Trong giới hạn khả năng nghiên cứu của mình, tác giả đã tiếp cận tư liệu trên những nhóm chủ đề như sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu chung về nguồn nhân lực trong quá trình công
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THÀNH DANH
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THÀNH DANH
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA Ở TỈNH BÌNH PHƯƠC
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ HỒNG ĐIỆP
XÁC NHẬN CỦA XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHẤM LUẬN VĂN
TS LÊ THỊ HỒNG ĐIỆP PGS.TS PHẠM VĂN DŨNG
Hà Nội – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
BÙI THỊ MỸ HẠNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sỹ Lê Thị Hồng Điệp
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế chính trị, Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tham gia đóng góp ý kiến và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu, giúp tôi có cơ sở kiến thức và phương pháp nghiên cứu để hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cơ quan như : Tỉnh ủy, Ủy ban nhân tỉnh Bình Dương, Cục thống kê tỉnh Bình Dương, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương và các cơ quan hữu quan khác đã hỗ trợ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi có cơ
sở số liệu để nghiên cứu hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BLĐTBXH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
3 CMKT Chuyên môn kỹ thuật
4 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5 CNKT Công nhân kỹ thuật
8 GDP Giá trị tổng sản phẩm quốc nội
9 KH&CN Khoa học công nghệ
10 LĐ, TB và XH Lao động, Thương binh và Xã hội
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Dân số trung bình phân theo giới tính và theo thành thị và nông thôn 43
Bảng 3.2 Chỉ số phát triển dân số tỉnh Bình Phước 43
Bảng 3.3 Biến động dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh 45
Bảng 3.4 Cơ cấu lao động đang làm việc chia theo ngành kinh tế 46
Bảng 3.5 Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi biết chữ ở tỉnh Bình Phước 50
Bảng 3.6 Số lượng NNL từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ học vấn 50
Bảng 3.7 Số lượng NNL lực từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ CMKT 54
Bảng 3.8 Nguồn nhân lực từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật chia theo bậc học 56
Bảng 3.9 Cơ cấu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang làm việc chia theo lĩnh vực đào tạo 57
Bảng 3.10 NNL có trình độ chuyên môn kỹ thuật (có bằng hoặc chứng chỉ) đang làm việc chia theo lĩnh vực đào tạo và bậc đào tạo năm 2013 58
Bảng 3.11 Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và nhóm tuổi năm 2013 59
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Những đóng góp của luận văn 4
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.2 Những vấn đề lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 12
1.2.1 Những khái niệm cơ bản 12
1.2.2 Vai trò của chất lượng nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 17
1.2.3 Những nội dung của chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 19
1.2.4 Các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 24
1.2.5 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với chất lượng nguồn nhân lực 29
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31
2.1 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng 31
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 33
2.3 Các công cụ được sử dụng 34
Trang 8CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH
BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 35
3.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Bình Phước 35
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 36
3.1.3 Khái quát quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bình Phước 36
3.1.4 Vai trò của Đảng bộ, chính quyền địa phương tỉnh Bình Phước về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 40
3.2 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Bình Phước giai đoạn 2005 – 2013 4242
3.2.1 Khái quát về số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước 42
3.2.2 Tình hình chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Bình Phước 47
3.2.3 Tình hình chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Bình Phước 61
3.3 Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Bình Phước 61
3.3.1 Những ưu điểm nổi bật về chất lượng của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước 61
3.3.2 Những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước 63
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 66
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI 71
4.1 Những quan điểm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 71
Trang 94.1.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố đóng vai trò quyết định
thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 71
4.1.2 Đẩy nhanh quá trình cải cách giáo dục và đào tạo một cách đúng đắn là điều
kiện quyết định việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 71
4.1.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải gắn với sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học – công nghệ và an
ninh quốc phòng 73
4.1.4 Đổi mới cơ chế quản lý về sử dụng và bồi dưỡng nguồn lao động là nhân tố
đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 73
4.1.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải gắn liền với phát huy bản sắc văn
hóa, truyền thống dân tộc, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực 74
4.1.6 Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào ý thức phấn đấu, ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong cộng đồng, do đó phải tạo điều kiện để từng con người, mọi thành phần kinh tế và toàn xã hội tham gia sự nghiệp nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực 75 4.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước trong thời gian tới 75
4.2.1 Ổn định quy mô dân số và chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho người
dân 75 4.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo 77
4.2.3 Giải pháp đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng và trình độ chuyên môn kỹ thuật
cho người lao động 80
4.2.4 Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực 86
4.2.5 Giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao, nhất là nguồn nhân lực khoa học công nghệ 89
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với sự tồn tại và phát triển của một quốc gia, một địa phương hay một tổ chức, … nguồn nhân lực là yếu tố đóng vai trò quyết định quan trọng nhất Đặc biệt, gắn với xu thế phát triển của kinh tế tri thức – xu thế tri thức thay thế vốn và tài nguyên hữu hình quyết định sự thịnh vượng và sức mạnh của mỗi quốc gia thì vai trò của nguồn nhân lực có chất lượng hay nói cách khác là chất lượng nguồn nhân lực sẽ ngày càng lớn và quyết định hơn nhiều
so với nguồn vốn tài chính và các tài sản hữu hình như đất đai, nhà xưởng
…đối với mọi quá trình phát triển
Đối với những nước nghèo về vốn, nghèo về lượng tài sản hữu hình như Việt Nam, nếu biết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì vẫn có cơ hội theo kịp xu hướng phát triển của thời đại, tránh được tụt hậu và đứng ngoài lề của cuộc đua ở trình độ của kinh tế tri thức
Trong gần 30 năm đổi mới vừa qua (1986 – 2015), Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh quan điểm: Phải đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Quan điểm đó đã được thể hiện một cách nhất quán trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước từ Đại hội
VI đến Đại hội XI của Đảng Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện quan điểm đúng đắn này đã mang lại những kết quả không thể phủ nhận
Kết quả sau những năm đổi mới, nguồn nhân lực ở nước ta đã có những bước phát triển rõ rệt Tuy nhiên, một trong những vấn đề lớn nhất đối với công cuộc phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) đã nêu rõ:
“Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là
Trang 11những điểm nghẽn cản trở sự phát triển Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ” [13, tr 93-94]
Bình Phước là một tỉnh biên giới, miền núi, thuộc miền Đông Nam bộ,
có 260,4 km đường biên giới tiếp giáp với vương quốc Campuchia Theo quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế thì tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm ở vị trí là cửa ngõ, cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Đông Nam bộ với Tây Nguyên và Vương quốc Campuchia Thế mạnh kinh tế nổi bật của tỉnh Bình Phước là các ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nông – lâm nghiệp, thương mại và dịch vụ
Với những thuận lợi trên, tỉnh Bình Phước có vai trò quan trọng trong việc góp phần thực hiện phát triển kinh tế - xã hội để sớm hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của vùng miền Đông Nam bộ nói riêng, của cả nước nói chung; và cũng như bất cứ địa phương nào, tỉnh Bình Phước cần phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu đó Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước chất lượng còn rất thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội trong giai đoạn mới, chưa là động lực để đưa tỉnh Bình Phước phát triển xứng đáng với tiềm năng và thế mạnh của mình
Theo số liệu của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Bình Phước, thì lực lượng lao động của tỉnh năm 2013 là 562.200 người, trong đó có 193.128 lao động đã qua đào tạo, chiếm 34,7% (cả nước khoảng 50%), 369.072 lao động chưa qua đào tạo, chiếm 65,3% Trong 562.200 lao động thì những người có nhóm tuổi từ 15 – 49 chiếm trên 79% [33, tr 33-34] Từ kết quả này cho thấy nguồn nhân lực của tỉnh Bình Phước trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp Đây là một trở ngại lớn cho việc chuyển đổi cơ cấu lao động và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhanh, cũng như sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
Trang 12hiện đại hóa trong thời gian tới Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước là hết sức cần thiết Xuất phát từ
những lý do này, tác giả chọn đề tài “Chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước” để thực hiện luận
văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Câu hỏi nghiên cứu: Chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước hiện nay đang như thế nào? Cần phải làm gì để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về chất lượng nguồn nhân lực và phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Bình Phước, luận văn nhằm hướng tới việc đưa ra những quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh trong tới gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Bình Phước
- Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp góp phần thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Bình Phước trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Bình Phước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn 2005 – 2013
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Phạm vi về nội dung: Chất lượng NNL bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực (phẩm chất đạo đức, kỷ luật công việc), tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài, tác giả tập trung phân tích sâu hơn về khía cạnh trí lực của NNL
5 Những đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH
- Góp phần phân tích và đánh giá được thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Bình Phước trong quá trình CNH, HĐH trên một số bình diện quan trọng, trong giai đoạn 2005 – 2013
- Đề xuất được những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Bình Phước
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 04 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước giai đoạn 2005-2013
Trang 14Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước trong thời gian tới
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ nhiều năm nay vấn đề nguồn nhân lực nói chung và chất lượng nguồn nhân lực nói riêng đã được các học giả và những nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu rộng rãi ở nhiều góc độ khác nhau Trong giới hạn khả năng nghiên cứu của mình, tác giả đã tiếp cận tư liệu trên những nhóm chủ đề như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu chung về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về chủ đề này bao gồm: Sách “Đào
tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tác giả
Phan Văn Kha; Sách “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào
tạo, kinh nghiệm Đông Á” của tác giả Lê Thị Ái Lâm; Sách “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Ngọc Lan; Sách
“Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Minh Hạc (chủ biên); Sách “Nghiên cứu con người và
nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Minh
Hạc; Luận văn “Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
Đăk Nông” của tác giả Đinh Khắc Đính…
Ở các công trình nêu trên, với những mức độ nông sâu, rộng hẹp khác nhau, các tác giả đã phân tích và làm rõ được những vấn đề cơ bản sau:
- Đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận chung về nguồn lực con người và nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công trình “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện
Trang 16đại hóa”, tác giả Phạm Minh Hạc đã trình bày khái quát quá trình lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học và xã hội nghiên cứu về con người; nêu rõ khái niệm về nguồn lao động, nguồn nhân lực, đội ngũ lao động; phân tích sâu về quản lý phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; theo tác giả nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất Vì vậy cần phải tập trung chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo, phát huy sức mạnh của con người Việt Nam thành lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất có đủ bản lĩnh và kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Cùng vấn đề này, trong công trình “về phát triển toàn diện con người
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra một
số khái miện về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực; phân tích làm
rõ yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với phát triển nguồn nhân lực Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên một số định hướng chiến lược và một số giải pháp lớn nhằm phát triển con người Việt Nam về mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất…
- Các công trình cũng đã tổng kết kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia Tác giả Lê Thị Ái Lâm đã tổng kết kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở một số nước Đông Á, từ
đó đúc rút kinh nghiệm và gợi ý một số vấn đề đối với Việt Nam Những bài học kinh nghiệm quan trọng được tác giả này đúc kết bao gồm: tăng đầu tư hơn nữa cho giáo dục để sự nghiệp phát triển giáo dục – đào tạo được hưởng đúng vị thế là một trong những quốc sách hàng đầu; mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục – đào tạo nghề, đặc biệt các hình thức giáo dục nghề nghiệp dài hạn, nhằm giải quyết sự chênh lệch giữa các loại kỹ năng trong vấn đề cung cấp lao động; tiếp tục củng cố và mở rộng giáo dục nhằm đáp ứng
Trang 17những nhiệm vụ tiếp theo của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tạo khả năng tích ứng lớn hơn cho đội ngũ nhân lực với bối cảnh của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa (trong đó cần phải kiến tạo xã hội học tập suốt đời và thực hiện cải cách các quá trình dạy và học cũng như chương trình đào tạo theo hướng khuyến kích sự sáng tạo và nâng cao năng lực thực tiễn cho người học); củng cố chất lượng đào tạo, đặc biệt đối với giáo dục đại học; cải cách
hệ thống đãi ngộ và sử dụng lao động bằng cách hướng tới một hệ thống tiền lương khuyến kích tự đào tạo và nâng cao trình độ nhân lực
Thứ hai, các công trình nghiên cứu sâu về chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tiêu biểu là, sách “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của tác giả Vũ Bá
Thể; sách “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Phúc, Mai Thị Thu (đồng chủ biên); Luận án “Nguồn lực con
người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” tác giả
Đoàn Văn Khái; Luận án “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh
tế tri thức” tác giả Lê Thị Ngân; Luận văn “Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hà Nội” tác giả Phạm Thị Thơm; Luận văn
“Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Thái Nguyên trong giai
đoạn hiện nay” của tác giả Dương Thị Hà, … Những công trình này, nghiên
cứu nhấn mạnh đến các vấn đề sau:
- Đã hệ thống những vấn đề chung về lý luận nguồn nhân lực, nêu rõ khái niệm nguồn nhân lực, phân loại nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt phân tích sâu về chất lượng nguồn nhân lực Công trình của tác giả Vũ Bá Thể đưa ra những định lượng về chất lượng nguồn nhân lực, thể hiện qua một số các chỉ tiêu: Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của người lao động; Chỉ tiêu biểu hiện
Trang 18trình độ học vấn của người lao động; Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn
kỹ thuật của người lao động; ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hóa được như trên, tác giả còn xem xét chất lượng nguồn lao động qua chỉ tiêu năng lực phẩm chất của người lao động (chỉ tiêu này được xem xét thông qua các mặt: truyền thống dân tộc, truyền thống về văn hóa văn minh dân tộc, phong tục tập quán, lối sống …)
Công trình của tác giả Đoàn Văn Khái đã luận giải khá sâu sắc về đặc trưng, sức mạnh của nguồn lực con người và vai trò của nó trong quan hệ với các nguồn lực khác; khẳng định vai trò trí tuệ, phẩm chất đạo đức – tinh thần trong chất lượng nguồn lực con người; nêu rõ chất lượng nguồn lực con người bao gồm nhiều yếu tố như sức khỏe, mức sống, trình độ giáo dục đào tạo, về văn hóa và chuyên môn, nghề nghiệp, trình độ học vấn, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng, kỹ năng lao động, văn hóa lao động, đạo đức … khái quát lại gồm: thể lực, trí lực và những phẩm chất đạo đức – tinh thần của con người
Về chất lượng nguồn nhân lực và vai trò của nó cũng được tác giả Lê Thị Ngân nghiên cứu và phân tích khá sâu sắc, theo tác giả chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội; thông qua chất lượng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội; còn chất lượng nguồn nhân lực bao gồm nhiều yếu tố thể hiện ở các tiêu chí sau: Trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách, truyền thống văn hóa, trong đó trí lực là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí đánh giá
về chất lượng nguồn nhân lực (Trí lực nguồn nhân lực được biểu hiện ở trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động xã hội)
Trang 19- Các công trình cũng đã phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua Những tồn tại, hạn chế rút ra từ phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn ít; lao động được đào tạo không cân đối giữa các trình độ, ngành nghề và các vùng miền; …; và nguyên nhân của
nó là do: nền giáo dục đào tạo còn yêu kém về công tác quản lý, về đội ngũ giảng viên, về nội dung và phương pháp giáo dục đào tạo, về cơ sở vật chất, trang thiết bị, về khả năng thích ứng và đổi mới; chính sách sử dụng lao động, đặc biệt là lao động chuyên môn kỹ thuật cao, nhân tài còn nhiều hạn chế
- Ngoài ra, các công trình cũng đã kiến nghị và đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, cũng như để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020 Công trình của tác giả
Vũ Bá Thế đưa ra một số giải pháp sau: Phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục cao đẳng, đại học và trên đại học; nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực hiện có; nâng cao trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực,…
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực
Tiêu biểu là, Luận án “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận
kinh tế tri thức” tác giả Lê Thị Ngân; Luận văn “Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đăk Nông” của tác giả Đinh Khắc Đính; Luận
văn “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở tỉnh Ninh Bình” của tác giả Nguyễn Thị Hiền,…
Những công trình này đã phân tích sâu và làm rõ các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực Chỉ ra nhiều yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực, nhưng tập trung chủ yếu vào một số yếu tố, có ý nghĩa quyết định, đó là: trình độ phát triển kinh tế - xã hội; trình độ phát triển giáo dục và
Trang 20đào tạo; tốc độ tăng dân số; truyền thống dân tộc và phát triển của nền văn hóa; trình độ phát triển y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; chính sách kinh tế xã hội của cơ quan nhà nước, …
Ngoài ra, các công trình trên cũng đã kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cụ thể: tăng cường cải cách giáo dục, đào tạo đối với giáo dục phổ thông (tăng cường cải cách giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng đào tạo trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, chất lượng cao đẳng, đại học và sau đại học); nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực hiện có (giảm tỷ lệ lao động không có việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã qua đào tạo,…)…
Như vậy, qua tham khảo tác giả nhận thấy, ở những công trình nghiên cứu trên đã hệ thống khái quát lý luận chung về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, các yếu tố cấu thành và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Đa
số công trình nghiên cứu có hướng tập trung xem xét vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô hoặc phát triển chất lượng nguồn nhân lực gắn với nền kinh tế tri thức
Ngoài ra, nội dung của các công trình trên cũng tập trung nghiên cứu, phân tích đánh giá và dự báo xu hướng phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và một số tỉnh thành trong nước Những vấn đề bất cập của nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực đã được gợi mở cho những công trình nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở Việt Nam nói chung, ở một số địa phương nói riêng Song riêng Bình Phước chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống từ đó chỉ
rõ những yêu cầu, những hạn chế đối với chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương
Trang 21Tóm lại, tất cả những công trình nói trên, ở những mức độ khác nhau,
đã giúp tác giả luận văn có một số tư liệu và kiến thức cần thiết để có thể hình thành những hiểu biết chung, soi rọi giúp tiếp cận, đi sâu nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực, cũng như vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
ở tỉnh Bình Phước trong bối cảnh hiện nay
1.2 Những vấn đề lý luận về chất lƣợng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hai khái niệm có tính lịch
sử, nó chỉ xuất hiện khi nền sản xuất phát triển Tuy nhiên hai khái niệm này không hình thành đồng thời Khái niệm công nghiệp hóa được xây dựng từ thế kỷ XVIII - đó là giai đoạn cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên được tiến hành ở Châu Âu
Quan niệm chung nhất về công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phát triển của khoa học và công nghệ, khái niệm công nghiệp hóa có sự bổ sung phù hợp với từng giai đoạn phát triển sản xuất
Như vậy, công nghiệp hóa là một quá trình phát triển tất yếu của lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội, nó tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn tác động tạo ra sự thay đổi toàn diện cả trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội
Lịch sử công nghiệp hóa diễn ra không đồng đều, các quốc gia công nghiệp trên thế giới có quá trình công nghiệp hóa diễn ra ở các thời điểm khác nhau với quy mô, tốc đô khác nhau, với điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau, từ hai vấn đề này, các quốc gia, các khu vực hình thành khoảng cách phát triển khác nhau, tạo ra sự lệ thuộc vào nhau trên nhiều phương diện
Trang 22Tuy xuất hiện sau và không đồng nhất về nội hàm, nhưng khái niệm hiện đại hóa luôn đồng hành, gắn bó với khái niệm công nghiệp hóa Hiện đại hóa được hiểu là quá trình thay đổi trạng thái kỹ thuật, công nghệ và trình độ sản xuất đạt trình độ của thời đại hiện tại Cùng với mặt kinh tế, thuật ngữ hiện đại hóa còn bao hàm cả khía cạnh xã hội, đó là quá trình xây dựng một
xã hội phát triển văn minh Như vậy, có thể hiểu hiện đại hóa chính là quá trình làm cho trạng thái kỹ thuật, công nghệ và trình độ sản xuất đạt trình độ của thời đại ngày nay, đồng thời là quá trình xây dựng xã hội phát triển văn minh – hiện đại
Hai mặt kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội của khái niệm hiện đại hóa luôn gắn bó, bổ sung cho nhau, không tách rời, mặt này làm tiền đề và là điều kiện để mặt kia phát triển
Lịch sử tiến hành công nghiệp hóa và nhận thức về công nghiệp hóa luôn có sự thay đổi và bổ sung phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội Như vậy, khái niệm công nghiệp hóa, không chỉ hiểu thuần túy về góc độ kinh tế - kỹ thuật mà còn bao hàm cả khía cạnh kinh tế - xã hội Đó là quá trình vừa xây dựng, phát triển các yếu tố kinh tế, đồng thời vừa xây dựng và phát triển các yếu tố văn hóa xã hội, trong đó, đặc biệt chú trọng yếu tố con người – nguồn lực con người, coi con người vừa là trung tâm, vừa là động lực của sự phát triển
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém Để phát triển và xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội ta cần phải xây dựng cho được cơ sở vật chất kỹ thuật cao đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững Mặt khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải dựa trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ Vì vậy bắt buộc ta phải tiến hành công nghiệp hóa Đảng ta coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất – nhiệm vụ
Trang 23trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đó cũng
là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải tiến một
xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất
ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa
Là một quốc gia phát triển sau những nước đã thực hiện công nghiệp hóa thành công, nước ta chắc chắn sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm
về công nghiệp hóa Vì vậy, công nghiệp hóa ở nước ta không thể tiến hành tuần tự mà phải kết hợp hài hòa giữa công nghiệp hóa với hiện đại hóa
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng ta quan niệm công nghiệp hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm trên chưa gắn với hiện đại hóa Mặt khác, ở gian đoạn đó ta quá nhấn mạnh ưu tiên phát triển ngành công nghiệp nặng Trong xu thế phát triển mới, Đảng ta đã nhận thức lại một cách đầy đủ, toàn diện và sát với tình hình thực tiễn
Từ những nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của công nghiệp hóa, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khóa VII) Đảng Cộng sản
Việt Nam đã xác định: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ
sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội” [9, tr 42]
Khái niệm công nghiệp hóa mà Đảng ta đã xác định bao hàm cả nội dung hiện đại hóa, đồng thời chỉ rõ khái niệm này không bó hẹp trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mà còn bao hàm cả trong lĩnh vực dịch vụ, quản lý kinh tế - xã hội
Trang 24Công nghiệp hóa ở nước ta không nên hiểu thuần túy về tốc độ, tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với việc sử dụng nguồn nhân lực con người với trình
độ và năng lực chuyên môn, kết hợp với công nghệ tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động cao, đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững
Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp
Với khái niệm trên và căn cứ ở Việt Nam thì lực lượng lao động Việt Nam bao gồm: những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp, nghĩa là không bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc Bộ Luật lao động nước ta quy định độ tuổi lao động là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, và từ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ
Như vậy, các quan niệm trên tuy có khác nhau về ngôn từ và cách thể hiện nhưng nhìn chung, đều đề cấp đến yếu tố thể chất và tinh thần của con
Trang 25người, phản ảnh thể lực, trí lực và tâm lực, ở con người, nhờ đó tạo ra được sức mạnh với tư cách là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Qua tiếp cận các khái niệm trên có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng hòa các yếu tố thể chất và tinh thần của con người, các hoạt động vật chất và tinh thần của con người đã, đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn nhân lực là sự thống nhất của ba yếu tố cơ bản: số lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực Trong đó chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, đóng vai trò quyết định nhất, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học – công nghệ đang phát triển mạnh mẽ thì vấn đề chất lượng nguồn nhân lực lại càng giữ vai trò quan trọng, quyết định trong quá trình CNH, HĐH
1.2.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của con người lao động và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nó bao gồm những yếu tố cơ bản như: thể lực, trí lực và tâm lực (phẩm chất đạo đức, kỷ luật công việc ) của NNL
+ Thể lực: là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh học, không có bệnh tật, có sức khỏe lao động trong hình thái lao động ngành nghề nào đó, có sức khỏe để học tập, làm việc lâu dài
+ Trí lực: trí lực là năng lực nhận thức, năng lực tư duy sáng tạo, là sản phẩm sáng tạo về tinh thần của con người Trí lực được biểu hiện trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của người lao động, là yếu tố đóng vai trò quan trọng và quyết định nhất trong chất lượng NNL
+ Phẩm chất đạo đức: là sự phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội Những giá trị từ chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo
Trang 26đức của xã hội vươn tới, nhất là trong hoạt động, trong lối sống, nếp sống hằng này Lối sống đạo đức con người là sự thể hiện tính cách, tâm lý sự giác ngộ, các giá trị văn hóa được kết tinh trong người lao động Đạo đức gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách chất lượng người lao động, từ phương diện cá nhân đến phương diện xã hội và biểu hiện ra ý thức lao động, thái độ lao động, kỷ luật lao động Theo Hồ Chí Minh, đức và tài luôn gắn bó với nhau, trong đó đức là “gốc” Do vậy, nâng cao chất lượng NNL con người là phải chú ý cả hai yếu tố đức và tài, trong đó đức là “gốc”
1.2.1.4 Chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Từ những phân tích nêu trên về CNH, HĐH và về chất lượng NNL, có thể định nghĩa: Chất lượng NNL trong quá trình CNH, HĐH là tổng hợp những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của con người lao động giúp họ sẵn sàng tham gia vào quá trình CNH, HĐH Cụ thể hơn, chất lượng NNL trong quá trình CNH, HĐH là tổng hợp những yếu tố cơ bản như: thể lực, trí tuệ, kỹ năng lao động, phẩm chất đạo đức, văn hóa, trình độ chuyên môn của người lao động Những yếu tố này được hình thành và phát triển ở người lao động phải đáp ứng được những yêu cầu của quá trình CNH, HĐH
1.2.2 Vai trò của chất lượng nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực là tiền đề quyết định cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động cao Trong quá trình CNH, HĐH đó,
có thể nói chất lượng NNL đóng vai trò có tính chất quyết định
Trang 27Thực tiễn các nước phát triển cho thấy, các nguồn lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội (nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ ) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển, nhưng trong đó, NNL được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ
nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người một cách có hiệu quả Con người với tư cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đến nay, các nhà kinh tế đã khẳng định đầu tư cho chất lượng NNL thông qua các hoạt động giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, các chương trình đảm bảo việc làm và an sinh xã hội… là sự đầu tư hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của một quốc gia Ngay
từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởng nền kinh tế thông qua quá trình CNH, hay nói cách khác, thông qua ứng dụng các tiến
bộ của khoa học và công nghệ (KH&CN) Mà việc phát triển của KH&CN luôn luôn gắn liền với phát triển NNL (với chất lượng đào tạo và sử dụng NNL hợp lý) Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh để đạt được
sự phát triển kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao đội ngũ lao động kỹ thuật, nghĩa là nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo Chất lượng NNL được nâng lên (học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và sức khỏe) là tiền đề thành công của các nước công nghiệp mới ở Châu Á như Hàn Quốc, Singgapore, Hồng Công Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc hấp thụ các tiến bộ về khoa học và công nghệ phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ lao động
Trang 28kỹ thuật, đội ngũ trí thức Do vậy, con đường duy nhất là phải đầu tư để nâng cao chất lượng NNL
1.2.2.2 Nguồn nhân lực có chất lượng cao là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện những bước nhảy vọt và rút ngắn thời gian thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức
Hiện nay, thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, đó là nền kinh tế mà ở đó tri thức chứa hàm lượng chủ yếu trong giá trị một sản phẩm Tri thức tức là các thành tựu khoa học, trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các sản phẩm vật chất khác, tạo ra giá trị mới ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP Trong nền kinh tế tri thức, khả năng sáng tạo là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của mỗi quốc gia, mỗi khu vực Để có được nền kinh tế tri thức cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở vững chắc để phát triển khoa học công nghệ, đồng thời phải đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo Hay nói cách khác, phải đầu tư cho phát triển NNL, nhất là cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng NNL Các nước muốn phát triển kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển con người mà cốt lõi là đầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt là đầu tư cho phát triển nhân tài Nhờ có sự đầu tư cho chất lượng NNL mà nhiều nước chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển Sự đóng góp của tri thức đã ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP của các nước này
1.2.3 Những nội dung của chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH đòi hỏi phải áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại… Điều đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có chất lượng, tức là nguồn nhân lực được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, có năng lực sáng tạo Vì vậy việc phát triển NNL cho CNH, HĐH phải đảm bảo các yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL, trong
Trang 29đó chất lượng NNL là yếu tố quyết định Mà khi nói đến chất lượng NNL là nói đến thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức và tinh thần làm việc của người lao động
1.2.3.1 Nội dung về thể lực của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thể lực của NNL, đó là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Sẽ không có một trí tuệ minh mẫn, dẻo dai trong một cơ thể ốm yếu, mà chỉ có thể có trong một cơ thể cường tráng, tràn trề sinh lực Thể lực của NNL được biểu hiện ở: chiều cao, trọng lượng, tuổi thọ…được hình thành, duy trì, phát triển bởi chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khoẻ, nòi giống…, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, phân phối thu nhập và chính sách xã hội ở mỗi quốc gia
Bên cạnh đó, thể lực còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tinh thần, sự rèn luyện của mỗi người và mọi người công dân Như vậy chất lượng NNL được duy trì, phát triển bằng vật chất, tinh thần, tư tưởng, thái độ của chính con người, trong đó nhu cầu vật chất phải được đảm bảo ở mức độ cần thiết để bù đắp sự hao phí năng lượng của cơ thể con người
Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ dẻo dai của sức mạnh cơ bắp trong công việc Thể lực còn là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực Trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng phát triển càng đòi hỏi cao ở thể lực, bởi nếu không có thể lực và tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu được sức ép căng thẳng của công việc, của nhịp độ cuộc sống trong thế giới hiện đại, cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới và vật hóa được các tri thức đó thành sản phẩm có ích Nâng cao sức khoẻ thể lực cho người lao động để tăng chất lượng NNL là yêu cầu rất quan trọng trong quá trình CNH, HĐH
Trang 301.2.3.2 Nội dung về trí lực của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Từ sự phân tích về chất lượng NNL, ta thấy trí lực của nguồn nhân lực là nội dung quan trọng nhất biểu hiện chất lượng NNL Trí lực NNL được biểu hiện
ở trình độ học vấn, trình độ CMKT, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động
- Trình độ học vấn: là nội dung đầu tiên biểu hiện trí lực của NNL, bởi
lẽ nó thể hiện sự hiểu biết của người lao động về những kiến thức tự nhiên, xã hội phổ thông Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục đào tạo chính quy, không chính quy, quá trình tự học suốt đời của người lao động Tuy nhiên, để hiểu rõ trình độ học vấn của NNL, tức là của lực lượng lao động xã hội ta phải đặt nó vào môi trường chung của xã hội, vào toàn bộ dân cư, nguồn bổ sung cho NNL những người lao động mới và tiếp thu những người lao động đã hết khả năng lao động để xem xét Nói đến trình độ học vấn của dân cư, tức là nói đến trình độ dân trí của quốc gia Thông qua trình
độ học vấn được thể hiện qua các chỉ số như: số lượng người biết chữ và mù chữ; tỷ lệ đi học chung theo các cấp học, tỷ lệ đi học đúng tuổi những tiêu chí này của dân cư mỗi nước phản ánh gần chính xác trình độ học vấn của NNL của nước đó
Trình độ dân trí của dân cư phản ánh trình độ học vấn của lực lượng lao động, là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh gia chất lượng NNL, bởi lẽ trình
độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất kinh doanh và sáng tạo ra những sản phẩm mới góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Thực tế cho thấy, ở phần lớn các quốc gia dân cư có trình độ học vấn cao, thì nền kinh tế xã hội phát triển nhanh Tuy nhiên, cũng
có những nước dân cư có trình độ học vấn cao, nhưng chưa tận dụng hết được tiềm năng này, nên tốc độ phát triển cũng như năng suất lao động của họ chưa
Trang 31cao, đó là cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng NNL- bộ phận hoạt động dân
cư của họ chưa được tốt
- Trình độ chuyên môn – kỹ thuật: Trình độ chuyên môn của người lao động là kiến thức, sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn nào
đó, như đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp Trình độ chuyên môn có được nhờ đào tạo ở các trường trung học chuyên ngành, cao đẳng, đại học và sau đại học Thông thường trình độ chuyên môn của lực lượng lao động ở một công ty, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia thể hiện qua những con số cụ thể, ví dụ như: tỷ lệ cán bộ trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học trong toàn bộ lực lượng lao động của các cơ sở đó
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ những người được đào tạo ở trường kỹ thuật, được trang bị kỹ năng thực hành về công việc nào đó và được thể hiện thông qua các chỉ tiêu so sánh như: số lao động được đào tạo và lao động phổ thông, số người có bằng kỹ thuật và không có bằng
kỹ thuật, trình độ tay nghề theo bậc thợ
Thông thường trình độ chuyên môn và trình độ kỹ thuật luôn kết hợp chặt chặt chẽ với nhau qua thông số so sánh về trình độ CMKT; Thứ nhất, là
tỷ lệ lao động được đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động quốc gia, các vùng lãnh thổ, các công ty Thứ hai, là trình độ CMKT được thể hiện thông qua tỷ lệ lao động được đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước, từng vùng, từng ngành Thứ
ba, là tỷ lệ các loại trình độ lao động đã qua đào tạo theo cơ cấu CNKT/THCN/cao đẳng, đại học của đội ngũ lao động, qua đó thấy được cơ cấu này có phù hợp với yêu cầu nhân lực của sản xuất xã hội hay không, trên
cơ sở đó có kế hoạch điều chỉnh nhu cầu đào tạo tổng thể của các nước
Trang 32Trình độ CMKT của NNL còn được thể hiện ở khía cạnh khai thác và
sử dụng lực lượng này qua tỷ lệ lao động được đào tạo có việc làm và bị thất nghiệp so với tổng số lao động được đào tạo Các thông số đó cho thấy hiệu quả của việc khai thác và sử dụng NNL đã qua đào tạo
Ngoài ra, trí lực của NNL còn biểu hiện ở kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người lao động, chúng phụ thuộc trước hết vào khả năng của mỗi người,
sự say mê nghề nghiệp, ý thức rèn luyện kỹ năng Thực tế cho thấy, không phải bỗng dưng mà người lao động có được kỹ năng, kỹ xảo, mà phải được đào tạo cơ bản, kỹ càng về lý thuyết cũng như thực hành và có thời gian để tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn Mặt này được thể hiện qua thông số năng lực hoạt động chuyên môn của người lao động
Mặt khác, trí lực còn được biểu hiện ở óc sáng tạo, tính linh hoạt, nhanh nhẹn, sắc bén trong phát hiện thông tin mới và khả năng tích ứng nhanh để học tập, áp dụng, làm chủ các phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại cũng như năng lực hoạch định và vận dụng đường lối chính sách, năng lực lựa chọn các giải pháp kinh tế và thực hiện phát triển kinh tế Chỉ tiêu này rất quan trọng trong quá trình CNH, HĐH rút ngắn Chính vì lẽ đó mà trí tuệ của NNL đã được khẳng định là “yếu tố quan trọng nhất”, do đó nói đến nâng cao chất lượng NNL, trước hết là nâng cao trình độ trí tuệ của NNL
1.2.3.3 Nội dung về tâm lực (phẩm chất đạo đức, kỷ luật công việc) của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chất lượng NNL còn được thể hiện qua những yếu tố vô hình không thể định lượng được bằng con số cụ thể như: phẩm chất đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc, nhưng lại là những yếu tố rất quan trọng quy định bản tính của NNL và đóng vai trò quyết định sự phát triển bền vững của quốc gia Người ta cho rằng, bước tiến thần kỳ của Nhật Bản trong phát triển kinh tế
Trang 33chính là việc biết kết hợp hài hòa kỹ thuật tiên tiến của Phương Tây với những nét truyền thống đạo đức, văn hóa của dân tộc
Trong điều kiện của sản xuất công nghiệp đòi hỏi người lao động phải
có hàng loạt sản phẩm cần thiết như: có ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác trong lao động, biết tiết kiệm, có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo quản thiết bị máy móc, phương tiện sản xuất, có tinh thần hợp tác, tác phong làm việc khẩn trương, chính xác, có lương tâm nghề nghiệp tất cả những phẩm chất đó nằm trong phạm trù đạo đức của con người
Trong giai đoạn gần đầy, khi đề cập đến nguồn nhân lực người ta thường nhấn mạnh đến các phẩm chất văn hóa, đạo đức và truyền thống kinh doanh như một nhân tố cấu thành khả năng đặc thù của NNL của một quốc gia Vì vậy, việc giáo dục truyền thống văn hóa trong sản xuất kinh doanh cũng được coi một trong là những nội dung cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH
1.2.4 Các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Các yếu tố tác động đến việc đáp ứng yêu cầu về chất lượng NNL cho CNH, HĐH của đất nước đồng thời cũng là các yếu tố tác động đến việc đáp ứng yêu cầu về chất lượng NNL cho CNH, HĐH ở Bình Phước, mặc dù tuỳ theo từng yếu tố mà còn có những biểu hiện riêng, cụ thể của nó đối với một tỉnh miền núi, thuộc vùng Đông Nam bộ, mới được thành lập, bao gồm những yếu tố chủ yếu sau đây:
1.2.4.1 Trình độ phát triển của nền kinh tế
Sự phát triển kinh tế và chất lượng NNL có mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo điều kiện và làm tiền đề cho nhau cùng phát triển Bởi vì khi trình độ phát triển cao về kinh tế, tức GDP/người và đời sống của nhân dân ổn định ở mức cao sẽ có điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng NNL Kinh
Trang 34tế phát triển, thiết bị công nghệ sản xuất hiện đại và nó đòi hỏi chất lượng NNL phải phù hợp với trình độ của thiết bị, công nghệ đó Hơn nữa sự phát triển kinh tế của một đất nước cho phép con người có điều kiện nâng cao trí lực, thể lực và tinh thần Nhà nước mới có điều kiện để xây dựng và phát triển
giáo dục, y tế, văn hoá và thực hiện các chính sách xã hội
1.2.4.2 Tốc độ tăng dân số và chất lượng dân số
Tốc độ và quy mô dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng của NNL Một trong những nguyên nhân cản trở tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế là quy mô dân số đông, tốc độ dân số gia tăng lớn Dân số gia tăng làm tăng nhân khẩu ăn theo trên một lao động, làm chậm tốc độ tăng GDP/người, gây sức ép về nhu cầu việc làm và các vấn đề xã hội khác Theo
số liệu của Tổ chức dân số Liên Hiệp quốc thì khi dân số tăng 1%, muốn đảm bảo công ăn việc làm, thu nhập như trước phải gia tăng 3% GDP
Do đó, tăng trưởng dân số phù hợp với mức tăng trưởng của sức sản xuất xã hội, trong đó phù hợp với tăng chất lượng của NNL sẽ giúp kinh tế phát triển ổn định
Ngoài ra, bên cạnh việc đảm bảo tốc độ tăng dân số cần đặc biệt chú trọng tới vấn đề chất lượng dân số, vì chất lượng dân số chính là chất lượng NNL Theo các nhà nghiên cứu xác định: “chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số” và vấn đề này cũng là nội hàm trong đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước của Ủy ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 1999-2000 Vậy khi chất lượng dân số được nâng lên thì trong tương lai tất yếu chất lượng NNL cũng được cải thiện và nâng cao hơn
1.2.4.3 Trình độ phát triển y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Sức khoẻ tốt thì chất lượng NNL ở cả hiện tại và tương lai đều có thể phát triển tăng lên, người lao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại những lợi
Trang 35nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung khi làm việc Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ tốt cho trẻ em sẽ là yếu
tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ em nhanh chóng đạt được những người khoẻ về thể chất, lành mạnh về tinh thần; giúp trẻ em nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết thông qua giáo dục ở nhà trường và hệ thống y tế Nếu như có đầu tư về y tế tốt thì sẽ đảm bảo sức khoẻ cho NNL
1.2.4.4 Truyền thống văn hóa dân tộc
Truyền thống văn hoá là tổng thể những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của mỗi người và cộng đồng, đó là yếu tố tinh thần trong chất lượng NNL
Mỗi dân tộc, quốc gia có truyền thống văn hoá riêng, mang bản sắc riêng
và có giá trị độc đáo riêng CNH, HĐH là quá trình biến đổi cách mạng về mọi mặt của đời sống con người và cộng đồng CNH, HĐH thực hiện được phải trong một môi trường văn hóa phù hợp
Truyền thống văn hóa dân tộc là nhân tố quan trọng để hình thành và phát triển NNL đất nước Coi trọng và gìn giữ bản sắc dân tộc gắn với sự phát triển văn minh của nhân loại đó chính là môi trường văn hoá lành mạnh cho CNH, HĐH ở nước ta
Môi trường văn hoá là cơ sở phát triển con người, việc tạo lập môi trường văn hoá phù hợp với yêu cầu CNH là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả, thời gian và định hướng đúng đắn sự hình thành và phát triển NNL ở nước ta Truyền thống lịch sử và nền văn hoá của một quốc gia cũng bồi đắp và kết tinh trong mỗi con người và cả cộng động dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí, tác phong của con người trong lao động
1.2.4.5 Trình độ phát triển giáo dục và đào tạo
Trang 36Theo Các Mác thì, “ Từ chế độ công xưởng đã nảy nở ra mầm mống của nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao động sản xuất với giáo dục và thể dục đối với tất cả trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không phải chỉ
là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội, mà còn là phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người toàn diện” [29, tr.318]
Ngày nay, tiến bộ khoa học, công nghệ đã trở thành yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất, quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mà trong đó chất lượng của NNL lại chủ yếu là kết quả của giáo dục và đào tạo Jacques Hallak (Chuyên gia cấp cao về giáo dục ở Viện
Kế hoạch Giáo dục Quốc tế) cho rằng, trong sự phát triển nguồn nhân lực có 5 yếu tố tác động phụ thuộc lẫn nhau: Giáo dục, sức khoẻ và dinh dưỡng, môi trường, việc làm, tự do chính trị và kinh tế, trong đó giáo dục là nhân tố cơ bản đối với các nhân tố khác
Trong những năm gần đây các nước trên thế giới đều tăng nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng NNL Một nền giáo dục hoàn chỉnh, đồng bộ sẽ cung cấp cho nền kinh tế quốc dân một đội ngũ các nhà khoa học, những lao động có kiến thức, và kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, đó là tài sản quý giá để thực hiện CNH, HĐH
Đối với mỗi cá nhân, giáo dục là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách thế giới quan khoa học với tình cảm, đạo đức theo quan điểm nhân văn trong sáng Giáo dục là quá trình tích tụ nguồn vốn của con người, nhằm chuẩn bị và cung ứng nhân lực cho sự phát triển của đất nước Giáo dục phổ thông là nền tảng, cơ sở tạo ra "nguyên liệu" cho giáo dục đào tạo nguồn nhân lực Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề trực tiếp tạo ra sản phẩm NNL mới với các tiêu chuẩn đáp ứng cho yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 37Tóm lại, giáo dục và đào tạo là phương tiện khai trí, thiếu nó thì trí tuệ của một dân tộc sẽ kém cỏi và do vậy không có sức mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Việc chuẩn bị NNL có khả năng đáp ứng các đòi hỏi hướng tới chất lượng và trình độ công nghệ cao thì kèm theo đó là một nền giáo dục ở trình độ cao và đồng bộ, có như vậy mới chắc chắn trong thời gian tới sẽ có có một chuyển biến và cải thiện đáng kể chất lượng NNL của nước ta, đáp ứng yêu cầu trong quá trình CNH, HĐH
1.2.4.6 Chính sách sử dụng nguồn nhân lực nói chung và chính sách trọng dụng nhân tài nói riêng
Tạo ra NNL đông đảo có trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao, có sức khỏe tốt là một vấn đề quan trọng trong chiến lước phát triển kinh tế của các quốc gia Nhưng vấn đề quan trọng hơn là sử dụng nhân lực nhằm phát huy được các khả năng của nó Các chính sách sử dụng NNL ở các nước công nghiệp phát triển như là các yếu tố để kích thích sản xuất và tạo ra các động cơ mới của người lao động Thông thường, các chính sách đó được lồng ghép vào các chính sách xã hội như: chính sách việc làm (tuyển dụng, bố trí công việc ), chính sách tiền lương, các chính sách có liên quan đến phúc lợi xã hội
Hiệu quả của các chính sách này sẽ có tác động rất lớn đến việc góp phần nâng cao chất lượng NNL Một khi người lao động được tuyển dụng, bố trí đúng chuyên môn nghiệp vụ, có mức thu nhập hợp lý, có cơ hội thăng tiến thì họ không thể không phát huy năng lực, công hiến tối đa khả năng vốn có, vì được làm đúng nghề yêu thích và được gắn bó lâu dài với công việc Điều này còn khích lệ họ luôn luôn sáng tạo, tự nâng cao trình độ chuyên môn để đạt được đỉnh cao trong sự nghiệp và được khẳng định giá trị bản thân
Đối với những người lao động gọi là nhân tài (là những người đặc biệt
ưu tú của xã hội, là lực lượng tiêu biểu cho khả năng sáng tạo của xã hội), ngoài những chính sách chung, còn có chính sách trọng dụng riêng, có như
Trang 38vậy mới phát huy tối đa tố chất sáng tạo của họ, cũng như mời gọi họ cống hiến, phục vụ lâu dài Đó là môi trường làm việc phải đảm bảo đầy đủ về cơ
sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn và trong môi trường làm việc đó tính dân chủ phải được tôn trọng
1.2.5 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với chất lượng nguồn nhân lực
Thực chất của mối quan hệ giữa CNH, HĐH với chất lượng NNL là mối quan hệ cung và cầu sức lao động đã qua đào tạo trên thị trường sức lao động trong tiến trình CNH, HĐH Như đã biết CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý kinh
tế xã hội; từ chỗ sử dụng lao động dựa trên lao động thủ công là chủ yếu sang
sử dụng lao động một cách phổ biến gắn với phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội
CNH, HĐH được Đảng ta xác định là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Mối quan hệ giữa CNH, HĐH với chất lượng NNL thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, sự hình thành và phát triển NNL qua đào tạo có tác động
cung cấp NNL có chất lượng và theo đó thúc đẩy CNH, HĐH phát triển trên nhiều phương diện như:
- Nâng cao nhịp độ và chất lượng phát triển CNH, HĐH đất nước
- Góp phần thực hiện có hiệu quả mô hình công nghiệp hóa rút ngắn hiện đại mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra nhằm thu hẹp khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật và công nghệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới Muốn vậy phải tạo ra NNL có chất lượng
Trang 39- Góp phần tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật cho sự phát triển nhanh, hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế
- Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững
Thứ hai, quá trình CNH, HĐH được đẩy mạnh và phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu, có vai trò tác động tạo cơ hội, điều kiện thúc đẩy phát triển chất lượng NNL trên các khía cạnh sau:
- Tạo khả năng thu hút nguồn lao động có chất lượng ngày càng nhiều trên thị trường sức lao động
- Thúc đẩy ngành giáo dục – đào tạo phát triển nhanh chóng theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, có như vậy mới tạo
ra NNL có chất lượng và đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH
- Góp phần tăng thu nhập cho người lao động và dân cư từ đó tạo điều kiện thúc đẩy người dân nâng cao dân trí, thể lực và trí lực Đến lượt nó sự nâng cao dân trí, thể lực và trí lực lại làm cho NNL được phát triển nhanh chóng về chất lượng
- Trên cơ sở thúc đẩy phát triển kinh tế, CNH, HĐN góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, từ đó sẽ góp phần tăng chi cho đầu tư phát triển giáo dục phổ thông, phát triển đào tạo trung học nghề, cho đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học, cho phát triển y tế, thể dục thể thao đối với người lao động
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng
2.1.1 Phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử
Đây là phương pháp luận đặc trưng trong các công trình nghiên cứu khoa học đặc biệt là khoa học xã hội, làm cơ sở trong nghiên cứu của toàn bộ luận văn Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu thực trạng và đưa ra các nhóm giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu trong quá trình CNH, HĐH tỉnh Bình Phước Muốn vậy phải có những đánh giá trung thực, khách quan về ưu điểm và hạn chế chất lượng NNL Để có được kết quả nghiên cứu khách quan, toàn bộ luận văn đã tuân thủ yêu cầu của phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Vì vậy, các số liệu
sử dụng trong luận văn gắn liền với logic lịch sử và được đánh giá trên cơ sở duy vật biện chứng
2.1.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học gắn liền với phương pháp
lịch sử - logic
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học kinh tế chính trị Phương pháp trừu tượng hoá khoa học đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong những quá trình và những hiện tượng được nghiên cứu, tách ra những cái điển hình, bền vững, ổn định trong những hiện tượng và quá trình đó, trên cơ sở ấy nắm được bản chất của các hiện tượng, từ bản chất cấp một tiến đến bản chất ở trình độ sâu hơn, hình thành những phạm trù và những quy luật phản ánh những bản chất đó
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn phát hiện nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đôi khi chưa phản ảnh đúng bản chất của vấn đề nghiên cứu Do đó, phải sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để giữ lại những yếu tố