.3 Nhân sự chủ chốt tại công ty TNHH quản lý quỹ
6 Bảng 2.6 Tăng trưởng NAV danh mục đầu tư của SSIAM so với chỉ số VN-Index 59
7 Bảng 2.7 Các khoản thu nhập của danh mục đầu tư tại SSIAM 61
Cơ cấu tài sản đầu tư cuối năm 2012 của một số quỹ
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
TT Số hiệu sơ
1 Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý danh mục đầu tư là nhu cầu xuất phát từ đòi hỏi thực tế của nhà đầu tư trong việc hạn chế rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận khi tiến hành đầu
tư Đối với công ty quản lý quỹ, là tổ chức chuyên trách về kinh doanh chứng khoán trên thị trường, quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ quan trọng Hiệu quả quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ không chỉ là căn
cứ khẳng định tính chuyên nghiệp mà còn thể hiện chỗ đứng và uy tín của công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán
Trải qua hơn 10 năm, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có nhiều bước phát triển, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đã được triển khai tại các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc quản lý danh mục đầu tư tại các công ty còn được tổ chức khá là đơn giản, thiếu khoa học và chưa mang lại hiệu quả, do đó chưa tạo được niềm tin đối với nhiều nhà đầu tư
Mặt khác, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra từ năm 2007, kéo dài đến hết năm 2009 đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua Chỉ tính riêng trong năm 2008, chỉ số VN-index đã mất hơn 66% giá trị Mặc dù trong năm
2009, thị trường có dấu hiệu phục hồi, nhưng những sóng gió của thị trường vẫn còn tiếp nối với tình trạng ảm đạm trong suốt năm 2010 sau đó sang năm 2011 và đến năm 2012 thị trường chứng khoán đã hồi phục trở lại nhưng tốc độ tăng trưởng chưa cao Mặt khác thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ và bộc lộ khá nhiều điểm yếu trong công tác quả
lý của các cơ quan chức năng, làm cho tính minh bạch trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn kém, dẫn tới các hoạt động đầu cơ trên thị trường diễn ra mạnh mẽ và người chịu thua thiệt ở đây là các nhà đầu tư cá
Trang 10nhân… chính vì điều này làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Do vậy, nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư đang là yêu cầu cấp thiết hiện nay, không chỉ đối với các nhà đầu tư nói chung mà còn với công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM nói riêng, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng với thế giới thời hậu khủng hoảng
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “ Nâng cao hiệu quả quản lý
danh mục đầu tƣ chứng khoán tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM” đã
được tác giả lựa chọn nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty quản lý quỹ là một trong những nghiệp vụ quan trọng của công ty quản lý quỹ Lợi nhuận từ dịch vụ quản lý danh mục đầu tư góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập hoạt động của công ty quản lý quỹ trong điều kiện hoạt động kinh doanh chứng khoán tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao, cùng với các hoạt động kinh doanh và đầu tư khác gặp rất nhiều khó khăn trong thời điểm hiện nay Các công ty quản lý quỹ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ quản lý danh mục đầu tư trong hoạt động của công ty quản lý quỹ, tuy nhiên tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ quản lý danh mục đầu tư hiện nay còn thấp chưa tương xứng với quy mô của thị trường chứng khoán Điều đó đòi hỏi cần phải có những đánh giá và nhìn nhận một cách toàn diện những thuận lợi, khó khăn
và thử thách mà các công ty quản lý quỹ Việt Nam đang và sẽ gặp phải, từ đó đưa ra được các định hướng và giải pháp để phát triển nhanh, mạnh và hiệu quả hơn nữa dịch vụ quản lý danh mục đầu tư tại các công ty quản lý quỹ Việt Nam
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý danh mục đầu tư chứng khoán; đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại thị
Trang 11trường chứng khoán Việt Nam, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu
về nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
Do vậy, tôi đã đặt ra các câu hỏi cần nghiên cứu nhƣ sau
- Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty quản lý quỹ như thế nào thì mới đạt được hiểu quả tốt?
- Thực trạng về dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại các công ty quản lý quỹ Việt Nam nói chung và tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM nói riêng hiện nay như thế nào?
- Luận văn nghiên cứu dịch vụ quản lý danh mục đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM để làm gì?
Từ đó trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi sẽ đưa ra một số giải pháp với mong muốn có thể áp dụng được phần nào vào thực tiễn hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:
Luận văn thạc sĩ kinh tế „„Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam‟‟, của tác giả Phan Ngọc Hùng
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Phát triển dịch vụ quản lý danh mục đầu tư tại Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Bình”, của tác giả Nguyễn Thái Sơn
Luận văn thạc sĩ kinh tế „„Thực trạng quản lý danh mục đầu tư tại công
ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam‟‟, của tác giả Nguyễn Thanh Bình
Luận văn thạc sĩ kinh tế „„ Đánh giá hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam‟‟, của tác giả Mai Phụng Chiêu
Trang 123 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại
công ty quản lý quỹ
- Phân tích và đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty
TNHH quản lý quỹ SSIAM
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục
đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả quản lý danh mục đầu
tư tại công ty quản lý quỹ
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM từ năm 2010 đến năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính
và định lượng, thu thập cả nguồn thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp
Tác giả đã tổng hợp thông tin từ các báo cáo tài chính của công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM qua các năm để tổng hợp, so sánh, thống kê, phân tích, để có được những kết quả mong muốn phục vụ cho việc đánh giá thực trạng từ đó tìm ra nguyên nhân nhằm đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư
Các nguồn dữ liệu cần thu thập:
- Nguồn thông tin thứ cấp: Bảng cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM giai đoạn 2010 – 2012; Kết quả hoạt động kinh của một số các công ty quản lý quỹ khác
- Nguồn thông tin sơ cấp: Phỏng vấn Giám đốc, Phó Giám đốc, nhân viên tại SSIAM
Các nguồn dữ liệu sẽ được trích dẫn trực tiếp trong luận văn và được ghi
Trang 13chú chi tiết trong phần tài liệu tham khảo
6 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý thuyết về dịch vụ quản lý danh mục đầu
tư tại công ty quản lý quỹ
- Phân tích thực trạng hiệu quả của dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM giai đoạn 2010 - 2012,
từ đó rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó
- Trên cơ sở phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại SSIAM, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục và các bảng, biểu, sơ đồ và tài liệu tham
khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả quản lý danh mục đầu tư
tại công ty quản lý quỹ
Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại
công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC
ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
1.1.1 Khái niệm công ty quản lý quỹ
1.1.1.1 Khái niệm quỹ đầu tư
Đầu tư chứng khoán là việc một chủ thể nắm giữ chứng khoán để kỳ vọng vào lợi nhuận do chứng khoán đó mang lại sau một khoảng thời gian nhất định Lợi nhuận có thể là thu nhập từ cổ tức hoặc chênh lệch từ hoạt động mua, bán chứng khoán
Để đầu tư chứng khoán trên thị trường tài chính, các nhà đầu tư cần phải có kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán và phải thường xuyên quan tâm, theo sát thực trạng, phân tích xu hướng phát triển của thị trường Thực chất, chỉ những chuyên gia và các nhà đầu tư chuyên nghiệp mới có thể thực hiện được điều này Do đó, những người chủ sở hữu vốn đầu
tư thành lập những tổ chức tài chính dưới quy mô quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là một tập hợp tiền được đóng góp bởi các nhà đầu tư khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác
Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư cho rằng rất khó có thể giám sát được hoạt động của các quỹ đầu tư Với một mức chi phí quản lý dành cho các nhà quản
lý hấp dẫn tính theo phần trăm so với mức tăng giá trị hàng năm của quỹ, rất
có thể nó trở thành động cơ thúc đẩy các nhà quản lý quỹ chấp nhận mạo hiểm một cách thái quá Hơn nữa, hầu như không bao giờ nhà quản lý quỹ phải chịu một hình thức phạt nào vì việc đã làm cho giá trị của quỹ bị giảm và quản lý hoàn toàn có thể thu hẹp quy mô của quỹ để làm lại từ đầu
Trang 151.1.1.2 Khái niệm công ty quản lý quỹ
Các quỹ đầu tư thường được quản lý bởi chủ thể quản lý là công ty quản lý quỹ Công ty quản lý quỹ là một loại hình tổ chức trung gian tài chính, chuyên thành lập và quản lý các quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, phục vụ nhu cầu đâu tư trung và dài hạn của công chúng
Theo luật thị trường chứng khoán Mỹ, công ty quản lý quỹ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lý các quỹ đầu tư Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty, phát hành cổ phần Công ty đầu tư sử dụng nhà
tư vấn hay người quản lý đầu tư để quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục của quỹ Người quản lý quỹ được toàn quyền quản lý danh mục đầu tư, mua bán chứng khoán phù hợp với các mục tiêu của quỹ Công ty quản lý quỹ được cấu trúc dưới hai dạng: quản lý quỹ đầu tư quỹ dạng đóng
và quỹ dạng mở
Ở Việt Nam, theo điều 15, Luật số 62/2010/QH12 về sửa đổi bổ sung một số điều của luật chứng khoán 2006, công ty quản lý quỹ là tổ chức có tư cách pháp nhân, được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh: cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán
Công ty quản lý quỹ phải đáp ứng được yêu cầu về mức vốn tối thiểu
25 tỷ VND, cũng như yêu cầu về trang thiết bị, cơ sở vật chất, đội ngũ quản lý
và đội ngũ nhân viên hành nghề nghiệp vụ Nghị định 84/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, bổ sung mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công
ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam tối thiểu là 25 tỷ VND Bộ tài chính quy định cụ thể mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ dựa trên quy mô vốn ủy thác quản lý
Trang 161.1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ
Theo điều 15, luật chứng khoán số 62/2010/QH12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của luật chứng khoán: công ty quản lý quỹ được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh sau đây:
1.1.2.1 Nghiệp vụ nghiên cứu đầu tư và tư vấn đầu tư
Để đưa ra những quyết định đầu tư chứng khoán, lựa chọn cổ phiếu cho danh mục đầu tư và thực hiện phấn bố tài sản cho các nhà đầu tư ủy thác, các nhà quản lý danh mục đầu tư phải dựa trên những nghiên cứu của các chuyên viên
hành nghề trong công ty Nghiên cứu đầu tư là việc công ty quản lý quỹ, thông qua phân tích và đánh giá về thị trường, phân tích giá trị tài chính và giá trị đầu
tư, hỗ trợ cho các hoạt động quản lý đầu tư và hoạt động tư vấn của công ty
Bên cạnh hoạt động nghiên cứu, các công ty quản lý quỹ còn có cả hoạt
động tư vấn đầu tư Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ, trên cơ sở hoạt động phân tích và nghiên cứu, cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin cập nhật về biến động của thị trường, các phân tích cơ bản
về tình hình hoạt động và sự tăng trưởng của các công ty, các cơ hội đầu tư nổi bật, các dự đoán về thị trường các báo cáo phân tích chuyên sâu về các công ty, quan đó giúp khách hàng đưa ra các quyết định đầu tư sáng suốt dựa trên thông tin đầy đủ Nghiệp vụ tư vấn đầu tư tại công ty quản lý quỹ bao
gồm các hoạt động như: thực hiện việc tư vấn đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng; hỗ trợ khách hàng tối ưu hóa các khoản đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng; hỗ trợ khách hàng tối ưu hóa các khoản đầu tư thông qua các công cụ tài chính; tối ưu hóa các nguồn vốn cho các nhà đầu tư
1.1.2.2 Nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư
Theo nghĩa chung nhất, quản lý là việc thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của một tổ chức Theo thuyết quản lý tổng quát trong tác phẩm “Quản lý công nghiệp và tổng quát” của Fayol: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố
Trang 17tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính
là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát đó”
Một trong những nhân tố quan trọng trong việc chọn lựa quỹ đầu tư tốt
là quỹ đó phải được quản lý tốt nhất Quản lý quỹ đầu tư (Asset management)
là một trong những nghiệp vụ kinh doanh quan trọng của một công ty quản lý quỹ Nó bao gồm các hoạt động như: lập dự thảo điều lệ của quỹ đầu tư (điều
86 luật chứng khoán số 70/2006/QH 11), huy động và quản lý vốn và tài sản; xác định và thông báo định kỳ cho Ủy ban chứng khoán giá trị tài sản ròng của quỹ; tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư; hay quản lý đầu tư chuyên nghiệp
Các quỹ đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng, giàu kinh nghiệm được lựa chọn dựa vào tổng lợi nhuận họ làm ra Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế
1.1.2.3 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Theo các chuyên gia kinh tế, quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ quan trọng trong kinh doanh chứng khoán của công ty quản lý quỹ Thực chất, quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn đầu tư nhưng ở mức độ cao hơn vì trong hoạt động này, khách hàng ủy thác cho công ty quản
lý quỹ thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận
Trong quản lý danh mục đầu tư, tài sản của các nhà đầu tư ủy thác phải được quản lý một cách độc lập, tách biệt khỏi tài sản của công ty quản lý quỹ
và tài sản của các nhà đầu tư khác Kết quả đầu tư của các nhà đầu tư được hạch toán độc lập và có thể rất khác nhau Điều này khác biệt với nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư ở chỗ tài sản của các nhà đầu tư cùng góp vốn vào một quỹ đầu tư được công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát quản lý thống nhất trong một quỹ đầu tư chung Mỗi nhà đầu tư sở hữu một phần danh mục đầu tư của quỹ và được phân chia lợi nhuận hoặc gánh chịu rủi ro tương ứng với tỷ lệ góp vốn vào quỹ
Trang 181.1.3 Khái niệm quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
1.1.3.1 Khái niệm danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư là sự kết hợp nắm giữ các loại tài sản đầu tư như:
chứng khoán, hàng hóa, bất động sản,….bởi một cá nhân hay một tổ chức
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bắng cách đa dạng hóa đầu tư nhằm tránh các khoản thua lỗ quá lớn Khi đồng thời đầu tư vào nhiều loại tài sản tài chính khác nhau, sự thua lỗ của một loại tài sản chỉ có tác động nhỏ đến toàn bộ danh mục, thậm chí nhà đầu tư có thể bù lỗ bằng lợi nhuận thu được từ các loại tài sản tài chính khác trong cùng một danh mục đầu tư đó
1.1.3.2 Khái niệm quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là nghệ thuật và khoa học của việc đưa ra quyết định về chính sách đa dạng hóa đầu tư, kết hợp đầu tư với mục tiêu đầu
tư, phân bố tài sản đầu tư cho từng cá nhân hoặc tổ chức trong danh mục, đồng thời đảm bảo sự cân bằng giữa thu nhập và rủi ro một cách hợp lý
Việc quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng như: giúp các nhà đầu tư lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả nhất; giảm thiểu rủi ro trên cơ sở áp dụng quy trình quản trị rủi ro chặt chẽ của công ty Đồng thời, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và công sức vào các hoạt động giao dịch, đầu tư nhưng vẫn kiểm soạt được chi tiết các hoạt động đầu tư thông qua các báo cáo định kỳ hàng tháng, hàng quý và theo yêu cầu
Đối với các công ty quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư là việc công
ty nhận tiền từ các nhà đầu tư ủy thác, xây dựng và duy trì danh mục các tài sản tài chính (mua, bán) với mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro và làm cho tài sản của khách hàng có thể sinh lời cao nhất Theo quy định của Luật chứng
khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu
Trang 19tư chứng khoán thực hiện quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán
Thực chất, quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ là việc nghiên cứu, lựa chọn cách thức kết hợp các loại chứng khoán riêng lẻ với các mức độ rủi ro khác nhau vào một danh mục đầu tư với lợi nhuận kỳ vọng và xác định trước Đồng thời, thực hiện phân bổ danh mục đầu tư một cách hợp
lý cho các nhà đầu tư ủy thác trên cơ sở họp đồng ủy thác đầu tư được ký kết giữa các bên và theo nguyên tắc đầu tư của công ty được thể hiện trong điều
lệ công ty Hợp đồng quản lý đầu tư là hợp đồng mà khách hàng ủy thác do công ty quản lý đầu tư tài sản của mình
Tại các công ty quản lý quỹ, có hai dạng quản lý danh mục đầu tư Một
là, ủy thác đầu tư toàn bộ Đây là dịch vụ trong đó công ty quản lý quỹ được
ủy quyền toàn bộ từ phía khách hàng Trên cơ sở mức kỳ vọng về lợi nhuận
và mức độ chấp nhận rủi ro của mỗi nhà đầu tư ủy thác đầu tư, công ty quản
lý quỹ sẽ được toàn quyền quyết định thực hiện đầu tư dựa trên các đánh giá, phân tích chuyên môn của sản phẩm đầu tư với các danh mục đầu tư là cân bằng, tăng trưởng hay có thu nhập ổn định Hai là, ủy thác đầu tư chỉ định của khách hàng để thực hiện đầu tư một loại chứng khoán cụ thể hoặc và danh mục các chứng khoán cụ thể
Để quản lý danh mục đầu tư hiệu quả, mỗi công ty quản lý quỹ luôn phải để ra quy trình quản lý danh mục rõ ràng, trong đó phân định rõ từng nhiệm vụ cụ thể trong từng bước của quy trình
1.1.4 Quy trình quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
Mỗi công ty quản lý quỹ đều có quy trình quản lý danh mục đầu tư riêng, nhưng nhìn chung, việc quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ gồm 4 bước cơ bản được minh họa như sau:
Trang 201.1.4.1.Tìm hiểu khách hàng trong danh mục và thiết lập mục tiêu đầu tư
Việc xây dựng mục tiêu đầu tư đóng vai trò rất quan trọng vì mục tiêu
là cơ sở để xây dựng danh mục đầu tư, là cở sở để điều chỉnh danh mục đầu
tư và là căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động của danh mục đầu tư Mục tiêu đầu tư thường đề cập đến 3 yếu tố cơ bản như: Lợi nhuận mục tiêu, mức độ chấp nhận rủi ro và thời hạn thu hồi vốn Ngoài ra mục tiêu đầu tư còn có thể
đề cập đến những hạn chế hay những ưu tiên trong hoạt động đầu tư Mỗi nhà đầu tư dù tùy theo những đặc thù, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mình có thể
có những mục tiêu đầu tư khác nhau
Mục tiêu lợi nhuận của các nhà đầu tư thường là: (1) Mục tiêu tăng trưởng vốn: là mục tiêu phù hợp khi nhà đầu tư mong muốn danh mục đầu tư gia tăng giá trị thực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu trong tương lai (2) Mục tiêu thu nhập thường xuyên: Nhà đầu tư mong muốn danh mục đầu tư phải tạo ra những khoản thu nhập đều đặn định
kỳ Mục tiêu này thường phù hợp với các nhà đầu tư mong muốn có thêm các khoản thu nhập từ danh mục đầu tư nhằm đáp ứng cho các chi phí sinh hoạt
bổ TS cho từng khách hàng
Đánh giá Kết quả
Kết thúc hợp đồng quản lý danh mục đầu
tƣ
Kiểm soát quá trìnhquản lý danh mục đầu tƣ
Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lý danh mục đầu tƣ tại
công ty quản lý quỹ
Trang 21của mình (3) Mục tiêu bảo toàn vốn: nhà đầu tư muốn tối thiểu hóa rủi ro Mục tiêu này phù hợp với những nhà đầu tư rất ngại rủi ro hoặc những nhà đầu tư có thời hạn đầu tư ngắn
Về mức độ chấp nhận rủi ro, bên cạnh sự tồn tại của những nhà đầu tư liều lĩnh sẵn sàng chấp nhận khả năng rủi ro thua lỗ một phần vốn đầu tư để đổi lấy cơ hội tìm kiếm mức lợi nhuận tiềm năng cao hơn còn có những nhà đầu tư thận trọng: là nhà đầu tư có mức độ chấp nhận rủi ro nhất định để đổi lấy cơ hội nhận được mức lợi nhuận cao hơn, họ cân bằng giữa nhà đầu tư liều lĩnh và nhà đầu tư thận trọng
Thời hạn thu hồi vốn của một nhà đầu tư là quãng thời gian đầu tư mà nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận để đạt được mục tiêu đầu tư Mỗi tài sản đầu tư
có thời hạn thu hồi vốn khác nhau, mỗi nhà đầu tư cũng có yêu cầu về thời hạn đầu tư khác nhau Việc xác định thời hạn yêu cầu của nhà đầu tư để lựa chọn những tài sản đầu tư có tính thanh khoản và thời hạn thu hồi phù hợp đóng vai trò quan trọng bởi vì: thứ nhất, đáp ứng nhu cầu tiền mặt của nhà đầu tư cá nhân và khả năng thanh khoản của các tổ chức tài chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động đầu tư; thứ hai, vấn đề thanh khoản
và thời hạn thu hồi vốn còn liên quan mật thiết tới vấn đề rủi ro và lợi nhuận của danh mục đầu tư
1.1.4.2 Xây dựng danh mục tài sản đầu tư và phân bổ tài sản trong danh mục đầu tư phù hợp với mục tiêu
Sau khi tìm hiểu khách hàng, thực hiện phân khúc và xác định mục tiêu đầu tư cho từng nhóm khách hàng, công việc tiếp theo của công ty quản lý quỹ là xây dựng các chính sách và tiêu chuẩn phân bổ vốn ủy thác đầu tư vào các lớp tài sản khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản…) và phân bổ tài sản này cho từng khách hàng danh mục một cách hợp lý, đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được đề ra
Trang 22a Xây dựng danh mục tài sản đầu tư
Xây dựng danh mục tài sản đầu tư là việc chia tiền của quỹ vào những loại tài sản khác nhau, hình thành nên danh mục đầu tư của quỹ Xây dựng danh mục đầu tư nhằm làm cân bằng rủi ro và đa dạng hóa bằng cách phân chia các tài sản giữa các danh mục chủ yếu như là cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và tiền mặt Việc phân loại mỗi tài sản có các mức độ về tỷ suất sinh lời và rủi ro khác nhau trong những khoảng thời gian khác nhau
Để lựa chọn tài sản cho danh mục đầu tư, thông thường nhà quản lý danh mục sử dụng phương pháp phân tích cơ bản để đánh giá nền kinh tế, ngành và điều kiện cụ thể của công ty để từ đó xác định giá trị nội tại của cổ phiếu, so sánh giá trị nội tại với giá thị trường của cổ phiếu để đưa ra quyết định mua bán cổ phiếu Đồng thời, để lựa chọn thời điểm mua vào, bán ra các tài sản chính có trong danh mục, các nhà quản lý phải tiến hành phân tích kỹ thuật Phân tích kỹ thuật là khoa học ghi chép biểu đồ dưới dạng đồ thị các giao dịch cổ phiếu hoặc các nhóm cổ phiếu trong quá khứ trong mối tương quan về giá và khối lượng và từ đó vẽ ra được bức tranh về xu hướng trong tương lai
Có hai chiến lược xây dựng danh mục đầu tư là chiến lược xây dựng danh mục đầu tư thụ động và chiến lược danh mục đầu tư chủ động
Đầu tư chủ động, nhà quản lý danh mục đầu tư sử dụng những thông tin sẵn có và các kỹ thuật dự báo để cố gắng tìm kiếm và nhận dạng các chứng khoán đã bị đánh giá sai nhằm thay đổi sự kết hợp của các lớp tài sản khác nhau cho phù hợp với điều kiện của thị trường, sau đó tiền hành cơ cấu lại một danh mục đầu tư tốt hơn Để thực hiện chiến lược đầu tư chủ động, đòi hỏi nhân lực và thời gian nhiều
Đầu tư thụ động, nhà quản lý danh mục đầu tư sẽ đầu tư theo một chuẩn
có sẵn và ít giao dịch, ít tốn nguồn nhân lực cho việc phân tích và tìm kiếm
Trang 23Với phương pháp quản lý đầu tư thụ động, khi lựa chọn trái phiếu để đầu tư, nhà quản lý danh mục sẽ tiến hành mua và nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn mà không cần quan tâm đến biến động lãi suất Song nhà quản lý vẫn cần phân tích để đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro và xác định số lượng trái phiếu cần đưa vào danh mục phù hợp với độ lớn của danh mục đầu tư, trong đó, quan trọng là đa ra các chỉ số chuẩn để đầu tư Các chỉ số này bao gồm: thời gian đáo hạn bình quân, lãi suất coupon, lĩnh vực ngành nghề, mức độ tín nhiệm, đặc điểm lãi suất trái phiếu (cố định, trả hàng
kỳ, trả trước…) Cũng với phương pháp quản lý đầu tư thụ động, khi lựa chọn
cổ phiếu cho toàn bộ danh mục đầu tư, nhà quản lý sẽ dựa theo một số chỉ số chuẩn nào đó và nắm giữ lâu dài Tuy nhiên điều này không có nghĩa chỉ đơn thuần mua và nắm giữ cổ phiếu lâu dài mà đôi khi danh mục cũng cần được
cơ cấu lại khi phải tái đầu tư cổ tức nhận về và do có một số cổ phiếu phải ra khỏi danh mục chứng khoán đầu tư theo chỉ số chuẩn
Ngược lại, với phương pháp quản lý đầu tư chủ động, trong quá trình lựa chọn trái phiếu, nhà quản lý danh mục trên cơ sơ dự báo và thủ thuật đầu
tư của mình để xây dựng các danh mục đầu tư đạt mức sinh lời cao hơn mức sinh lời chung của thị trường Trong đó, các yếu tố chủ yếu mà nhà quản lý danh mục theo dõi và dự đoán bao gồm: thay đổi mặt bằng lãi suất, thay đổi
cơ cấu kỳ hạn lãi suất, thay đổi mức chênh lệch lãi suất giữa các loại trái phiếu khác nhau
b Phân bổ tài sản trong danh mục đầu tư cho từng khách hàng ủy thác phù hợp với mục tiêu
Sau khi lựa chọn chứng khoán cho danh mục đầu tư, bước tiếp theo của công ty quản lý quỹ là phân bổ tài sản cho từng khách hàng phù hợp với mục tiêu của từng nhà đầu tư ủy thác và phù hợp với nguyên tắc đầu tư của công
ty, đồng thời đảm bảo việc tuân thủ những điều khoản trong hợp đồng danh mục đã ký giữa hai bên Trong trường hợp có phát sinh ngoài hợp đồng thì
Trang 24công ty phải xin ý kiến của khách hàng bằng văn bản và phải thực hiện theo
đúng quyết định của khách hàng
Sau khi xây dựng được danh mục đầu tư và thực hiện phân bổ cho các nhà đầu tư ủy thác một cách hợp lý, bước tiếp theo là công ty quản lý quỹ tiến hành theo dõi, cập nhật, điều chỉnh nhằm duy trì danh mục đầu tư luôn ở mức tối ưu
1.1.4.3 Kiểm soát danh mục đầu tư và đánh giá kết quả
Đây là bước khó khăn nhất trong quá trình quản lý danh mục đầu tư Trên cơ sở giám sát, theo dõi liên tục điều kiện thị trường, diễn biến giá cả tương đối của chứng khoán trên thị trường, cũng như mức độ rủi ro và lợi nhuận mong đợi của nhà đầu tư, nhà quản lý danh mục phải cập nhật và bổ sung lại chính sách và chiến lược đầu tư Cơ cấu danh mục đầu tư cũng giống như việc có 1 mảnh vườn, mùa nào trồng cây phù hợp ấy Những nguyên nhân chính cần phải tái cấu trúc danh mục đầu tư bao gồm:
Môi trường kinh tế vĩ mô thay đổi, kéo theo sự suy thoái của một loạt công ty, nhưng cũng tạo cơ hội cho hàng loạt công ty khác có lãi
Sự biến động của lĩnh vực đầu tư hoặc những biến động của bản thân các công ty như thay đổi về nhân sự chủ chốt, về hệ thống máy móc thiết bị, các hợp đồng mới được ký kết… làm ảnh hưởng tới giá cả chứng khoán của những công ty này
Phát hiện ra những loại chứng khoán mới có thể mang lại lợi nhuận và
độ an toàn cao hơn hay mức độ rủi ro thấp hơn, khả năng tạo sóng tốt hơn, tính thanh khoản cao hơn cho toàn bộ danh mục đầu tư
Xu hướng tâm lý của thị trường thay đổi Thị trường chứng khoán vận hành không chỉ theo quy luật cung cầu mà còn chịu ảnh hưởng từ tâm lý của các nhà đầu tư Nó là một thực thể đầy sống động Vì vậy, có trường hợp cổ phiếu tốt nhưng nếu tâm lý thị trường không muốn mua, thì cũng không ai mua Ngược lại cổ phiếu kém nhưng được tung hô, quảng bá thì lại rất nhiều
Trang 25người ưa chuộng Do đó, việc nắm bắt xu hướng tâm lý để có thể chủ động mua, bán trước cũng luôn được các công ty quản lý quỹ tính tới trong quá trình quản lý danh mục đầu tư
Các tiêu chí thường phải được công ty quản lý quỹ quan tâm trong quá trình quản lý danh mục đầu tư bao gồm: khả năng tăng trưởng lợi nhuận và thứ hạng của các công ty hiên có trong danh mục đầu tư, các chỉ số tài chính
cơ bản phản ánh khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, chỉ số giá/ thu nhập hàng kỳ, những biến động về khối lượng giao dịch chứng khoán hàng ngày…
Việc kiểm soát danh mục đầu tư phải được thực hiện hàng ngày, nhất là trong trường hợp công ty quản lý quỹ tiến hành đầu tư danh mục theo chỉ số Đồng thời, sau một khoảng thời gian, thường là hàng tháng, đánh giá kết quả của toàn bộ danh mục đầu tư (tính lại giá trị tài sản ròng, đánh giá lại giá trị của các loại tài sản đầu tư đang nắm giữ theo giá thị trường hoặc giá tham chiếu gần nhất) cũng như kết quả đầu tư cho từng khách hàng ủy thác trong danh mục là một khâu không thể thiếu trong quá trình quản lý danh mục đầu
tư tại công ty quản lý quỹ
1.1.4.4 Kết thúc hợp đồng quản lý danh mục đầu tư
Sau khi kết thúc kỳ hạn, hợp đồng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán sẽ được xem xét lại, khách hàng ủy thác đầu tư có thể đưa ra một hoặc một vài trong những lựa chọn như: nhận cổ tức, tất toán hợp đồng hay tiếp tục hợp đồng tùy theo kỳ vọng đầu tư của mình
1.2 Hiệu quả quản lý danh mục đầu tƣ tại công ty quản lý quỹ
1.2.1 Khái niệm hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản
lý quỹ
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả
Hiểu theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là thước đo phản ánh kết quả đầu
ra trong mối tương quan với chi phí đầu vào của bất cứ hoạt động nào Nói
Trang 26cách khác, hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để
có kết quả đó trong những điều kiện nhất định
Bản chất của việc phân tích hiệu quả là so sánh giữa đầu vào và đầu ra theo những mục tiêu nhất định được biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị tính bằng tiền Có thể phân chia chỉ tiêu hiệu quả thành hai loại là chỉ tiêu tuyệt đối và chỉ tiêu tương đối Hiệu quả tuyệt đối được xác định bằng chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, hiệu quả tương đối được tính bằng cách lấy kết quả của hoạt động chia cho chi phí bỏ ra
Các chỉ tiêu về hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối được so sánh theo thời kỳ hoặc theo các đối tượng, chủ thể, hoạt động khác nhau nhằm cung cấp thông tin phân tích cho nhà quản lý Một quyết định hiệu quả là quyết định có logic dựa trên các thông tin sẵn có và sự phản anh các sở thích của người ta quyết định Chỉ có những quyết định được thực hiện một cách cẩn thận và tỉ mỉ thì mới có hiệu quả như cách chúng ta mong đợi Sự khác nhau giữa một nhà đầu tư giỏi và một nhà đầu tư bình thường cũng nằm ở hai chữ hiệu quả
1.2.1.2 Khái niệm hiệu quả quản lý danh mục đầu tư
Quản lý là một quá trình ra quyết định, có tác dụng định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của một
tổ chức Hiệu quả quản lý danh mục đầu tư phản ánh mức độ hay khả năng của công ty quản lý quỹ trong việc xây dựng và duy trì được danh mục đầu tư mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng ủy trên cơ sở khai thác tối ưu các nguồn lực sẵn có của công ty như: lao động, phần mềm, máy móc thiết bị…Trong đó, danh mục đầu tư hiệu quả được hiểu là danh mục đầu tư có thể
mang lại giá trị thu hồi kỳ vọng hay lợi nhuận kỳ vọng cao nhất với một mức rủi ro nhất định hoặc đạt được mức rủi ro thấp nhất với một mức giá trị thu
hồi kỳ vọng hay lợi nhuận kỳ vọng nhất định
Trang 27Hiệu quả của quản lý danh mục đầu tư được đánh giá dựa trên sự tương quan giữa lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tư Danh mục đầu tư có tỷ suất sinh lợi cao chứng tỏ hiệu quả tốt Tuy nhiên, nếu không kiểm soát tốt vấn đề rủi ro, danh mục đó không thể mang lại hiệu quả bền vững cho nhà đầu tư được
1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
Thông thường, để đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư, các công
ty quản lý quỹ căn cứ vào kết quả đầu ra của hoạt động, thường là lợi nhuận
so với mục tiêu đã đề ra, so với kỳ trước hoặc so với công ty quản lý quỹ khác Tuy nhiên, tỷ suất sinh lời không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá về hiệu quả của hoạt động quản lý danh mục đầu tư Kết quả quản lý danh mục đầu tư cũng cần phải được so sánh với mặt bằng lãi suất và tỷ suất sinh lời bình quân của thị trường
1.2.2.1 Số lượng và quy mô các hợp đồng quản lý danh mục đầu tư
Số lượng và quy mô quản lý danh mục đầu tư là một trong những chỉ tiêu đơn giản để nhà quản lý đánh giá sơ bộ hiệu quả quản lý danh mục đầu tư của mình Số lượng hợp đồng quản lý danh mục đầu tư mỗi kỳ được tính bằng
số lượng hợp đồng đầu kỳ, cộng với số lượng hợp đồng gia tăng, trừ đi số hợp đồng tất toán hoặc rút vốn trước hạn trong kỳ
Với lượng hợp đồng quản lý danh mục đầu tư tăng lên, công ty quản lý quỹ sẽ thu được những lợi ích như: công ty sẽ có thêm vốn để đầu tư trên thị trường; có cơ hội để gia tăng lợi nhuận thu được; có cơ hội để mở rộng hoạt động quản lý danh mục đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh với các công ty quản
lý quỹ khác; có điều kiện để tăng cường xây dựng hoặc củng cố hình ảnh của công ty với các nhà đầu tư trên thị trường Số lượng hợp đồng gia tăng có thể
là một tín hiệu cho biết:
Trang 28Công ty quản lý quỹ đã gặt hái được những thành công trong quản lý việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và khích lệ bộ phận nhân viên ở khâu tìm kiếm, thuyết phục nhà đầu tư tiềm năng và từ đó giúp gia tăng lượng khách hàng ủy thác
Sự thành công trong công việc nghiên cứu phân tích và thay đổi một số nội dung của hợp đồng quản lý khiến chúng trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu
tư nhưng không làm giảm lợi ích mà công ty quản lý quỹ có thể thu được từ phía khách hàng
Kết quả thực hiện đầu tư và quản lý danh mục, phấn bố tài sản đến từng khách hàng, khiến họ gia hạn hợp đồng, đồng thời mang lại khả năng thu hút các khách hàng mới đến công ty
Trạng thái tích cực của nền kinh tế làm tăng tính hấp dẫn của thị trường chứng khoán, thu hút nhà đầu tư tập trung vốn vào thị trường chứng khoán Những lạc quan này góp phần làm tăng khả năng kiếm lợi của công ty quản lý quỹ, giúp nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty
Tuy nhiên, nếu việc gia tăng số lượng hợp đồng quản lý danh mục là do quy mô đầu tư của mỗi hợp đồng giảm xuống sẽ dẫn đến hai kết quả Một là, nếu công ty quản lý quỹ có khả năng quản lý và kiểm soát tốt thì sẽ hoạt động hiệu quả và có lợi nhuận Hai là, trong trường hợp công ty quản lý quỹ không đáp ứng được những khó khăn gia tăng về tính phức tạp trong quản lý và kiểm soát do lượng khách hàng và hợp đồng tăng thêm, tính hiệu quả của toàn
bộ hoạt động quản lý danh mục đầu tư của công ty sẽ bị giảm
1.2.2.2 Tỷ lệ thay đổi vốn của danh mục đầu tư qua các kỳ
Tỷ lệ thay đổi quy mô vốn qua các kỳ phản ánh mức độ thay đổi quy
mô vốn quản lý danh mục đầu tư so với năm trước đó Đây là chỉ tiêu quan trong, phản ánh tốc độ mở rộng hay thu hẹp hoạt động quản lý danh mục đầu
tư của công ty quản lý quỹ Sự thay đổi này có thể mang lại giá trị âm hoặc dương, phản ánh quy mô vốn giảm hay tăng qua mỗi kỳ
Trang 29Một công ty quản lý quỹ quản lý danh mục đầu tư tốt có thể điều hành danh mục ổn đinh, chống chọi lại với thị trường đi xuống tốt hơn các đối thủ cạnh tranh Điều này có ý nghĩa nhiều hơn trong dài hạn so với việc trở thành một công ty quản lý quỹ nổi tiếng trên thị trường chứng khoán đang lên
Một danh mục đầu tư được quản lý tốt khi thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn và tài sản của nó theo đó cũng tăng lên hàng năm Do đó, nhìn chung tỷ lệ thay đổi quy mô vốn càng lớn hơn 0, hiệu quả quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ càng cao Công thức chung để tính chỉ tiêu này như sau:
+ nt-1 , nt là số lượng hợp đồng quản lý danh mục đầu tư của kỳ t- 1, kỳ t
1.2.2.3 Giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư
Một cách tổng quát, giá trị tài sản dòng (Net Assets Value) của một danh mục đầu tư là tổng giá trị các tài sản và các khoản đầu tư nằm trong danh mục trừ đi các nghĩa vụ nợ phải trả của danh mục tại thời điểm định giá Đây là chỉ tiêu thường được các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá hiệu quả
quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ đối với vốn đầu tư ủy thác của mình
Giá trị tài sản ròng NAV = Tổng tài sản - Tổng nợ Tổng tài sản bao gồm các khoản mục : tiền, giá trị của các chứng khoán
có trong danh mục đầu tư ; cổ tức được nhận ; các khoản thu từ giao dịch bán chứng khoán ; các khoản khác phải thu ; giá trị các loại chứng khoán khác trong kỳ lập báo cáo Tổng nợ bao gồm các khoản phải trả cho giao dịch mua chứng khoán và các khoản phải trả khác
Trang 30Sở dĩ giá trị tài sản ròng được sử dụng như một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư vì đối với các khách hàng ủy thác vốn cho công
ty quản lý quỹ, giá trị tài sản ròng càng lớn hơn so với vốn đầu tư ban đầu (chi phí đầu tư của khách hàng ủy thác vốn) thì mức độ khuếch đại vốn đầu tư càng cao, khả năng quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ càng hiệu quả Ngoài ra, không chỉ phản ánh giá trị tài sản mà nhà đầu tư có thể thực nhận tại thời điểm lập báo cáo, giá trị tài sản ròng còn là cắn cứ quan trọng để công ty quản lý quỹ tính phí thưởng và phí rút trước hạn Do đó, giá trị tài sản ròng càng lớn, hiệu quả quản lý danh mục đầu tư càng tốt
1.2.2.4 Tỷ lệ thay đổi giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư qua các kỳ
Nhìn chung, bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối về giá trị tài sản ròng, các nhà đầu tư ủy thác cũng quan tâm nhiều tới mức độ biến thiên hay tỷ lệ thay đổi giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư qua các kỳ khi đánh giá hiệu quả quản lý danh mục của công ty quản lý quỹ
Thực tế cho thấy, mức độ thay đổi vốn đầu tư trong quản lý danh mục chỉ phản ánh được hiệu quả theo chiều rộng, còn mức độ thay đổi giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư mới phản anh được hiệu quả theo chiều sâu của hoạt động quản lý danh mục đầu tư Nếu nhà quản lý danh mục không kiểm soát tốt chi phí, không thể dung hòa lợi nhuận, rủi ro và không thể dự báo đúng xu hướng giá của chứng khoán trên thị trường, không thể ra quyết định điều chỉnh danh mục kịp thời thì dù lượng vốn quản lý danh mục có tăng lên cũng không làm cho giá trị tài sản nhà quản lý danh mục đầu tư tăng lên cũng không làm cho giá trị tài sản nhà quản lý danh mục đầu tư yếu kém, còn làm cho giá trị danh mục tài sản của các nhà đầu tư sụt giảm nghiêm trọng, gây lỗ vốn và trong dài hạn có thể dẫn tới hiện tượng rút vốn, giảm hợp đồng
Thông thường, giá trị tài sản ròng của cả danh mục đầu tư được tính bằng cách cộng dồn giá trị tài sản ròng của từng danh mục đầu tư của khách
Trang 31hàng trong danh mục lại hoặc có thể tính bằng cách tổng hợp toàn bộ giá trị tài sản hiện có trong danh mục, trừ đi các khoản phải trả trong kỳ Tỷ lệ thay đổi giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư qua các kỳ được tính như sau :
lý quỹ thường sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ giá trị tài sản ròng trung bình trên tổng quy mô vốn trung bình của danh mục đầu tư trong kỳ Chỉ tiêu này có thể mang lại giá trị âm hay dương tùy thuộc vào việc giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư là âm hay dương
Đối với công ty quản lý quỹ, tỷ lệ giá trị tài sản ròng trung bình của danh mục trên tổng quy mô vốn trung bình của danh mục trong kỳ cho biết với mỗi đồng vốn huy động thêm từ khách hàng, công ty quản lý quỹ có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị tài sản ròng cho danh mục của mình Còn đối với nhà đầu tư ủy thác, căn cứ vào chỉ tiêu trên, có thể đánh giá được hiệu quả đầu tư của chính mình thông qua việc so sánh giữa giá trị mà mình có thể thu hồi (NAV) và chi phí đã bỏ ra trước đó (vốn ủy thác ban đầu cho công ty quản lý quỹ)
Khi chỉ tiêu trên bằng 1, tức là danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ không tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng ủy thác Khi chỉ tiêu trên
Trang 32lớn hơn 1, tức là danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ sinh lãi Tỷ lệ này càng cao, hiệu quả quản lý danh mục của công ty càng lớn và khả năng xếp hạng của công ty càng được hoàn thiện
Tuy nhiên, bên cạnh việc quan tâm tới lợi nhuận hay giá trị tăng thêm cho danh mục đầu tư, các nhà quản lý cũng phải đảm bảo an toàn cho nguồn vốn của khách hàng ủy thác trong quá trình đầu tư và đảm bảo tính thanh khoản của các chứng khoán nằm trong danh mục Một công ty quản lý quỹ quản lý danh mục đầu tư hiệu quả là công ty có thể tạo ra giá trị tài sản ròng trên nguồn vốn ban đầu tại một mức rủi ro nhất định cao hơn các công ty quản
lý quỹ khác trên thị trường
1.2.2.6 Tỷ lệ tăng trưởng giá trị tài sản ròng so với vốn đầu tư lũy kế
Trong lĩnh vực tài chính, tỷ suất lợi nhuận là một trong hai yếu tố hàng đầu luôn được các nhà đầu tư cân nhắc kỹ lưỡng Tỷ suất lợi nhuận thường được xác định bằng cách lấy tổng lợi nhuận chia cho tổng vốn đầu tư Chỉ tiêu này phản ảnh một đồng vốn đầu tư có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Còn trong nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ, các nhà đầu tư ủy thác có thể căn cứ vào tỷ lệ tăng trưởng giá trị tài sản ròng so với vốn đầu tư lũy kế để tính toán tỷ suất lợi nhuận đầu tư của mình
Tỷ lệ tăng trưởng giá trị tài sản ròng so với vốn đầu tư lũy kế được tính theo công thức như sau:
Tỷ lệ tăng trưởng NAV
so với vốn đầu tư lũy kế =
NAV - tổng vốn đầu tư lũy kế Tổng vốn đầu tư lũy kế Như vậy, trên thực tế, tổng vốn đầu tư lũy kế của các nhà đầu tư ủy thác có thể tăng hay giảm, dẫn tới sự tăng giảm giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư về lượng tuyệt đối Nếu hiệu quả quản lý danh mục đầu tư không thay đổi, giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư được quản lý bởi công ty quản lý quỹ cũng sẽ tăng hoặc giảm tương ứng Khi tỷ lệ tăng trưởng NAV so
Trang 33với vốn đầu tư lũy kế tăng lên, điều này hàm ý rằng mức độ gia tăng của giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư nhanh hơn so với sự gia tăng vốn đầu tư của các khách hàng hay ngược lại, giá trị tài sản ròng của toàn bộ danh mục đầu tư giảm chậm hơn so với sự sụt giảm của tổng vốn đầu tư lũy kế Do đó, khi tỷ lệ tăng trưởng giá trị tài sản ròng so với vốn đầu tư lũy kế tăng lên thì công ty quản lý danh mục đầu tư của mình khá hiệu quả
1.2.2.7 Thu nhập, rủi ro và tính thanh khoản của danh mục đầu tư
Đối với một danh mục đầu tư chứng khoán cụ thể, lợi nhuận thường bao gồm 3 bộ phận: Một là, thu nhập từ cổ tức, cổ phiếu thưởng do các công
ty có mã chứng khoán nằm trong danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ chi trả cho cổ đông căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh Hai là thu nhập thực nhận từ chênh lệch giá bán chứng khoán sau khi trừ đi các loại chi phí
Ba là sự tăng hoặc giảm giá trị tài sản ròng do đánh giá chứng khoán trong danh mục đầu tư tại thời điểm báo cáo
Sự thành công của phân tích cơ bản trong việc lựa chọn chứng khoán giúp danh mục đầu tư nhận được mức cổ tức, cổ phiếu thưởng cao hơn so với mức trung bình thị trường Trong khi đó, sự thành công của phân tích kỹ thuật trong xác định thời điểm mua bán chứng khoán, giúp nhà quản lý danh mục thu được lợi nhuận cao từ chênh lệch giá bán với giá mua Đồng thời, sự kết hợp giữa phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật hiệu quả cộng với khả năng
dự báo tốt về xu hướng tăng điểm của các mã chứng khoán trên thị trường, việc cơ cấu lại danh mục đầu tư hợp lý có thể mang lại mức gia tăng đáng kể cho giá trị tài sản ròng của danh mục đầu tư
Một danh mục đầu tư được coi là hiệu quả khi danh mục đó có thể tối
đa hóa lợi nhuận với một mức rủi ro cho trước hoặc đạt được mức lợi nhuận mục tiêu với mức độ rủi ro thấp nhất Tất cả các quyết định đầu tư đều dựa trên hai yếu tố này và những tác động của chúng đối với vốn đầu tư Do đó, khi đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư, các nhà quản lý thường phải xem xét đồng thời cả hai chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro
Trang 34Ở các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển, các nhà quản lý danh mục đầu tư áp dụng mô hình định giá tài sản vốn CAPM và lý thuyết định giá chênh lệch APT để lựa chọn tập hợp chứng khoán hiệu quả nhất cho danh mục đầu tư của mình Cả APT và CAPM đều hàm ý về mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ suất sinh lời kỳ vọng và rủi ro Rủi ro càng cao, tỷ suất sinh lời càng lớn
Nếu phân tích của CAPM dự đoán rằng một danh mục đầu tư có thể kiếm được 10% tỷ suất sinh lợi với rủi ro tương ứng của một danh mục thì một danh mục đầu tư thật sự đã có thể kiếm được 15% tỷ suất sinh lợi thì alpha của danh mục đầu tư đó bằng 5%, thì 5% này chính là phẩn tỷ suất sinh lợi vượt trộ hơn so với những gì đã được chỉ ra trong mô hình CAPM
Một nhà quản lý danh mục đầu tư có thể tạo ra thu nhập cao với mức
độ rủi ro thấp, song nếu không chủ động được đồng tiền đầu tư của danh mục thì hiệu quả quản lý danh mục đầu tư khó có thể được đánh giá cao Nếu tính thanh khoản của các tài sản trong danh mục đầu tư quá thấp, nguy cơ mất vốn của nhà đầu tư là điều không thể tránh khỏi Đồng thời, tính thanh khoản thấp của chứng khoán trong danh mục cũng hạn chế nhà quản lý trong việc thay đổi cơ cấu chứng khoán (chứng khoán cũ khó bán, chứng khoán mới không
đủ tiền để mua) khi thị trường có biến động Ngược lại, khi tính thanh khoản quá cao, khả năng sinh lời của danh mục đầu tư lại thấp, do đó quản lý danh mục đầu tư cũng kém hiệu quả Do vậy, trong quá trình đầu tư, bên cạnh việc xem xét các chỉ tiêu về thu nhập, tính thanh khoản của danh mục đầu tư cũng
là yếu tố có ảnh hưởng quản trọng
Thông thường, cách thức đơn giản nhất để đánh giá khả năng thanh khoản nhanh của một danh mục đầu tư là tính toán tỷ trọng của những khoản tiền và tương đương tiền so với tổng tài sản của cả danh mục dầu tư Ngoài ra, nhà quản lý cũng có thể cộng giá trị của những chứng khoán có khối lượng giao dịch lớn trong thời gian gần trong danh mục đầu tư hiện có với khoản
Trang 35tiền và tương đương tiền rồi chia cho tổng tài sản của cả danh mục để xem xét tính thanh khoản ngắn hạn của danh mục đầu tư, từ đó lên phương án kết hợp giữa tính thanh khoản, thu nhập và rủi ro để tao ra một danh mục đầu tư hiệu quả nhất cho khách hàng ủy thác
1.2.2.8 Các khoản phí phải trả cho dịch vụ quản lý danh mục đầu tư
và tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập của danh mục đầu tư
Các khoản phí của một danh mục đầu tư thường bao gồm : phí môi giới trả cho công ty chứng khoán, phí lưu ký trả cho ngân hàng lưu ký, phí quản lý, phí thưởng, phí rút trước hạn mà công ty quản lý quỹ thu được từ các hợp đồng
ủy thác đầu tư Đối với những khoản phí trả cho công ty quản lý quỹ, cơ sở để xác định thường là : Số lượng hợp đồng quản lý danh mục đầu tư trong kỳ, giá trị (vốn đầu tư) của mỗi hợp đồng, giá trị tài sản ròng của từng nhà đầu tư trong
kỳ, giá trị tài sản ròng của từng nhà đầu tư và của cả danh mục đầu tư cuối kỳ, các điều khoản trên hợp đồng về tỷ lệ phí mà công ty quản lý quỹ được hưởng
Thông thường phí quản lý là chỉ tiêu quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong các khoản phí mà danh mục đầu tư phải trả Phí quản lý được thu hàng tháng, hàng quý, hàng năm hay được thu khi kết thúc hợp đồng quản
lý đầu tư
Phí thưởng là khoản tiền thưởng công ty quản lý quỹ nhận được khi danh mục đầu tư của khách hàng đạt được mức lợi nhuận vượt trội so với mức lợi nhuận tham chiếu (hoặc mức lợi nhuận mong muốn) theo thỏa thuận trong hợp đồng Phí thường càng cao cho thấy khả năng sinh lợi và hiệu quả quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ càng cao
Phí thưởng có thể được tính và thu hàng năm, sau khi kiểm toán hay khi kết thúc hợp đồng ủy thác danh mục đầu tư, được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định (theo quy định của công ty quản lý quỹ hoặc theo thỏa thuận với khách hàng) trên khoản chênh lệch giữa lợi nhuận thực hiện và lợi nhuận tham chiếu
Trang 36Phí rút trước hạn thực chất là khoản tiền phạt công ty quản lý quỹ nhận được do khách hàng rút tiền trước khi đáo hạn hợp đồng Nguyên nhân phí rút trước hạn tăng lên có thể xuất phát từ phía khách hàng đang cần tiền gấp nhằm mục đích cá nhân nào đó hoặc từ phía công ty do công ty quản lý danh mục đầu
tư không hiệu quả, không mang lại mức lợi nhuận như mong đợi và khiến khách hàng chấp nhận rút vốn trước hạn để đầu tư vào lĩnh vực khác hiệu quả hơn
Trên thực tế, các nhà đầu tư thường xem xét đồng thời hai chỉ tiêu chi phí và lợi nhuận, để từ đó xác định hiệu quả quản lý danh mục đầu tư của một công ty quản lý quỹ Do vậy, bên cạnh việc đánh giá trị số tuyệt đối của các chỉ tiêu về các loại phí trên, tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập của danh mục đầu
tư cũng phải được cân nhắc ký lưỡng Nếu chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả quản lý danh mục đầu tư càng cao
Đối với các nhà đầu tư ủy thác, chi phí được quan tâm thường là chi phí môi giới, phí lưu ký, phí quản lý danh mục đầu tư phải trả cho các bên Đồng thời, thu nhập được sử dụng để tính toán có thể là tổng thu nhập của cả danh mục đầu tư hay thu nhập sau khi đã ngoại trừ lãi từ tiền gửi ngân hàng Trong khi đó, với công ty quản lý quỹ, chi phí ở đây đã bao gồm phí môi giới, phí lưu
ký và các chi phí quản lý không trực tiếp như nhân công, phí bảo quản chứng
từ, phí thuê kiểm toán hay báo cáo… Đồng thời, phí quản lý, phí rút trước hạn, phí thưởng lại được cộng vào tổng thu nhập trong kỳ của cả danh mục đầu tư
1.2.3 Những nhân tố tác động tới hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
1.2.3.1 Nhân tố bên trong
a Nhận thức của lãnh đạo và trình độ của nhân viên trong quả lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
Trong quản lý danh mục đầu tư, lãnh đạo là người vạch ra mục tiêu, chiến lược xây dựng danh mục đầu tư; là người lập kế hoạch phân bổ, sử dụng nguồn nhân lực cho hoạt động quản lý danh mục Do đó, kết quả quản lý
Trang 37danh mục đầu tư đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp từ những quyết định của lãnh đạo Đồng thời, lãnh đạo cũng luôn phải đánh giá lại hiệu quả danh mục đầu tư hàng kỳ để có thể đưa ra được những điều chỉnh kịp thời
Thực tế cho thấy có 2 yếu tố trọng tâm luôn được các nhà quản lý danh mục đầu tư đặt lên hàng đầu là thu nhập có thể nhận được và rủi ro
Thông thường, các nhà quản lý luôn ấn định một mức rủi ro có thể chấp nhận được của danh mục và tìm kiếm khả năng sinh lợi lớn nhất phù hợp với mức độ rủi ro đã được xác định Tuy nhiên, mỗi cá nhân khác nhau lại có mức ngại rủi ro khác nhau Danh mục đầu tư của những công ty quản lý quỹ có nhà lãnh đạo ưa thích rủi ro thường tập trung vào cổ phiếu của các công ty nằm trong khu vực tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế như bất động sản, internet hay lĩnh vực công nghệ cao Một danh mục đầu tư rủi ro có thể mang lại hiệu quả rất cao và cũng có thể dẫn tới thua lỗ rất lớn nhưng thông thường, với hoạt động đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư ủy thác phải chấp nhận vòng quay vốn trung và dài hạn, thường là 5 đến 7 năm Ngược lại, với những nhà lãnh đạo không ưa rủi ro, họ thường lựa chọn danh mục đầu tư an toàn với mức lợi nhuận khiêm tốn Những danh mục đầu tư như vậy thường có hiệu quả không cao nhưng khả năng bảo toàn vốn cho các nhà đầu tư lại rất lớn
Mặt khác, trên thực tế, trong quá trình quản lý danh mục đầu tư, công
ty quản lý quỹ sẽ phải đối mặt với những xung đột về lợi ích giữa danh mục đầu tư ủy thác mà mình đang quản lý với danh mục đầu tư tự doanh của công
ty và một số lợi ích đặc biệt khác mà cá nhân lãnh đạo công ty có thể thu được Khó khăn lớn nhất đối với nhà quản lý là những tính toán mang nặng tính chủ quan về sự công bằng do bị chi phối bởi lợi ích cá nhân Với việc mang lại giá trị tài sản ròng cao cho khách hàng ủy thác đầu tư, công ty quản
lý quỹ sẽ thu lại giá trị tài sản ròng cao cho khách hàng ủy thác đầu tư, công
ty quản lý quỹ sẽ thu được phí quản lý cao hơn, nhưng thông thường mức phí này tương đối nhỏ, chỉ chiếm 2% trên tổng giá trị tài sản ròng của danh mục
Trang 38đầu tư Do đó, trong nhiều trường hợp, với những giao dịch chứng khoán thành công được đánh giá là mang lại lợi ích lớn trong tương lai, thay vì phân
bổ đồng đề cho các nhà đầu tư ủy thác trong danh mục, nhà lãnh đạo có thể chỉ định phân bổ những khoản trên vào danh mục đầu tư của người thân mở tại công ty hay phân bổ toàn bộ vào danh mục tự doanh của công ty, làm giảm hiệu quả quản lý danh mục đầu tư ủy thác thực tế của công ty
Bên cạnh đó, khi đề cập tới nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý danh mục đầu tư, không thể không nhắc tới vai trò của đội ngũ chuyên viên, những người trực tiếp tham gia phân tích, xây dựng và duy trì danh mục đầu
tư Thông thường, để quản lý danh mục đầu tư hiệu quả, các công ty quản lý quỹ phải lựa chọn những chuyên gia có kỹ năng và giàu kinh nghiệm, được đánh giá lại hàng kỳ căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra cho toàn bộ danh mục đầu tư Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế Đồng thời, song song với việc đánh giá nhân viên thông qua năng lực chuyên môn, các công ty còn chú trọng đánh giá ý thức trách nhiệm cũng như phẩm chất đạo đức của họ trong công việc, Bởi chỉ cần một sai sót nhỏ trong quá trình phân tích, đánh giá hay đặt lệnh có thể làm thay đổi giá trị đầu tư của toàn bộ danh mục rất nhiều
b Quy trình quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
Quy trình được hiểu là những nguyên tắc, chính sách, trình tự và phương pháp tiến hành công việc Có hai động cơ lý giải tầm quan trọng của quy trình Một là động cơ lợi ích : một quy trình công bằng sẽ mang lại lợi ích công bằng cho các bên, nói cách khác quy trình đúng mang lại kết quả đúng Hai là đông cơ tâm lý : một quy trình công bằng cho phép các thành viên tham gia quy trình được đóng góp ý tưởng, thỏa mãn được nhu cầu tâm lý của các nhân là thể hiện mình, và cảm thấy được đối xử công bằng hơn Do đó, để tạo niềm tin cho khách hàng, công ty quản lý quỹ thường công khai quy trình quản lý danh mục của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng, công khai với khách hàng và trong công ty
Trang 39c Cơ cấu tổ chức quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
Cơ cấu tổ chức là các bộ phận cấu thành nên một tổ chức Cơ cấu tổ chức phản ánh hình thức sắp xếp các bộ phận, các cá nhân trong một tổ chức, trong đó có sự phân định rõ ràng về phạm vi hoạt động, quyền hạn, chức năng
và nghĩa vụ của từng cá nhân, từng bộ phận nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Cơ cấu tổ chức và sự phân chia chúng thành công việc cụ thể theo từng nhóm nhất định
Thông thường, các công ty quản lý quỹ cần phải có ít nhất 4 đến 5 bộ phận kết hợp làm việc để quản lý một danh mục đầu tư Trong đó, bộ phận đầu tư chịu trách nhiệm phân tích, đánh giá, đưa ra chiến lược đầu tư cụ thể
Bộ phận kế toán có nhiệm vụ ghi chép, tổng hợp số liệu, hỗ trợ cho các quyết định của khối đầu tư Bộ phận hành chính - tổng hợp chịu trách nhiệm về nhân sự và các phương tiện cần thiết phục vụ cho công việc Bộ phận kiểm soát nội bộ nhằm kiểm tra chứng từ gốc, kiểm tra theo dõi, ghi chép, đánh giá
và đảm bảo các nguyên tắc và quy trình đầu tư được thực hiện đúng mục tiêu phương hướng đã đề ra và đúng pháp luật
d Hệ thống thông tin tại công ty quản lý quỹ
Đầu tư chứng khoán là một ngành kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào số lượng, chất lượng cũng như khả năng cập nhật, đánh giá, tổng hợp thông tin trên thị trường Để quản lý hiệu quả một danh mục đầu tư gồm nhiều nhà đầu
tư ủy thác với nhiều loại tài sản tài chính khác nhau, nhiều mã chứng khoán với khả năng sinh lợi và mức độ rủi ro khác nhau ; để có thể cập nhật số liệu thường xuyên và tính toán các chỉ số tài chính kịp thời, việc quản lý danh mục đầu tư của công ty quản lý quỹ rất cần có sự hỗ trợ của khoa học công nghệ trong việc tăng cường khả năng thông tin, đặc biệt là các phần mềm chuyên dụng, trong đó phổ biến nhất là phần mềm quản lý danh mục đầu tư và phần mềm quản lý rủi ro Ứng dụng tốt nhất các phần mềm quản lý giúp công ty quản lý quỹ giảm thiểu số lượng lao động chuyên môn, nâng cao trình độ tin
Trang 40học cho nhân viên, giúp đẩy nhanh tốc độ cập nhật, xử lý thông tin và đảm bảo tính chính xác, tính cập nhật và tính liên tục trong việc tính toán các số liệu đầu tư
Tuy nhiên, không phải công ty quản lý quỹ nào cũng có đủ khả năng về tài chính và nhân lực để ứng dụng phần mềm chuyên dụng Cần lưu ý rằng đầu tư vào khoa học công nghệ luôn có một độ trễ nhất định Đầu tư cho khoa học công nghệ còn tiềm ẩn sự mạo hiểm rất lớn, chi phí ban đầu để cài đặt là không nhỏ Bên cạnh đó là chi phí và thời gian trong công việc đào tạo các kỹ năng sử dụng phần mềm cho các nhân viên của mình Do vậy, đối với các công ty quản lý quỹ nhỏ, vốn ít, danh mục đầu tư không quá phức tạp, khối lượng thông tin cần phải xử lý không quá lơn, việc ứng dụng những phần mềm quản lý đắt tiền có thể trở thành gánh nặng tài chính quá lớn, gây giảm hiệu quả quản lý danh mục đầu tư
1.2.3.2 Nhân tố bên ngoài
a Chính sách quản lý điều hành của các cơ quan chức năng
Ở Việt Nam, các công ty quản lý quỹ không chỉ chịu tác động của luật doanh nghiệp, các văn bản pháp luật về thuế nói chung mà còn chịu sự tác động trực tiếp từ các chính sách điều hành của ủy ban chứng khoán và gián tiếp chịu tác động từ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước
Việc thành lập của công ty công quản lý quỹ không chỉ căn cứ vào luật doanh nghiệp nói chung, mà còn phải căn cứ vào các quyết định của cơ quan
có thẩm quyền về quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ Theo đó công ty quản lý quỹ phải đáp ứng được rất nhiều điều kiện (bao gồm điều kiện về vốn pháp định, điều kiện về chứng chỉ hành nghề đối với nhân viên nghiệp vụ, điều kiện về cơ sở vật chất và điều kiện về công bố thông tin) Đồng thời, các hoạt động của công ty, trong đó có hoạt động quản lý danh mục đầu tư cũng được giám sát rất chặt chẽ Mặt khác, các chính sách thuế cũng có tác động lớn tới hiệu quả quản lý danh mục Khi thuế thu nhập cá