đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội.
Trang 1Mục lục
Trang
Phần I : Thuế giá trị gia tăng và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả
quản lý thuế GTGT đối với DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ 5
1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất về thuế GTGT 5
1 - Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình quản lý thu thuế
đối với hoạt động kinh doanh khách sạn nhà nghỉ của các DN NQD
1 152- Sự cần thiết phải tăng cờng công tác quản lý thu thuế GTGT đối
với các DNNQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ
1 15
Phần II : Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD
kinh doanh khách sạn nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. 18
I- Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng ninh 18
1 - Điều kiện tự nhiên, xã hội của tỉnh Quảng Ninh 182- Tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 193- Vài nét về Cục thuế tỉnh Quảng Ninh và cơ cấu Cục Thuế 19
II - Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD kinh
Doanh khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 24
Trang 24- Công tác quản lý thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ mua vào dùng
5- Kết quả triển khai thực hiện biện pháp quản lý 33
7- Công tác thanh tra, kiểm tra, quyết toán thuế 34
III - Đánh giá chung về công tác quản lý thuế GTGT đối với các DN
38
I - Mục tiêu của Cục thuế tỉnh Quảng Ninh đối với công tác quản lý thuế GTGT đối với các DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ 38
II- Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý thu thuế GTGT
đối với các DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh Q.Ninh 39
Trang 3Tiếp theo cải cách thuế bớc I (1990-1998), nớc ta đã tiến hành cải cách thuế
b-ớc II nhằm khắc phục những bất cập những hạn chế, đa hệ thống pháp luật thuế có sự phù hợp ăn khớp với phát triển của nền kinh tế, thu hút đợc đầu t nớc ngoài và bớc vào hội nhập kinh tế quốc tế Khởi đầu của công việc cải cách thuế bớc II ở nớc ta là việc Quốc hội thông qua Luật thuế giá trị gia tăng(GTGT) và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Cải cách thuế bớc II thể hiện sự công khai dân chủ, công bằng trong sản xuất kinh doanh đối với các thành phần kinh tế Phát huy sức mạnh và tính tự chủ của doanh nghiệp trên tất cả các mặt, các lĩnh vực, các loại hình sản xuất kinh doanh, đây là điều kiện để doanh nghiệp thể hiện vai trò của mình trong nền kinh tế tạo ra thế và lực mới thúc đẩy kinh tế phát triển, sản xuất kinh doanh có hiệu quả tạo ra nguồn lực tài chính to lớn vững chắc cho đơn vị và đóng góp cho Ngân sách Nhà nớc
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ( DN NQD ) hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với số nộp hàng năm cho ngân sách Nhà nớc luôn chiếm từ 8 đến 10% thu ngân sách của khối DN NQD, là một lực lợng đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nớc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 4Công tác quản lý và thu thuế nói chung, công tác quản lý, thu thuế đối với hoạt
động kinh doanh khách sạn nhà nghỉ đối với các DN NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng đã có những bớc chuyển tích cực, thực sự là một công cụ quan trọng, vừa thực thi đảm bảo ổn định nguồn thu vững chắc, thể hiện số thu ngân sách trên địa bàn năm sau luôn cao hơn năm trớc Vì vậy thông qua chính sách thuế vừa là động lực vừa là đòn bẩy để thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo ra sự tự tích luỹ từ nội bộ mỗi doanh nghiệp, mỗi khu vực kinh tế, mỗi thành phần kinh tế
Quản lý thu thuế là hoạt động có hiệu quả là "cầu nối" giữa chính sách, pháp luật thuế của Đảng, Nhà nớc với việc thực hiện của các doanh nghiệp, là hoạt động thờng xuyên tiếp xúc, quan tâm đến lợi ích của doanh nghiệp - đồng thời thông qua công tác quản lý thu thuế phát hiện những nhợc điểm và thiếu sót, cha phù hợp trong chính sách thuế để từ đó mà Nhà nớc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách thuế Công tác quản lý thuế và thu thuế đối với nền kinh tế nói chung và đối với DN NQD nói riêng có một ý nghĩa hết sức quan trọng, đã góp phần tạo lập hành lang pháp lý, thúc đẩy, khẳng định vị trí của kinh tế NQD trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Đó là những lý do cơ bản để em lựa chọn đề tài “ Công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD hoạt động trong lĩnh vực khách sạn nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh “
Mục tiêu của đề tài là đa ra giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DN NQD hoạt động trong lĩnh vực khách sạn nhà nghỉ trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhằm góp phần tăng thêm nguồn thu cho NSNN
Nội dung đề tài chia làm 3 phần :
Trang 5Phần I: Những vấn đề lý luận chung về thuế GTGT và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn nhà nghỉ.
Phần II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DN NQD hoạt
động trong lĩnh vực khách sạn nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, thu thuế GTGT đối với DN NQD hoạt động trong lĩnh vực khách sạn nhà nghỉ trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 6Phần I
Thuế giá trị gia tăng và
sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT
đối với DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ
I- Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế GTGT.
1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất về thuế GTGT.
1.1 Khái niệm của thuế GTGT.
Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lu thông đến tiêu dùng và đợc thu ở khâu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
1.2 Đặc điểm của thuế GTGT
- Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ (vì vậy còn đợc gọi là thuế tiêu dùng), một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, ngời tiêu dùng cuối cùng là ngời phải gánh chịu khoản thuế này
Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện ở chỗ ngời mua hàng hoá và dịch vụ là ngời phải trả khoản thuế này, tuy nhiên ngời mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua thanh toán giá bán hàng hoá và dịch vụ cho ngời bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà ngời mua phải trả Ngời bán là ngời
đứng ra “nộp hộ” cho ngời mua khoản thuế GTGT phải nộp vào NSNN
- Thuế GTGT đánh vào GTGT ở tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng Vì vậy tổng số thuế GTGT thu đợc ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho ngời tiêu dùng cuối cùng
Trang 7Nh vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng là đủ Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định đợc đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế Số thuế GTGT ở khâu trớc sẽ đợc tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và ngời tiêu dùng cuối cùng là ngời phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó.
Đặc điểm này cho thấy thuế GTGT có tính u việt hơn so với các loại thuế gián thu khác, khắc phục đợc nhợc điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”
- Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập kinh tế cao Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh:
+ Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hởng bởi kết quả kinh doanh của ngời nộp thuế, do ngời nộp thuế chỉ là ngời “thay mặt” ngời tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ
đơn thuần là một khoản thu đợc cộng thêm vào giá bán của ngời cung cấp hàng hoá dịch vụ
+ Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít
- Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ Đặc điểm này tạo ra tính trung lập công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu
2 Nội dung cơ bản của luật thuế GTGT.
2.1 Đối tợng nộp thuế GTGT.
Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT, Điều 3 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 10/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
Trang 8thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT thì tất cả các
tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế GTGT từ nớc ngoài (gọi chung là ngời nhập khẩu)
đều là đối tợng nộp thuế GTGT
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:
- Các tổ chức kinh doanh đợc thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nớc và Luật Hợp tác xã;
- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và bên nớc ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam; các tổ chức, cá nhân nớc ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không thuộc các hình thức đầu t theo Luật đầu t n-
ớc ngoài tại Việt Nam
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm ngời kinh doanh độc lập và các đối tợng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu
2.2 Đối tợng chịu thuế GTGT.
Đối tợng chịu thuế GTGT là các hàng hoá và dịch vụ (kể cả dịch vụ mua của
tổ chức, cá nhân ở nớc ngoài) dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (trừ 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT quy định tại
Điều 1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT)
2.3 Căn cứ tính thuế GTGT.
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
Trang 92.3.1 Giá tính thuế.
2.3.1.1- Nguyên tắc cơ bản xác định giá tính thuế GTGT
Giá tính thuế GTGT đợc xác định theo nguyên tắc sau:
- Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ là giá bán (cha có thuế GTGT) của hàng hoá và dịch vụ mà ngời mua đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho ngời bán (gọi chung là giá thanh toán) Giá thanh toán đợc xác định căn cứ vào hợp đồng mua bán hoặc hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ Trong trờng hợp trong giá thanh toán
đã bao gồm cả những khoản không chịu thuế GTGT, nếu có chứng từ hợp pháp thì những khoản chi này đợc trừ đi trong doanh thu tính thuế GTGT
Trờng hợp pháp luật có quy định về khung giá thì giá tính thuế đợc xác định trong phạm vi khung giá quy định
- Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ phải đợc cộng vào những khoản chi phí thực chất là những yếu tố cấu thành nên giá bán nhng cha đợc tính vào giá bán của hàng hoá dịch vụ Ví dụ: tiền vận chuyển, đóng gói, các chi phí gia công, thuế NK, thuế TTĐB (trừ thuế GTGT) và một số khoản thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh đợc hởng.v.v
Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ phải đợc loại trừ những khoản chi phí thực chất không liên quan đến giá bán nhng đã đợc tính vào giá bán của hàng hoá dịch vụ Ví dụ: lãi trả chậm, giá đất, tiền sử dụng đất, các khoản thu và phí mà cơ sở kinh doanh phải nộp vào NSNN.v.v
- Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB ở khâu sản xuất,
kinh doanh trong nớc là giá bán đã có thuế TTĐB nhng cha có thuế GTGT
- Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có) cộng (+) thuế TTĐB Giá nhập khẩu tại cửa khẩu làm căn cứ tính thuế GTGT đợc xác định theo các quy
định về giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu
Trang 10Việc xác định giá tính thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu nh trên nhằm bảo đảm công bằng giữa hàng hóa sản xuất trong nớc và hàng hóa nhập khẩu và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trờng hợp hàng hóa nhập khẩu đợc miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với (+) thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã đợc miễn, giảm
2.3.1.2- Giá tính thuế GTGT đối với các trờng hợp đặc biệt:
* Sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng hoặc để trả thay
l-ơng (trừ sản phẩm, hàng hoá dùng để khuyến mại, quảng cáo theo qui định tại Nghị
định số 32/1999/NĐ-CP ngày 5/5/1999 về khuyến mại quảng cáo thơng mại, hội chợ triển lãm thơng mại không phải tính thuế GTGT), giá tính thuế GTGT đợc xác định theo giá tính thuế của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tơng đơng tại cùng thời điểm phát sinh các hoạt động này
Các nghiệp vụ kinh tế nói trên, mặc dù không có nghiệp vụ thanh toán tiền hàng nhng thực chất đó là những hoạt động mua, bán “kép”, trong đó doanh nghiệp vừa là ngời bán hàng vừa là ngời mua hàng (mua để trao đổi, biếu tặng, trả lơng, sử dụng nội bộ ) Do vậy, các hoạt động phải bị đánh thuế GTGT, tuy nhiên do không xác định đợc giá bán nên khi xác định giá tính thuế GTGT phải căn cứ giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tơng tự tại thời điểm phát sinh các hoạt động này Quy định này vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đảm bảo cho giá tính thuế GTGT phù hợp với giá cả của sản phẩm cùng loại, tơng tự trên thị trờng, tránh tình trạng cơ sở kinh doanh hạ thấp giá để trốn thuế GTGT phải nộp
* Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cơ sở kinh doanh xuất để tiêu dùng không phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hoặc cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì phải tính thuế GTGT đầu ra Giá tính thuế tính theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại
Đối với hàng hoá luân chuyển nội bộ nh xuất hàng hoá để chuyển kho nội bộ,
Trang 11xuất vật t, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh không phải tính, nộp thuế GTGT.
* Đối với đại lý vận tải, đại lý giao nhận hàng hoá, giá tính thuế là toàn bộ
doanh thu bao gồm cả khoản thu hộ khách hàng Trờng hợp trong doanh thu có cả
c-ớc vận tải quốc tế và các khoản phí phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam thì doanh thu tính thuế đợc trừ tiền cớc phí vận tải quốc tế và các khoản phí phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam
Cớc vận tải quốc tế và các khoản phí phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam chính
là giá của các hoạt động dịch vụ mà đối tợng tiêu dùng nó nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, theo thông lệ quốc tế Nhà nớc Việt Nam không có quyền đánh thuế GTGT đối với các hoạt động này
* Đối với cơ sở kinh doanh đợc Nhà nớc giao đất xây nhà, cơ sở hạ tầng kỹ
thuật để bán, để chuyển nhợng gắn với chuyển quyền sử dụng đất, giá tính thuế GTGT đối với nhà, cơ sở hạ tầng bán ra hoặc chuyển nhợng là giá bán, giá chuyển nhợng cha có thuế trừ tiền sử dụng đất theo quy định khi giao đất
Đối với cơ sở kinh doanh đợc Nhà nớc cho thuê đất để đầu t cho thuê cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế khác theo quy định của Chính phủ để cho thuê lại thì giá tính thuế là giá cho thuê cha có thuế GTGT trừ giá thuê đất phải nộp NSNN
* Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế GTGT đối với nhà,
hạ tầng gắn với đất đợc trừ giá đất theo giá do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng quy định tại thời điểm bán đất
* Đối với hàng hóa, dịch vụ có tính đặc thù dùng các chứng từ nh tem bu
chính, vé cớc vận tải, vé xổ số kiến thiết ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá cha có thuế đợc xác định nh sau:
Trang 12Giá thanh toán (tiền bán vé, bán tem ) Giá cha có thuế GTGT = -
1 + (%) thuế suất của hàng hóa, dịch vụ đó
2.3.2 Thuế suất thuế GTGT.
ở nớc ta, trong thời gian đầu chuyển từ thuế doanh thu có nhiều mức thuế suất (11 mức thuế suất từ 0,5% đến 30%) sang áp dụng thuế GTGT, nếu áp dụng một mức thuế suất thuế GTGT cho tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ thì sẽ tạo ra mâu thuẫn rất lớn về thuế suất, gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các hàng hoá đang có thuế suất thuế doanh thu thấp (0,5%) và đem lại “lợi thế giả tạo” cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thuế suất thuế doanh thu cao (30%), tạo ra môi trờng cạnh tranh không công bằng giữa các doanh nghiệp Hơn nữa việc áp dụng cơ chế 1 thuế suất duy nhất trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT có thể gây ra sự xáo trộn về giá cả trong thị trờng nội địa Tất cả những lý do trên cho thấy việc áp dụng 4 mức thuế suất khác nhau (0%, 5%, 10% và 20%) đối với từng nhóm hàng hoá và dịch vụ, trong những năm đầu áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam là rất cần thiết
Sau 5 năm thực hiện Luật thuế GTGT với 4 mức thuế suất, thuế GTGT đã thể hiện đợc vai trò vốn có, ban đầu phù hợp với nền kinh tế đang trong quá trình chuyển
đổi với đặc điểm là hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các ngành và các sản phẩm còn chênh lệch lớn Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta, việc áp dụng nhiều mức thuế suất đã làm cho hệ thống chính sách thuế phức tạp, gây khó khăn trong công tác quản lý thuế và không phù hợp với thông lệ quốc tế
Để khắc phục hạn chế nói trên, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XI, đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, trong đó số lợng nhóm thuế suất đợc thu gọn lại còn 3 mức (0%, 5%, 10%) Các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
Trang 13suất 20% trớc đây nay đợc chuyển sang áp dụng thuế suất 10% Ba mức thuế suất này đợc áp dụng cho các đối tợng sau:
•Thuế suất thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ đợc áp dụng nh sau:
- Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu bao gồm: hàng
xuất khẩu ra nớc ngoài, hàng bán cho khu chế xuất, hàng gia công xuất khẩu và áp dụng đối với cả hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT xuất khẩu (trừ một số trờng hợp: vận tải quốc tế; hàng hoá, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế; dịch vụ tái bảo hiểm ra nớc ngoài; dịch vụ tín dụng, đầu t tài chính, đầu t chứng khoán ra nớc ngoài; vật liệu nổ bao gồm thuốc nổ, dây cháy chậm, kíp nổ và các dạng đợc chế biến thành sản phẩm nổ chuyên dụng nhng không thay đổi tính năng tác dụng của vật liệu nổ và mủ cao su sơ chế nh: mủ cờ rếp, mủ tờ, mủ bún, mủ cốm, mủ đông)
Các loại hàng hoá, dịch vụ sau đây cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất và khu chế xuất không đợc coi là xuất khẩu để áp dụng thuế suất 0% mà phải chịu thuế suất thuế GTGT theo thuế suất quy định nh đối với hàng hoá tiêu dùng tại Việt Nam: Bảo hiểm; ngân hàng; bu chính viễn thông; t vấn; kiểm toán, kế toán; vận tải, bốc xếp; cho thuê nhà, văn phòng, kho bãi; hàng hoá dịch vụ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân ngời lao động; xăng dầu bán cho phơng tiện vận tải
- Mức thuế suất 5%: áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho đời sống
xã hội, đồ chơi trẻ em, nguyên liệu và các phơng tiện phục vụ trực tiếp cho sản xuất cho các lĩnh vực: nông nghiệp, y tế, giáo dục, khoa học- kỹ thuật, nhằm thực hiện chính sách xã hội, khuyến khích đầu t sản xuất
So với quy định trớc đây, Luật thuế GTGT hiện hành có một số điều chỉnh trong nhóm hàng hoá, dịch vụ chịu mức thuế suất (5%) này:
+ Bổ sung nhóm hàng hoá, dịch vụ sau:
(i) Đờng, phụ phẩm trong sản xuất đờng gồm gỉ đờng, bã mía, bã bùn
Trang 14(ii) Nhựa thông sơ chế
(iii) In các sản phẩm nh báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa học kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc và tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động
Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nh hiện nay, con ngời có nhu cầu tiếp cận và nắm bắt các thông tin về văn hoá- xã hội, thông tin kinh tế, thông tin khoa học.v.v.Việc giảm thuế suất đối với hoạt động này nhằm hỗ trợ cho hoạt động phổ cập thông tin trong xã hội
+ Đối với nhóm mặt hàng “Máy vi tính, cụm linh kiện máy vi tính” đang đợc
áp dụng mức thuế suất 5% đợc đề nghị sửa lại tên là “Máy xử lý dữ liệu tự động và các phụ tùng, bộ phận của chúng” Với tên gọi mới, các bộ phận và linh kiện chuyên dùng cho máy vi tính đợc bao quát hơn trong nhóm đối tợng chịu mức thuế suất này
- Mức thuế suất 10%: áp dụng cho các hàng hoá, dịch vụ thông thờng không
nằm trong diện chịu các mức thuế suất nói trên và danh mục không áp dụng thuế GTGT
So với quy định trớc đây, Luật thuế GTGT hiện hành có một số điều chỉnh trong nhóm hàng hoá chịu mức thuế suất (10%) này Cụ thể:
+ Bổ sung nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế TTĐB
Việc đa các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB vào chịu thuế GTGT nhằm
đảm bảo tính liên hoàn giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, tạo điều kiện để cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB đợc khấu trừ thuế GTGT đầu vào, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu,
ổn định nguồn thu cho NSNN
Trang 15+ Chuyển nhóm hàng hoá đang chịu mức thuế suất 5% sang chịu thuế suất 10% đối với: Hoạt xây dựng, lắp đặt; que hàn; dây, cáp điện sử dụng cho điện áp từ 600V trở lên
+ Bổ sung nhóm hàng hoá, dịch vụ trớc đây thuộc nhóm thuế suất 20% nh: Vàng, bạc, đá quý (trừ vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng), đại lý tàu biển; dịch vụ môi giới, xổ số
Luật thuế GTGT hiện hành còn quy định rõ: những hàng hóa, dịch vụ không quy định thuộc đối tợng không chịu thuế GTGT hoặc không quy định thuộc diện áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%, 5% đều áp dụng thuế suất 10%
Trong thời gian đầu áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, để tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất kinh doanh chịu tác động của Luật
điều chỉnh, bổ sung, Bộ Tài chính đã quy định việc áp dụng thuế suất thuế GTGT đối với một số trờng hợp cụ thể nh sau:
(i) Cơ sở xây dựng, lắp đặt có hợp đồng xây dựng, lắp đặt đã ký trớc ngày 1/1/2004 theo giá đã có thuế GTGT với thuế suất thuế GTGT 5% nhng đến ngày 31/12/2005 các công trình xây dựng, lắp đặt dở dang cha hoàn thành thì tiếp tục đợc
áp dụng thuế suất 5% cho phần khối lợng, hạng mục công trình xây dựng, lắp đặt thực hiện còn lại theo hợp đồng
(ii) Cơ sở kinh doanh có dự án đầu t xây dựng nhà để bán, đã ký hợp đồng bán nhà theo giá đã có thuế GTGT với thuế suất thuế GTGT 5%, đã thu tiền của ngời mua tối thiểu là 30% giá trị hợp đồng trớc ngày 1/1/2004 thì đợc áp dụng thuế suất 5% cho các hợp đồng này
• Các mức thuế suất thuế GTGT quy định trên đây đợc áp dụng thống nhất cho từng loại hàng hoá, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thơng mại
Trang 16• Nếu cơ sở sản xuất kinh doanh nhiều loại hàng hoá dịch vụ chịu các mức
thuế suất khác nhau thì phải tổ chức hạch toán riêng doanh thu từng loại hàng hoá, dịch vụ kinh doanh theo từng mức thuế suất quy định đối với mỗi loại hàng hoá dịch
vụ Nếu không hạch toán đợc nh vậy thì doanh nghiệp phải tính thuế GTGT theo mức thuế cao nhất của hàng hoá dịch vụ mà cơ sở có sản xuất kinh doanh trên tổng doanh thu của tất cả hàng hoá dịch vụ bán ra trong kỳ Quy định này nhằm mục đích thúc
đẩy các doanh nghiệp tăng cờng hạch toán kế toán, sử dụng hoá đơn chứng từ theo
đúng quy định, chống trốn lậu thuế
2.4 Phơng pháp tính thuế GTGT.
* Phơng pháp khấu trừ thuế:
a- Đối tợng áp dụng: là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành
lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nớc, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác, trừ các đối t-ợng áp dụng tính thuế theo phơng pháp tính trực tiếp trên GTGT Các cơ sở kinh doanh này là các cơ sở kinh doanh đã thực hiện tốt chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ
Trờng hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ (thuộc diện áp dụng phơng pháp trực tiếp) thì cơ sở phải hạch toán riêng hoạt động kinh doanh này
Trang 17* Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ đợc xác định bằng cách căn cứ vào tổng
số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thay cho phía nớc ngoài, thuế GTGT đối với các chứng từ đặc thù
II- Sự cần thiết phải tăng cờng công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD kinh doanh khách sạn nhà nghỉ :
1 - Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình quản lý thu thuế GTGT
đối với hoạt động kinh doanh khách sạn nhà nghỉ của các DN NQD :
1.1- Thuận lợi :
Do thế mạnh về du lịch và ngành du lịch đợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, nên cấp uỷ đảng và chính quyền từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố rất quan tâm chỉ đạo công tác quản lý hoạt động kinh doanh du lịch, trong đó có hoạt
động khách sạn, nhà nghỉ Dới sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp uỷ và chính quyền, các ngành của tỉnh đã xây dựng quy trình phối kết hợp trong công tác quản lý đối với hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ Cụ thể : Các ngành công an, quản lý thị trờng, chính quyền sở tại đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế đối với hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, nh phối hợp điều tra phát hiện để đa vào quản lý thu thuế đối với các khách sạn mới đa vào hoạt động hoặc là phối hợp trong việc đối chiếu giữa khách nghỉ mà cơ quan công an ( nơi đăng ký khách tạm trú ) nắm đợc số lợng khách nghỉ do các khách sạn tự kê khai với cơ quan thuế
Trang 18Các chủ DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ đều nắm vững luật pháp và chế độ chính sách thuế, các quy định về hoạt động kinh doanh khách sạn và thực hiện tốt cế độ kế toán, hoá đơn chứng từ Các doanh nghiệp đều có nhân viên kế toán giúp cho doanh nghiệp hạch toán và kê khai nộp thuế 100% các doanh nghiệp đăng
ký nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ
1.2- Khó khăn :
- Về chính sách thuế nh thuế GTGT, thuế TNDN và chế độ tài chính không có quy định hoặc hớng dẫn riêng đối với hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ; nên khi áp dụng chính sách thuế gặp nhiều khó khăn
- Kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ có đặc điểm khác biệt với các hoạt động kinh doanh khác, bởi đối tợng chịu thuế không phải là hàng hoá, vật t đơn thuần mà
là khách nghỉ Đặc biệt đối với DN NQD còn có điểm khác biệt khác đó là nơi hoạt
động kinh doanh thờng gắn với nơi sinh hoạt của gia đình chủ DN Do tính chất đặc biệt này nên việc áp dụng quy trình quản lý thu thuế gặp rất nhiều khó khăn
- Hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ của các DN NQD rất phức tạp đòi hỏi phải có sự kết phối hợp chặt chẽ với chính quyền sở tại và các ngành nh công an,
du lịch Song vấn đề khó khăn là thiéu kinh phí để chi tiêu cho việc phối kết hợp nên phần nào hạn chế đến hiệu quả của công tác chống thất thu ngân sách
2 - Sự cần thiết phải tăng cờng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các DNNQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ :
Sự tồn tại và phát triển cuả các DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ là một tất yếu khách quan, phù hợp với tình hình đổi mới của đất nớc Trở thành một trong năm thành phần kinh tế, các DN NQD cũng có những quyền lợi và nghĩa vụ
nh các thành phần kinh tế khác Do đó việc tăng cờng công tác quản lý thu thuế đối với cá DN NQD là cần thiết, xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Trang 19- Nguyên nhân thứ nhất:
Trở thành một thành phần kinh tế tự chủ, các DN NQD đã góp phần không nhỏ vào quỹ tiền tệ chung của Nhà nớc Số DN NQD ngày càng nhiều và càng phát triển đã làm cho số tiền thuế huy động đợc từ các cơ sở kinh doanh ngày càng tăng Vì vậy, nếu buông lỏng công tác quản lý sẽ làm thất thu một khoản tiền thuế lớn cho Ngân sách Nhà nớc Hơn thế nữa, sẽ làm mất sự công bằng giữa các thành phần kinh tế
sở kinh doanh này đều thực hiện nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ, nên thực
tế đã xảy ra tình trạng DN chỉ kê khai phòng khách nghỉ lấy hoá đơn còn phòng khách nghỉ không lấy hoá đơn thì không kê khai, vì vậy công suất phòng sử dụng có khách nghỉ theo kê khai của một số DN đạt thấp, cá biệt có DN số thuế GTGT phát sinh trong tháng thấp hơn cả hộ cá thể kinh doanh cùng ngành nghề Điều này đã gây
ra sự bất bình đẳng giữa kinh doanh nhà nghỉ khách sạn với các ngành nghề kinh doanh khác, đồng thời còn gây thất thu lớn đối với ngân sách nhà nớc
- Nguyên nhân thứ ba:
Thuế GTGT là sắc thuế mới đợc đa vào áp dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và thành phần kinh tế cá thể nói riêng còn gặp nhiều vớng mắc Vì vậy, Nhà nớc có nhiều sự quan tâm chỉ đạo tới lĩnh vực này và đang từng bớc sửa đổi, bổ sung để ngày càng hoàn thiện luật thuế GTGT nói riêng và hệ thống thuế nói chung
Trang 20Nh vậy, việc tăng cờng quản lý thu thuế GTGT đối với các DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ là rất cần thiết và có ý nghĩa tích cực Làm tốt công tác này sẽ đem lại những kết quả đáng chú ý:
+ Đảm bảo số thu cho ngân sách Nhà nớc: Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc hiện nay, Nhà nớc cần phải có một lợng vốn rất lớn để phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề đặt ra là bằng mọi biện pháp tăng cờng huy động nguồn thu
từ thuế để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội của đất nớc Trong những năm vừa qua và ngày từ khi mới ra đời thuế luôn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nớc Tuy vậy, mức thất thu thuế vẫn còn lớn, vì vậy việc tăng cờng các biện pháp quản lý thu thế có ý nghĩa rất quan trọng
+ Thông qua công tác quản thu thuế đối với các DN NQD còn góp phần hoàn thiện vai trò quản lý Nhà nớc với khu vực kinh tế này Khi chuyển sang cơ chế thị tr-ờng, Nhà nớc không còn can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế mà chỉ sử dụng các công
cụ kinh tế tài chính để quản lý vĩ mô, điều chỉnh nền kinh tế Một trong những công
cụ quan trọng là thuế Bên cạnh việc động viên, huy động nguồn thu vào ngân sách Nhà nớc, thuế còn đóng vai trò là công cụ quản lý, hớng dẫn, kích thích, điêù tiết hoạt động sản xuất kinh doanh đối với khu vực kinh tế này Thông qua đó mà Nhà n-
ớc kiểm ra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh, duy trì và đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
+ Tăng cờng công tác quản lý thu thuế sẽ đảm bảo cho các chính sách thuế
đ-ợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh, phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng của thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế cũng nh DN NQD Từ đó làm giảm bớt các hành vi tiêu cực trong thu nộp thuế, đồng thời thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển
Trang 21Phần II
Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD kinh doanh khách sạn nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh quảng ninh
I- Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng ninh :
1 - Điều kiện tự nhiên, xã hội của tỉnh Quảng Ninh :
Tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc tổ quốc có địa hình khá dài và rộng với diện tích tự nhiên 5.938 km2 có đờng biên giới đất liền tiếp giáp với Trung Quốc dài
132 km, phía đông giáp với vịnh Bắc Bộ với chiều dài bờ biển là 250 km, phía tây giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Dơng, Hải Phòng còn lại giáp với khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc
Dân số Quảng Ninh hiện nay trên 1 triệu ngời, có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố trong đó có một thành phố (Hạ Long), ba thị xã (Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí) và 10 huyện (Đông Triều, Yên Hng, Hoành Bồ, Vân Đồn )
Quảng Ninh nằm trong miền đất khỏ dài từ Múng cỏi tới Đụng Triều theo đường bộ gần 300 km Địa hỡnh rất phong phỳ, trước mặt là biển, sau lưng là nỳi, xen lẫn những dải đồng bằng, trung du nhỏ hẹp Quảng Ninh thực sự là tỉnh cú tiềm năng đa dạng, phong phỳ “là một Việt Nam thu nhỏ”
Quảng Ninh nổi tiếng vỡ vừa cú nhiều khoỏng sản quý, trong đú cú trữ lượng than lớn nhất và chất lượng tốt nhất trong cả nước lại vừa cú nhiều thắng cảnh trong đú cú Vịnh Hạ Long một danh thắng đó được UNESCO cụng nhận là di sản thiờn nhiờn của thế giới, cựng với địa danh quen thuộc như Yờn Tử, Tuần Chõu, Trà Cổ Hỡnh thành một quần thể du lịch hấp dẫn thu hỳt khỏch thập phương đến thăm quan du lịch quanh năm
Trang 22Quảng Ninh là tỉnh nằm trong khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng -Quảng Ninh đây là điều kiện thuận lợi để công nghiệp than, điện, xi măng, thơng mại, du lịch, phát triển đang dần thu hút đợc các nhà đầu t nớc ngoài và khách du lịch các n-
ớc Do có thế mạnh về du lịch nên trong những năm gần đây hoạt động du lịch trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh đợc đầu t, phát triển mạnh Hiện nay trên địa bàn tỉnh có
363 DN NQD kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, năm 2005 nộp NSNN 4708 triệu
đồng, bằng 123% so với năm 2004
Những điều kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh là thế mạnh để trở thành tỉnh có khu công nghiệp lớn mạnh và nghành du lịch phát triển
2- Tỡnh hỡnh sản xuất, kinh doanh trờn địa bàn Quảng Ninh
Quảng Ninh là Tỉnh thuộc vựng kinh tế trọng điểm phớa bắc với tiềm năng thế mạnh về khai thỏc tài nguyờn khoỏng sản, kinh tế biển, du lịch, thương mại Trong những năm qua, cựng với sự phỏt triển mạnh mẽ của cả nước, nền kinh tế Quảng Ninh
đó đạt được những thành tớch đỏng kể, tốc độ tăng trưởng luụn cao hơn mức bỡnh quõn của cả nước và luụn giữ ở mức từ 10% đến 12%/năm Trong đú năm 2005 tốc
độ tăng trưởng kinh tế GDP 12,65%; giỏ trị sản xuất cụng nghiệp 19,3%; giỏ trị sản xuất nụng lõm ngư nghiệp 7,9%; giỏ trị sản xuất cỏc ngành dịch vụ 16%; kim ngạch xuất khẩu 23,7% Cú được kết quả tổng quỏt như trờn là do Quảng Ninh cú đội ngũ cỏc doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ với đủ cỏc thành phần kinh tế với hàng ngàn những hộ kinh doanh cố định với những ngành nghề như: thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và cũn hàng trăm hộ sản xuất kinh doanh làm cỏc nghề như: vận tải, nghề cỏ, xõy dựng vv Cú cỏc ngành kinh tế mũi nhọn như: sản xuất than, vật liệu xõy dựng, thương mại, du lịch, thuỷ sản và kinh tế cảng biển cú bước phỏt triển tốt Đõy là những điều kiện thuận lợi để đảm bảo tạo nguồn thu ngõn sỏch, đỏp ứng nhu cầu chi tiờu của ngõn sỏch địa phương
Trang 23Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn chủ yếu là phát triển theo chiều rộng, tăng về số lượng nhưng chậm phát triển về chất lượng, chưa bảo đảm phát triển bền vững Sức cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp chưa cao; tình trạng đầu
tư, nhất là đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn kéo dài; sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong từng ngành tuy đã khá hơn những năm trước nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; sản xuất công nghiệp tuy có bước tiến nhưng hiện đại hoá chậm, chưa hình thành các ngành công nghệ cao, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao…Đây là một trong những khó khăn trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
3- Vµi nÐt vÒ Côc thuÕ tØnh Qu¶ng Ninh vµ c¬ cÊu Côc ThuÕ :
3.1 Tổ chức bộ máy:
Năm 1990, Nhà nước tiến hành cải cách thuế bước I với việc công bố và thi hành các chính sách thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế Đồng thời với việc ban hành chính sách thuế, hệ thống thu thuế Nhà nước trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập Cùng với các Cục Thuế tỉnh và thành phố khác trên cả nước, Cục Thuế Tỉnh Quảng Ninh được thành lập theo quyết định số 314 ngày 21/8/1990, là tổ chức trực thuộc Tổng Cục Thuế, chịu sự song trùng lãnh đạo của chính quyền cùng cấp, có chức năng tổ chức thực hiện quản lý thu thuế, phí, lệ phí
và các khoản thu khác trên địa bàn toàn Tỉnh theo qui định của pháp luật
Qua từng thời kỳ, tổ chức bộ máy Cục Thuế Quảng Ninh vừa xây dựng, vừa hoàn thiện, đội ngũ cán bộ công chức được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Hiện nay toàn ngành có 779 cán bộ công chức ở 15 đơn vị gồm 14 Chi cục thuế Huyện, Thị xã, Thành phố và cơ quan Cục Thuế, trong đó trình độ đại học là
305 công chức (= 39%),còn lại là trình độ cao đẳng và trung cấp C¸c chi côc thuÕ trùc thuéc Côc thuÕ tØnh Qu¶ng Ninh lµ :
- Chi cục thuế TP Hạ Long
Trang 24- Chi cục thuế Cẩm Phả
- Chi cục thuế Võn Đồn
- Chi cục thuế Cụ Tụ
- Chi cục thuế Ba Chẽ
- Chi cục thuế Bỡnh Liờu
- Chi cục thuế Tiờn Yờn
- Chi cục thuế Múng Cỏi
- Chi cục thuế Hải Hà
- Chi cục thuế Đầm Hà
- Chi cục thuế Hoành Bồ
- Chi cục thuế Yờn Hưng
- Chi cục thuế Uụng Bớ
- Chi cục thuế Đụng Triều
Trong đó, cơ quan Cục Thuế là cơ quan đầu não của ngành thuế Quảng Ninh,
có nhiệm vụ chỉ đạo nghiệp vụ trong toàn ngành thuế Với tổng số 151 cán bộ công chức, trong đó 74% có trình độ đại học và trờn đại học Sơ đồ tổ chức bộ máy của cơ quan Cục thuế tỉnh Quảng Ninh nh sau :
Năm 2005 được chia thành 11 phũng:
Trang 25hỗ trợ
tổ chức
và cá
nhân nộp thuế
Phòng thanh tra số 1
Phòng thanh tra số 2
Phòng
tổ chức cán bộ
Phòng quản lý doanh nghiệp
số 1 (Thí
điểm tự
kê khai,
tự nộp thuế:
123 DN)
Phòng quản lý doanh nghiệp
số 2
Phòng tin học
và xử lý dữ liệu
về thuế
Phòng hành chính–
quản trị–tài
vụ
Phòng tổng hợp và
dự toán
Từ năm 2006 cục thuế Quảng Ninh là 1 trong 5 Cục thuế trờn toàn quốc thớ điểm thực hiện mụ hỡnh quản lý thuế chủ yếu theo chức năng và cơ chế tự kờ khai,tự nộp thuế cho tất cả cỏc doanh nghiệp do cục thuế quản lý (932 doanh nghiệp) và được chia thành 10 phũng:
BAN LãNH đạo Cục thuế
BAN LÃNH ĐẠO CỤC THUẾ
lý thu
nợ thuế
Phũng
xử lý
tờ khai
và kế toỏn thuế
Phũng thanh tra số 1
Phũng thanh tra số
2
Phũng tổng hợp
dự toỏn
Phũng quản
lý ấn chỉ
Phũng
tổ chức cỏn bộ
Phũng hành chớnh- quản trị-tài vụ
Phũng tin học
Trang 263.2 Tình hình thu Ngân sách Nhà nước:
Cục Thuế Quảng Ninh luôn xác định thu Ngân sách là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt quá trình hoạt động của đơn vị, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, có hiệu quả của cấp uỷ chính quyền địa phương, của Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế, Cục Thuế Tỉnh Quảng Ninh đã liên tục hoàn thành toàn diện và vượt mức dự toán được cấp trên giao với số thu năm sau cao hơn năm trước
Là đơn vị có số thu nội địa lớn hơn 2.000 tỷ đồng (Năm 2005), quản lý số đối tượng nộp thuế lớn hơn 2.000 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế; hơn 19.000 hộ sản xuất, kinh doanh cá thể; hơn 2.000 cá nhân nộp thuế thu nhập cao; trên 104.700 hộ nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp(cơ bản đã được miễn thuế);trên 235.000 hộ nộp thuế nhà đất; trên 220 đơn vị thuộc diện nộp phí, lệ phí…Trong 5 năm từ năm 2001 đến năm 2005 tổng số thu nội địa do Cục thuế thu đạt trên 6.500
tỷ đồng, đây thực sự là nguồn lực tài chính quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá của Tỉnh Quảng Ninh Tổng thu Ngân sách Nhà nước của Cục Thuế Quảng Ninh năm 2005 như sau:
Trang 27KẾT QUẢ THỰC HIỆN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2005
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
2005
Thực hiện 2005
% hoàn thành
So dự toán
9 Thu cấp quyền sử dụng đất 234.000 218.853 94% 86%