Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trang 1*** đề án
kinh tế chính trị
đề tài:
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nởc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trờng định
hớng xhcn ở việt nam
Ngời thực hiện : Bùi Xuân Hùng
lớp : Ngân Hàng K43A
GV hớng dẫn : PGS-TS:Phạm Quang Phan
Hà Nội 25/ 2/ 2003
a-mở đầu
* tính cấp thiết của đề tài:
ở nớc ta đa số các doanh nghiệp nhà nớc ( DNNN ) ra đời trong cơ chế
kế hoạch hoá tập trung, hoạt động theo cơ chế cấp phát, hiệu quả kinh doanh thấp Từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng những yếu kém của đa số các doanh nghiệp nhà nớc càng bộc lộ rõ nét Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN đảng và nhà nớc ta đã sớm có những chủ trơng, chính sách chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần Nhgị quyết
đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định : “ triển khai việc cổ phần hoá DNNN để huy động thêm vốn đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh làm tăng tài sản nhà nớc” Nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ IX lại tiếp
Trang 2tục khẳng định : “ thực hiện tốt chủ trơng cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nớc không cần nắm 100% vốn ; giao, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ nhà nớc không nắm giữ , sáp nhập , giải thể , cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và không thực hiện đợc các biện pháp trên” Nh vậy cho thấy cổ phần hoá
là một chủ trơng lớn của đảng và nhà nớc
Cổ phần hoá DNNN là một bớc đi đúng đắn của đảng và nhà nớc ta trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam
Cổ phần hoá nhằm đa dạng hoá sở hữu , tạo động lực cho ngời lao động trong doanh nghiệp lao động có hiệu quả vì lợi ích chính đáng Phát triển cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là vấn đề cấp thiết cần đợc nghiên cứu
* lý do chọn đề tài:
chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đã đi vào thực tiễn và đã thu đợc những kết quả bớc đầu , nhng hoạt động triển khai cổ phần hoá các DNNN những năm qua còn rất chậm và vẫn còn nhiều hạn chế Chính phủ đã
có rất nhiều cố gắng trong việc cổ phần hoá nhng những quyết định đa ra còn nhiều bất cập, cha phù hợp với thực tế Trong khi đa phần các doanh nghiệp
đợc cổ phần hoá lại làm ăn thua lỗ Chính vì thế tôi chọn đề tài này nhằm tìm hiểu sâu hơn việc cổ phần hoá các DNNN hiện nay , tìm ra những hạn chế và cách khắc phục góp phần đẩy nhanh cổ phần hoá DNNN ở nớc ta hiện nay, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế
b-nội dung
i-vai trò doanh nghiệp nhà nớc và thực trạng hoạt động của hệ thống doanh nghiệp nhà nớc ở việt nam hiện nay:
* Thành phần kinh tế nhà nớc:
_Thành phần kinh tế nhà nớc(TPKTNN) là những đơn vị, tổ chức trực tiếp sản xuất kinh doanh hoặc phục vụ sản xuất, kinh doanh mà toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu nhà nớc, hoặc phần của toàn nhà nớc chiếm tỷ lệ khống chế _Kinh tế nhà nớc(KTNN) trớc hết là các doanh nghiệp nhà nớc và doanh nghiệp cổ phần đợc hình thành trên cơ sở:
+Nhà nớc đầu t xây dựng
+Quốc hữu hoá các doanh nghiệp t bản t nhân
+Góp cổ phần khống chế với các doanh nghiệp t nhân
_Kinh tế nhà nớc thuộc sở hữu nhà nớc, sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh Theo chủ trơng của đảng ta, KTNN cần tập trung vào những ngành, lĩnh vực trọng yếu nh kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, hệ thống tài chính, Ngân hàng, những cơ sở nh sản xuất kinh doanh, thơng mại, dịch vụ quan trọng, những cơ sở kinh tế phục vụ an ninh quốc phòng và vấn đề xã hội,
Trang 3để đảm bảo những cân đối lớn, chủ yếu của nền kinh tế và thực hiện vai trò chủ đạo của nền kinh tế thị trờng
_Một số định hớng:
+Cần xác định các doanh nghiệp công ích cần thiết, hoạt động không vì lợi ích lợi nhuận là chính Cần có chính sách, cơ chế phù hợp để quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đợc đầu t, đảm bảo mục tiêu chính trị-xã hội trong quá trình tăng trởng và phát triển nhằm nâng cao đời sống nhân dân +Những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận, tập trung kiện toàn và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp hoạt động tốt, có khả năng cạnh tranh và tham gia thị trờng thế giới, phải trở thành những doanh nghiệp mạnh toàn diện, đầu đàn về công
nghiệp-kỹ thuật và chất lợng sản phẩm, đi đầu về bảo đảm xã hội, phát huy giúp đỡ và
ảnh hởn tốt đến sự phát triển kinh tế xã hội bằng tính chất xã hội chủ nghĩa của mình, tạo ra sự chuyển biến vững chắc theo định hớng xã hội chủ nghĩa +Mạnh dạn nghiên cứu và ứng dụng các hình thức tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp nhà nớc Tăng cờng hoạt động của kinh tế nhà nớc trong lĩnh vực phân phối lu thông, từng bớc xây dựng văn minh thơng nghiệp, đảm bảo quyền lợi ngời tiêu dùng
+Vấn đề cán bộ và lực lợng lao động là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong đổi mới kinh tế nhà nớc nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh Cần hoàn thiện hệ thống chính sách tuyển dụng,đãi ngộ, gắn trách nhiệm với quyền hạn và nghĩa vụ, sớm tiêu chuẩn hoá các chức danh
Đổi mới kinh tế nhà nớc theo phơng hớng trên một mặt khắc phục đợc sự bảo thủ muốn duy trì kinh tế quốc dân kiểu cũ, kém hiệu quả; mặt khác chống
t tởng muốn t nhan hoá tràn lan nền kinh tế, coi nhẹ kinh tế nhà nớc
*Doanh nghiệp nhà nớc:
Khái niệm :
DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do nhà nớc giao DNNN có t cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
Đặc điểm:
_DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nớc thành lập để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nớc giao: DNNN là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho xã hội Tất cả các doanh nghiệp nhà nớc đều do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nớc giao
_Tài sản của DNNN thuộc sở hữu nhà nớc: DNNN do nhà nớc cấp vốn
đầu t thành lập nên tài sản doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nớc Nhà nớc giao vốn cho doanh nghiệp nhà nớc và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trớc
Trang 4nhà nớc về việc bảo toàn và phát triển vốn để duy trì khả năng hoạt động của doanh nghiệp
_DNNN là đối tợng quản lý trực tiếp của nhà nớc với t cách là chủ sở hữu: Tất cả các doanh nghiệp nhà nớc đều chịu sự quản lý của cơ quan nhà
nớc có thẩm quyền theo sự phân cấp của chính phủ
_DNNN là tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
Vai trò của DNNN:
_Vai trò mở đờng cho mọi thành phần kinh tế khác
+ Trong cơ chế thị trờng, để đạt đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận các doanh nghiệp dân doanh chỉ tập trung kinh doanh ở những ngành, những vùng
có hệ số sinh lời cao và hệ số rủi ro thấp; các doanh nghiệp này luôn né tránh
đầu t vào một số ngành có hệ số sinh lời thấp và hệ số rủi ro cao, cũng nh các ngành đòi hỏi vốn đầu t lớn Đó trớc hết là các vùng sâu, vùng xa của đất nớc Trong tình huống đó sự có mặt của DNNN để xây dựng cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa là hạt nhân tạo điều kiện tiền đề cho các loại hình doanh nghiệp khác ra đời và phát triển ở các vùng sâu,vùng xa DNNN cần phải đảm nhận chức năng mở đờng cho các doanh nghiệp khác phát triển
+Vai trò chủ đạo, chủ lực của doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta cò thể hiện
ở sự gơng mẫu thực hiện pháp luật Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế đó để đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh phát triển bình thờng Nhà nớc phải ban hành hệ thống pháp luật cần thiết, trong đó có pháp luật kinh tế, các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thực hiện các hoạt động kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật Nhà nớc đóng vai trò trọng tài, tạo ra sân chơi bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh đối với các hoạt động kinh doanh Kinh doanh theo đúng pháp luật của các DNNN sẽ là tấm gơng để cho các doanh nghiệp khác noi theo
+Vai trò của DNNN ở nớc ta hiện nay còn có thể đợc xem xét ở góc độ
đóng vào ngân sách nhà nớc Trong suốt quá trình phát triển nền kinh tế nớc ta
từ trớc đến nay DNNN đã, đang và sẽ là lực lợng tạo ra nguồn thu lớn nhất cho ngân sách nhà nớc
_Kinh tế nhà nớc tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác: Thể hiện chủ yếu qua các hớng sau:
+Tạo đà cho mọi doanh nghiệp góp phần vào quá trình tăng trởng kinh
tế Khi đó DNNN phải giữ vị trí then chốt trong một số ngành cũng nh một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân
+DNNN đóng vai trò thúc đẩy, chuyển giao và phát triển công nghệ kỹ thuật hiện đại Các ngành thuộc lĩnh vực này có liên quan với các ngành đóng vai trò tạo đà, thúc đẩy tăng trởng kinh tế
+Vai trò giảm thiểu ô nhiễn môi trờng Môi trờng và bảo vệ môi trờng
đang là vấn đề thời sự nóng hổi không phải chỉ đối với nớc ta mà đối với toàn
Trang 5thế giới Trong thực tế việc giảm thiểu ô nhiễm môi trờng lại mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của các doanh nghiệp và cũng mâu thuẫn với số vốn kinh doanh ít ỏi của các doanh nghiệp dân doanh Với số vốn đầu t ít, công nghệ kỹ thuật lạc hậu đang là một trong những nguyên nhân làm cho nạn
ô nhiễm môi trờng ngày càng gia tăng DNNN cũng phải thể hiện vai trò chủ
đạo của mình trong việc giải quyết vấn đề này
+DNNN đi đầu trong việc thực hiện trách nhiện xã hội đối với cộng
đồng, đặc biệt đối với địa phơng nơi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, với các vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa DNNN phải có mặt và phát triển tại các lĩnh vực mà các doanh nghiệp khác không muốn làm hoặc không
có khả năng làm, để đảm bảo cung cấp các hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho nhu cầu của các tầng lớp dân c
_Tạo điều kiện phát triển các mối quan hệ hợp tác và giúp đỡ các doanh nghiệp khác :
+Trong điều kiện kinh tế nớc ta còn đang thiếu vốn và kỹ thuật trầm trọng nh hiện nay việc hình thành các t bản nhà nớc đợc coi là một trong các
điều kiện quan trọng để tạo vốn và kỹ thuật ban đầu cần thiết cho sự phát triển kinh tế cũng nh phát huy nội lực lôi kéo ngoại lực
+DNNN còn đóng vai trò tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ của các thành phần kinh tế
_Tạo điều kiện cho việc xây dựng chế độ xã hội mới
Trớc hết vai trò xây dựng chế độ xã hội mới đợc thể hiện ở việc hạn chế các khuyết tật của cơ chế thị trờng Nớc ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc Nền kinh tế thị trờng chứa đựng những khuyết tật vốn có của nó DNNN phải đóng vai trò tạo điều kiện khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trờng
Thực trạng DNNN hiện nay; một số nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của DNNN:
Hiện nay nớc ta có khoảng 5740 DNNN (giảm khoảng 6560 doanh nghiệp
so với 12300 doanh nghiệp nhà nớc năm 1990).Trong những năm qua tốc độ tăng trởng kinh tế của nớc ta đã tăng nhanh, đặc biệt các doanh nghiệp nhà
n-ớc vẫn đóng vai trò chủ yếu trong nhiều ngành kinh tế, nhất là những ngành quan trọng đòi hỏi vốn đầu t lớn, kỹ thuật công nghệ cao và các ngành sản xuất cung ứng các hàng hoá và dịch vụ quan trọng Tổng giá trị sản phẩm của DNNN chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân Đồng thời DNNN vẫn là thành phần kinh tế đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà nớc Tuy nhiên bên cạnh một số DNNN làm ăn năng động, có hiệu quả, đạt năng suất lao động cao thì nhìn chung các DNNN vẫn rất khó khăn, hiệu quả kinh doanh còn thấp, nhiều doanh nghiệp vẫn làm ăn thua lỗ triền miên, hoạt
động cầm chừng Sự đóng góp của DNNN cho ngân sách cha tơng xứng với phần đầu t của nhà nớc, với tiềm lực của doanh nghiệp; tình trạng mất và thất thoát về vốn đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, việc quản lý đối với doanh nghiệp còn yếu kém và bị buông lỏng Những yếu kém cùng với một số yếu
tố khách quan đã dẫn tới tình trạng hiện nay có nhiều DNNN làm ăn thua lỗ, trong đó có một số DNNN thua lỗ triền miên hoặc không có khả năng thanh
Trang 6toán nợ dẫn đến phải cho giải thể hoặc phá sản DNNN đó Trong tổng số các DNNN hiện nay chỉ có khoảng 40% hoạt động có hiệu quả, 44% hiệu quả thấp, kinh doanh không ổn định, cha có hiệu quả và có khó khăn về tài chính, 16% không hiệu quả, thuộc diện phải xử lý giải thể hoặc phá sản
Một số nguyên nhân cơ bản:
+Các DNNN thờng đợc thành lập từ thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, có quy mô nhỏ bé, cơ cấu phân tán, trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu đã không còn phù hợp và không đủ sức cạnh tranh trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
+Hệ thống pháp luật, chính sách về kinh tế cha đợc hoàn chỉnh và việc suqả đổi cũng cha đợc tiến hành một cách nhanh chóng Hệ thống văn bản
điều chỉnh chủ yếu là những văn bản dới luật, có nhiều quy định mâu thuẫn nhau
+Cha phân định rõ ràng chức năng quản lý nhà nớc với hoạt động quản lý của DNNN ; cha xác định rõ đại diện chủ sỡ hữu nhà nớc đối với DNNN +Việc quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra, giám sát cha chuyển biến kịp trong môi trờng kinh doanh mới, cha đạt đợc hiệu quả cần thiết
+Những ngời quản lý đối với DNNN thờng là thiếu kiến thức và không
đ-ợc đào tạo một cách hệ thống, vì vậy việc điều hành DNNN đã không đạt đ đ-ợc hiệu quả tốt Tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nớcc hiện nay còn qua cồng kềnh và kếm hiệu quả
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN:
+Tăng cờng củng cố, sắp xếp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN
+Ban hành đồng bộ và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, trớc hết phải sớm hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế
+Đổi mới cơ chế quản lý DNNN theo hớng giao quyền tự chủ kinh doanh cho doanh nghiệp; xoá bỏ dần chế độ Bộ chủ quản đối với DNNN
+Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá đối với các DNNN có đủ điều kiện cổ phần hoá, chuyển thành các công ty cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp
+Chú trọng công tác quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán đối với DNNN
II: cổ phần hóa dnnn: kết quả bớc đầu-những vấn đề còn tồn tại
và giải pháp khắc phục:
1-Khái niệm:
Cổ phần hoá là việc chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần, hay nói cách khác cổ phần hoá là việc chuyển đổi doanh nghiệp dới hình thức sở hữu nhà
n-ớc sang doanh nghiệp dới hình thức sở hữu tập thể
2-Mục tiêu của cổ phần hoá:
Sau 4 năm kể từ khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng, năm 1990 chúng ta quyết định thực hiện công việc sắp xếp lại DNNN nhằm mục đích tổ
Trang 7chức nâng cao hiệu quả cạnh tranh cho toàn bộ hệ thống DNNN tăng cờng sức mạnh cho nền kinh tế Qúa trình sắp xếp lại DNNN bao gồm các hình thức : giao, bán, khoán, cho thuê, và cổ phần hoá; trong đó cổ phần hoá là một hình thức quan trọng nhất Nói cổ phần hóa là quan trọng nhất trong các hình thức tiến hành sắp xếp lại DNNN bởi cổ phần hoá đợc tiến hành với các mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có
đông đảo ngời lao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nớc và của doanh nhgiệp
Thứ hai, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh
tế tổ chức xã hội trong nớc và ngời nớc để đầu t đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
Thứ ba, phát huy vai trò làm chủ của ngời lao động, của các cổ đông; tăng cờng sự giám sát của nhà đầu t đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hoà lợi ích của nhà nớc, của doanh nghiệp, của nhà đầu t và của ngời lao động
3-Thực trạng của quá trình cổ phần hoá:
Nhận xét chung về quá trình CPH DNNN
Qúa trình CPH của nớc ta đã đợc tiến hành từ năm 1990, nh vậy có nghĩa
là đã hơn 10 năm trôi qua từ khi quyết định CPH của Chính Phủ đợc ban hành nhng thực sự thì quá trình cổ phần hoá chỉ đợc diễn ra sôi động trong khoảng bốn năm năm gần đây Khi xem xét quá trình cổ phần hoá của Việt Nam chúng ta có thể chia ra làm các giai đoạn chính sau: giai đoạn từ năm 1990
đến tháng 6/1998; giai đoạn từ tháng 6/1998 đến tháng 6/2002; giai đoạn từ tháng 6/2002 đến nay
Giai đoạn từ năm 1990 đến tháng 6/1998 là giai đoạn đầu thực hiện cổ phần hoá, do đó quá trình cổ phần hoá diễn ra dè dặt và chậm chạp, số lợng các DNNN đợc cổ phần hoá còn rất ít
Giai đoạn từ tháng 6/1998 đến nay là giai đoạn trọng điểm của quá trình cổ phần hoá; giai đoạn này chịu sự điều chỉnh của nghị định 44/1998/NĐ-CP, nghị định 44 ra đời đã khắc phục đợc những bế tắc của giai đoạn trớc, tạo ra một môi trờng pháp lý thuận lợi cho tiến trình cổ phần hoá và thực tế đã chứng minh đợc tính phù hợp của nghị định mới này Số lợng DNNN đợc cổ phần hoá thực sự đã tăng vọt trong 4 năm của giai đoạn này Tuy số lợng DNNN
đ-ợc cổ phần hoá rất cao nhng trong hai năm 2001, 2002 số lợng DNNN đđ-ợc cổ phần hoá lại có su thế giảm xuống so với hai năm đầu do nghị định 44 đã có bộc lộ một số vấn đề gây cản trở cho qua trình cổ phần hoá
Để thay thế cho nghị định 44 ngày 19/6/2002 chính phủ đã ban hành nghị
định 64/2002/NĐ-CP, với sự ra đời của nghị định 64 Do mới ra đời nên nghị
định 64 có rất nhiều tiến bộ, nhng thời gian thực hiện còn quá ngắn ngủi nên không những yếu kém của nghị định còn cha bộc lộ, mà ngay cả những điểm tiến bộ cũng cha thực sự phát huy tác dụng
Kết quả đạt đợc sau hơn 10 năm cổ phần hoá và những vấn đề tồn tại:
Trang 8Nh chúng ta đã biết, giai đoạn đầu của quá trình cổ phần hoá diễn ra khá chậm chạp, trong vòng gần 8 năm thực hiện cổ phần hoá chỉ có 32 DNNN đợc
cổ phần hoá, với số liệu cụ thể nh sau: năm1990-1992 không có doanh nghiệp
đợc cổ phần hoá; năm 93:2; năm 94:1; năm 95:3; năm 96:5; năm 97:7; đến tháng 6/1998:14 Mặc dù năm 90 chính thức thực hiện cổ phần hoá DNNN nhng phải 3 năm sau mới có DNNN đợc cổ phần hoá, hay nói cách khác là chỉ
đến khi quyết định 202/1996 quy định về việc cổ phần hoá ra đời mới có DNNN đợc cổ phần hoá Và đến năm 1996 nghị định 28/NĐ-CP với những
điều khoản chi tiết hơnvề cổ phần hoá đã góp phần thúc đẩy tốc độ cổ phần hóa
Nhìn chung, chính phủ đã có rất nhiều cố gắng trong việc cổ phần hoá
nh-ng nhữnh-ng quyết định đa ra còn nhiều bất cập, cha phù hợp với thực tế Các doanh nghiệp đợc quyết định cổ phần hoá đa phần là làm ăn thua lỗ, ngành nghề đợc tiến hành cổ phần hoá kém đa dạng, thủ tục hành chính nhiều phức tạp Tuy đã có 32 doanh nghiệp đợc cổ phần hoá, cho thấy không những số l-ợng doanh nghiệp đợc cổ phần hoá còn thấp mà mục tiêu đặt ra của cổ phần hoá cũng không đạt đợc nh mong muốn: Tổng số vốn huy động thêm trong xã hội là rất thấp, tỷ trọng vốn của nhà nớc trong doanh nghiệp đã cổ phần hoá còn khá cao, qua trình tiến hành cổ phần hoá còn bbị gợng ép, không tự nguyện
Nguyên nhân chính dẫn đến những vấn đề còn tồn tại trong giai đoạn này
là nền kinh tế nớc ta vừa bớc sang qúa trình đổi mới, cha đạt đợc nhiều thành quả, trong khi đó hình thức công ty cổ phần còn rất nhiều mới mẻ đối với mọi ngời Về mặt luật pháp thì do còn nhiều bao cấp nên cha có đợc một môi trờng bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, các DNNN luôn nhận đợc nhiều u
ái hơn về mọi mặt cho nên việc cổ phần hoá không thực sự tự nguyện là hoàn toàn tự nhiên Thứ hai là các DNNN hoạt động rất kém hiệu quả, các khoản nợ nần tồn đọng nhiều không giải quyết nổi, chính phủ không thể xoá bỏ hẳn các khoản nợ hộ doanh nghiệp vì nh vậy gánh nặng đè lên ngân sách là rất lớn Thứ ba là vấn đề xác định gia tri doanh nghiệp để tiến hành xác định số cổ phần sẽ đợc phát hành, đây có thể coi là vấn đề quan trọng nhất trong việc thực hiện cổ phần hoá thì lại gặp rất nhiều khó khăn trong khâu thực hiện, trình độ đánh giá lại tài sản doanh nghọêp còn thấp thêm vào đó phơng thức tiến hành lại cứng nhắc, giá trị tài sản đa phần đợc đánh giá theo yếu tố chủ quan làm cho giá trị đợc đánh giá cao hơn nhiều so với giá trị thực của doanh nghiệp
Những vấn đề tồn tại của giai đoạn 1 đã cơ bản đợc giải quyết trong giai
đoạn 2, cụ thể hơn là trong nghị định 44 ngày 19/6/1998 Sự ra đời của nghị
định 44 đã đa quá trình cổ phần hoá sang một giai đoạn mới, với nhiều kết quả khả quan: số doanh nghiệp đợc cổ phần hoá cuối năm 1998 là 86; năm 1999 là 250; năm 2000 là 212; năm 2001 là 147; đến tháng 7/2002 là 53 Nhìn vào những kết quả đạt đợc ta thấy tốc độ cổ phần hoá của giai đoạn này đã tăng một cách bất ngờ về số lợng Không những vậy, chất lợng đạt đợc cũng rất kgả quan: hơn 3000 tỷ đồng đã đợc huy động để đầu t vào các công ty đợc cổ phần hoá; các công ty đợc cổ phần hoá hoạt động mang lại hiệu quả khá cao, các chỉ số về hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả xã hội đều tăng, theo số liệu năm 1999
ta thấy vốn bình quân tăng 183%, doanh thu tăng 135%, lợi nhuận sau thuế tăng 131% các khoản nộp ngân sách tăng153,5%, thu nhập bình quân tăng 29%, lao động tăng 9% Thêm vào đó, trong số 780 doanh nghiệp đợc cổ phần hoá đã có 17 công ty tham gia vào thị trờng chứng khoán
Trang 9Tuy kết quả đạt đợc là khá cao nhng đánh giá chung toàn bộ giai đoạn 2 vẫn là tiến trình cổ phần hoá còn diễn ra khá chậm chỉ đạt đợc một tỷ lệ thấp
so với mục tiêu đề ra, năm 1998 đạt 55% kế hoạch, năm 1999 là 63%, năm
2000 là 36% Trong khi đó chơng trình sắp xếp lại DNNN đã đề ra mục tiêu là hết năm 2003 thu về còn 5000 DNNN đầu mối và hết năm 2005 thu về còn
2000 DNNN đầu mối Thêm vào đó theo số liệu thống kê ngày 1/1/2000 cả
n-ớc có 5991 DNNN, nếu cứ coi nh không có DNNN nào đợc thành lập thêm trong thời gian qua thì ớc tính đến thời điểm hiện tai chúng ta có khoảng 5500 DNNN Nh vậy để hoàn thành mục tiêu đề ra thì từ giờ đến cuối năm nay chúng ta phải chuyển đổi hình thức sở hữu của 500 doanh nghiệp, trong 2 năm tới con số đó là 3000 doanh nghiệp, dĩ nhiên gánh nặng đó đè lên cồn cuộc cổ phần hoá
Bên cạnh đó tốc độ cổ phần hoá đã giảm theo thời gian tính từ năm 1999
đến nay, và có thể khẳng định là trong cả năm 2002 số DNNN đợc cổ phần hoá cũng không thể đạt đợc bằng con số của năm 1999 Và số lợng DNNN có
số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng đã đợc cổ phần hoá còn quá ít, làm cho tổng nguồn vốn của các công ty cổ phần mới cổ phần hoá còn rất thấp Vậy đâu là nguyên nhân của những tồn tại này?
Trớc tiên về khách quan thì môi trờng kinh tế còn nhiều khố khăn, khả năng thanh toán trong dân c thấp, giá cả giảm xuống thị trờng thu hẹp dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp, cổ phiếu kém hấp dẫn Bên cạnh đó sự hiểu biết về
cổ phần hoá còn hạn chế, ngoài ra các DNNN đợc cổ phần hoá đều có công nghệ lạc hậu, sản phẩm không có tính cạnh tranh
Về nguyên nhân chủ quan có một số nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, đối tợng đợc chọn để cổ phần hóa cha hợp lý, nhiều doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán, thuộc diện phải giải thể, phá sản, không
đủ điều kiện chuyển đổi, bên cạnh đó nhiều donh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa cũng đợc đa vào kế hoạch cổ phần hoá
Thứ hai là quan điểm nhận thức về cổ phần hoá cha đúng đắn Trong nhận thức về hành động, các cán bộ quản lý doanh nghiệp khi bị đa vào kế hoạch cổ phần hoá đều lo sợ sẽ bị mất chức, mất quyền, cho nên không ai muốn cổ phần hoá Không những vậy nhiều cán bộ cấp cao vẫn coi trọng số lợng DNNN hơn là chất lợng, họ cho rằng cần phải thành lập nhiều DNNN trong nhiều lĩnh vực để làm đối trọng với doanh nghiệp t nhân càng tốt
Thứ ba là mặc dù từ sau khi ra đời nghị định 44 đã mang lại bộ mặt mới cho quá trình cổ phần hoá, nhng nó vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế, thể hiện ở một số điểm sau:
_Hạn chế trong quy định khống chế mức mua CP tối đa của mỗi cá nhân,
tổ chức: pháp nhân chỉ đợc mua 10-20% giá trị doanh nghịêp; cá nhân chỉ đợc mua 5-10% Quy định này đã làm hạn chế khả năng thu hút vốn của doanh nghiệp để đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá, phát triển sản xuất, hạn chế sự tham gia của các nhà đầu t chiến lợc, do đó cũng hạn chế luôn khả năng thay
đổi công nghệ, phơng thức quản lý
_Hạn chế trong quy định về xác định lại giá trị tài sản của doanh nghiệp,
ví dụ nh trong quy định về quyền sở hữu đất, hay trong phơng thức xác định giá trị tài sản vẫn chủ yếu dựa trên sự đánh giá của các đoàn thẩm định do cơ quan có chức năng lập ra mà thực sự cha chý ý đến giá cả thị trờng
Trang 10_Hạn chế về u đãi đối với doanh nghiệp cổ phần hoá và ngời lao động trong công ty cổ phần Mặc dù nghị định 44 đã quy định về u đãi đối với doanh nghiệp cổ phần hoá, về thuế, tín dụng, về quyền thuế đất nhng thực tế là vẫn tồn tại sự phân biệt về đối xử ở nhiều nơi, chính sách đối với doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đã không đợc tôn trọng tạo tâm lý lo ngại sẽ không đợc đối xử nh DNNN của các doanh nghiệp sẽ bị cổ phần hoá
Đối với ngời lao động số lợng cổ phiếu u đãi bị hạn chế, trong khi đó số l-ợng ngời lao động không đợc tính toán đến, tạo ra thực tế nhiều lao động có muốn cũng chỉ đợc một số lợng cổ phiếu nhỏ bé Bên cạnh đó, ngời lao động
bị mất việc nhà nớc chỉ lo chế độ cho một năm đầu còn tiếp theo là do công ty phải lo, dẫn đến việc ngời lao động không đợc lo đủ chế độ sau một năm bị mất việc Và trên thực tế thủ tục này còn có nhiều phiền hà
_Hạn chế trong việc giải quyết công nợ của doanh nghiệp cổ phần hoá Vấn đề nợ của các DNNN là vấn đề khá nan giải,trong khi đó để có thể thực hiện cổ phần hoá thì nợ phải đợc giải quyết ngay từ bớc đầu Nhgị định 44 đã quy định khá rõ về nghĩa vụ giải quyết nợ của các bên có liên quan, tuy nhiên việc giải quyết đó vẫn cha thực sự gắn liền với các thực tế của các DNNN ở Việt Nam
Ngoài những nguyên nhân chính trên còn một số nguyên nhân khác dẫn
đến những tồn tại của quá trình cổ phần hoá DNNN trong giai đoạn này là: càng về sau số lợng DNNN đợc cổ phần hoá có vốn lớn càng tăng, tình hình khó khăn cũng tăng lên; trong khi đó những khó khăn khiến các DNNN đã nằm trong kế hoạch cổ phần hoá cha tiến hành đợc đã không đợc giải quyết thì cho đến nay vẫn là những khó khăn cho cổ phần hoá của chính doanh nghiệp đó; tiếp theo là thi trờng chứng khoán ở Việt Nam còn cha phát triển, với những quy định niên yết ngặt nghèo về vốn, nên khi các DNNN đã cổ phần hóa không có hy vọng huy động thêm vốn thông qua phát hành CP