Sự khôngmong muốn này phát sinh do liên quan đến lợi ích của một trong hai bên kýkết mà không xuất phát từ trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng,cũng có khi phát s
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
I KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG 3
1.1 Tranh chấp hợp đồng 3
1.2 Giải quyết tranh chấp hợp đồng 4
II LIÊN HỆ TÌNH HUỐNG TRONG CÁC PH ƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VÀ PHÂN TÍCH VAI TRO ̀, KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TÌNH HUỐNG GIẢ ĐỊNH 5
2.1 Thương lượng, hòa giải 5
2.2 Trọng tài 6
3.4.1 Liên hệ tình huống và phân tích vai trò, kỹ năng của luật sư 9
2.3 Tòa án 10
2.3.1 Tình huống tranh chấp hợp đồng ủy thác 12
III LIÊN HỆ TÌNH HUỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VÀ PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP 13
3.1 Khái niệm về tư vấn lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng của luật sư 13
3.2 Đặc điểm và các yêu cầu của việc tư vấn lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng 14
3.3 Các bước tư vấn lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng 14 3.4 Liên hệ tình huống tranh chấp 15
3.4.1 Tìm hiểu vụ việc, phân tích, nhận định vụ việc 15
3.4.2 Xác định các tiêu chí lựa chọn (trên cơ sở đánh giá ưu, nhược điểm của từng phương thức để lựa chọn phù hợp với từng vụ việc) 16
3.4.3 Lựa chọn phương thức tối ưu và thực hiện phương thức đó 16
PHẦN KẾT LUẬN 19
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Khi nhắc đến công việc kinh doanh của doanh nghiệp, chúng ta chắchẳn không ít người sẽ liên tưởng ngay đến các hợp đồng mà doanh nghiệp đóký kết Khi nhắc đến các hợp đồng, tương tự, chúng ta cũng sẽ liên tưởngngay đến các tranh chấp hoàn toàn có thể xảy ra Tại sao khi nhắc đến các hợpđồng, tôi lại liên tưởng ngay đến các tranh chấp có thể xảy ra, bởi lẽ, tranhchấp xảy ra có thể do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan và thường xảy
ra ngoài sự mong muốn của các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng Sự khôngmong muốn này phát sinh do liên quan đến lợi ích của một trong hai bên kýkết mà không xuất phát từ trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng,cũng có khi phát sinh do trở ngại khách quan mà cả hai bên đều không mongmuốn và cả hai bên đều muốn quy trách nhiệm về phía bên kia để hạn chếthiệt hại hoặc không để xảy ra thiệt hại về phía mình… Chính vì lẽ đó, mà tôi
có thể khẳng định vấn đề tranh chấp hợp đồng là vấn đề xảy ra khá thườngxuyên trong thực tế, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng, vào thời điểm hiện nay, phần lớn nếukhông muốn nói là hầu hết khách hàng sẽ tìm đến luật sư để được tư vấn cáchgiải quyết tranh chấp Lúc đó, ngoài kỹ năng tiếp xúc khách hàng và tìm hiểuyêu cầu tư vấn, luật sư phải có kỹ năng giải quyết tranh chấp, đồng thời phảinhận thức được vai trò của mình như thế nào trong việc giải quyết tranh chấp
đó Chính vì vậy, để có thể đào sâu vào lĩnh vực tư vấn giải quyết tranh chấphợp đồng – một vấn đề nóng trong thời buổi hiện nay, tôi đã chọn đề tài
“Liên hệ một tình huống tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng, phân tích vai trò và kỹ năng của luật sư trong tình huống đó”.
Để có thể đi sâu vào vấn đề phân tích vai trò và kỹ năng của luật sưtrong tình huống cụ thể về tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng, trước tiên,
Trang 3chúng ta sẽ đi vào phần lý thuyết về tranh chấp hợp đồng và các phương thứcgiải quyết.
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
I.1 Tranh chấp hợp đồng
Tranh chấp hợp đồng là sự mẫu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bêntham gia quan hệ hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thựchiện) các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng
Hợp đồng được giao kết trở thành “luật” đối với các bên giao kết Cácbên phải nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Tuy nhiên,trong quá trình thực hiện hợp đồng luôn tiềm ẩn nguy cơ vi phạm Sự vi phạm
đó có thể thực hiện bằng hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,không đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng Hệ quả của những vi phạm này làquyền và lợi ích hợp pháp của một bên có thể bị xâm hại và vì thế mà dẫn đếntranh chấp giữa các bên Cần phân biệt vi phạm hợp đồng và tranh chấp hợpđồng Vi phạm hợp đồng là hành vi đơn phương của một bên đã xử sự trái vớicam kết trong hợp đồng, còn tranh chấp hợp đồng là việc không thống nhất ýkiến của các bên về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyếthậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó
Tranh chấp hợp đồng có các yếu tố sau đây:
- Có một quan hệ hợp đồng tồn tại giữa các bên tranh chấp;
- Có sự vi phạm (hoặc giả thiết là vi phạm) nghĩa vụ của một bên làmảnh hưởng tới lợi ích của bên kia;
- Có sự bất đồng ý kiến của các bên về sự vi phạm hoặc xử lý hậu quảphát sinh từ sự vi phạm
Như vậy, tranh chấp hợp đồng bắt nguồn từ sự vi phạm nhưng khôngphải vi phạm nào cũng dẫn đến tranh chấp
Tranh chấp hợp đồng có các đặc điểm:
Trang 5- Phát sinh trực tiếp từ quan hệ hợp đồng bởi vậy luôn thuộc quyền tựđịnh đoạt của các bên tranh chấp;
- Mang yếu tố tài sản và gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp;
- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp hợp đồng là bình đẳng và thỏathuận
I.2 Giải quyết tranh chấp hợp đồng
Tranh chấp hợp đồng đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng bằng mộtphương thức nào đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên; bảođảm trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội; giáo dục ý thức tôn trọng pháp luậtcủa công dân, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng Trên có sở đó, việcgiải quyết tranh chấp hợp đồng phải nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật;quyết định giải quyết phải có giá trị thi hành cao; quá trình giải quyết phảibảo đảm tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên; chi phí giải quyếtthấp
Tranh chấp hợp đồng có thể được giải quyết bằng phương thức khácnhau như: hòa giải, Trọng tài, Tòa án Khi tranh chấp phát sinh, các bên cóthể lựa chọn một trong các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng phùhợp hoặc sử dụng phối hợp nhiều phương pháp Các yếu tố chi phối đến việccác bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp có thể kể đến bao gồm:
- Những lợi thế mà phương thức đó có thể mang lại cho các bên;
- Mức độ phù hợp của phương thức đó với nội dung và tính chấp củatranh chấp với thiện chí của các bên;
- Thái độ của Nhà nước đối với quyền lựa chọn phương thức giải quyếttranh chấp của các bên Ví dụ như: tranh chấp về hợp đồng giữa cá nhân vớinhau mà không phải là thương nhân không thuộc thẩm quyền giải quyết củaTrọng tài kinh tế
Trang 6II LIÊN HỆ TÌNH HUỐNG TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VÀ PHÂN TÍCH VAI TRÒ, KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TÌNH HUỐNG GIẢ ĐỊNH
II.1 Thương lượng, hòa giải
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất tronglịch sử loài người Bản chất của hình thức giải quyết tranh chấp này là các bêntranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương ángiải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đó Trườnghợp thương lượng, hòa giải không thành mới đưa ra Tòa án hoặc Trọng tài đểgiải quyết, và ngay cả khi đó, các bên vẫn còn có thể thương lượng, hòa giảivới nhau
Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hòa giải thể hiện ởnhững khía cạnh sau:
- Thứ nhất, đây là phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanhchóng, ít tốn kém
- Thứ hai, các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng, người thua nênkhông gây ra tình trạng đối đầu giữa các bên và bởi vậy duy trì được quan hệhợp tác vốn có giữa các bên
- Thứ ba, khi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải các bên dễ dàng kiểmsoát được việc cung cấp chứng cứ và sử dụng chứng cứ, qua đó giữ được bímật, bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên
- Thứ tư, hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện của các bên nên khi đạt đượchòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện
Mặc dù có những ưu điểm như trên, song việc giải quyết tranh chấpbằng hòa giải cũng có những hạn chế nhất định như: nếu việc hòa giải khôngthành thì những lợi thế của hòa giải như chi phí thấp trở thành gánh nặng bổ
Trang 7sung cho các bên tranh chấp; người không có thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòagiải để trì hoãn việc phải thực hiện nghĩa vụ; nhiều trường hợp do muốn tìmmọi cách hòa giải mà bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tạiTòa án hoặc Trọng tài do hết thời hiệu khởi kiện.
Hòa giải được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như:
- Tự hòa giải: là việc các bên tranh chấp tự bàn bạc để đi đến thống nhấtphương án giải quyết tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡcủa người thứ ba
- Hòa giải qua trung gian: là việc các bên tranh chấp tiến hành hòa giảivới nhau dưới sự hỗ trợ, giúp đỡ của người thứ ba, gọi là người trung gian hòagiải Người trung gian hòa giải có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức hay cũng
có thể là bản thân Tòa án, Trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp.Người trung gian hòa giải do các bên lựa chọn hoặc do pháp luật quy định
- Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng: Là việc hòa giải được các bên tiến hànhtrước khi đưa đơn khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài
- Hòa giải trong thủ tục tố tụng: Là việc hòa giải được tiến hành tại Tòa
án, Trọng Tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo đơn khởi kiệncủa một trong các bên Khác với hòa giải ngoài thủ tục tố tụng, hòa giải trongthủ tục tố tụng được tiến hành dưới sự giúp đỡ của Tòa án hoặc Trọng tài;trường hợp các bên hòa giải được với nhau, Tòa án, Trọng tài sẽ ra quyết địnhcông nhận sự thỏa thuận của đương sự và quyết định này sẽ có giá trị cưỡngchế thi hành đối với các bên
II.2 Trọng tài
Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bênthỏa thuận đưa những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại
Trang 8Trọng tài và Trọng tài sau khi xem xét sự việc sẽ đưa ra phán quyết có giá trịcưỡng chế thi hành đối với các bên.
Cũng giống như thương lượng, hòa giải, phương thức Trọng tài bắtnguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện Để đưa tranh chấp
ra Trọng tài giải quyết, các bên phải có sự thỏa thuận trọng tài Các bên đượcquyền thỏa thuận để lựa chọn một Trọng tài phù hợp, được quyền chỉ địnhTrọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp
Điểm khác biệt với thương lượng, hòa giải thể hiện ở chỗ, Trọng tài làmột cơ quan tài phán Tính tài phán của Trọng tài thể hiện ở chỗ, Trọng tàiđược quyền đưa ra quyết định giải quyết vụ việc và quyết định này có giá trịcưỡng chế thi hành đối với các bên
Thực tiễn giải quyết tranh chấp trên thế giới biết tới hai hình thức trọngtài là Trọng tài vụ việc (Ad-hoc) và Trọng tài thường trực
Hình thức trọng tài vụ việc không có bộ máy cố định, không có danhsách trọng tài viên, không có quy tắc tố tụng riêng Ở Việt Nam, hình thứctrọng tài này cho đến thời điểm hiện nay chỉ quy định trên giấy Thực tế chothấy chưa có tranh chấp chưa có tranh chấp nào được giải quyết bởi hình thứcnày
Khác với hình thức trọng tài vụ việc, trọng tài thường trực là hình thứctrọng tài có bộ máy, có bộ phận nhân sự, tồn tại liên tục để giải quyết tranhchấp, có danh sác trọng tài viên riêng và quy tắc tố tụng riêng Hiện nay, tạiViệt Nam có 6 trung tâm trọng tài gồm: Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam(VIAC), Trung tâm trọng tài thương mại Hà Nội, Trung tâm trọng tài thươngmại quốc tế Á Châu, Trung tâm trọng tài thương mại TP Hồ Chí Minh, Trungtâm trọng tài thương mại Cần Thơ và Trung tâm trọng tài thương mại BìnhDương (được thành lập vào tháng 8/2006) Các trung tâm trọng tài này là tổchức chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
Trang 9Trọng tài là hình thức tài phán mà quyền lực của nó được tạo nên bởichính các bên trong quan hệ tranh chấp Tôn trọng quyền tự do định đoạt củacác đương sự, pháp luật quy định nguyên tắc loại trừ thẩm quyền của Tòa ánkhi các bên đã lựa chọn trọng tài Điều 5 Pháp lệnh trọng tài thương mại quyđịnh” “Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu mộtbên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏathuận trọng tài vô hiệu”.
Về nguyên tắc, tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu trướchoặc sau khi xảy ra tranh chấp hai bên có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuậntrọng tài là thỏa thuận của các bên việc tranh chấp sẽ hoặc đã phát sinh giữa
họ được giải quyết tại trọng tài Thỏa thuận trọng tài phải được lập thành vănbản Các hình thức thỏa thuận qua thư, điện báo, Telex, fax, thư điện tử hoặchình thức văn bản khác thể hiện ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấpbằng trọng tài đều được coi là thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thểlà một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận riêng Tuynhiên không phải mọi tranh chấp có thỏa thuận trọng tài đều thuộc thẩmquyền giải quyết của trọng tài thương mại Trọng tài thương mại chỉ có thẩmquyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Hoạt độngtrọng tài thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của
cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;phân phối; đại diện; đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xâydựng; tư vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thămdò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không,đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quyđịnh của pháp luật (Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại)
Theo đó, trọng tài thương mại Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyếtcác tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên là cá nhânkinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh khi có thỏa thuận trọng tài hợp lệ Điều
Trang 1010 Pháp lệnh trọng tài thương mại quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu trongcác trường hợp sau:
- Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại;
- Người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết;
- Một bên ký thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầyđủ (người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạnchế năng lực hành vi dân sự);
- Thỏa thuận trọng tài không có quy định hoặc quy định không rõ đốitượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp đedọa mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung;
- Thỏa thuận trọng tài không được lập thành văn bản;
- Bản ký kết thỏa thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe dọa và có yêu cầutuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Như vậy, thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu khi thỏa thuận đo khôngthể hiện đầy đủ, thể hiện không đúng ý chí của các bên hoặc ý chí của các bênkhông phù hợp với quy định của pháp luật Thỏa thuận trọng tài vô hiệukhông tạo ra thẩm quyền cho trọng tài Khi đó, vụ việc sẽ thuôc thẩm quyềncủa Tòa án
3.4.1 Liên hệ tình huống và phân tích vai trò, kỹ năng của luật sư
Ví dụ, tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên lựa chọn Trung tâm trọng tài kinh tế A là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Khi tranh chấp xảy ra, Trung tâm trọng tài kinh tế A đã bị giải thể Trong trường hợp này, đối chiếu Điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài đó không bị vô hiệu vì thể hiện đúng ý chí của các bên và không trái pháp luật Tuy nhiên, các bên lại không thể thực hiện được thỏa thuận này vì Trung tâm trọng tài kinh tế A đã không còn tồn tại.