Mặc dù việc xây dựng và thực hiện các chương trìnhphát triển đối với một số ngành nông nghiệp mới được tiến hành trong thời gian chưalâu nhưng kết quả đã cho thấy tốc độ phát triển nhanh
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP Tp HCM
Khoa Quản trị kinh doanh - -
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: “Tình hình phát triển và phân bố ngành
nông-lâm-ngư nghiệp ở Việt Nam”
Giảng viên hướng dẫn:
Ths Nguyễn Việt Lâm
Nhóm thực hiện: Hội Ngộ Lớp HP: 210700217 Năm học: 2011- 2012
Trang 3Mở đầu
Nội dung đề tài:
Nghiên cứu về nền nông nghiệp Việt Nam cụ thể về tổ chức LT-KT-XH lâm-ngư nghiệp Mục tiêu trình bày rõ các nội dung:
nông-+ Tình hình phân bố và phát triển của từng ngành nông-lâm-ngư nghiệp
+ Các giải pháp phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Lý do chọn đề tài:
Nông nghiệp là xương sống của nền kinh tế Việt Nam Từ xưa đến nay nhờ vị trí địa lí thuận lợi và các yếu tố về thổ nhưỡng,… giúp chúng ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới phát triển Hơn nữa tìm hiểu về nông nghiệp giúp chúng ta có những kiến thức và kĩ năng trong quá trình lập nghiệp sau này Vì những lí do như vậy, Nhóm Hội Ngộ quyết định chọn đề tài này
Phương pháp nghiên cứu đề tài:
+ Xác định đề tài
+ Tham khảo sách vở, báo chí và các tài liệu liên quan trên cơ sở bám sát giáo trình của khoa
+ Lập đề cương mẫu
+ Nhóm tiến hành họp nhóm trao đổi, phân tích, nhận xét, đánh giá,… tìm thêm
tư liệu kênh chữ và kênh hình cho đề tài
+ Hoàn thiện tiểu luận
Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Do khuôn khổ có hạn của giáo trình “Địa lí kinh tế Việt Nam” và thời gian thựchiện nên nhóm chưa thể đào sâu thêm Nội dung được giới hạn theo mẫu của giáo trình Tuy nhiên có bổ sung thêm một số đề mục để làm rõ thêm đề tài
* Vì còn thiếu sót nhiều kinh nghiệm, có thể nhầm lẫn hoặc còn nhiều sai sót khó tránh khỏi Mong được giảng viên châm chước
Cuối cùng xin cảm ơn thầy đã giúp đỡ nhóm em thực hiện đề tài!
Tài liệu tham khảo
1 Giáo trình những Địa lí kinh tế Việt Nam, khoa Quản trị kinh doanh, trường đại học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh, 9 – 2010
2 Nhiều sách và tài liệu liên quan khác hoặc tìm kiếm trên mạng internet
Trang 4Danh sách nhóm Hội Ngộ:
1 Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 11065151
2 Nguyễn Thanh Vương
3 Đoàn Tuấn Ngĩa
Trang 5MỤC LỤC
II.TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ TỪNG NGÀNH NÔNG – LÂM – NGƯ
III.CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
25
2.Một số giải pháp phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay: 29
3.Phát triển thị trường tài chính nông thôn, tạo nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp
Trang 6TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ NÔNG – LÂM – NGƯ NGHIỆP
I TÌNH HÌNH CHUNG
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực nông thôn việt nam đã có sựthay đổi rõ nét Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịch vụ phát triểnmạnh, hình thành và phát triển các mô hình kinh tế mới (khu công nghiệp, trang trại,doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân) hoạt động có hiệu quả thu hút nhiềulao động nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế Kết cấu kinh tế - xã hội
ở nông thôn có nhiều thay đổi, hệ thống điện, đường trường trạm, cơ sở y tế, nướcsạch, môi trường được quan tâm và đẩy mạnh Công tác xóa đói giảm nghèo đạt thànhtựu đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm Mặc dù việc xây dựng và thực hiện các chương trìnhphát triển đối với một số ngành nông nghiệp mới được tiến hành trong thời gian chưalâu nhưng kết quả đã cho thấy tốc độ phát triển nhanh, đạt hiệu quả cao và cùng lúc đạtđược nhiều mục tiêu như cải thiện đời sống nông thôn, tạo nguồn thu ngoại tệ, gópphần phủ xanh đất trống đồi trọc v.v…
Ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển khá với nhiều thành điểm đáng chú ý như:
- Mức tăng trưởng sản xuất duy trì ở mức 4,8% liên tục trong 10 năm Nhiều lĩnhvực sản xuất được mở rộng về diện tích cũng như tăng trưởng về sản lượng như gạo,
cà phê, chế biến thủy hải sản, tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn phục vụ cả tiêu dùngtrong nước và xuất khẩu Ví dụ như ngành lúa gạo, từ một nước nhập khẩu gạo ViệtNam đã trở thành quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Sản lượng gạo tăngliên tục từ mức 16 triệu tấn/năm (1986) lên mức 19,2 triệu tấn/năm (1990) và 38,9triệu tấn/năm (2009), tăng gấp 2,4 lần sau hơn 20 năm đổi mới Tính riêng trong cácnăm 2008 và 2009, sản lượng và giá trị các loại cây trồng, đặc biệt là những cây tạonguồn nguyên liệu cho xuất khẩu như: cà phê tăng 40,4%, cao su tăng 37%, chè tăng33,3% điều tăng 28,3% so với năm 2005 Tỷ trọng của ngành nông, lâm nghiệp vàthủy sản trong GDP luôn chiếm trên 30% trong giai đoạn 1986 – 1990 và giảm dầntrong các giai đoạn tiếp sau theo xu hướng tích cực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế
- Nông nghiệp đã góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu với giá trị xuấtkhẩu tăng bình quân trên 10% năm Nếu như năm 1995, kim ngạch xuất khẩu hànghóa nông lâm thủy sản của khu vực nông nghiệp chỉ đạt 2,5 tỷ USD thì đến cuối năm
2009, ước đạt 13,2 tỷ USD, cao gấp 5 lần so với năm 1995 Trong 24 mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của cả nước thì nông lâm thủy sản đã đóng góp tới 11 mặt hàng, chiếmgần ½ số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó có những mặt hàng được xem làhàng chủ lực như gạo, cà phê, cao su, gỗ, với kim ngạch trên 1 tỷ USD Cùng với việc
mở rộng thị trường xuất khẩu, nhiều mặt hàng nông sản gia tăng thị phần và chiếm vịthế cao trên thị trường thế giới, như hạt điều, hạt tiêu chiếm vị trí thứ nhất, lúa gạo, càphê đứng thứ hai, cao su đứng thứ tư, chè đứng thứ năm và thủy sản đứng thứ bảytrong nhóm các nước sản xuất mặt hàng này
- Khu vực nông nghiệp đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệulao động, tiếp tục là ngành chính tạo ra thu nhập cho người nghèo Tính đến cuối năm
2009, khu vực nông nghiệp, nông thôn có 15,57 triệu hộ gia đình (chiếm 69,37% tổng
số hộ gia đình của cả nước) và dân số là 60,41 triệu người (chiếm 70,37% tổng số dân
Trang 7cả nước), có trên 24 triệu lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm tỷtrọng gần 60% tổng số lao động đang làm việc trong các khu vực kinh tế của cả nước
- Một nền nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa đã bước đầu hình thành.Diện tích gieo trồng các loại cây trồng mà sản phẩm tạo ra dành nhiều cho xuất khẩuhoặc phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng trong nước đã tăng lên như diện tích cácloại cây rau, quả, cây công nghiệp ngắn ngày có hướng tăng nhẹ khoảng 2-4%/năm.Diện tích các cây lâu năm tăng gần 80 nghìn ha riêng trong năm 2009 do giá xuất khẩumột số nông sản này tăng Những dịch chuyển này đã tạo ra sự hình thành các vùngchuyên canh, đặc biệt là vùng sản xuất các loại cây rau, quả xuất khẩu như vải, bưởi,sầu riêng, na, xoài, thanh long,… cùng với sự hình thành các mô hình sản xuât hànghóa nông sản lớn Bên cạnh đó thì những cây trồng có định hướng phục vụ cho cácngành công nghiệp chế biến các sản phẩm chỉ tiêu dùng nội địa thể hiện sự khó khăn,không có năng lực phát triển như cây mía đường, bông, cây thức ăn gia súc,…
- Một nét mới trong phát triển nông nghiệp là đã xuất hiện một số mô hình tổchức sản xuất kiểu mới như kinh tế trang trại, cao su tiểu điền, cà phê nhân dân, tổ hợptác tự nguyện, hợp tác xã kiểu mới làm dịch vụ cho kinh tế hộ Tính đến năm 2009, cảnước đã có 135.437 trang trại, trong đó có 39.769 trang trại trồng cây hàng năm,23.880 trang trại trông cây lâu năm, 20.809 trang trại chăn nuôi và 35.489 trang trạinuôi trồng thủy sản, tập trung nhiều nhất ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Kinh
tế hợp tác và hợp tác xã dịch vụ trong nông nghiệp cũng là một nét mới đáng ghi nhậntrong tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện nay
Trong điều kiện toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, khủng hoảng lương thực vànăng lượng đã trở thành các vấn đề nghiêm trọng như hiện nay, khu vực nông nghiệpnông thôn nhất là tại các quốc gia có số dân sống dựa nhiều vào nông nghiệp như ViệtNam tiếp tục được xác định là có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế xãhội Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn,Đảng ta vẫn xác định: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nôngdân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn coi trọng đẩymạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng mộtnền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững có năng suất,chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và tạođiều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch…; Gắn phát triển kinh tế vớixây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị,giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hộ
Việt Nam đã có nhiều chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông- lâm- ngư nhiệp theohướng phát triển toàn diện, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh mở đường trong quátrình đổi mới, tạo điều kiện để đất nước vươn lên
Trong tổng diện tích tự nhiên của việt nam thì, tổng diện tích đất nông nghiệpcủa cả nước đã tăng gần 1,28 triệu ha so với năm 2005 thì diện tích đất lúa lại giảmmạnh Tính đến hết năm 2010, tổng diện tích các loại đất kiểm kê của cả nước là33.093.857 ha, bao gồm 26.100.160 ha đất nông nghiệp, 3.670.186 ha đất phi nôngnghiệp và 3.323.512 ha đất chưa sử dụng Ngoài ra, c ̣n có 47.254 ha đất có mặt nướcven biển sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, rừng ngập mặn
Số liệu về tình hình biến động diện tích đất thấy, tổng diện tích đất nông nghiệpcủa cả nước đã tăng gần 1,28 triệu ha so với năm 2005, trong đó tăng chủ yếu ở loại
Trang 8đến 37.546 ha, trung bình mỗi năm giảm hơn 7.000 ha Riêng đồng bằng sông Hồngđất nông nghiệp cũng đã giảm 32.000 ha, chủ yếu do chuyển sang mục đích phi nôngnghiệp.
Đất lâm nghiệp so với năm 2005 cả nước tăng 571.616 ha, trong đó có 38 tỉnhtăng và 23 tỉnh giảm diện tích Các tỉnh giảm chủ yếu do việc xây dựng các công trìnhhoặc do chuyển sang sản xuất nông nghiệp
Đất nuôi trồng thủy sản của cả nước so với năm 2005 giảm 9.843 ha do một sốđịa phương ở đồng bằng sông Cửu Long chuyển sang trồng lúa
BIỂU 01: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
(Giá hiện hành)
Gross output of agriculture ( At current price )
Chia ra - Of which
Total Cultivation Livestock Service
Trang 92009 tăng từ 5,585,870 đến 14,927,194 triệu đồng là cho cơ cấu ngành cũng tăng theo
từ 81% đến 82,94%,chăn nuôi cũng tăng không kém cụ thể từ năm 2004 đến 2009 tăng
từ 706,692 triệu đồng lên 2,195,272 triệu đồng làm cho cơ cấu ngành cũng tăng theo
từ 10,25% lên 12,13% chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệpchuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giảm cung cấp sản phẩmthô, từ đó an ninh lương thực trong nước được đảm bảo, nhiều sản phẩm nông nghiệptrở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thịtrường quốc tế như gạo, thủy hải sản, cà phê, cao su Đời sống vật chất và tinh thầncủa đại bộ phận nông dân được cải thiện, công bằng hơn trong tiếp cận các cơ hội pháttriển Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, hệ thống kếtcấu hạ tầng cũng như mạng lưới các tổ chức kinh tế hoạt động nông thôn ngày càngphát triển
II TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ TỪNG NGÀNH NÔNG – LÂM – NGƯ NGIỆP Ở VIỆT NAM
Bảng 1 – Tình hình ngành sản xuất lúa gạo
Trang 10gieo trồng nôngnghiệp)
tỷ USD)
Việt Nam đứng thứ 2 trên thị trường thế giới về khối lượng gạo xuất khẩu (sau Thái Lan)
Có lợi thế cạnh tranh đối với các loại gạo có phẩm cấp trung bình và thấp (so với Thái lan) do năng suất lúa cao, giá thành sản xuất thấp Đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trongnước (dân số 84 triệu người, với mức tăng khoảng 1,1 triệu người mỗi năm)
ngô hạt
3,8 triệu tấn 4,1 triệu tấn Năm 2007 tăng 8% so với năm
2006Khả năng
cạnh tranh Quy mô sản xuất nhỏ, giá thành cao, công nghệ bảo quản chậm phát triển; sản xuất ngô chưa đủ đáp ứng nhu cầu thức ăn chăn nuôi trong
nước (ngành chăn nuôi phát triển với tốc độ 6-7%/năm);
Tỷ lệ nguyên liệu ngô nhập khẩu phục vụ chăn nuôi tăng hàng năm (kim ngạch nhập khẩu ngô 2006: 94 triệu USD)
Chính sách
đối với
ngành
Áp thuế nhập khẩu ngô thấp (5%) để tạo điều kiện cho chăn nuôi
Bảng 3 – Tình hình ngành sản xuất khoai lang
Các yếu tố Năm 2006 Năm 2007 Ghi chú
Chính sách
đối với
ngành
Do mức độ phụ thuộc vào cây lương thực dạng củ giảm nên mức độ bảo
hộ ở mức thấp (thuế nhập khẩu 10%); không có chính sách riêng biệt nhằm khuyến khích phát triển sản xuất
Bảng 4 – Tình hình ngành sản xuất sắn
Trang 11Các yếu tố Năm 2006 Năm 2007 Ghi chú
b Ngành trồng cây công nghiệp và cây ăn quả
Cây công nghiệp là một nhóm cây nhiều chủng loại, cung cấp những nôngphẩm có giá trị như đường, dầu thực vật, nguyên liệu kỹ thuật (tơ sợi, nhựa, dầu kỹthuật), các chất hương vị và dược liệu cây công nghiệp ở Việt Nam còn cung cấpnhiều sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao trên thế giới Các vùng chuyên canh cây côngnghiệp lớn cũng ảnh hưởng tới sự phân bố các xí nghiệp công nghiệp chế biến và tới
sự hình thành cơ cấu cây trồng và vật nuôi trong vùng
Có các cây chủ yếu như: bong, đai, gai, cói, thầu dầu, dâu tằm, mía, lạc, đậutương, vừng, thuốc lá, thuốc lào) Trong số các cây này thì lạc, mía và đậu tương lànhững cây dẫn đầu về diện tích cây công nghiệp hàng năm hiện nay
Đỗ tương: là cây trồng truyền thống có mặt từ lâu đời ở Việt Nam Ngoài việc
lấy hạt, cây đậu tương còn có tác dụng cố định đạm làm tăng dinh dưỡng cho đất, nênthường được nông dân trồng xen với các cây trồng khác với mục đích cải tạo đất, đượctrồng khá phổ biến ở miền Bắc, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông Hồng (trồng luâncanh với lúa) và vùng Đông Bắc Ở miền Nam, cây đậu tương được trồng chủ yếu ởvùng Tây Nguyên và một số ít ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tuy có diện tíchtrồng đậu tương khá lớn (26.235 ha), chiếm 14,4% tổng diện tích đậu tương của cảnước nhưng Tây Nguyên lại là vùng có năng suất đậu tương ở mức thấp nhất cả nước(1 tấn/ha) Cây đậu tương cho năng suất rất cao tại vùng Đồng bằng sông Hồng (8,7tấn/ha), do vậy chỉ với diện tích trồng đậu tương chiếm 29,2% nhưng vùng Đồng bằngsông Hồng đã đóng góp 75,4% vào tổng sản lượng đậu tương của cả nước
Trang 12nhiều so với mức bình quân cả nước do trồng mía quy mô nhỏ và vẫn sử dụng cácgiống mía cũ, năng suất thấp.
Cây lạc :
Tăng 3,6% (Diện tích tăng 1,4%; năng suất tăng 2,1%) Nhờ đưa vào gieotrồng các giống lạc mới năng suất cao, nhưng sản lượng lạc hàng năm tăng ở mứckhá cao, trung bình 7,2%/năm trong giai đoạn
Lạc là loại Thích hợp với đất nhẹ tơi xốp và không cần nhiều dinh dưỡng, lạcđược trồng phổ biến ở các vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hảiNam Trung Bộ và Tây Nguyên, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ(chiếm 31% diện tích lạc cả nước) Bắc Trung Bộ cũng là vùng đóng góp lớn nhấtcho tổng sản lượng lạc của cả nước (28,6%) Vùng có năng suất trồng lạc cao nhấtlại là Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, trong đócao nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng với năng suất 3 tấn/ha (so với mức trungbình 1,9 tấn/ha của cả nước) Tuy được trồng khá phổ biến ở khu vực Tây Nguyênvới tổng diện tích lên tới hơn 22 nghìn ha (chiếm 9,7% tổng diện tích lạc cả nước),nhưng đây lại là vùng có năng suất lạc thấp nhất cả nước (0,7 tấn/ha)
Cây thuốc lá
Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, thay thế nguồn nguyên liệu
nhập khẩu Việt Nam đã có tới 39.925 ha trồng thuốc lá và tổng sản lượng thuốc lánguyên liệu là 25.230 tấn Hiện nay mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng
100 triệu USD nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thuốc lá, cho nên việc
mở rộng diện tích trồng cây thuốc lá, đặc biệt dưới hình thức hợp đồng cung cấpnguyên liệu cho các nhà máy là cần thiết
Cây thuốc lá được trồng nhiều nhất ở vùng Đông Bắc, chiếm tới chiếm tới69,4% tổng diện tích thuốc lá của cả nước Tuy nhiên, do năng suất không cao nênvùng Đông Bắc chỉ đóng góp 23,8% vào tổng sản lượng thuốc lá của cả nước.Thuốc lá cũng được trồng khá phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Tuydiện tích trồng thuốc lá ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long không nhiều, nhưng đâylại là vùng trồng thuốc lá cho năng suất cao nhất cả nước Vùng Tây Bắc hầu nhưkhông trồng thuốc lá Tại các vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyênhải Nam Trung Bộ, diện tích trồng thuốc lá cũng không nhiều
Các loại cây chủ yếu như cao su, cà phê và điều, dừa, chè, hồ tiêu Trong sốcác cây này thì cao su, cà phê và điều chiếm diện tích cao nhất cây công nghiệp lâunăm của cả nước
Trang 13Cây cà phê
Trong những năm qua, diện tích cà phê của Việt Nam tăng nhanh từ vài chụcngàn ha lên tới 500 ngàn ha Sản lượng cà phê tăng mạnh, đạt tốc độ tăng trưởngkhoảng 26%/năm trong giai đoạn 1995 - 1999 Trong 5 năm gần đây, tốc độ tăngtrưởng diện tích cà phê giảm mạnh do biến động trên thị trường thế giới và chính sáchcủa chính phủ khuyến khích giảm diện tích trồng cà phê ở những vùng không thuậnlợi Giai đoạn 2000 - 2004, tốc độ tăng trưởng diện tích cà phê và sản lượng cà phê chỉđạt lần lượt -3,1%/năm và 1%/năm Cà phê chiếm khoảng 8% giá trị sản lượng nôngnghiệp và khoảng 25% giá trị xuất khẩu nông nghiệp
Cà phê
Cà phê của Việt Nam chủ yếu được dùng để xuất khẩu cho các tập đoàn rangxay và thương mại lớn trên thế giới, với lượng xuất khẩu chiếm tới hơn 90% tổng sảnlượng và là nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới Nghề trồng cà phê ở ViệtNam tạo nguồn thu nhập lớn cho một nhóm đông dân cư ở nông thôn, trung du vàmiền núi, tạo việc làm cho hơn 600 nghìn nông dân
Cà phê chủ yếu được trồng ở các vùng đồi núi phía Bắc và Tây Nguyên có độcao từ khoảng 800m trở lên Diện tích cà phê tập trung nhiều nhất ở vùng Tây Nguyên,tại các tỉnh như Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và chủ yếu là càphê vối Diện tích cà phê của vùng này chiếm tới 72% tổng diện tích cả nước và sảnlượng cũng chiếm khoảng 92% tổng sản lượng cả nước Cà phê chè trồng với diện tích
và sản lượng rất khiêm tốn chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, tập trung nhiều ở tỉnh Sơn La
và Điện Biên
Trang 14Cây cao su
Đất đai và khí hậu ở nhiều vùng sinh thái của nước ta, đặc biệt là vùng ĐôngNam Bộ và Tây Nguyên rất phù hợp với việc sinh trưởng và phát triển cây cao su.Năm 2004, diện tích cao su của vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên chiếm tới 94%tổng diện tích cả nước (trong đó, riêng vùng Đông Nam Bộ chiếm gần 70%) Nhờ vậy,sản lượng cao su của hai vùng này cũng chiếm tới 98% tổng sản lượng của cả nước.Ngoài ra, cao su cũng được trồng ở một số tỉnh miền Trung như Quảng Bình, QuảngTrị nhưng sản lượng không đáng kể
Cây hồ tiêu
Cây tiêu được trồng ở các vùng đất bazan (từ Quảng Trị trở vào đến các tỉnhvùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số nơi khác của Nam Bộ như tỉnh KiênGiang và An Giang) Nhìn chung tiêu phát triển tốt ở độ cao đến 900m so với mặtbiển, trên đất đỏ bazan, đất phù sa, đất xám Những năm giữa thập niên 1990 trởlại đây cây tiêu phát triển mạnh ở Việt Nam, sản lượng tăng nhanh và chiếm vị trí thứ
3 thế giới (chỉ sau Ấn Độ và Indonesia) Tiêu Việt Nam có ưu thế về chất lượng Năm
2004, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu đạt trên 150 triệu đô la Mỹ, chiếm 2,8% tổng kimngạch xuất khẩu hàng hoá nông lâm thuỷ sản cả nước Tổng diện tích trồng tiêu tạiViệt Nam năm 2004 khoảng 47.667ha, sản lượng đạt 66.423 tấn So với năm 1990diện tích tiêu năm 2004 đã tăng gấp gần 5,5 lần và sản lượng tăng 7,9 lần
Diện tích trồng tiêu tập trung ở vùng Đông Nam bộ (27.479ha, chiếm 57,6% diệntích cả nước), Tây Nguyên (15.809ha, chiếm 33,2 %) và Bắc Trung Bộ (3.356ha,chiếm 7%) Năng suất tiêu không chênh lệch nhiều giữa các vùng Tương ứng với tỷ lệdiện tích trên, sản lượng tiêu năm 2004 của vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và BắcTrung Bộ là 39.410, 22.906 và 2.314 tấn tương đương với 59,3%, 34,5% và 3.5% tổngsản lượng tiêu cả nước
Cây điều
Cây điều không kén đất, dễ trồng và chịu được thời tiết khó khăn khắc nghiệt, vìthế rất thích hợp với đất đai và khí hậu tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, TâyNguyên và Đông Nam Bộ Đây cũng là cây trồng mang lại lợi ích kinh tế cao Câyđiều luôn đứng trong nhóm những mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu lớn của Việt
Trang 15Nam Chỉ tính riêng trong năm 2004, kim ngạch xuất khẩu điều đạt 430 triệu đô la Mỹ,chiếm 8% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản Do sản phẩm hạt điềuchủ yếu phục vụ xuất khẩu nên từ những năm 1990, khi giá điều trên thị trường thếgiới tăng cao thì diện tích trồng điều cũng phát triển mạnh Đặc biệt trong giai đoạn
2000 - 2004 khi giá xuất khẩu cao, giá thu mua trong nước vượt mức 15.000 đồng/kgthì diện tích điều tăng bình quân 10,9%/năm, đẩy sản lượng tăng lên mức kỷ lục là31,9 %/năm
Năm 2004, tổng diện tích điều của Việt Nam là 250.960ha, tập trung chủ yếu ởvùng Đông Nam Bộ (179.970ha, chiếm 71,7%) Sản lượng điều của vùng này cũngđứng đầu trên cả nước với tổng sản lượng năm 2004 là 142.361 tấn, chiếm 78,4% tổngsản lượng điều Việt Nam (181.568 tấn) Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tuy diện tíchtrồng không nhiều (20.499ha, tương ứng 8,2%) nhưng do hầu hết diện tích trồng đang
ở giai đoạn cho sản phẩm nên cũng đứng thứ hai của cả nước về sản lượng điều(21.826 tấn, chiếm 12%) Trong khi đó, vùng Tây Nguyên với diện tích trồng điềurộng lớn, chỉ đứng sau Đông Nam Bộ với tổng diện tích 49.69âh (tương đương19,8%) lại chỉ đạt mức sản lượng là 16.956 tấn, chiếm 9,3% tổng sản lượng Do bịcạnh tranh với các cây trồng khác nên vùng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ trồng mộtdiện tích nhỏ là 779ha, khoảng 0,3% tổng diện tích điều trên cả nước Điều khôngđược trồng tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ
Cây chè
Từ năm 1990 đến nay, diện tích chè Việt Nam tăng nhanh (trung bình5,1%/năm) Đặc biệt, trong giai đoan 1995 - 1999 giá chè lên cao, tốc độ tăng trưởngdiện tích bình quân lên tới 8,3%/năm Năm 2004, tổng diện tích trồng chè ở Việt nam
là 87.494ha Song song với mở rộng diện tích, sản lượng chè cũng tăng, thậm chí cònnhanh hơn tốc độ tăng diện tích, đạt mức bình quân là 9,5%/năm trong giai đoạn 1990
- 2004 Do chất lượng chè Việt Nam thấp nên kim ngạch xuất khẩu chưa cao Năm
2004, kim ngạch xuất khẩu chè mới đạt 91,5 triệu đô la Mỹ, chiếm khoảng 1,7% tổngkim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản
Chè tập trung chủ yếu ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên Riêng cáctỉnh trung du miền núi phía Bắc thuộc vùng Đông Bắc đã có 52.452ha, chiếm 59,9%tổng diện tích chè cả nước; tiếp theo là vùng Tây Nguyên với diện tích 26.952ha,chiếm 30,8% Trong khi đó, tại vùng Tây Bắc, do điều kiện địa hình và thời tiết khôngthuận lợi, diện tích chè chỉ là 8.654ha tương đương với 9,2% tổng diện tích chè trên cảnước
Vùng Tây Nguyên (nơi có độ cao trung bình) có điều kiện sinh thái phát triển cácgiống chè tốt, năng suất cao Tuy diện tích chè vùng này chỉ chiếm 30,8% diện tíchchè cả nước nhưng trong năm 2004 sản lượng đạt tới 155.668 tấn, chiếm 39,8% tổngsản lượng cả nước Chè vùng Đông Bắc (vùng thấp) có khả năng phát triển khá tốt,thời kỳ sinh trưởng dài trong năm nên cũng đạt được mức sản lượng là 201.834 tấn,chiếm 51,5% Vùng Tây Bắc có địa hình phức tạp, phân cắt mạnh, cơ sở hạ tầng kém,tập quán canh tác lạc hậu nên sản lượng chè sản xuất tại khu vực này chỉ tương đương8,7% sản lượng cả nước, đạt 34.097 tấn Tuy nhiên, đây lại là vùng có điều kiện sinhthái đặc biệt thích hợp cho phát triển các giống chè Shan cho sản phẩm chất lượng cao
Cây ăn quả
Trang 16Việt Nam có điều kiện tự nhiên và khí hậu phù hợp để phát triển đa dạng các loạicây ăn quả, từ quả ôn đới như mận, đào, đến quả cận nhiệt đới như vải thiều, nhãn,cam hay quả nhiệt đới như măng cụt, soài, sầu riêng, dứa, chuối Trung bình tronggiai đoạn 1995 - 1999, diện tích trồng cây ăn quả tăng 10,3%/năm, cao hơn nhiều sovới tốc độ tăng bình quân 3,3%/năm trong giai đoạn 1990 - 1994 Năm 2004, tổngdiện tích cây ăn quả Việt Nam vào khoảng 747.803ha, trong đó tập trung chủ yếu tạivùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Đông Bắc với diện tích tương ứng
là 260.253ha, 132.937ha và 136.262ha Một số cây ăn quả chính có năng suất và sảnlượng tăng nhanh như xoài, dứa, cây có múi với mức tăng bình quân sản lượng tronggiai đoạn 2000 - 2004 lần lượt là 15,4%/năm, 9,7%/năm và 6%/năm Trong khi đó,diện tích trồng nhãn giảm tới 7,7%/năm và sản lượng giảm 1,3%/năm trong cùng giaiđoạn
Trước đây, hầu hết các loại cây ăn quả được trồng hoặc xung quanh nhà với mộtvài cây hoặc tại các vườn cây ăn quả tập trung với qui mô nhỏ từ 0,5ha đến 2ha Trongnhững năm gần đây cùng với chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại củaNhà nước đã hình thành và phát triển nhiều vườn cây ăn quả có diện tích rất lớn đếnvài chục ha, tập trung ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông CửuLong, và Đông Nam Bộ
c Chăn nuôi:
Chăn nuôi là một nghành quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi lớn vật nuôi
để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông, và sức lao động Sản phẩm từ chănnuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người Chănnuôi xuất hiện lâu đời trong nhiều nền văn hóa kể từ khi loài người chuyển đổi từ lốisống săn bắn hái lượm sang định canh định cư
Bảng 1 – Tình hình ngành chăn nuôi trâu bò
(bò 6,5 triệu, trâu 2,9 triệu)
9,7 triệu con(bò 6,7 triệu, trâu gần 3 triệu)
Đàn bò sữa giảm từ 113.000 con năm 2006 xuống còn 110.000 connăm 2007
Sản lượng thịt 223.000 tấn 273.000 tấn
Sản lượng sữa