Nuôi con bằng sữa mẹ cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đời của mỗi trẻ. Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ đảm bảo cho trẻ phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời hạn chế được một số bệnh như suy dinh dưỡng, bệnh về đường tiêu hóa và hô hấp cho trẻ. Theo WHO khuyến nghị, trẻ sơ sinh cần được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh và được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời, sau đó ăn bổ sung hợp lí nhưng vẫn duy trì bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi. Chế độ dinh dưỡng hợp lí trong suốt thời gian này sẽ cải thiện sự tăng trưởng và phát triển thể chất, trí tuệ của trẻ. Nuôi con bằng sữa mẹ là một chức năng tự nhiên của người mẹ. Vì lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ, người mẹ cần được sự ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ gia đình, xã hội và nơi làm việc của người mẹ đó. Tại Việt Nam, trước đây phần lớn các bà mẹ đều nuôi con bằng chính dòng sữa của mình trong những tháng đầu tiên của cuộc đời trẻ. Tuy nhiên, do nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ đã tham gia vào công tác xã hội, phải đi làm sớm, lo lắng đến sắc đẹp của mình, bên cạnh đó, nhiều loại sữa được quảng cáo trên thị trường với giá trị hấp dẫn…. Vì thế, các bà mẹ đã không cho con bú bằng sữa mình mà thay vào đó là nuôi con bằng các loại sữa nhân tạo. Theo điều tra của Viện dinh dưỡng năm 2009, ở Việt Nam chỉ 55% số bà mẹ cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinh và chỉ có 36,5% bà mẹ có ý định cho con bú kéo dài đến 24 tháng. Điều đáng lo ngại hơn là, chỉ có 10% bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu trong khi tỷ lệ này ở Campuchia là 65%, trung bình châu Á là 40%... Tại các thành phố lớn, chỉ có 1 trong số 3 bà mẹ cho con bú ngay trong vòng một giờ đầu sau sinh, trong khi đó tại các vùng nông thôn là 2 trong 3 phụ nữ. Trong số 43% phụ nữ nói rằng sữa mẹ là nguồn thức ăn chính cho trẻ dưới 6 tháng thì chỉ có 10% trẻ sơ sinh Việt Nam được bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Vậy điều gì khiến khoảng cách giữa tỉ lệ các bà mẹ hiểu biết lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ và số trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu cách xa như vậy?1 Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, tuy nhiên các nghiên cứu đó thường chỉ tập trung vào các bà mẹ đến khám ở các bệnh viện lớn như bệnh viện Hùng Vương hay các bà mẹ đưa con đến khám tại bệnh viện Nhi Đồng I. Việc chọn những địa điểm nghiên cứu này thường chỉ tập trung vào nhóm đối tượng có điều kiện về kinh tế và có nhu cầu tiếp nhận thông tin mà chưa đi sâu vào nhóm đối tượng khác. Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 612 tháng ở quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2014. Từ đó có cái nhìn bao quát về vấn đề đang xảy ra tại các thành phố lớn ở Việt Nam và đề ra các giải pháp để giải quyết tình trạng này nhằm nâng cao sức khỏe của người Việt Nam trong tương lai.2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu cụ thể: 2.1.Xác định tỉ lệ bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi tại thời điểm 30102014 cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở quận Cầu Giấy. 2.2.Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi ở quận Cầu Giấy.
Trang 1
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT………1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ……… ………2
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… 3
3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3
3.1 Tóm tắt các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu……… 3
3.1.1 Các khái niệm……….……… …….3
3.1.2 Thông tin và số liệu liên quan đến tình hình NCBSM……… ………4
3.2 Nghiên cứu đã tham khảo……… 5
3.2.1 Nghiên cứu trên thế giới…… … ……….………5
3.2.2 Nghiên cứu trong nước……… ……… 6
3.3 Khung lý thuyết……… 8
3.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu……… 9
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu………… ……… …… 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu……… ……… ….…9
4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu……… ………
….10 4.3 Thiết kế nghiên cứu………
……… 10
4.4 Cỡ mẫu……… ……… 10
4.5 Phương pháp chọn mẫu………
……… 10
Trang 24.6 Phương pháp thu thập số liệu……… ……….…11
4.7 Xây dựng bảng biến số………
……… 11
4.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu……… ……….……
15 4.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số…….……… 15
5 Dự kiến kết quả, bàn luận, kết luận và kiến nghị……… 17
5.1 Dự kiến kết quả………… ……… 17
5.1.1 Thông tin chung về đối tượng……… ……… 17
5.1.2 Kiến thức về NCBSM của các bà mẹ có con từ 6-12 tháng…… …….18
5.1.2.1 Kiến thức về NCHTBSM……….18
5.1.2.2 Thực hành về NCHTBSM ………21
5.1.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố với thực hành NCBSM của các bà mẹ……… 22
5.1.3.1 Yếu tố gia đình……… ……….22
5.1.3.2 Yếu tố xã hội……… ………23
5.2 Dự kiến bàn luận……… ………25
5.3 Dự kiến kết luận……… ……….25
TÀI LIỆU THAM KHẢO………26
PHỤ LỤC: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN NGHIÊN CỨU……… 27
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
NCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ
NCHTBSM : Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹWHO : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 41 Đặt vấn đề:
Nuôi con bằng sữa mẹ cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đời của mỗi trẻ Nuôicon bằng sữa mẹ sẽ đảm bảo cho trẻ phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần, đồngthời hạn chế được một số bệnh như suy dinh dưỡng, bệnh về đường tiêu hóa và hô hấpcho trẻ Theo WHO khuyến nghị, trẻ sơ sinh cần được bú sớm trong vòng 1 giờ đầusau khi sinh và được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời, sau đó ăn bổsung hợp lí nhưng vẫn duy trì bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi Chế độ dinh dưỡng hợp lítrong suốt thời gian này sẽ cải thiện sự tăng trưởng và phát triển thể chất, trí tuệ của trẻ Nuôi con bằng sữa mẹ là một chức năng tự nhiên của người mẹ Vì lợi ích của nuôicon bằng sữa mẹ, người mẹ cần được sự ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ gia đình,
xã hội và nơi làm việc của người mẹ đó Tại Việt Nam, trước đây phần lớn các bà mẹđều nuôi con bằng chính dòng sữa của mình trong những tháng đầu tiên của cuộc đờitrẻ Tuy nhiên, do nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ đã tham giavào công tác xã hội, phải đi làm sớm, lo lắng đến sắc đẹp của mình, bên cạnh đó, nhiềuloại sữa được quảng cáo trên thị trường với giá trị hấp dẫn… Vì thế, các bà mẹ đãkhông cho con bú bằng sữa mình mà thay vào đó là nuôi con bằng các loại sữa nhântạo
Theo điều tra của Viện dinh dưỡng năm 2009, ở Việt Nam chỉ 55% số bà mẹ cho trẻ
bú ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinh và chỉ có 36,5% bà mẹ có ý định cho con bú kéodài đến 24 tháng Điều đáng lo ngại hơn là, chỉ có 10% bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằngsữa mẹ trong 6 tháng đầu trong khi tỷ lệ này ở Campuchia là 65%, trung bình châu Á
là 40% Tại các thành phố lớn, chỉ có 1 trong số 3 bà mẹ cho con bú ngay trong vòng một giờ đầu sau sinh, trong khi đó tại các vùng nông thôn là 2 trong 3 phụ nữ Trong
số 43% phụ nữ nói rằng sữa mẹ là nguồn thức ăn chính cho trẻ dưới 6 tháng thì chỉ có 10% trẻ sơ sinh Việt Nam được bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu Vậy điều gì khiến khoảng cách giữa tỉ lệ các bà mẹ hiểu biết lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ và số trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu cách xa như vậy?[1]
Trang 5Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi conbằng sữa mẹ, tuy nhiên các nghiên cứu đó thường chỉ tập trung vào các bà mẹ đếnkhám ở các bệnh viện lớn như bệnh viện Hùng Vương hay các bà mẹ đưa con đếnkhám tại bệnh viện Nhi Đồng I Việc chọn những địa điểm nghiên cứu này thường chỉtập trung vào nhóm đối tượng có điều kiện về kinh tế và có nhu cầu tiếp nhận thông tin
mà chưa đi sâu vào nhóm đối tượng khác
Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu ''Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6-12 tháng ở quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2014'' Từ đó có cái nhìn bao quát về
vấn đề đang xảy ra tại các thành phố lớn ở Việt Nam và đề ra các giải pháp để giảiquyết tình trạng này nhằm nâng cao sức khỏe của người Việt Nam trong tương lai
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể:
2.1. Xác định tỉ lệ bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi tại thời điểm 30/10/2014 cho
con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở quận Cầu Giấy
2.2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi ở quận Cầu Giấy
3 Tổng quan tài liệu
3.1 Tóm tắt các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
3.1.1 Các khái niệm
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho trẻ nhỏ Sữa mẹ chứa hàng trăm thànhphần dinh dưỡng và các yếu tố bảo vệ giúp tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thểcủa bé
Bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, không
được ăn thêm bất cứ thức ăn, nước uống nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vắc xin
và các thứ thuốc cần thiết khác)
Bú sớm là trẻ được bú sữa mẹ trong một giờ đầu ngay sau sinh.
Trang 6Bú sữa mẹ trong những năm đầu đời bảo vệ trẻ em khỏi nhiễm bệnh, cung cấpnguồn dinh dưỡng lý tưởng, đồng thời rất kinh tế và an toàn Tuy nhiên nhiều bà mẹ đãdừng cho con bú quá sớm và cho trẻ chuyển sang ăn sữa ngoài Thực tế này có thể làmchậm lại sự phát triển của trẻ em.
3.1.2 Thông tin và số liệu liên quan đến tình hình nuôi con hoàn toàn bằng sữa
Tại Việt Nam, theo kết quả Điều tra Đánh giá các Mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ doTổng cục thống kê năm 2011 thì chỉ có 39,7% trẻ được bú sữa mẹ lần đầu tiên trongvòng một giờ sau khi sinh, trong khi 80% trẻ sơ sinh ở Việt Nam bắt đầu được bú sữa
mẹ trong vòng một ngày sau khi sinh Tỷ lệ trẻ em được bú sữa mẹ khá cao với 98%.Khoảng 61,5% số trẻ em mới sinh được cho uống đồ uống ngoài sữa mẹ trong vòng 3ngày sau khi sinh trước khi ổn định bú sữa mẹ
Với một tỷ lệ khá cao trẻ em được bú sữa mẹ, hầu như không có sự khác biệt rõ rệttheo bất kỳ đặc trưng nào của người mẹ Trong khi đó, nơi sinh, người đỡ đẻ, trình độhọc vấn của người mẹ và mức sống của hộ gia đình là những yếu tố ảnh hưởng mạnh
mẽ đối với việc đứa trẻ có được cho uống đồ uống ngoài sữa mẹ ngay sau sinh trướckhi ổn định bú sữa mẹ Khoảng 24% trẻ em sinh ra ở nhà được cho uống đồ uống ngoàisữa mẹ ngay sau khi sinh, trước khi ổn định bú sữa mẹ so với 65% trẻ em sinh ra trongmột cơ sở y tế nhà nước Chỉ có 17% trẻ em ở Việt Nam dưới 6 tháng tuổi được bú sữa
mẹ hoàn toàn, mặc dù tỉ lệ này tăng so với năm 2009(10%) nhưng vẫn còn thấp hơn rấtnhiều so với khuyến nghị Cho tới thời kì dưới 6 tháng, tỉ lệ trẻ em được bú sữa mẹhoàn toàn xuống rất thấp, chỉ 3%
Trang 7Tỉ lệ trẻ em được bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu có sự chênh lệch lớn về mức sốngcủa hộ gia đình, thành phần dân tộc của chủ hộ và vùng Trẻ em trong các hộ gia đình
có chủ hộ là người dân tộc thiểu số có khả năng được bú sữa mẹ hoàn toàn cao gấp hailần những trẻ em trong hộ gia đình có chủ hộ là người Kinh/Hoa (31,9% so với14,0%) Một trẻ em sống ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (37,6%) có khả năngđược bú mẹ hoàn toàn cao gấp đôi trẻ sống ở vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miềnTrung (14%) hoặc ở vùng Đồng bằng sông Hồng (15,3%) Tương tự, 28% trẻ em sốngtrong các hộ gia đình nghèo nhất được bú mẹ hoàn toàn so với 11,2% sống trong các
hộ gia đình giàu nhất.[3]
3.2 Nghiên cứu đã tham khảo
3.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Chen Weiqi về kiến thức, thái độ, thực hành nuôicon bằng sữa mẹ hoàn toàn và yếu tố quyết định đến vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ ởQuảng Châu, Trung Quốc được thực hiện năm 2010 Nghiên cứu được thực hiện trên
409 bà mẹ có con từ 6-24 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ các bà mẹ cho con
bú trong 4 tháng tuổi là 75.6%, chỉ 6.2% trẻ được bú mẹ hoàn toàn, trong khi đó tỉ lệtrẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng chỉ là 2.2% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiếnthức và thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của người mẹ tương đối thấp, và điều này ảnhhưởng đến việc mẹ có cho con bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu hay không [4]
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện với nữ giáo viên trung học tại quận Abha
từ tháng Tư đến tháng Sáu năm 2011
Có tổng cộng có 384 phụ nữ tham gia nghiên cứu, trong đó có 246 giáo viên tiểuhọc (61,1%) , 89 giáo viên trung học cơ sở (23,2%) và 49 giáo viên trung học phổthông (12,8%) Có 119 người (31%) bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ sau khisinh, trong khi bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng chỉ có 32 người (8,3%) Và những lý dochính được đưa ra khiến họ dừng cho con bú trước khi con được 2 tuổi là sữa mẹkhông đủ 169 người (44%) và các vấn đề liên quan đến công việc 148 người (38,5%).Chỉ có 33 người tham gia (8,6%) đã tham dự các lớp học liên quan đến cho con bú
Trang 8Tuy nhiên, 261 người tham gia (68%) cho thấy sự sẵn sàng tham dự các lớp học nhưvậy, nếu có, trong lần mang thai sau.
Nghiên cứu này cho thấy rằng thiếu sữa mẹ và các vấn đề liên quan đến công việc
là những lý do chính khiến cho tỷ lệ cho con bú mẹ hoàn toàn của giáo viên nữ trongquận Abha, Saudi Arabia trở nên thấp Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu tham dự cáclớp học về nuôi con và cho con bú rất thấp Để cải thiện được thực trạng trên cần có sựgiải quyết toàn diện của các nhà cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe [5]
3.2.2 Nghiên cứu trong nước
Nhóm đã tham khảo một số nghiên cứu ở trong nước, một trong số đó là Đề tài khảosát kiến thức, thái độ thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sau sinh tạiKhoa Sản Bệnh viện Trường Đại học Y dược Huế [2]
- Đối tượng nghiên cứu: 50 bà mẹ sau sinh tại khoa sản, Bệnh viện trường Đại học ydược Huế
- Phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả, thu thập số liệu dựa vào câu hỏi ở phiếuđiều tra có sẵn
- Kết quả:
Nhóm tuổi các bà mẹ được điều tra chủ yếu từ 32-40 tuổi có trình độ văn hóa 20%cấp II; 32% cấp III; 30% cao đẳng- đại học; điều kiện kinh tế tạm ổn định trở lênchiếm 80%
Tỉ lệ bà mẹ nuôi con hoàn toàn trong 4 tháng đầu sau sinh là 34%
Tỉ lệ bà mẹ cho con bú thêm sữa nhân tạo là 66%
Tỉ lệ bú >24h sau sinh chiếm 24% Tỉ lệ bú ngay sau sinh 1-2 giờ là 12%
36% bà mẹ cho trẻ bú theo nhu cầu
Với những kết quả nghiên cứu này, tác giả Phan Thị Tâm Khuê đã đạt được nhữngthành công nhất định Tuy nhiên nhóm chúng tôi nhận thấy rằng còn có nhưng hạn chếsau:
- Đối tượng nghiên cứu là 50 bà mẹ sau sinh và chỉ nghiên cứu trong vòng 1 tháng thìchưa có độ bao phủ và tính chính xác cao
Trang 9- Tác giả mới chỉ đưa ra được các tỉ lệ % riêng biệt mà chưa làm rõ được mối liênquan giữa các yếu tố nhóm tuổi, học vấn và điều kiện kinh tế với tỉ lệ cho con bú hoàntoàn trong 4 tháng đầu, tỉ lệ cho con bú thêm sữa nhân tạo
Trang 10- Thực hành NCHTBSM của các bà mẹ xung quanh
- Quảng cáo của các hãng sữa
Trang 113.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Cầu Giấy là một quận thuộc nội thành Hà Nội, quận có diện tích 12, 04 km², gồm 8phường, với dân số 250.000 người (tính đến 1/9/2012)
Số trẻ sinh ra trong năm
Vậy số trẻ sinh ra trong năm của Quận Cầu Giấy là 3250 trẻ
Quận Cầu Giấy điều kiện kinh tế phát triển, người dân chủ yếu là làm dịch vụ,buôn bán và làm trong các đơn vị hành chính Về y tế, các chương trình chăm sóc sứckhỏe luôn được thực hiện để đảm bảo sức khỏe của người dân Đặc biệt, trên địa bànquận luôn chú trọng quan tâm chăm sóc phụ nữ có thai về chế độ dinh dưỡng và nuôicon hoàn toàn trong 6 tháng
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi (tính đến 30/10/2014) đang sinh sống ở quậnCầu Giấy- Hà Nội vào thời điểm điều tra
Tiêu chí lựa chọn:
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí không lựa chọn
- Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bà mẹ không trực tiếp nuôi con
- Bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn( câm, điếc, tâm thần )
Trang 12- Bà mẹ có bệnh lí không cho phép nuôi con bằng sữa mẹ( suy tim, lao phổi, HIV,ung thư đang điều trị hóa chất )
4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ 9-2014 đến 12-2014
4.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- B1 Lập danh sách các bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi tại thời điểm30/10/2014 đang sinh sống ở quận Cầu Giấy và đánh số thứ tự
- B2 Xác định khoảng cách mẫu k
k=N/n với N: tổng số bà mẹ có con từ 6-12 tháng ở Quận Cầu Giấy tại thời điểm30/10/2014
Trang 13n: cỡ mẫu nghiên cứu
- B3 Chọn ngẫu nhiên một số i (số đầu tiên), 1 ≤ i ≤ k
- B4 Chọn một nhóm gồm các đơn vị lấy mẫu i, i+k, i+2k, v.v
4.6 Phương pháp thu thập số liệu
Nhóm nghiên cứu sẽ phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu qua bảng câu hỏithiết kế sẵn
4.7 Xây dựng bảng biến số
Thông tin chung của ĐTNC
Phỏng vấn/ câu hỏi A1
Trình độ học vấn Học vấn cao nhất của ĐTNC Thứ bậc Phỏng vấn/
câu hỏi A2Nghề nghiệp Nghề nghiệp tạo ra thu nhập chính
của ĐTNC
Địnhdanh
Phỏng vấn/ câu hỏi A3Thu nhập bình
quân/người/tháng Là thu nhập bình quân của vợ chồng
Địnhlượng
Phỏng vấn/ câu hỏi A4
Số con Là số trẻ đẻ sống hiện có của ĐTNC Định
lượng
Phỏng vấn/ câu hỏi A5
Số con 6- 12 tháng Là số trẻ 6- 12 tháng hiện có của
ĐTNC
Địnhlượng
Phỏng vấn/câu hỏi A6Nhận thông tin về
NCHTBSM
ĐTNC đưa ra nhận định về việcđược cung cấp thông tin vềNCHTBSM hay chưa
Thứ bậc Phỏng vấn/
câu hỏi A7Nguồn cung cấp
thông tin
Nguồn cung cấp thông tin vềNCHTBSM mà ĐTNC nhận được
Địnhdanh
Phỏng vấn/ câu hỏi A8
Trang 14Kiến thức về NCHTBSM của các bà mẹ có con từ 6-12 tháng
thu thập
Định nghĩa bú sớm ĐTNC đưa ra hiểu biết của mình về
khái niệm bú sớm
Địnhdanh
Phỏng vấn/câu hỏi B1Lợi ích của bú sớm ĐTNC đưa ra hiểu biết của mình về
lợi ích của việc bú sớm
Địnhdanh
Phỏng vấn/ câu hỏi B2Hiểu biết về khái
niệm NCHTBSM
Hiểu biết của ĐTNC về khái niệm
NCHTBSM
Địnhdanh
Phỏng vấn/ câu hỏi B3Lợi ích cụ thể của
NCHTBSM
Hiểu biết của ĐTNC về lợi ích của
NCHTBSM
Địnhdanh
Phỏng vấn/câu hỏi B4Nguyên nhân trẻ
Phỏng vấn/ câu hỏi B5Thời gian hợp lý
NCHTBSM
ĐTNC đưa ra thời gian hợp lý
NCHTBSM
Địnhlượng
Phỏng vấn/câu hỏi B6Thời điểm cho trẻ
bú
Hiểu biết của ĐTNC về việc nên
cho trẻ bú khi nào
Địnhdanh
Phỏng vấn/ câu hỏi B7Biện pháp để mẹ có
Phỏng vấn/ câu hỏi B8Thời gian bắt đầu
cho trẻ ăn dặm
Hiểu biết của ĐTNC về thời gian bắt
đầu cho trẻ ăn dặm Thứ bậc
Phỏng vấn/câu hỏi B9
Trang 15Bú sớm sau sinh Thực hành cho trẻ bú sớm của
ĐTNC trong giờ đầu sau sinh Nhị phân
Phỏng vấn/câu hỏi C2
Bú thường xuyên Thực hành cho trẻ bú thường xuyên
Phỏng vấn/câu hỏi C3Cho trẻ bú khi
mẹ/trẻ bị bệnh
Thực hành cho trẻ bú khi mẹ/trẻ bị
Phỏng vấn/ câu hỏi C4Cho trẻ bú khi mẹ
đi làm
ĐTNC đưa ra cách xử lí cho trẻ bú
khi đi làm
Địnhdanh
Phỏng vấn/câu hỏi C5Cho trẻ ăn bổ sung
sớm dưới 6 tháng
Thực hành cho trẻ ăn bổ sung sớmdưới 6 tháng của ĐTNC Nhị phân
Phỏng vấn/câu hỏi C6
YẾU TỐ GIA ĐÌNH
loại
Phương pháp thu thập