Luật sư cần thiết phải tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng của doanh nghiệp không phải chỉ vì có kiến thức pháp luật sâu rộng mà còn bởi họ là những người thường xuyên
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động giao dịch của các doanh nghiệp ngày càng phức tạp và đa dạng, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Trong họat của doanh nghiệp, các giao dịch này là một phần tất yếu và được điều chỉnh bởi một công cụ rất quan trọng là hợp đồng Tuy nhiên, các giao dịch diễn ra càng phức tạp, càng đa dạng thì khả năng tranh chấp hợp đồng cũng càng lớn và khó tránh khỏi
Mặc dù vậy, không phải tranh chấp nào cũng được giải quyết một cách êm đẹp và ổn thỏa Các doanh nghiệp thường luôn muốn lợi thế thuộc về mình nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng làm được điều đó Một trong những khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp gặp phải khi tranh chấp hợp đồng xảy ra chính là rào cản pháp luật Thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng am hiểu đầy đủ và tường tận về pháp luật của Việt Nam và quốc tế Do đó, việc luật sư tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng của các doanh nghiệp là rất cần thiết Luật sư cần thiết phải tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng của doanh nghiệp không phải chỉ vì có kiến thức pháp luật sâu rộng mà còn bởi họ là những người thường xuyên tiếp xúc với các dạng tranh chấp nên rất có kinh nghiệm trong công việc này
Trong mảng đề tài rất lớn về tranh chấp hợp đồng, tác giả chỉ muốn đề cập đến một số phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng của doanh nghiệp và vai trò của luật sư khi tham gia vào các phương thức giải quyết tranh chấp này
Việc nghiên cứu về các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng và vai trò của luật sư trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng của doanh nghiệp giúp cho các doanh nghiệp có cái nhìn rõ hơn về sự cần thiết và vai trò của luật sư khi có tranh chấp xảy ra
Đề tài không thể tránh khỏi những hạn chế và sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn
Trang 2Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
1.1 Khái niệm về hợp đồng:
Hợp đồng, hiểu theo nghĩa chung nhất, là sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên trong giao dịch nhằm làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của họ trong một quan hệ giao dịch
Như vậy, với cách hiểu này, hợp đồng bao gồm các yếu tố: hợp đồng là sự thỏa thuận; sự thỏa thuận đó hướng tới một đối tượng xác thực và hợp pháp và nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên Tuy nhiên, ccần chú
ý rằng mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận nhưng không phải thỏa thuận nào cũng
là hợp đồng chẳng hạn như các thỏa thuận trái pháp luật, các thỏa thuận không nhằm làm phát dinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên… Bên cạnh đó, một thỏa thuận hợp đồng phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức cụ thể như: lời nói, hành vi, văn bản…
1.2 Tranh chấp hợp đồng:
Theo Từ điển Luật học Black thì tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn, bất đồng…; theo Đại từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là giành giật, giằng
co nhau cái không rõ thuộc bên nào; bất đồng, trái ngược nhau… Như vậy, có thể
hiểu rằng tranh chấp trong hợp hợp đồng là các xung đột, mâu thuẫn phát sinh
giữa các bên do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ hợp đồng Tranh chấp hợp đồng sẽ phát sinh khi có quan hệ hợp đồng
tồn tại giữa các bên, có hành vi vi phạm hợp đồng, có ý kiến bất đồng giữa các bên
Xét về nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp hợp đồng, do trong quá trình họat động của doanh nghiệp, các hợp đồng được ký kết để thực hiện nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của một hoặc các bên trong hợp đồng hoặc vì mục tiêu lợi nhuận, kinh doanh kiếm lời của doanh nghiệp Đồng thời, hợp đồng được giao kết và
Trang 3thực hiện dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện, tự do ý chí của các bên cho nên việc phát sinh tranh chấp là khó tránh khỏi Thường thì nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn bất đồng này là do trong quá trình thực hiện hợp đồng, một trong các bên đã cố ý hoặc vô ý không thực hiện , thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các nghĩa vụ mà mình đã cam kết dẫn đến việc gây thiệt hại cho một hoặc các bên còn lại
Các mâu thuẫn, xung đột cũng có thể phát sinh giữa các bên do các yếu tố khách quan như bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, khác biệt về truyền thống pháp luật Các rào cản này làm cho các bên không hiểu rõ hoặc hiểu sai ý định của nhau dẫn đến việc thực hiện hợp đồng “mỗi người một kiểu” theo cách hiểu riêng của mình và từ đó, việc thực hiện hợp đồng không như ý muốn của các bên
Một nguyên nhân khác cũng có thể dẫn đến tranh chấp hợp đồng là do việc nảy sinh các tình huống sự kiện mà các bên không dự liệu trước được để đưa vào trong hợp đồng chẳng hạn như các sự kiện bất khả kháng…
Như vậy, tranh chấp hợp đồng có thể phát sinh do nhiều nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Trong họat động của các doanh nghiệp, tranh chấp hợp đồng là tất yếu và không thể tránh khỏi đặc biệt là khi các họat động của doanh nghiệp ngày càng diễn ra mạnh mẽ và đa dạng cộng với sự hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng kinh tế toàn cầu Do đó, việc giải quyết tranh chấp từ các hợp đồng mà doanh nghiệp có liên quan cũng là một vấn đề quan trọng cần suy nghĩ và tham vấn ý kiến của các Luật sư Tùy thuộc vào nhu cầu của các bên khi ký kết hợp đồng, uy tín của doanh nghiệp và tùy thuộc vào từng loại tranh chấp mà các bên sẽ tự mình hoặc nhờ Luật sư lựa chọn một phương án giải quyết tranh chấp phù hợp để giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả nhất
1.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng:
Khi tranh chấp hợp đồng xảy ra, việc lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp sẽ giúp cho các bên tranh chấp giải quyết công việc của mình một cách nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm được cả thời gian và chi phí Dưới đây
Trang 4là một số phương thức giải quyết tranh chấp mà các chủ thể tranh chấp có thể lựa chọn:
1.3.1 Thương lượng:
Thương lượng là việc các bên tranh chấp tự thỏa thuận với nhau để lựa chọn giải pháp chấm dứt xung đột đã phát sinh giữa họ Đối với phương thức này thì các bên sẽ tự thỏa thuận để tìm kiếm giải pháp trên tinh thần tự nguyện mà không có sự hỗ trợ của người thứ ba ngoài tranh chấp Khi đã thỏa thuận được giải pháp, các bên phải tự nguyện thi hành giải pháp mà mình đã thỏa thuận Chính vì vậy, đây cũng là nhược điểm lớn nhất của phương thức thương lượng bởi vì nó không mang tính cưỡng chế thi hành Bên cạnh đó, nếu một bên không thiện chí, phương thức này sẽ dễ bị lợi dụng nhằm để trốn tránh hoặc trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên phương thức này cũng có một số ưu điểm để các bên tranh chấp xem xét là: giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chi phí thấp, duy trì được quan hệ hợp tác giữa các bên, không làm lộ bí mật kinh doanh, không ảnh hưởng đến uy tín của các bên
Như vậy, đối với phương thức này, thường thì các bên tranh chấp do những nguyên nhân khách quan không lường trước được làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng Mối quan hệ của các bên tranh chấp trong trường hợp này là rất tốt hoặc đã làm ăn lâu dài với nhau hoặc là họ đã có uy tín trên thương trường Các bên tranh chấp trong những trường hợp khác cũng có thể lựa chọn phương thức này
1.3.2 Trung gian hòa giải:
Hai thuật ngữ trung gian và hòa giải để chỉ hai phương thức tương tự nhau
và ngày càng được sử dụng một cách không phân biệt Khác với phương thức thương lượng, trung gian hòa giải là việc các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau
để tìm kiếm giải pháp chấm dứt xung đột dưới sự hỗ trợ, giúp đỡ của người thứ
ba Người thứ ba này chỉ đóng vai trò trung gian để hỗ trợ các bên lựa chọn giải pháp và các bên sẽ là người lựa chọn giải pháp Người trung gian không đưa ra phán quyết, trừ khi được các bên tranh chấp yêu cầu Nếu việc trung gian hòa giải
Trang 5thành công, thỏa thuận này sẽ được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và của người trung gian Trong quá trình trung gian hòa giải, với thỏa thuận trước của các bên, người trung gian luôn cố gắng trình bày cho các bên thấy được những triển vọng tốt đẹp nhất để từ đó hòa giải các xung đột, mâu thuẫn giữa các bên, và vì vậy, chuyển tình huống tranh chấp thành sự hòa giải Việc trung gian hòa giải này có thể được thực hiện trong tố tụng hoặc ngoài tố tụng
Hòa giải ngoài tố tụng: là việc các bên tự thỏa thuận với nhau lựa chọn người thứ ba làm trung gian để tiến hành hòa giải Cũng như thương lượng, kết quả hòa giải không có tính cưỡng chế thi hành
Hòa giải trong tố tụng: là hình thức hòa giải mà người thứ ba làm trung gian là cơ quan, tổ chức được các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp Vì ưu điểm của việc hòa giải mà các tổ chức giải quyết tranh chấp như tòa án, trọng tài đều quy định đây là thủ tục bắt buộc trước khi tiến hành giải quyết Thậm chí trong quá trình giải quyết tranh chấp, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục hòa giải theo thỏa thuận của các bên tranh chấp
Về cơ bản, trung gian hòa giải có nhiều đặc điểm giống như phương thức thương lượng Tuy vậy, do có sự xuất hiện của người thứ ba hỗ trợ cho các bên cho nên ngoài các ưu và nhược điểm của thương lượng, trung gian hòa giải có thêm một số ưu và nhược điểm khác Về ưu điểm, do có sự hỗ trợ, giúp đỡ của bên thứ ba nên các bên dễ đạt được phương án hòa giải hơn việc thương lượng Chính vì vậy, một nhược điểm mà phương thức thương lượng không có nhưng phương thức này có là các bên tranh chấp phải mất một số chi phí cho người trung gian
1.3.3 Trọng tài:
Phương thức giải quyết tranh chấp này được rất nhiều doanh nghiệp lựa chọn khi có phát sinh mâu thuẫn, xung đột với nhau Phương thức trọng tài không mang tính tài phán như tòa án Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp
tư, giữa trên thỏa thuận giữa các bên Theo Pháp lệnh trọng tài Thương mại Việt Nam 2003, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong họat
Trang 6động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục
tố tụng do Pháp lệnh này quy định (khỏan 1 điều 2)
Có hai loại hình thức trọng tài cơ bản, gồm trọng tài quy chế (institute) và trọng tài vụ việc (ad-hoc)
Trong trọng tài vụ việc, các bên tự chịu trách nhiệm thành lập hội đồng trọng tài để giả quyết tranh chấp và phải quy định các quy tắc sẽ điều chỉnh cách thức tiến hành tố tụng trọng tài Khi gặp khó khăn, đôi khi các bên có thể nhờ tòa
án có thẩm quyền can thiệp Bởi các bên tự tiến hành trọng tài vụ việc nên họ phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề thù lao và chi phí với các trọng tài viên Trọng tài
vụ việc do các bên thỏa thuận thành lập nên không có trụ sở, không có bộ máy, không phụ thuộc vào bất kỳ quy tắc tố tụng nào Do đó, quyền tự định đoạt của các bên cũng được mở rộng tối đa
Trong trọng tài quy chế, các bên nhờ một trung tâm trọng tài hoặc một tổ chức trọng tài quy chế giám sát tố tụng theo quy tắc tố tụng trọng tài của tổ chức
đó Tổ chức trọng tài có thể thông báo đơn kiện cho bên kia và yêu cầu bên đó trình bày rõ quan điểm về vụ kiện và việc thành lập hội đồng trọng tài Đôi khi, tổ chức trọng tài có quyền ấn định một khỏan tiền ước tính đủ để chi trả phí trọng tài, có quyền yêu cầu các bên thanh toán và khi kết thúc tố tụng, có quyền quyết định các chi phí cuối cùng
Ngoài ra, hai hình thức trọng tài trên còn có hình thức trọng tài quốc gia chuyên giải quyết tranh chấp trong nước; trọng tài quốc tế (international commercial arbitration) giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, trọng tài có thẩm quyền chung và trọng tài có thẩm quyền chuyên sâu (ví dụ: trọng tài hàng hải Tokyo, trọng tài ngoại thương, trọng tài cà phê…) Hiện nay, tại Việt Nam có một số trung tâm trọng tài gồm: Trung tâm trọng tài thương mại Hà Nội; Trung tâm trọng tài thương mại TP Hồ Chí Minh; Trung tâm trọng tài thương mại Cần Thơ; Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và Trung tâm trọng tài thương mại Á Châu
Trang 7Về đặc điểm của trọng tài, đây là phương thức do các bên lựa chọn Sự lựa chọn này thể hiện bằng Thỏa thuận trọng tài (arbitration agreement) Quy tắc chung của trọng tài là không có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài thì sẽ không có tố tụng trọng tài Trừ một số ngoại lệ, các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng phương thức trọng tài, và quy định chi tiết các quy tắc điều chỉnh quá trình tố tụng như chỉ định hình thức trọng tài hay trung tâm trọng tài cụ thể, quy tắc tố tụng trọng tài, trọng tài viên, luật áp dụng… hoặc
sử dụng các quy tắc tố tụng trọng tài dưới sự giám sát của một tổ chức trọng tài quy chế
Thứ hai, trọng tài là người thứ ba tham gia giải quyết tranh chấp giữa các bên chứ không chỉ là người hòa giải Do đó, trọng tài kết hợp được yếu tố thỏa thuận và tài phán Tự do thỏa thuận không phải là không có giới hạn
Thứ ba, thỏa thuận trọng tài là chung thẩm (điều 6 Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam 2003 – PLTTTM), không bị kháng cáo Bởi vì trọng tài là người được các bên giao quyền lực và giải quyết tranh chấp Do đó, phán quyết của trọng tài không bị xem xét lại bởi bất kỳ tổ chức trọng tài, cơ quan nhà nước nào, trừ một số trưỡng hợp tại điều 53-54 PLTTTM
Thứ tư, thủ tục tố tụng trọng tài mềm dẻo, linh họat, hoạt động không bắt buộc công khai (khỏan 3 điều 38 PLTTTM) Các quy tắc tố tụng này có thể do các bên xác lập, do trung tâm trọng tài quy định và không trái với PLTTTM
Ngoài ra, phương thức trọng tài cũng có những lợi thế và hạn chế sau:
Về lợi thế: trọng tài giải quyết các tranh chấp nhanh chóng, chính xác Vì trọng tài viên là các chuyên gia trong lĩnh vực mà các bên tranh chấp nên phán quyết mà họ đưa ra luôn hợp tình, hợp lý, công bằng, tạo sự yên tâm cho các bên tranh chấp Hơn nữa, chi phí cho trọng tài thường thấp hơn so với Tòa án rất nhiều Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng ít ảnh hưởng đến uy tín, bí mật kinh doanh của các bên do đặc điểm không bắt buộc phải công khai khi xem xét, giải quyết vụ việc Phán quyết trọng tài manh tính cưỡng chế thi hành thông qua
cơ chế công nhận và thi hành phán quyết trọng tài Bên cạnh đó, trọng tài không
Trang 8đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước nên rất thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Tuy vậy, phương thức này vẫn có một số hạn chế nhất định như dễ bị các bên lợi dụng để trì hoãn, kéo dài thời gian khởi kiện, tính cưỡng chế thi hành không cao, phải tốn chi phí cho người thứ ba
1.3.4 Tòa án:
Tòa án là cơ quan tư pháp, nhân danh quyền lực nhà nước để qiải quyết và đưa ra phán quyết Mặc dù bản án của tòa mang tính cưỡng chế thi hành cao nhất
so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhưng trong các tranh chấp hợp đồng của doanh nghiệp, đặc biệt là các hợp đồng thương mại quốc tế, thì giải pháp đưa ra tòa thường là giải pháp cuối cùng Bởi vì việc giải quyết tranh chấp
có nhiều hạn chế như thủ tục tố tụng kéo dài qua nhiều cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) Việc đeo đuổi các vụ kiện tại tòa gây nhiều tốn kém về thời gian cũng như tiền bạc của doanh nghiệp Mặc khác, việc xét xử của tòa án phải công khai cho nên rất dễ gây sự chú ý cho các đối tượng khác và dễ dẫn đến việc bị tiết lộ bí mật kinh doanh, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp Khi vụ việc được đưa ra tòa cũng làm ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn kinh doanh giữa các bên tranh chấp Chính vì vậy, trong các phương thức giải quyết tranh chấp kể trên thì tòa án là giải pháp lựa chọn cuối cùng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của doanh nghiệp Mặc dù vậy, tòa án vẫn có những lợi thế riêng so với các phương thức còn lại Do đây là cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, nên trong quá trình giả quyết vụ việc cũng như thi hành bản án quyết định của tòa được đảm bảo cao Tòa án có thể dùng quyền lực của mình để triệu tập người thứ
ba liên quan đến vụ việc trong khi trọng tài không có quyền lực này Hơn nữa, mặc dù thủ tục tố tụng tòa án kéo dài nhưng lại có thể phát hiện và khắc phục được những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp
Tóm lại, khi một tranh chấp xảy ra, tùy thuộc vào hợp đồng và ý muốn của các bên, các doanh nghiệp có thể lựa chọn việc thương lượng, hòa giải trung gian, trọng tài hoặc tòa án để giải quyết Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có
Trang 9những lợi thế và hạn chế riêng do đó, doanh nghiệp tùy vào từng lọai tranh chấp
và diễn biến cụ thể của tranh chấp mà chọn cho mình một hoặc nhiều phương thức giải quyết phù hợp và có hiệu quả
Chương 2:
VAI TRỊ CỦA LUẬT SƯ VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TRONG THỰC TIỄN KINH DOANH
CỦA CC DOANH NGHIỆP
Mọi nền kinh tế muốn phát triển đều phải có sự xuất hiện và đóng góp của các doanh nghiệp Mức độ và tốc độ phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất
Trang 10nhiều vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp Trong họat động của doanh nghiệp, tranh chấp hợp đồng là ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả họat động của doanh nghiệp và là điều khó tranh khỏi đặc biệt là trong bối cảnh thương mại quốc quốc tế ngày càng phát triển và hoạt động sầm uất như hiện nay Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khi Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ không ngừng phát triển và hợp đồng chính là công cụ để các bên thực hiện giao dịch đó Tuy nhiên, khi các giao dịch của doanh nghiệp ngày càng gia tăng mạnh mẽ và đa dạng thì các tranh chấp hợp đồng cũng không ngừng gia tăng và tính chất phức tạp càng cao Vì vậy, các tranh chấp này đòi hỏi phải được giải quyết một cách thỏa đáng để đảm bảo được quyền lợi, sự phát triển và mối quan hệ làm ăn của các doanh nghiệp Trong một bối cảnh như vậy, rõ ràng là không thể thiếu vai trò của luật sư trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp Với một số lượng khoảng 240.000 doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay và khoảng 3.918 luật sư và luật sư tập sự trong đó, chỉ có khoảng 50 luật sư hiểu biết về luật pháp quốc tế để
hỗ trợ doanh nghiệp trong những giao dịch thương mại quốc tế Từ đó, có thể thấy được luật sư đóng vai trò rất quan trọng và rất cần thiết đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà đặc biệt là trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng
2.1 Lý do Luật sư phải tham gia vo qu trình giải quyết tranh chấp hợp đồng:
Cũng như đã đề cập ở trên, hoạt động của doanh nghiệp dù diễn ra trên thị trường trong nước hay thị thường quốc tế cũng rất đa dạng và phức tạp Trong khi
đó, không phải tất cả các doanh nghiệp đều có đủ khả năng và am hiểu rõ ràng về kiến thức pháp luật Thực tiễn, trong các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp lớn hoặc các doanh nghiệp có vốn nước ngoài thường thành lập hẳn một ban pháp chế để đảm bảo hoạt động của công ty diễn ra hợp pháp và đặc biệt là phòng ngừa và bảo vệ quyền lợi của công ty khi tranh chấp hợp đồng xảy ra Đã