1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiến sĩ các biểu thức chiếu vật có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong truyện kiều (so sánh với ca dao và thơ mới)

25 360 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 100,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án của chúng tôi tìm hiểu về các yếu tố ngôn ngữ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều dưới ánh sáng của lý thuyết chiếu vật của ngữ dụng học: đặt chúng trong các biể

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ

Trong diễn ngôn văn học, việc tìm hiểu hệ thống các phương tiện ngônngữ chiếu vật và “vật được quy chiếu” của chúng sẽ là những thao tác đầutiên mà bất kỳ người đọc nào cũng phải tiến hành nếu muốn hiểu tác phẩm

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, các yếu tố “trăng”, “hoa”, “gió” có tần

số xuất hiện ở nhóm cao nhất trong số các từ chỉ thiên nhiên Luận án của

chúng tôi tìm hiểu về các yếu tố ngôn ngữ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều dưới ánh sáng của lý thuyết chiếu vật của ngữ dụng học: đặt chúng

trong các biểu thức chiếu vật (BTCV) được sử dụng trong diễn ngôn Luận

án cũng đặt các BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều trong

tương quan, đối sánh với ca dao và Thơ Mới để một mặt, phần nào thấy đượccái dòng mạch chung của bản sắc văn hóa dân tộc và của ngôn từ nghệ thuật,mặt khác, khẳng định thêm những điểm riêng biệt, độc đáo mang dấu ấn củaphong cách và tài năng Nguyễn Du

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Xác lập được vị trí, vai trò của các BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió”

trong Truyện Kiều như là một bộ phận làm nên bình diện “cái biểu đạt” của

diễn ngôn; chỉ ra được sự thống nhất giữa tác giả Nguyễn Du với các tác giả

ca dao và Thơ Mới, đồng thời cho thấy những điểm độc đáo trong việc sửdụng các BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” nói riêng và các BTCV có từ chỉ

sự vật, hiện tượng thiên nhiên nói chung trong Truyện Kiều; cố gắng làm rõ

mối quan hệ giữa các các BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” với ý nghĩa biểutrưng của các biểu tượng trăng, hoa, gió cũng như với những đặc trưng văn

hóa dân tộc trong Truyện Kiều.

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu cơ sở lý thuyết chủ yếu phục vụ cho việc triển khai đề tài luậnán; xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại các BTCV có từ “trăng”,

“hoa”, “gió” cũng như đối tượng được quy chiếu của chúng trong Truyện Kiều; phân tích, miêu tả đặc điểm của các BTCV được khảo sát trên bình

diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt; tìm hiểu, so sánh các đặc điểm của các

BTCV trong Truyện Kiều với ca dao và Thơ Mới; phân tích vai trò, giá trị

riêng của các BTCV này đối với việc thể hiện ý nghĩa của các biểu tượngtrăng, hoa, gió cũng như việc thể hiện các quan niệm về quan hệ giữa thiên

nhiên và con người ở thời kỳ trung đại Việt Nam.

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là “các BTCV có từ “trăng”, “hoa”,

“gió” trong Truyện Kiều” và đối tượng này được luận án xác định là: biểu thức

ngôn ngữ (từ, cụm từ) có một/ một số trong các từ “trăng”, “hoa”, “gió” hoặc cácyếu tố ngôn ngữ biểu thị các sự vật có liên quan đến khái niệm trăng, hoa, gió

Trang 2

(các yếu tố Hán Việt tương ứng như nguyệt, phong, gương…; hoặc các từ chỉ tên loài hoa cụ thể như hồng, huệ, đào…) được sử dụng để chỉ ra một thực thể cụ

thể nào đó trong một thế giới khả hữu – hệ quy chiếu (HQC) nhất định được đưa

vào một ngữ cảnh cụ thể trong diễn ngôn Truyện Kiều.

- Phạm vi nghiên cứu: Luận án của chúng tôi tiến hành khảo sát và

nghiên cứu đối tượng kể trên ở các phương diện: cấu tạo, quan hệ kết hợp vớicác yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh, sự vật được quy chiếu trong ngữcảnh sử dụng và so sánh chúng với các BTCV tương ứng trong ca dao và Thơ

Mới Về tư liệu khảo sát của luận án: Bản Truyện Kiều của Nguyễn Du do

Đào Duy Anh khảo đính và được in trong ngữ liệu [1]; các bài ca dao đượcPhúc Hải sưu tầm, tuyển chọn và in trong ngữ liệu [3]; các bài Thơ Mới trong

7 tập thơ tiêu biểu của ba nhà thơ được mệnh danh là “ba đỉnh cao Thơ Mới”,

đó là: Nguyễn Bính, Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử, được in trong ngữ liệu [2]

5 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

5.1 Lịch sử nghiên cứu về sự chiếu vật (reference)

3 giai đoạn nghiên cứu CV trên thế giới gồm: giai đoạn thứ nhất (từ 1882 –khoảng 1950) - chiếu vật ngữ nghĩa (semantic reference); giai đoạn thứ hai (từkhoảng 1950 – cuối thế kỷ XX) - chiếu vật của người nói (speaker’sreference); giai đoạn thứ ba (khoảng từ cuối thế kỷ XX – nay) - chiếu vậtđược nghiên cứu trong phối cảnh liên ngành (interdisciplinary perspectives)

5.2 Nghiên cứu về chiếu vật và về chiếu vật trong Truyện Kiều ở Việt Nam

Tiếp cận với kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài,đồng thời vận dụng vào thực tiễn sử dụng tiếng Việt, các tác giả trong nướccũng đã có những công trình về ngữ dụng học, trong đó có lý thuyết chiếuvật Tiêu biểu là: Cao Xuân Hạo [36], Đỗ Hữu Châu [17], [19], Diệp QuangBan [7], Nguyễn Thiện Giáp [34],… Chúng tôi nhận thấy số những côngtrình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng các lý thuyết của ngôn ngữ học để

nghiên cứu Truyện Kiều không thật sự nhiều mà chủ yếu là những bài nghiên

cứu riêng lẻ được tập hợp hoặc làm thành một phần của các công trình

chuyên sâu về Truyện Kiều nói chung

6 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận án đã vận dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sauđây để triển khai đề tài: phương pháp miêu tả, thủ pháp thống kê, phân loạivà hệ thống hóa, thủ pháp phân tích ngữ cảnh, thủ pháp so sánh, đối chiếu

7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

- Về lý luận: Củng cố và hệ thống hoá được các vấn đề cơ bản của lý thuyết

chiếu vật của ngôn ngữ học, góp phần làm rõ thêm các khái niệm quan yếu đốivới việc nghiên cứu chiếu vật trong tác phẩm hư cấu; xác lập được một số cơ sởvà thao tác để xác định CV của các BTCV được sử dụng trong hoạt động giaotiếp; gợi mở và bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ -

Trang 3

văn hóa - văn học vào nghiên cứu chiếu vật của Việt ngữ, đặc biệt là chiếu vậttrong tác phẩm văn học.

- Về thực tiễn: Cung cấp thêm tư liệu và kết quả phân tích mới cho việc

nghiên cứu và giảng dạy về CV trong Truyện Kiều nói riêng và trong giao tiếp

tiếng Việt nói chung; cung cấp thêm cơ sở và phương tiện ngôn ngữ cho việc

khám phá các giá trị và nét độc đáo của Truyện Kiều, ca dao và Thơ Mới, từ

đó giúp ích thêm cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm và văn học sử

8 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 3chương: Chương 1- Cơ sở lý luận; Chương 2 - Các biểu thức chiếu vật có từ

“trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều trên bình diện cái biểu đạt (so sánhvới ca dao và Thơ Mới); Chương 3 - Các biểu thức chiếu vật có từ “trăng”,

“hoa”, “gió” trong Truyện Kiều trên bình diện cái được biểu đạt và giá trị sửdụng (so sánh với ca dao và Thơ Mới)

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 LÝ THUYẾT CHIẾU VẬT

1.1.1 Sự chiếu vật (reference)

- Bách khoa thư về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, tập 7, và công trình khoa

học của các tác giả Đỗ Hữu Châu [19], Cao Xuân Hạo [36], Nguyễn Thiện

Giáp [34] đều có sự thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm reference với

tư cách là vấn đề của ngữ dụng học Luận án của chúng tôi sử dụng thuật ngữ

sự chiếu vật (reference) và chiếu vật (CV) (referent) là các danh từ, còn quy chiếu (to refer) với tư cách động từ Theo quan điểm ngữ dụng học, chiếu vật

là quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ và biểu thức ngôn ngữ được sửdụng với đối tượng/ thực thể (entity) (vật chất hoặc tinh thần, có thật haytưởng tượng hoặc hư cấu, số ít hay một tập hợp…) trong một thế giới khảhữu (possible world) mà ở đó thực thể được quy chiếu tồn tại

- "Sự chiếu vật" trong Truyện Kiều, cũng như trong ca dao và Thơ Mới,

được luận án hiểu là quan hệ giữa biểu thức ngôn ngữ được tác giả sử dụngtrong tác phẩm với đối tượng/thực thể cụ thể xuất hiện trong ngữ cảnh cụ thểmà ở đó biểu thức ngôn ngữ được sử dụng để chỉ ra Các biểu thức ngôn ngữnày được tác giả Nguyễn Du hoặc nhân vật sử dụng (trong các đoạn đốithoại) để quy chiếu tới thực thể cụ thể nào đó tồn tại trong một thế giới khảhữu (có thật hoặc không có thật) và đã được đưa vào ngữ cảnh giao tiếp

1.1.2 Biểu thức chiếu vật (referring expression)

1.1.2.1 Biểu thức chiếu vật là gì ?

- Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “biểu thức chiếu vật” đểchỉ tất cả các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện quy chiếutrong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát, bao gồm cả những BTCV có cấu

Trang 4

tạo là từ (chẳng hạn: trăng, hoa, gió,…) và tổ hợp từ (chẳng hạn: trăng thề, người trăng gió, ngày gió đêm trăng,…) Chúng tôi cũng đã phân biệt một số

thuật ngữ có liên quan tới việc khảo sát đối tượng và triển khai đề tài của luậnán là BTCV và biểu thức miêu tả, BTCV miêu tả và BTCV phi miêu tả

- Chúng tôi đồng tình với quan niệm cho rằng “cũng như các tín hiệu ngônngữ, BTCV có cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt của BTCV là cácđơn vị ngôn ngữ tạo nên nó Cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay

CV tương ứng.” [19,187] Theo đó, các BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió”trong Truyện Kiều sẽ được luận án này miêu tả trên hai bình diện: bình diệncái biểu đạt (hình thức cấu tạo và quan hệ kết hợp cả về ý nghĩa và cú pháp);bình diện cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu hay CV)

1.1.2.2 Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật trong luận án

a) Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật nói chung

- Tiêu chí thứ nhất – Tiêu chí hình thức: BTCV có tính hoàn chỉnh, độc lập tương đối của nó về mặt cấu tạo: hoặc là một từ, hoặc là một cụm từ

- Tiêu chí thứ hai – Tiêu chí ngữ nghĩa: BTCV chỉ ra được một đối tượng,

một thực thể cụ thể nào đó, trong thế giới khả hữu – HQC của BTCV đangđược tác giả hoặc nhân vật nói tới (các cơ sở để nhận diện CV của BTCVđược khảo sát đã được trình bày ở mục 1.1.3.4 ở sau)

b) Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong

Truyện Kiều , ca dao và Thơ Mới

Luận án chỉ xét các BTCV mà trong cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ thực

hiện chức năng chiếu vật trong trường hợp được xét có xuất hiện ít nhất một

trong các yếu tố ngôn ngữ (từ/ thành tố cấu tạo từ) thuộc các nhóm sau đây:

Các từ trăng, hoa, gió; hoặc các yếu tố ngôn ngữ đồng nghĩa từ vựng (nguyệt, phong, gương, bông, đóa); hoặc các yếu tố ngôn ngữ biểu thị các sự vật có liên quan tới khái niệm trăng, hoa, gió (thỏ, Hằng Nga, ông Tơ,…); hoặc các yếu tố ngôn ngữ chỉ các loài hoa cụ thể (đào, sen, cúc…).

1.1.3 Chiếu vật (referent; référent) và hệ quy chiếu (reference)

Trang 5

hoặc tinh thần; thực thể có thật hoặc là sản phẩm của tưởng tượng và hư cấu;số ít hay số nhiều; một cá thể hay một tập hợp như giống loài…

- Trong phạm vi ngữ liệu khảo sát của luận án, các thực thể có tư cáchlàm CV của các BTCV có từ “trăng", "hoa", "gió", tùy từng ngữ cảnh cụ thể,

có thể là chính các sự vật thiên nhiên như mặt trăng, ngọn gió, loài hoa cụthể hoặc có thể là các sự vật, hiện tượng "phi thiên nhiên" như : nhân vật cụthể, hình dáng, điệu bộ, nét mặt, lời nói, tình cảm, cảm xúc, thân phận… củanhân vật cụ thể…

1.1.2.2 Nghĩa – ý nghĩa – chiếu vật

Nghĩa hay ngữ nghĩa (theo nghĩa rộng: nghĩa của ngôn ngữ nói chung – meaning) và ý nghĩa của từ (sense) đều có liên quan tới CV bằng ngôn ngữ.

Trước tiên, có thể thấy, cả ý nghĩa của từ (và của tín hiệu ngôn ngữ nói chung)và CV đều là các bình diện của nghĩa (meaning) của đơn vị ngôn ngữ Ngoàihai bình diện này, ngữ nghĩa còn có một số bình diện được phản ánh trong cácloại nghĩa khác nữa, chẳng hạn: nghĩa ngữ pháp, nghĩa sở dụng ) Tuy nhiên,giữa ý nghĩa của từ và CV của từ đó khi được sử dụng làm BTCV trong ngữcảnh giao tiếp cụ thể lại có sự khác biệt tương đối lớn (được chúng tôi kháiquát trong bảng 1.1.) và chủ yếu nhất là chúng nằm ở hai bình diện khác nhaucủa ngôn ngữ: ý nghĩa thuộc bình diện hệ thống, mang tính trừu tượng, kháiquát còn CV thuộc bình diện hoạt động của ngôn ngữ, mang tính cụ thể

1.1.3.2 Hệ quy chiếu

HQC là một khái niệm công cụ quan trọng mà chúng tôi lấy làm cơ sở lýthuyết cho việc triển khai đề tài Sự vật có thể tồn tại trong những thế giới rấtkhác nhau, có những thế giới hiện hữu, có thật và cũng có những “thế giới cóthể có” (thường được gọi là “thế giới khả hữu”) mà trong đó sự vật có thể tồntại theo một cách khác Cùng một lúc, có nhiều thế giới khả hữu khác nhauđồng thời tồn tại: thế giới thực hữu, thế giới tưởng tượng, hư cấu trong thầnthoại, cổ tích hay truyền thuyết và các tác phẩm văn học; thế giới tâm linh,siêu nhiên với sự tồn tại của các hồn ma, bóng quỷ… Tuy nhiên, khi thực hiệnquy chiếu bằng các BTCV trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, chỉ một thếgiới khả hữu mà ở đó sự vật – CV tồn tại mới được người nói lựa chọn làm

“HQC” cho BTCV của mình và đưa vào trong ngữ cảnh thông qua phát ngôn Việc phân loại và miêu tả CV của các BTCV trong luận án này cũng dựavào việc xác định đúng thế giới khả hữu – HQC mà ở đó các sự vật được quy

chiếu tồn tại Theo đó, thế giới hư cấu trong diễn ngôn Truyện Kiều có thể được phân chia thành các bộ phận – HQC khác nhau như sau: thiên nhiên, con người/nhân vật, đồ vật, tình cảm, cuộc đời, sự kiện, thời gian, tâm linh…

1.1.3.4 Cơ sở xác định chiếu vật của các biểu thức chiếu vật trong luận án

- Cơ sở thứ nhất: Dựa vào ngữ cảnh giao tiếp (ngữ cảnh tình huống và ngữcảnh văn hóa) mà ở đó biểu thức chiếu vật được sử dụng

Trang 6

- Cơ sở thứ hai: Dựa vào ý nghĩa từ vựng của từ, ngữ cấu tạo nên BTCV(như đã trình bày khái quát trong 1.1.3.2)

- Cơ sở thứ ba: Dựa vào quan hệ kết hợp của các tín hiệu ngôn ngữ làmBTCV với các tín hiệu ngôn ngữ khác

1.1.4 Chiếu vật trong tác phẩm văn học

Một trong những thế giới khả hữu không có thực chính là thế giới khả hữutồn tại trong các sản phẩm hư cấu – thế giới hư cấu (fictional world) Thế giớikhả hữu của các nhân vật hư cấu chính là tác phẩm hư cấu mà ở đó nhân vậtxuất hiện, hành động, nói năng… Trong thế giới khả hữu đó, nhân vật tồn tạithực sự và khi được quy chiếu bằng ngôn ngữ thì nó chính là “vật được chiếu”của BTCV được sử dụng Chiếu vật về các thực thể hư cấu cũng có nhiều loại:

có chiếu vật của tác giả trong tác phẩm; chiếu vật của người đọc trong cácdiễn ngôn về tác phẩm; chiếu vật của chính nhân vật trong tác phẩm… Khi đó,ngoài chủ thể thực hiện quy chiếu là tác giả, còn có chủ thể thực hiện quychiếu là nhân vật trong tác phẩm Chúng tôi đã khái quát một số điểm chínhtrong tương quan giữa chiếu vật của tác giả và chiếu vật của nhân vật trongTruyện Kiều thể hiện trong bảng 1.2 trong luận án

1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp

- Ngữ cảnh (situational context; context of situation): Thông thường,

ngữ cảnh được hiểu là “bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay lànhững thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [19;97] Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: đối ngôn và hiện thực ngoài diễn ngôn

- Ngôn ngữ (language): Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ

cụ thể nào đó làm phương tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò là nhân tốgiao tiếp cũng chính là nói tới ngôn ngữ cụ thể mà các đối ngôn sử dụngtrong cuộc giao tiếp của họ

- Diễn ngôn (discourse): Diễn ngôn là khái niệm chỉ sản phẩm sau cùng

của cuộc giao tiếp giữa các đối ngôn, trong đó lại bao gồm các diễn ngôn riêng

của từng đối ngôn trong giao tiếp Truyện Kiều của Nguyễn Du là một diễn

ngôn vừa tiêu biểu vừa độc đáo: tồn tại đồng thời ở cả dạng nói (qua phươngthức truyền miệng giống như văn học dân gian) và dạng viết (qua các văn bản

Truyện Kiều); là sản phẩm của hoạt động giao tiếp gián tiếp và đa thoại (một người tạo lập – vô số người tiếp nhận) và cho đến nay vẫn chưa kết thúc.

1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật

Hoạt động giao tiếp chính là tương tác liên tục giữa con người với conngười, với tất cả nguồn lực của cá nhân, để tạo ra và tiếp nhận các BTCV

trong hoạt động hành chức của ngôn ngữ Mỗi diễn ngôn như Truyện Kiều,

bài ca dao hay bài Thơ Mới đều có tư cách như là sản phẩm của các hoạtđộng giao tiếp bằng ngôn ngữ (giao tiếp nghệ thuật), và trong hoạt động đóluôn tồn tại sự tương tác giữa các nhân tố giao tiếp như các đối ngôn (tác giả

Trang 7

và bạn đọc), ngữ cảnh, tình huống giao tiếp (có sự giãn cách đặc biệt về thờigian, không gian và bối cảnh văn hóa, xã hội giữa các bên đối ngôn) và ngônngữ (ngôn ngữ nghệ thuật) Tất cả các nhân tố này đều được vận dụng trongviệc nhận diện các BTCV và CV của chúng trong luận án.

1.3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Dựa trên những cơ sở lý luận như trên, luận án này triển khai đề tài trêncác bình diện diện chính của BTCV được sử dụng trong hoạt động giao tiếp:Trên bình diện cái biểu đạt, luận án khảo sát, phân loại và miêu tả các cáckiểu cấu tạo khác nhau (từ, cụm từ) và quan hệ kết hợp của các của các

BTCV Trên bình diện cái được biểu đạt, luận án tiến hành khảo sát, phân

loại và mô tả các CV trên những HQC khác nhau của các BTCV được khảosát Trên từng bình diện đó, chúng tôi đều tiến hành so sánh những đặc điểm

của các BTCV này trong Truyện Kiều với ca dao và Thơ Mới.

CHƯƠNG 2: CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ

“TRĂNG", “HOA”, GIÓ” TRONG TRUYỆN KIỀU TRÊN BÌNH DIỆN

CÁI BIỂU ĐẠT (SO SÁNH VỚI CA DAO VÀ THƠ MỚI)

2.1 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRĂNG", “HOA”, GIÓ”

TRONG TRUYỆN KIỀU TRÊN BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT

2.1.1 Cấu tạo của các biểu thức chiếu vật có từ “trăng”, “hoa”, “gió”

trong Truyện Kiều

2.1.1.1 Kết quả khảo sát

- Theo bảng số liệu 2.1, trong Truyện Kiều, có tất cả 20 yếu tố ngôn ngữ

xuất hiện trong 273 BTCV thuộc 3 nhóm BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió”kể trên Nhóm BTCV có từ “hoa” có số lượng nhiều nhất với 153/273BTCV, chiếm 56.04% Nhóm BTCV có tỷ lệ cao thứ hai là các BTCV có từ

“gió” với 63/273 = 23.08% Nhóm BTCV có tỷ lệ thấp nhất là các BTCV có

từ “trăng” với 57/273 = 20.88%)

- Các BTCV được khảo sát có 3 kiểu cấu tạo chính, trong đó: các BTCV

có cấu tạo là ngữ danh từ (NDT) chiếm ưu thế hơn cả (118/273 = 43.22%),tiếp đến là các BTCV có cấu tạo là danh từ (DT) (25/273 = 38.46%) CácBTCV có cấu tạo là cụm từ sóng đôi có tỷ lệ thấp nhất (50/273 = 18.32%)

2.1.1.1.Các biểu thức chiếu vật có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều có cấu tạo là ngữ danh từ

Thành tố trung tâm:

- Thành tố trung tâm do các DT thuộc các nhóm “trăng”, “hoa”, “gió”

đảm nhiệm: các DT chỉ sự vật thiên nhiên thuộc các nhóm được khảo sát (hoa, trăng, nguyệt, gió, phong, lê, đào, sen…) xuất hiện với tư cách là các thành tố Tr.t trong các BTCV trong Truyện Kiều lại chỉ chiếm tỷ lệ bằng khoảng một nửa (33.9%) so với các DT không thuộc các nhóm này (66.1%).

Trang 8

Điều này đã tạo ra một hiện tượng lạ thường trong việc sử dụng các BTCV có

từ “trăng”, “hoa”, “gió” nói riêng và các BTCV có chứa các yếu tố thuộc

trường từ vựng thiên nhiên nói chung để thực hiện quy chiếu trong Truyện Kiều Thậm chí, ngay cả khi các DT thuộc các nhóm này nằm ở vị trí Tr.t thì hầu hết chúng đều kết hợp với một DT đơn vị tự nhiên đứng trước (cành, đóa, bông, mảnh, vành, vừng, trận, cơn…) để cùng làm Tr.t của cả NDT

- Thành tố trung tâm do các DT khác (không thuộc các nhóm từ được khảo sát) đảm nhiệm, gồm: các DT đơn vị tự nhiên được dùng để cá thể hóa các sự vật hiện tượng thiên nhiên (như: đóa, tấm, cơn, trận, phen…); hoặc

các DT sự vật không chỉ sự vật, hiện tượng thiên nhiên Các DT này có thể

chỉ người (kẻ, người, tuồng,…); hoặc chỉ ngoại hình, dáng vẻ, lời nói (khuôn, lời, tiếng, gót, nét, điệu,…); hoặc các DT chỉ các khái niệm trừu tượng về số phận, thân phận con người (thân, phận, số, kiếp, nghiệp,…); hoặc chỉ tấm lòng, tình cảm (lòng, tình, nghì…); hoặc DT chỉ thời gian, nơi chốn (khi, mùa, tuần, phen, miền, chốn…); hoặc các DT “trống nghĩa” (sự, điều,…)

thường được dùng để “sự vật hóa” các hoạt động, trạng thái, đặc điểm…đứng trong phần phụ sau của NDT làm BTCV; hoặc các DT chỉ sự vật có

thuộc tính vật chất (then, thềm, buồng, am, trướng, tiệc,…) Có thể thấy, với

các DT chỉ sự vật nhưng không thuộc trường từ vựng thiên nhiên làm trungtâm, các NDT làm BTCV trong trường hợp này có khả năng chiếu vật phongphú tới nhiều HQC nhất

- Thành tố phụ trước:

Số các BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” là NDT có thành tố Ph.t khôngnhiều và không phong phú về mặt vị trí, chủ yếu là vị trí (-2) - chỉ lượng

Trong đó có cả các thành tố Ph.t chỉ lượng xác định (một, ba, bốn, năm) và các thành tố Ph.t chỉ lượng ước chừng (như nửa, lưng, mấy, mười mấy, một vài (và), chút…) Chúng tôi nhận thấy hầu như không có thành tố phụ nào

của các BTCV này biểu thị một lượng nhiều mà chỉ là một lượng ít, thậm chí

rất ít ỏi (một, nửa, lưng…)

- Thành tố phụ sau:

Hầu hết các BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” là NDT đều có thành tốPh.s và chỉ có ở vị trí (1) – định tố hạn định hoặc miêu tả, cũng tức là các miêutả tố của các BTCV Cấu tạo của thành tố Ph.s của các NDT này thường làmột trong hai trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất là Ph.s là các DT chỉ sự

vật, hiện tượng thiên nhiên (thuộc các nhóm trăng, hoa, gió…) hoặc tổ hợp có chứa các DT này (trăng gió, trăng hoa, đào hoa, liễu bồ, trăng gió vật vờ, mưa gió tan tành, sóng gió bất kỳ, …), hoặc một cụm C-V (hoa rơi, hoa rụng…) Trường hợp thứ hai là Ph.s là các DT/động từ/ tính từ/đại từ hoặc các

cụm động/ tính từ để biểu thị một hoạt động, trạng thái hoặc đặc điểm của sự

Trang 9

vật do DT Tr.t biểu thị (hoa đào năm ngoái, cành lê trắng, gió chiều, gió đông, hoa xuân đương nhị, hoa tàn, trăng tàn, đào non, hoa cuối mùa,…).

2.1.1.3 Biểu thức chiếu vật có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều có cấu tạo là danh từ

Ngữ liệu cho thấy, có 105/273 (38.46%) BTCV có từ “trăng”, “hoa”,

“gió” trong Truyện Kiều có cấu tạo là DT (đều là DT chung), đứng ở vị trí

thứ hai về số lượng, sau kiểu cấu tạo NDT Theo phương thức cấu tạo từ củatiếng Việt, các BTCV là DT chỉ có hai loại: từ đơn (chiếm đa số - 59.05%)và từ ghép (40.95%)

- BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều là từ đơn: chỉ có

08 yếu tố được sử dụng để tạo ra 62 BTCV là từ đơn, gồm: hoa, đào, trăng, nguyệt, gương, thỏ, gió Các từ đơn này đều có ý nghĩa từ vựng chỉ sự vật,

hiện tượng thiên nhiên và chúng đều thực hiện được chức năng chiếu vật cá

thể Trong số đó, hoa được dùng độc lập để chiếu vật nhiều lần nhất (37 lần),

làm thành các BTCV đồng âm nhưng quy chiếu tới nhiều sự vật khác nhautrong những ngữ cảnh cụ thể khác nhau, trên những HQC khác nhau: Thiênnhiên con người, cái hay/vẻ đẹp của các đồ vật/ thực thể khác…

- BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều là từ ghép: chiếm

tỷ lệ thấp hơn so với các từ đơn, khoảng 40.95% (53/105), trong đó, các từghép phân nghĩa chiếm ưu thế hơn (60.47%) các từ ghép hợp nghĩa(39.53%) Các từ ghép phân nghĩa làm BTCV có bốn kiểu kết hợp phongphú, đáng chú ý nhất là kiểu kết hợp giữa một hình vị không thuộc trường từvựng thiên nhiên với một trong các yếu tố thuộc các nhóm “trăng”, “hoa”,

“gió” (tuần trăng, cung trăng, khuôn trăng, nét nguyệt, lửa lựu…) Có thể

thấy ở kiểu cấu tạo này, việc Nguyễn Du sử dụng kết hợp các yếu tố X1 – X2

đã làm cho các yếu tố ngôn ngữ thuộc các nhóm “trăng”, “hoa”, “gió” (X2)hầu như không còn giữ nguyên ý nghĩa từ vựng vốn có trong từ điển củachúng: hoặc chúng trở thành yếu tố cụ thể hóa ý nghĩa cho X1 (vốn không có

ý nghĩa cụ thể, chẳng hạn: khuôn trăng – khuôn mặt tròn đầy của Thúy Vân, nét nguyệt – nét mày thanh tú của nàng Kiều…); hoặc chúng được “thay thế” bằng tên gọi của một sự vật khác (chẳng hạn: lửa lựu – hoa lựu) Các BTCV

có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều có cấu tạo là từ ghép hợp nghĩa

đáng chú ý nhất là các từ do sự kết hợp trực tiếp của các yếu tố “trăng”, “hoa”

và “gió” tạo thành: trăng gió (2 lần), trăng hoa (3 lần), gió trăng (1 lần).

2.1.1.4 Các biểu thức chiếu vật có từ “trăng”, “hoa”,

“gió” là kết cấu sóng đôi

Luận án gọi là các “kết cấu sóng đôi” (KCSĐ) với nghĩa là các tổ hợp từ

tự do có kết cấu gồm hai bộ phận (thành tố) có quan hệ đẳng lập với nhautheo kiểu sóng đôi, đối xứng nhau Mỗi bộ phận này có thể gồm một từ, mộtcụm từ chính phụ hoặc một cụm C-V tương đương nhau về số lượng âm tiết,

Trang 10

đặc điểm từ loại và ý nghĩa mà chúng biểu thị Tính chất “sóng đôi” làm chokiểu cấu tạo này có tính tương đối ổn định về hình thức và “tính thành ngữ”

về ý nghĩa cho toàn bộ tổ hợp Ngữ liệu khảo sát của luận án cho thấy các

BTCV có từ “trăng”, “hoa”, “gió” trong Truyện Kiều là KCSĐ biểu hiện

bằng ba kiểu cấu tạo cụ thể như là: DT/NDT + DT/NDT (44%), CCV + CCV(34%), ĐT/NĐT + ĐT/NĐT (22%) Trong mỗi KCSĐ đều xuất hiện ít nhấthai yếu tố ngôn ngữ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên Các yếu tố ngônngữ này thường biểu thị những sự vật, hiện tượng hay đi kèm thành các cặphình ảnh có ý nghĩa tượng trưng đối lập nhau và mỗi yếu tố làm thành một

“vế” của KCSĐ đó (sóng gió – cỏ hoa, bèo – mây, bèo – nước/ sóng, trời đất, trời – nước/bể,…) hoặc tương đồng, hô ứng cho nhau (trăng – hoa, trăng – gió, gió – sương, gió – mây,gió – mưa, cây/lá – hoa/cỏ, bể - sông, …) trong Truyện Kiều Hơn thế nữa, các yếu tố ngôn ngữ còn lại trong cấu tạo

-của các BTCV là KCSĐ đa số là các từ chỉ các đặc điểm/ trạng thái/ quátrình tương đồng hoặc tương ứng với nhau và cũng tạo thành các cặp từ cóquan hệ chặt chẽ và thường biểu thị: các quá trình chảy trôi của thời gian hayquá trình đổi thay, tàn phai, héo úa, hao mòn của sự vật do những tác động

bên ngoài tạo nên (như: chảy – trôi, rụng – rơi, trôi – giạt, rụng – bay, ủ phai, nát – tàn…); hoặc những vận động mang tính chất nhanh, mạnh, gấp gáp (như: vùi – dập, ép – nài, táp – sa, vẫy – tuôn, bắt – cầm, đội – đạp, chọc – khuấy, đổ - rung,…)

-2.1.2 Quan hệ kết hợp của các biểu thức chiếu vật có từ “trăng”, “hoa”,

“gió” trong Truyện Kiều

từ chỉ hoạt động cảm giác, vị từ tạo tác, vị từ chỉ trạng thái tâm lý/ nhận thức, vị

từ chỉ trạng thái tồn tại hoặc quan hệ, vị từ chỉ hành động di chuyển…

Trong cụm từ đẳng lập, mỗi BTCV có tư cách như một thành tố cấu tạovà tương đương với thành tố còn lại của cụm từ cả về đặc điểm ngữ pháp vàngữ nghĩa Số lượng các thành tố trong cụm từ đẳng lập ở đây thường chỉ

Trang 11

gồm 2 thành tố, trong đó có một thành tố là BTCV được xét, do vậy, chúngcũng mang tính chất “sóng đôi” nhưng không có “tính thành ngữ” cao nhưcác BTCV là KCSĐ

2.1.2.2 Quan hệ kết hợp ở cấp độ câu

- Các BTCV làm thành phần chủ ngữ trong câu: có 84/273 BTCV

được khảo sát (30.77%) làm chủ ngữ và có đủ kiểu cấu tạo là DT, NDT vàKCSĐ, nhưng chiếm đa số vẫn là các BTCV là DT và NDT Chúng thườngkết hợp với các vị ngữ có chứa các vị từ trung tâm có thể quy về một sốnhóm chính sau: vị từ chỉ trạng thái tồn tại, vị từ biểu thị đặc điểm hoặc trạngthái của sự vật, vị từ chỉ quá trình, vị từ hành động tác động hoặc di chuyển

Có thể thấy các thuộc tính (đặc điểm/ trạng thái) của sự vật đều là thuộc tínhtĩnh và còn hành động lại nhanh, mạnh và gấp, nhiều từ trong đó có sắc tháibiểu cảm thiên về trạng thái tiêu cực Dường như phần lớn chúng đều để tảnhững đặc điểm, trạng thái không còn trọn vẹn, không còn đẹp đẽ, tươi tắn,hạnh phúc mà là trạng thái bị hao mòn, bị tác động làm cho thay đổi hoặc tanbiến Khi kết hợp với các vị từ này, các BTCV làm chủ ngữ quy chiếu đếncác sự vật trên cả HQC thiên nhiên và HQC con người/ nhân vật Do đó, nếuđặt những câu thơ với CN và VN như vậy cạnh nhau sẽ khiến cho người đọc

Truyện Kiều ít nhiều đều cảm nhận được một sự chảy trôi miên viễn, một

quy luật biến đổi bất khả kháng của tự nhiên, của vạn vật trong vũ trụ trong

đó có con người

- Các BTCV làm thành phần trạng ngữ trong câu: Các BTCV có từ

“trăng”, “hoa”, gió” làm thành phần trạng ngữ trong câu cũng có số lượngtương đối lớn trong số các BTCV trực tiếp đảm nhiệm thành phần cấu tạo câu(24/122 = 19.67%) Về cấu tạo, phần lớn các BTCV làm trạng ngữ đều có cấutạo là KCSĐ hoặc các NDT có thành tố phụ sau là một KCSĐ Các trạng ngữ

do các BTCV đảm nhiệm cũng biểu thị được hầu hết những vai nghĩa phổbiến của trạng ngữ nói chung, đó là: thời gian (cả thời điểm và thời khoảng),không gian, nguyên nhân, cảnh huống, điều kiện của sự vật, sự việc đượcnói tới trong câu Đặc biệt nhất là ý nghĩa chỉ thời gian diễn ra sự việc khôngchỉ là các thời điểm cụ thể xảy ra sự việc mà còn có thể biểu thị được dòng chảythời gian, sự luân chuyển của thời gian bốn mùa hay một thời khoảng nào đótrong diễn biến cốt truyện Trong trường hợp này, các BTCV có thể có hoặc

không kết hợp với các trạng từ để làm trạng ngữ, như: lần lần ngày gió đêm trăng, lần lần thỏ bạc ác vàng, bấy chầy gió táp mưa sa, cữ gió tuần mưa…

- Các BTCV làm thành phần khởi ngữ trong câu: Trong vai trò làm

khởi ngữ, ngữ liệu của luận án cho thấy chỉ có các BTCV có từ “hoa” chứkhông có BTCV thuộc hai nhóm còn lại Các BTCV này thường đứng độc lập,không kết hợp thêm với các yếu tố ngôn ngữ khác để làm khởi ngữ của câu

Trang 12

2.2 SO SÁNH CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRĂNG”,

“HOA”, “GIÓ” TRONG TRUYỆN KIỀU VỚI CA DAO VÀ THƠ MỚI

TRÊN BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT

- Điểm tương đồng:

+ Về cấu tạo, các BTCV được khảo sát trong Truyện Kiều, ca dao và Thơ

Mới đều có 3 kiểu cấu tạo: DT, NDT, KCSĐ, trong đó: các BTCV là DT có 2kiểu cấu tạo chính (tỷ lệ chênh lệch giống nhau: từ đơn nhiều hơn ghép, từ

ghép phân nghĩa nhiều hơn từ ghép hợp nghĩa); các BTCV là NDT có các yếu

tố ngôn ngữ thuộc các nhóm “trăng”, “hoa”, “gió” có thể làm trung tâm hoặclàm thành tố phụ; các KCSĐ đều có số lượng và tỷ lệ thấp nhất và được tạonên do sự kết hợp giữa hai thành tố đều là DT/NDT hoặc ĐT/NĐT hoặc CCV

+ Về quan hệ kết hợp, các BTCV trong Truyện Kiều, ca dao và Thơ Mới

đều có khả năng kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác để trực tiếp làm thànhphần cấu tạo ở cấp độ cụm từ hoặc cấp độ câu Trong cụm từ (chủ yếu là cụm

từ chính phụ), các BTCV này có thể làm thành tố trung tâm hoặc thành tốphụ sau và tỷ lệ nhiều hơn nghiêng về việc làm thành tố phụ ở cả ba nguồnngữ liệu khảo sát Khi đó, các BTCV này cùng đứng sau một số loại vị từnhư: vị từ tạo tác, vị từ biểu thị trạng thái tâm lý, vị từ biểu thị trạng thái tồntại… Khi tham gia vào các quan hệ kết hợp để trực tiếp làm thành phần câu,các BTCV có khả năng lớn nhất trong việc giữ chức vụ chủ ngữ trong câu,tiếp đó là làm thành phần trạng ngữ Khi làm thành phần chủ ngữ, các BTCVnày thường kết hợp được với đa dạng các loại vị từ, trong đó có nhiều vị từbiểu thị những thuộc tính (hoạt động, trạng thái, đặc điểm, tính chất) vốnkhông phải thuộc tính sẵn có của các sự vật, hiện tượng thiên nhiên

- Điểm khác biệt:

+ Điểm khác biệt về cấu tạo: Thứ nhất, nhóm BTCV có từ “hoa” chiếm tỷ

lệ cao nhất và chênh lệch hơn hẳn so với hai nhóm còn lại trong Truyện Kiều

và ca dao; còn trong Thơ Mới thì ưu thế lại thuộc về nhóm BTCV có từ “gió”

và sự chênh lệch không lớn so với các nhóm còn lại Thứ hai, nếu như trong

Truyện Kiều, các BTCV có cấu tạo là NDT chiếm ưu thế nhưng không chênh

lệch nhiều thì trong ca dao và Thơ Mới, các BTCV có cấu tạo là DT lại chiếm

tỷ lệ vượt trội so với hai kiểu cấu tạo còn lại Đặc biệt, tỷ lệ các BTCV có cấu

tạo là KCSĐ có sự khác biệt rất rõ trong Thơ Mới so với Truyện Kiều và ca

dao Có thể thấy, trong khi các KCSĐ thể hiện một nét độc đáo, sáng tạo và có

giá trị biểu đạt riêng trong Truyện Kiều, thì, với trào lưu cách tân ngôn ngữ

thơ, các nhà Thơ Mới không chuộng lối dùng các kiểu kết hợp mang tính ổn

định, đăng đối, cân xứng như các nhà thơ dân gian và trung đại Thứ ba, xét

riêng kiểu cấu tạo DT làm BTCV, việc sử dụng các BTCV là từ đơn vẫn nhiều

hơn các từ ghép, tuy nhiên, sự chênh lệch này tăng dần từ ca dao đến Truyện Kiều rồi Thơ Mới, trong đó từ ghép hợp nghĩa làm BTCV được sử dụng ít

Ngày đăng: 23/06/2015, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w