Một ví dụ điển hình cho việc các lý thuyết truyền thống không thể giải thích được những bất thường của thị trường: theo lý thuyết trật tự phân hạng khi có nhu cầu tài trợ vốn, nhà quản t
Trang 1DANH SÁCH NHÓM TC08
VÕ HỒNG HẠNH
TRẦN TẤN LỘC
NGUYỄN HUY BẢO
LÊ THÀNH ĐÔ
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 3
TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH HÀNH VI TỔ CHỨC ĐẾN CẤU TRÚC VỐN
CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN HOSE
I Tổng quan đề tài 1
1 Lời mở đầu 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
II Cơ sở lý thuyết 3
1 Lý thuyết về cấu trúc vốn truyền thống 3
2 Lý thuyết tài chính hành vi tổ chức 5
III Phân tích các tiền nghiên cứu có liên quan 6
IV Tài chính hành vi tổ chức và cấu trúc vốn ở Việt Nam 7
V Mô hình thực nghiệm tài chính hành vi tổ chức ở Việt Nam 10
1 Phương pháp nghiên cứu 10
2 Phân tích biến số 12
3 Mô hình đề xuất 13
VI Hạn chế của đề tài 13
VII Những đề xuất nghiên cứu tiếp theo 14
VIII Kết luận 15
Trang 4TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH HÀNH VI TỔ CHỨC ĐẾN CẤU TRÚC VỐN
CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN HOSE
1 Lời mở đầu:
Tài chính trước đây thường được xem là lĩnh vực biểu trưng của những con số, những suy nghĩ định lượng và chính xác Tuy nhiên, không phải lúc nào kết quả mà các nhà đầu tư kỳ vọng cũng đạt như mong đợi, cũng như mỗi quyết định đưa ra chưa hẳn đã là sáng suốt và tối ưu Chẳng hạn, trên thị trường chứng khoán, nhiều mã chứng khoán đang ở trạng thái báo động, báo cáo tài chính có lợi nhuận âm, khả năng thanh khoản kém nhưng nhà đầu
tư vẫn cứ mua vào liên tục; hoặc trường hợp nhiều dự án đầu tư bất động sản bỗng nhiên
“sốt”, giá cả cách xa với giá trị thực do đầu cơ làm giá những nhiều nhà đầu tư vẫn tham gia… Có những nghịch lý trong kinh tế học mà lý thuyết thị trường hiệu quả không thể giải thích Tại sao lại có những quyết định như trên? Những quyết định trên chịu tác động nào?
Để có thể giải quyết trọn vẹn vấn đề, yếu tố cần quan tâm chính là tài chính hành vi, một lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế thực nghiệm, trường phái khá mới so với các trường phái tài chính học truyền thống Một ví dụ điển hình cho việc các lý thuyết truyền thống không thể giải thích được những bất thường của thị trường: theo lý thuyết trật tự phân hạng khi có nhu cầu tài trợ vốn, nhà quản trị sẽ ưu tiên chọn phương án ít tác động đến nhà đầu tư nhất theo trình tự: lợi nhuận giữ lại, kế đến là nợ vay và sau cùng là phát hành cổ phiếu và nhà quản trị lựa chọn phát hành cổ phiếu nếu họ tin rằng giá trị cổ phiếu đang được định giá cao
Về mặt lý thuyết là vậy nhưng thực tế có phần khác biệt Chẳng hạn, những năm 2006-2007, thị trường chứng khoản Việt Nam chứng kiến giai đoạn các doanh nghiệp ồ ạt phát hành cổ phiếu để thu hút vốn (cứ 10 doanh nghiệp thì có 8 xin tăng vốn) mặc dù thời điểm này lãi suất ngân hàng khá thấp và việc tiếp cận nguồn tín dụng là khá dễ dàng Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng đầu tư vào nhiều dự án mới khi thị trường bùng nổ với kỳ vọng rất cao
về thu nhập tương lai mà không phân tích cẩn thận; kết quả năm 2008 khủng hoảng tài chính xảy ra làm cho thương mại trì trệ, những dự án cùng kỳ vọng về lợi nhuận cũng biến mất
Có thể nói, khi thị trường được sự hưng phấn dẫn dắt, không chỉ nhà đầu tư, kể cả những nhà quản trị vốn được xem là giàu kinh nghiệm và hợp lý cũng có thể đưa ra những quyết định sai làm
Thuyết tài chính hành vi gắn kết tâm lý vào tài chính, nhằm giải thích những bất thường trên thị trường tài chính vốn chịu sự tác động của: cảm xúc, kinh nghiệm, tâm lý xã hội phổ biến Con người có thể rằng không luôn hành động hợp lý Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi không hợp lý của nhà đầu tư,
Trang 5mà đi xa hơn, nó có thể giúp giải thích các mô hình cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp dưới góc nhìn tài chính hành vi
Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiên phong trong lĩnh vực quan trọng này, hướng chú ý của họ tập trung vào việc phân tích tâm lý hành vi của các nhà quản trị và tác
động của nó lên quyết định đòn cân nợ Điển hình nhưng nghiên cứu của Malcolm Baker, Richard S Ruback, Jeffrey Wurgler (2004) , các ông phát hiện rằng các nhà quản trị tự tin
thái quá sẽ có xu hướng vay nợ nhiều làm cho chi phí kiệt quệ tài chính tăng cao và thường
từ chối giảm nợ dù đấy là việc nên làm Tiếp theo, Barros và Silveira (2008) thì chứng minh
được rằng yếu tố tự tin thái quả của các nhà quản trị có ảnh hưởng ý nghĩa đến cấu trúc vốn
của doanh nghiệp Gần đây nghiên cứu của Huang và Ritter (2008) phát hiện rằng: các
doanh nghiệp nợ thấp có xu hướng tăng nguồn vốn khi giá trị công ty của họ bị định giá cao trong khi những doanh nghiệp nợ cao có xu hướng tăng nguồn vốn khi công ty bị định giá thấp so với giá trị thực; hay nói cách khác tỷ lệ đòn bảy có mối tương quan âm với tỷ số giá thị trường/giá trị sổ sách Qua những dẫn chứng trên phần nào có thể thấy rằng tâm lý hành
vi, mà cụ thể là sự lạc quan hay tự tin thái quá của các CEO, CFO thực sự có ảnh hưởng đến việc ra quyết định tài chính của tổ chức Trong đề tài này, mục tiêu nhằm đạt đến là với
sự tìm hiểu các thực nghiệm thực hiện và với các cơ sở lý thuyết về tài chính hành vi tổ
chức (Behavioral Corporate Finance) để giúp giải đáp cho những câu hỏi sau:
2 Câu hỏi nghiên cứu:
o Yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp có thể giải thích thông qua khía cạnh tài chính hành vi hay không?
o Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới gần đây đã phát triển và kiểm định một giả thuyết rằng: những doanh nghiệp được điều hành bởi những nhà quản lý lạc quan hay
tự tin thái quá có xu hướng chọn một cấu trúc vốn mang tỷ lệ đòn bẩy cao hơn những công ty khác (trong trường hợp các yếu tố khác không đổi) Vậy cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE như thế nào, có tuân thủ xu hướng đó hay không?
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Chứng minh tài chính hành vi (tâm lý quá tự tin, quá lạc quan của nhà quản trị) có tác động của lên cấu trúc vốn của doanh nghiệp trên sàn HOSE
Phân tích mối quan hệ giữa tâm lý hành vi (cụ thể là tâm lý quá lạc quan/ tự tin của các nhà quản trị) lên cấu trúc vốn
Trang 64 Đối tượng nghiên cứu:
Sự quá tự tin, quá lạc quan của nhà quản trị các công ty niêm yết trên sàn HOSE và cấu trúc của các doanh nghiệp đó
Thuộc dạng nghiên cứu định lương Dựa trên những quan sát, các công bố, thông tin
và cách ứng xử của các nhà quản trị để xét xem đặc tính của nhà quản trị là có quá tự tin, quá lạc quan Dựa trên các báo cáo tài chính để xác định cấu trúc vốn của doanh nghiệp đó
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT:
Nguồn vốn cơ bản của một doanh nghiệp thông thường đến từ dòng tiền được tạo ra
từ hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, vẫn có một khoảng thiếu hụt giữa nguồn vốn tài trợ bên trong với nguồn vốn thiếu yếu cần thiết cho hoạt động; do đó, doanh nghiệp phải tài trợ khoảng thiếu hụt đấy bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, vay nợ hoặc phát hành chứng khoán hỗn hợp Việc tìm ra các nhân tố tác động đến quyết định tài chính là một trong những đề tài được tranh luận gay gắt Hai trường phái hàng đầu trong lĩnh vực này bao gồm trường phái cổ điển dựa trên đánh đổi giữa lợi ích thuế của nợ vay hay bất cân xứng thông tin; trường phái thứ hai thiên về tài chính hành vi dưa trên tác động tâm lý của con người (cụ thể là các nhà quản trị) ảnh hưởng lên cấu trúc vốn doanh nghiệp
1 Lý thuyết về cấu trúc vốn truyền thống:
Khái niệm “cấu trúc vốn” đề cập đến việc doanh nghiệp sử dụng phối hợp các
nguồn tài trợ khác nhau (nợ dài hạn, cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, nợ chuyển đổi,v.v…)
để tài trợ nguồn vốn hoạt động của mình [Huang and Song, 2005] Những lý thuyết tiên phong được phát triển trong lĩnh vực này tiêu biểu là lý thuyết chính thống của Modigliani
& Miller (lý thuyết MM), thuyết đánh đổi, và thuyết trật tự phân hạng
1.1 Quan niệm truyền thống trước MM:
Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn, chi phí nợ thấp, kết hợp với lợi thế từ tấm chắn thuế thuế sẽ khiến WACC (Chi phí vốn bình quân gia quyền) giảm khi nợ tăng Tuy nhiên, khi tỷ lệ đòn bẩy tăng, các cổ đông cũng đòi hỏi phần lợi nhuận cao hơn, ngoài ra chi phí vay nợ cũng tăng bởi vì khả năng không trả được nợ là cao hơn (rủi ro phá sản tăng) Vì vậy, đòn bẩy cao đồng thời cũng làm WACC tăng dần
Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là không có một lý thuyết cơ sở thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ
Trang 71.2 Lý thuyết MM về cấu trúc vốn:
Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) đã tạo ra một bước phát triển vượt bậc khi cho ra đời lý thuyết quan trọng đầu tiên về cấu trúc vốn Trong khi các nhà giám đốc tài chính ngày đêm suy nghĩ nhằm tìm ra sự kết hợp hoàn hảo giúp tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp thì định đề 1 nổi tiếng của MM đã chỉ ra rằng: không
có sự kết hợp nào là hoàn hảo cho một cấu trúc vốn trong thị trường hoàn hảo Giá trị của một công ty phải được xác định bởi những tài sản thực sự của nó chứ không phải được xác định bởi những chứng khoán được phát hành Định đề này hàm ý rằng việc lựa chọn cách thức tài trợ vốn sẽ không ảnh hưởng đển các chính sách hoạt động, vay mượn hay đầu tư của doanh nghiệp Ngoài ra, MM còn cho rằng việc lựa chọn giữa nợ ngắn hạn và dài hạn sẽ không có ảnh hưởng đến tổng giá trị của doanh nghiệp [Brealey, Myers, & Allen, 2008]
1.3 Thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn:
Miller (1977) đưa ra lý thuyết đánh đổi về cấu trúc vốn, chứng minh có tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu khi xem xét tác động tổng hợp giữa ba yếu tố: thuế TNDN, chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí đại diện Lý thuyết này đã giải thích thành công sự khác nhau trong cấu trúc vốn giữa các công ty, ngành nghề khác nhau Quyết định vay nợ của doanh nghiệp
là sự đánh đổi giữa lợi ích của tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính khi nợ gia tăng
Theo lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn: “Điểm sử dụng nợ tối ưu là điểm mà tại đó giá trị hiện tại của các khoản tiết kiệm thuế (từ việc tăng vay mượn) bù đắp vừa đủ cho sự tăng lên trong giá trị hiện tại của chi phí kiệt quệ tài chính” [Brealey, Myers, & Allen, 2008]
1.4 Thuyết trật tự phân hạng:
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dựa trên nền tảng giả thuyết về thông tin bất cân xứng: những nhà quản lý nắm nhiều thông tin hơn về tình hình hoạt động, rủi ro và giá trị của doanh nghiệp hơn những nhà đầu tư bên ngoài Nhằm tránh việc phát sinh nhiều thông tin không thuận lợi, các doanh nghiệp thường ưa thích vay nợ hơn là phát hành các cổ phiếu, ngoài ra tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của các cổ đông cũng thường cao hơn lãi suất của các khoản vay Điều nay dẫn đến một trật tự phân hạng, các doanh nghiệp sẽ sử dụng các nguồn tài trợ sẵn có đầu tiên (nguồn vốn tái đầu tư) sau đó sẽ sử dụng đến nợ và cuối cùng mới đến lựa chọn phát hành cổ phần [Brealey, Myers & Allen, 2008]
Trang 82 Lý thuyết tài chính hành vi tổ chức (behavioral corporate finance):
Tài chính hành vi tổ chức có nền tảng từ thuyết tài chính hành vi, một phân ngành kinh tế học mới, tập trung nghiên cứu về hành vi của các chủ thể kinh tế (các nhà quản lý, nhà đầu tư,…) làm ảnh hưởng đến việc ra quyết định kinh tế như đầu tư, tài trợ,… giúp giải thích những vận động bất thường của thị trường kh thị trường là không hiệu quả [Malcom Baker & Jeffrey Wurgler 2012]
Trường phái tài chính hành vi tổ chức được chia thành hai hướng giả định Giả định thứ nhất cho rằng các nhà đầu tư hành động không hợp lý (có dấu hiệu bầy đàn) làm cho giá
cổ phiếu trở nên quá cao hoặc quá thấp so với thực giá Các nhà quản trị quan sát thấy được hiện tượng định giá sai này và tận dụng chúng để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thông qua các nghiệp vụ như mua cổ phiếu quỹ (khi giá cổ phiếu bị đánh giá quá thấp), phát hành thêm
cổ phiếu (khi giá thị trường được định quá cao), chia cổ tức cao thay vì tái đầu tư nhằm kích thích giá cổ phiếu tăng, v.v… Cách tiếp cận thứ hai giả định rằng các nhà quản trị là không hợp lý (quá tự tin, lạc quan,…) dẫn đến việc ra quyết định sai như vay nợ cao, mạo hiểm trong các quyết định đầu tư, v.v…đây cũng được xem là mảnh ghép còn thiếu giúp hoàn thiện hơn nữa lý thuyết về cấu trúc vốn Theo đó, giả thiết này tập trung vào ảnh hưởng của tâm lý nhà quản trị lên các quyết định về cấu trúc vốn của doanh nghệp [Fairchild 2005b, Hackbarth 2002]
Việc đo lường biến số tâm lý khi nghiên cứu là một thực tế khó khăn, do đây là yếu
tố không thể nắm bắt, quan sát được bởi những con số thống kê, báo cáo tài chính; do đó những nhà kinh tế học khi đo lường biến số này thường sử dụng các quan sát về hành vi tài chính của nhà quản trị (chẳng hạn việc thực hiện quyền chọn mua cổ phiếu) hay các nguồn bên ngoài như bài báo kinh doanh, chân dung lãnh đạo [Craig R Everett & Fairchild, 2008] Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy các nhà quản trị tự tin/lạc quan thường có xu đánh giá cao thu nhập của doanh nghiệp trong tương lai vì họ nghĩ rằng mình có thể kiểm soát tốt được tình hình tài chính doanh nghiệp cũng như khả năng dễ dàng giải quyết được khó khăn (nếu phát sinh) Đôi khi biến nghiên cứu được phân chia thành tâm lý lạc quan và tâm lý quá tự tin, theo đó lạc quan là tâm lý đánh giá quá cao một sự kiện kỳ vọng trong tương lai, còn quá tự tin thì liên quan đến việc đánh giá quá thấp rủi ro tiềm tàng của các dự án tương lai, tuy nhiên cũng có lúc hai khái niệm này thường được gộp chung với nhau trong một biến
Những nhà quản trị đầy tự tin, dưới góc nhìn tổng thể, luôn đưa ra những lý do không
rõ ràng trong việc đưa ra quyết định Họ thường rất miễn cưỡng trong việc phát hành thêm
cổ phiếu cũng như các trái phiếu lãi suất cao vì cho rằng làm như vậy sẽ pha loãng cổ phiếu hay làm tăng chi phí trả lãi; tuy nhiên điều này cũng hàm ý rằng họ đang đánh giá năng lực
Trang 9tự tài trợ của doanh nghiệp cũng như kỳ vọng sinh lời trong tương lai quá cao nên không cần phải viện đến công cụ phát hành thêm hay vay nợ Trường hợp phải viện đến nguồn vốn bên ngoài, các nhà quản lý có xu huớng thích tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp mình bằng cách tận dụng sự chênh lệch giữa lá chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính của nợ Họ không quan tâm nhiều đến rủi ro của nợ và xem nợ là yếu tố ưu tiên so với vốn cổ phần, dẫn kết quả là một tỷ lệ nợ cao sẽ được vay mượn hay phát hành [Na Dai & Vladimir Ivanov, 2007]
Trước đây các nghiên cứu chủ yếu đề cập các vấn đề từ góc độ phân tích các nhà quản lý tương tác với những nhà đầu tư bên ngoài không lý tính (như tâm lý bầy đàn) Ý tưởng phân tích yếu tố lạc quan và tự tin thái quá trong mối quan hệ với quyết định cấu trúc vốn được khởi nguồn bởi những nhà nghiên cứu tài chính hành vi từ những năm 2000 Mở đầu bằng nghiên cứu của Shyam-Sunder và Myers (1999), hai ông xác định tâm lý của các CEOs dựa trên miêu tả “tự tin”, “lạc quan” thông qua các bài báo doanh nhân sau đó đưa thước đo này thành biến giả trong mô hình tương tác với đòn bẩy tài chính Nghiên cứu phát hiện rằng những người CEOs lạc quan/ tự tin có mức độ huy động nợ cao hơn 33 cent/ USD
so với đồng nghiệp khác, cũng như rất hiếm khi phát hành cổ phần để cung cấp vốn; khi xem xét trong dài hạn, nếu một doanh nghiệp tồn tại càng lâu thì CEO doanh nghiệp đó càng
tự tin và có mức độ đòn cân nợ cao hơn
Thời gian gần đây, nghiên cứu mới về vấn đề này xuất hiện khá nhiều, phần lớn tập trụng vào sai lầm trong nhận thức của chính các nhà quản trị khi đưa ra các quyết định về vay nợ như nghiên cứu của Baker et al (2004) Theo Baker et al, tâm lý quá tự tin thường gắn với một cảm nhận lạc quan về khả năng các sự kiện tốt đẹp sẽ xảy ra và đánh giá thấp khả năng các sự kiện xấu xảy ra, hoặc đánh giá cao về chất lượng của thông tin tích cực trong khi xem nhẹ việc kiểm tra xem các thông tin đấy là có chắc chắn hay không Nói một cách logic, những người tự tin thái quá luôn nghĩ rằng họ giỏi, xuất sắc hơn những người khác
Trong mô hình đưa ra bởi Heaton (2002), thước đo cho sự lạc quan/tự tin được dựa trên quyết định thực hiện các quyền chọn cổ phiếu của những nhà quản trị, các CEOs, CFOs
tự tin rất hiếm khi bán quyền chọn mua cổ phiếu của mình vì tin tưởng rằng giá cổ phiếu sẽ còn cao hơn trong tương lai, ngoài ra, họ cũng lạc quan tin rằng các cổ phiếu được phát hành bởi công ty bị thị trường đánh giá thấp Chính vì lý do trên, họ thích sử dụng lợi nhuận giữ lại và phát hành trái phiếu hơn là phát hành cổ phần thường Malcolm Baker, Richard S Ruback, Jeffrey Wurgler (2004) thì cũng sử dụng lại cách thức cũ của Myers khi dựa vào
Trang 10các bài báo phát hành trong đó đề cập đến đặc điểm cá nhân của những nhà quản trị, nghiên cứu cho thấy nhà quản lý tự tin thái quá sẽ có xu hướng vay nợ nhiều làm cho chi phí phá sản tăng cao và thường từ chối giảm nợ dù đấy là việc nên làm Phân tích của Oliver (2010) thì sử dụng chỉ số niềm tin tiêu dùng Michigan làm đại diện cho tâm lý tự tin của những nhà quản lý; ông phát hiện một mối tương quan ý nghĩa thống kê giữa đòn bẩy tài chính và chỉ
số niềm tin tiêu dùng Michigan: khi chỉ số này cao thì các doanh nghiệp có xu hướng vay nợ cao hơn, hay nói cách khác khi những giám đốc tự tin, họ có xu hướng phát hành nợ
Trong nghiên cứu gần đây của Barros và Silveira (2008) hai ông chứng minh được rằng yếu tố tự tin thái quả của các nhà quản trị có ảnh hưởng ý nghĩa đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Để đo lường tâm lý tự tin thái quá, Barros và Silveira sử dụng một phương thức phân loại đơn giản: những nhà quản trị là doanh nhân (là người chủ đồng thời quản lý luôn việc kinh doanh của chính mình) và những nhà quản trị phi doanh nhân (những người được thuê ngoài), theo đó những doanh nhân có xu hướng rõ ràng lạc quan và cả tin hơn so với người bình thường và so với những người quản lý "không phải là người chủ doanh
nghiệp" Đây cũng chính hướng tiếp cận về biến tâm lý tự tin/ lạc quan của đề tài này.
Thị trường chứng khoán Việt Nam được ra đời năm 2000, tuy nhiên thị trường chứng khoán chỉ mới có những bước phát triển nhảy vọt kể từ năm 2006 với mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (145%) khi được công bố gia nhập tổ chức WTO
Đà tăng trưởng này tiếp tục kéo dài đến năm 2007 với tỷ lệ 46% - cao nhất thế giới (theo báo cáo toàn cầu tháng 3/2008 của World Bank).
Trong giai đoạn phát triển vũ bão này, quá tự tin trong sự nhận định triển vọng của thị trường chứng khoán, , các CFO của các doanh nghiệp đã mở rộng mảng đầu tư và tập trung nhiều vốn để đầu tư mở rộng trên nhiều lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán, vàng,… Hậu quả là hoạt động kinh doanh chính không còn được tập trung mạnh, thiếu vốn triển khai, đình trệ …, còn mảng đầu tư phụ thì bị thiệt hại nặng do thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực đấy, phần do cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra làm kinh tế đình trệ và đến tận bây giờ hậu quả vẫn chưa được giải quyết triệt để Ta có thể điểm vài trường hợp cụ thể như: GMD (Công ty Cổ phần Gemadept) trong giai đoạn chứng khoán hưng thịnh, công ty đã phát hành tăng vốn cổ phần với thặng dư rất lớn 1.367 tỷ đồng trên 475 tỷ đồng vốn điều lệ,
số tiền huy động phần lớn để tập trung phát triển mảng kinh doanh chính về phát triển cảng (đặc biệt là cảng Cái Mép) trong tương lai nhưng do quyết định nóng vội trong ngắn hạn mà GMD đã đem số tiền này đầu tư vào chứng khoán; hậu quả là GMD đã lỗ nặng trong năm