Trong hoạt động của chính quyền địa phương, vấn đề nổi lên bức xúc hiện nay là tổchức và hoạt động
Trang 1MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động của chính quyền địa phương, vấn đề nổi lên bức xúc hiện nay là tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã Đây là cấp gần dân nhất, là nơi trực tiếp đưa các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nền tảng của mọi công tác là cấp xã [42, tr 456] và cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính - cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi [43, tr 372]
Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cho thấy rằng: Tình hình chính trị - xã hội Việt Nam ở mỗi thời kỳ và giai đoạn phát triển ổn định hay không, tuỳ thuộc một phần không nhỏ vào sự ổn định của cấp xã Song cũng chính ở nơi đây hiện nay rất nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết
Trong những năm gần đây, chính quyền cấp xã cả nước đã có những mặt tiến bộ rõ nét, có sự chuyển biến rõ rệt, nhất là sự chuyển biến cả về tổ chức và hoạt động về nhận thức, tư duy, phong cách lãnh đạo quản lý không còn thụ động hành chính như trước Tuy vậy, so với yêu cầu cải tiến nền hành chính nhà nước thì tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã còn bộc lộ nhiều yếu kém, khiếm khuyết, thậm chí có nhiều khuyết điểm nghiêm trọng Mặt khác, so với tiến trình đổi mới tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung thì quá trình đổi mới ở chính quyền cấp xã là quá chậm Hơn nữa, do quản lý của cấp trên còn có mặt lỏng lẻo, thiếu sâu sát và kém kiên quyết nên ở không ít nơi, một bộ phận không nhỏ cán bộ chính quyền cấp xã đã thoái hoá biến chất, trở thành tầng lớp đặc quyền đặc lợi, quan liêu tham nhũng, sa đoạ về lối sống Sự phản ứng tập thể của nhân dân tại nhiều
cơ sở ở một số địa phương và đặc biệt là ở Thái Bình: Phần lớn các vùng nông thôn trong tỉnh, nông dân đã phản ứng và khiếu kiện về những vấn đề dân chủ công bằng, đòi thanh tra và công khai hóa việc phân chia ruộng đất
và nhất là việc thu, chi những khoản đóng góp mà chính quyền cấp xã thu
Trang 2của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong nông thôn Có những
xã nông dân nổi dậy đập phá trụ sở UBND xã, đập phá nhà của cán bộ xã; đồng thời đánh đập, tra tấn các cán bộ xã bị coi là phần tử tham nhũng Phần đông các cán bộ xã đã phải trốn chạy Đó là hồi chuông báo động về tình hình đáng lo ngại đối với chính quyền cấp xã
Trong bối cảnh trên đã đến lúc cần có sự nghiên cứu toàn diện và nghiêm túc về chính quyền cấp xã, từ đó nhìn nhận trước hết các vấn đề quan trọng, cấp bách cần tháo gỡ cũng như hướng cải cách ở tầm chiến lược đối với chính quyền cấp này
Vì vậy việc lựa chọn vấn đề "Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình" trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước
làm đề tài luận văn là cần thiết, phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã từ năm 1991 đến nay đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà hoạt động chính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như:
- Học viện hành chính quốc gia năm 1991, đã công bố một bộ 3 cuốn sách về:
+ Cải cách bộ máy nhà nước
+ Cải cách bộ máy quản lý hành chính nhà nước và xây dựng đội ngũ công chức nhà nước
+ Cải cách cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế
Tiếp đó năm 1993 xuất bản kỷ yếu hội thảo đề tài KX 05-08 về phương thức tổ chức hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước
Những cuốn sách trên có một số bài của một số tác giả viết về tổ chức, hoạt động của các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương, trong
đó có chính quyền cấp xã
Trang 3- Tình hình các tổ chức chính trị ở nông thôn nước ta của giáo sư Hồ
Văn Thông được in trong cuốn sách "Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay", tập II, NXB Tư tưởng Văn hoá, Hà Nội, 1991
- Lê Đình Chếch, Về Nhà nước xã hội chủ nghĩa và công tác cán bộ chính quyền cấp xã ở Hải Hưng, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội, 1994
Đặc biệt trong những năm gần đây, cải cách hành chính nhà nước là một nội dung rất quan trọng của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, một
số đề tài khoa học, sách báo đề cập đến vấn đề này mang tính trực tiếp và hoàn chỉnh hơn Tiêu biểu là các cuốn sách:
- "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" của Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh do tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và giáo sư Hồ Thông chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
- "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam" của Học
viện Hành chính Quốc gia do tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
- "Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã" của Ban Tổ
chức Cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước do tiến sĩ Chu Văn Thành chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
- Một số vấn đề tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay do phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Tiến Quý chủ biên
- 55 năm xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
Ngoài ra, một số người làm công tác quản lý giữ cương vị chủ chốt ở địa phương cũng bàn về tổ chức bộ máy của chính quyền từ thực tế hoạt động của địa phương mình thông qua các bài viết đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, Tạp chí Nhà nước pháp luật
Nhìn chung các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã đề cập hoặc là ở dạng chung nhất hoặc ở một vài khía cạnh thuộc về tổ chức hoạt động của chính quyền cấp
Trang 4xã, có khi trực tiếp nhưng cũng có bài chỉ đề cập một cách gián tiếp mà chưa
có công trình nghiên cứu sâu có hệ thống dưới một luận án khoa học về chính quyền cấp xã ở một tỉnh cụ thể như đề tài nêu trên Tuy nhiên, trong các công trình đã được công bố có những quan niệm liên quan đến đề tài được tác giả luận văn tham khảo có kế thừa, chọn lọc
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước; đồng thời trên cơ sở phân tích thực trạng và những bất cập trong tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở địa phương, nêu ra phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình
- Nhiệm vụ của luận văn
+ Phân tích cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã Vị trí vai trò chính quyền cấp xã, tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã
+ Phân tích thực trạng tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã ở tỉnh Thái Bình, qua đó nêu ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục
+ Đưa ra những giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã trong điều kiện cải cách hành chính
4- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) là đề tài rộng được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến chính quyền cấp xã và được minh chứng bằng thực tiễn tỉnh Thái Bình
- Giới hạn thời gian nghiên cứu của luận văn từ thời kỳ đổi mới, song chủ yếu tập trung vào thời kỳ từ sau đại hội VII của Đảng năm 1991 (khẳng định rõ quan điểm cải cách hành chính) đến nay
5- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 5- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận Nhà nước - pháp luật nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp lịch sử - cụ thể; phân tích tổng hợp, điều tra
xã hội học
6- Đóng góp mới của luận văn:
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã Đặc biệt làm rõ đặc điểm của chính quyền cấp xã ở tỉnh thuần nông như Thái Bình hiện nay
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình, luận văn nêu ra phương hướng giải quyết nhằm đổi mới
tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã phù hợp với điều kiện cải cách hành chính nhà nước đối với tỉnh đặc thù thuần nông Thái Bình
- Luận văn làm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
7- Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết
Trang 6Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về tổ chức, hoạt động
của chính quyền cấp xã
1.1 Chính quyền cấp xã - khái niệm, đặc điểm, vị trí vai trò1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của chính quyền cấp xã
Theo Luật tổ chức HĐND - UBND sửa đổi, chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) [48, tr.7] là một cấp trong hệ thống hành chính 4 cấp của nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị, là cơ sở thực tiễn hình thành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Cấp xã là cấp cuối cùng, gần dân nhất, sát dân nhất nên được gọi là cấp cơ sở
Chính quyền cấp xã là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong
hệ thống tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cấp xã
được thành lập trên cơ sở đơn vị thôn làng Hiến pháp năm 1946 ghi rõ chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã Chính quyền cấp xã gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, trong đó Hội đồng nhân dân
là cơ quan quyền lực ở xã do dân cử ra, bầu ra Uỷ ban hành chính và Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân (HĐND); các cơ quan chuyên môn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban hành chính
Sau cuộc bầu cử HĐND cấp xã khóa đầu tiên (4-1946), Chính phủ tiến hành hợp nhất một vài thôn, làng thành các xã lớn Việc lập các xã lớn có vai trò quan trọng trong việc tổ chức phong trào chiến tranh du kích, động viên lực lượng toàn dân tham gia kháng chiến Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Uỷ ban hành chính đổi tên thành Uỷ ban kháng chiến hành chính Đến thời kỳ cải cách ruộng đất, việc chỉnh đốn chính quyền cấp xã được tiến hành theo hướng: đề bạt cán bộ nông dân tốt, loại trừ cán bộ thuộc thành
Trang 7phần địa chủ, cường hào, phú nông, nhấn mạnh một chiều vào thành phần giai cấp nên đã làm hạn chế năng lực của cán bộ xã Những khiếm khuyết đó
đã làm suy yếu chính quyền cấp xã trong một thời gian dài
Hiến pháp năm 1959 tiếp tục củng cố và kiện toàn hệ thống chính trị, trong đó có bộ máy quản lý cấp xã Tuy nhiên trong thời gian này, nhìn chung HĐND hoạt động nặng về hình thức, Uỷ ban hành chính hoạt động theo Nghị quyết của cấp uỷ và ban quản trị hợp tác xã, hợp tác xã từng bước chi phối các hoạt động ở xã Hợp tác xã không những chỉ là tổ chức kinh tế
mà còn chi phối các hoạt động chính trị, xã hội, văn hoá của dân cư trong địa bàn Cùng với nó là chế độ bao cấp và sản xuất theo kế hoạch từ trên xuống
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn quan liêu tham nhũng trong bộ máy quản lý cấp xã, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm Thực
tế đã diễn ra sự biến dạng nhất định về phương thức hoạt động của chính quyền cấp xã
Trong thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước đang tập trung sức lực và trí tuệ vào công cuộc chống Mỹ cứu nước, chính quyền cấp xã chủ yếu làm nhiệm vụ động viên sức người, sức của phục vụ kháng chiến Trải qua mấy chục năm dân số các xã lên quá cao, hơn nữa việc chia tách trước
đây cũng không hợp lý, gây khó khăn cho việc sinh hoạt và quản lý, vì làng nào cũng muốn đưa người của mình vào bộ máy chính quyền, nên phải phân
bổ đồng đều giữa các thôn, nhiều người không có năng lực nhưng buộc phải giao công tác vì là cơ cấu, và thường xảy ra hiện tượng làng lớn ép làng nhỏ,
do đó các xã lớn lại được phân nhỏ
Vào cuối những năm 70, ở nhiều nơi hệ thống tổ chức chính trị cấp xã hoạt động không ăn khớp, hoạt động của Đảng và chính quyền chồng chéo, lấn sân nhau Người nông dân ít quan tâm đến việc mở rộng sản xuất, chỉ lo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, không có ý thức làm giàu
Từ khi có Chỉ thị 100 và khoán 10 (năm 1988) nông thôn đã có những thay đổi toàn diện và to lớn Điều này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến vai trò,
Trang 8chức năng và nhiệm vụ của bộ máy chính quyền cấp xã Sự thay đổi này bắt nguồn từ sự chuyển biến trong hệ thống kinh tế mới, kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Với việc khoán hộ, mỗi gia đình trở thành một đơn vị sản xuất độc lập, hợp tác xã tập trung vào chức năng quản lý kinh doanh, xem nhẹ chức năng quản lý nhà nước Tình hình đó dẫn đến chính quyền cấp xã rơi vào tình trạng lúng túng
về phương thức hoạt động Trong cơ chế thị trường, trình độ nhận thức của người nông dân cũng được nâng cao hơn trước, nhưng trình độ quản lý của cán bộ xã còn nhiều yếu kém, đòi hỏi phải có chính sách thích hợp, nhằm củng cố và tăng cường đội ngũ cán bộ cấp xã, đáp ứng với yêu cầu và nhiệm
vụ mới Để khắc phục những khiếm khuyết đó, Nhà nước đã có những văn bản quy định nhiệm vụ, chức năng của các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp xã Năm 1993 Nhà nước ban hành Luật đất đai, giao quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp lâu dài, ổn định cho hộ nông dân, hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ được giải thể và chuyển đổi sang hợp tác xã kiểu mới với chức năng chủ yếu là hoạt động dich vụ, phục vụ sản xuất nông nghiệp, thuỷ lợi, giống, phân bón, cày bừa
Xuất phát từ đặc điểm cấp xã là đơn vị hành chính lãnh thổ nhỏ nhất trong hệ thống bộ máy nhà nước nên chính quyền cấp xã có đặc điểm như sau:
Một là, chính quyền cấp xã là cấp cơ sở tiếp xúc trực tiếp với nhân dân Cán bộ cấp xã hàng ngày sinh hoạt với dân trong mối quan hệ không chỉ là giữa chính quyền với dân mà còn là quan hệ gia tộc và xóm làng lâu
đời với cả những tập quán tốt đẹp cơ bản cũng như một số tập quán lạc hậu;
là người giải quyết trực tiếp hàng ngày không qua chính quyền trung gian nào khác những vấn đề dân quyền, dân sinh, dân trí, dân tâm, làm sao một mặt phải theo đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; mặt khác phải sát hợp với tình hình thực tế trong xã hội và thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm làng Sự đổi mới từng ngày của nông thôn về các mặt đòi hỏi
Trang 9cán bộ chính quyền cấp xã phải có tư duy mới, trình độ và kiến thức mới về chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quản lý
Hai là, tổ chức bộ máy ở xã không giống như ở các đơn vị hành chính cấp trên, ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phương Vì thế chính quyền cấp xã phải quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế - xã hội,
an ninh trật tự, an toàn xã hội theo thẩm quyền do pháp luật quy định Nó có một vị trí quan trọng trong hệ thống chính quyền nhà nước, nối liền trực tiếp chính quyền với quảng đại quần chúng nhân dân Cho nên HĐND xã phải thực sự là đại biểu cho nhân dân ở cơ sở; UBND là cơ quan chấp hành của HĐND xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở, xử lý kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân
Ba là, chính quyền cấp xã thuần nông và chính quyền cấp xã ở đó có các hợp tác xã thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cơ bản giống nhau, đó
là, đều thực hiện việc quản lý địa phương về các mặt chính trị, kinh tế - xã hội, anh ninh trật tự, an toàn xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, thi hành pháp luật theo quy định của pháp luật Song bên cạnh đó có điểm khác nhau là, chính quyền cấp xã có các hợp tác xã thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã nói chung, còn phải thực hiện việc quản lý ngành nghề; Đồng thời trong quản lý ngành nghề đòi hỏi phải áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, phát triển các ngành nghề mới, năng động tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm, giải quyết việc làm, cải thiện
đời sống của nhân dân địa phương
1.1.2 Vị trí vai trò của chính quyền cấp xã trong bộ máy nhà nước 1.1.2.1 Vị trí vai trò của HĐND
Điều 119 Hiến pháp 1992, luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi năm 1994) quy định:
HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương
Trang 10bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên [46, tr.58]
- HĐND là cơ quan quyền lực ở địa phương, vừa là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực Nhà nước thống nhất trong cả nước, với quyền làm chủ của nhân dân, vừa đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và quyền làm chủ mọi mặt của nhân dân địa phương HĐND vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, vừa chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về mọi mặt kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện pháp lụât, các quyết định của các cơ quan Nhà nước cấp trên Trong tổ chức và hoạt động của mình, vai trò của HĐND được biểu hiện:
Một mặt, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND được nhân dân giao quyền thay mặt thực hiện quyền lực Nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội; biến ý chí của nhân dân địa phương trở thành bắt buộc đối với dân cư trên lãnh thổ địa phương, giám sát hoạt động của UBND cùng cấp; giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương
Mặt khác, với tư cách là cơ quan đại diện, HĐND là cơ quan do cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín HĐND là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân địa phương, đại diện cho trí tuệ tập thể của nhân dân
1.1.2.2 Vị trí vai trò của UBND
Vị trí pháp lý và vai trò của UBND được quy định rõ trong Hiến pháp
và luật tổ chức HĐND và UBND
Điều 123 Hiến pháp 1992, Điều 2 luật tổ chức HĐND và UBND sửa đổi quy định: "UBND do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp [47, tr.6]
Trang 11UBND cấp xã có 2 tư cách: là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND cấp xã có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp lụât Tổ chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật, Nghị quyết của HĐND cùng cấp
Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND
có vai trò trong việc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương mình
1.1.3 Mối quan hệ giữa chính quyền cấp xã với hệ thống chính trị cơ sở
1.1.3.1 Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với Đảng uỷ cơ sở
Đảng cộng sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng lãnh
đạo Nhà nước và xã hội Do đó trong mọi hoạt động của mình, HĐND, UBND cấp xã phải chấp hành đường lối chủ trương của Đảng và chịu sự lãnh
đạo của Đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn
Ban chấp hành Đảng bộ cơ sở thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND, UBND xã bằng chủ trương, Nghị quyết và các biện pháp lớn, bằng việc bố trí cán bộ thực hiện quyền kiểm tra việc chấp hành đường lối chủ trương chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng Sự lãnh đạo của cấp uỷ cơ sở còn được thực hiện thông qua những đảng viên phụ trách và các đồng chí đảng viên công tác trong HĐND, UBND
Căn cứ vào Nghị quyết của đại hội Đảng bộ, HĐND, UBND xây dựng
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách hàng năm của địa phương, báo cáo để thường vụ Đảng uỷ thông qua trước khi trình HĐND xem xét quyết định
6 tháng 1 lần, UBND xã báo cáo với ban chấp hành Đảng bộ cơ sở về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và việc tổ chức thực hiện những chủ trương mà Đảng bộ đề ra
Trang 121.1.3.2 Mối quan hệ giữa HĐND với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
HĐND các cấp phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội khác ở địa phương xây dựng mối quan hệ làm việc
để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Mỗi năm 2 lần vào giữa năm và cuối năm, chủ tịch HĐND thông báo bằng văn bản đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp về tình hình hoạt động của HĐND cấp mình và nêu những kiến nghị của HĐND với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Trong kỳ họp thường lệ của HĐND, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp báo cáo về hoạt động của Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền, về những ý kiến, kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc đối với HĐND, UBND và đại biểu HĐND cùng cấp
Chủ tịch HĐND phối hợp với ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cùng cấp theo dõi hoạt động và giúp đỡ đại biểu HĐND làm nhiệm vụ đại biểu, tổ chức cho đại biểu tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến nguyện vọng của nhân dân để báo cáo với HĐND
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thường xuyên giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND, đề nghị khen thưởng những đại biểu có thành tích xuất sắc, đề nghị bãi miễn những đại biểu không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân theo quy định của pháp luật
Chủ tịch HĐND tổ chức để đại biểu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tham gia các hoạt động giám sát, kiểm tra phù hợp với ban thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo văn bản pháp luật và những vấn đề quan trọng ở cơ sở
1.1.3.3 Mối quan hệ giữa UBND với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở cơ sở được mời dự các phiên họp của UBND khi bàn về các vấn
đề có liên quan
Trang 13UBND tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cư, cán bộ công chức nhà nước
UBND thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của cơ sở cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
UBND và các thành viên của UBND có trách nhiệm giải quyết và trả lời các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) có vị trí rất quan trọng, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Tuy có chức năng và quyền hạn khác nhau, nhưng HĐND
và UBND cấp xã có mối quan hệ mật thiết về mặt tổ chức cũng như trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Do đó việc phát huy và thực hiện tốt vai trò của UBND xã, phường, thị trấn là góp phần nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cùng cấp và ngược lại: không ngừng cải tiến
đổi mới nội dung phương pháp làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động là biện pháp thiết thực để củng cố vai trò vị trí của chính quyền cấp xã, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay,
động viên các tầng lớp nhân dân ở địa phương tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương, mở rộng dân chủ, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để làm được những việc đó thì một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải không ngừng nâng cao trình độ năng lực kiến thức và phẩm chất chính trị cho cán bộ chính quyền cấp xã bởi vì " Cán bộ là nhân
tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng
Đảng" [29, tr.66]
Trang 141.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã
- Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ 2.000 người trở xuống được bầu 19 đại biểu, nếu có trên 2.000 người thì cứ thêm 500 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không quá 25 đại biểu;
- Xã có từ 1.000 người trở xuống được bầu 15 đại biểu;
- Phường có từ 5.000 người trở xuống được bầu 19 đại biểu, có trên 5.000 người thì cứ thêm 3.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng
số không quá 25 đại biểu [45, tr.57]
- HĐND cấp xã không có các ban và thường trực HĐND như HĐND cấp huyện và cấp tỉnh, mà chỉ có: Chủ tịch HĐND, phó chủ tịch HĐND, các
đại biểu HĐND [48, tr.7]
- Nhiệm kỳ mỗi khoá HĐND các cấp là 5 năm [48, tr.7]
1.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã
HĐND các cấp nói chung và HĐND cấp xã nói riêng đều có 2 chức năng:
- Chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc quyền của địa phương Cụ thể, HĐND cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quyết
định về các vấn đề thuộc các lĩnh vực sau:
+ Trong lĩnh vực kinh tế, HĐND cấp xã quyết định:
Biện pháp thực hiện việc phát triển kinh tế - xã hội hàng năm nhằm phát huy mọi tiềm năng của địa phương
Trang 15Dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết
Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương; biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở địa phương
Biện pháp khuyến khích, vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, cây trồng vật nuôi theo quy hoạch chung
Biện pháp thực hiện chương trình khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp trên
Biện pháp về xây dựng và phát triển hợp tác xã, tổ hợp ở địa phương; tuyên truyền vận động nhân dân tham gia hợp tác xã
Biện pháp quản lý, sử dụng, bảo vệ nguồn nước các công trình thuỷ lợi theo hướng dẫn của cấp trên; biện pháp phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt, bảo vệ rừng, tu bổ và bảo vệ đê điều ở địa phương
Biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông cầu cống trong xã và các cơ sở hạ tầng khác ở địa phương
Biện pháp thực hiện chính sách tiết kiệm, chống tham nhũng, chống buôn lậu
+ Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, xã hội và đời sống, HĐND cấp xã quyết định:
Biện pháp thực hiện việc phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục ở địa phương; bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em vào học lớp 1 đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục; tổ chức các trường mầm non, thực hiện bổ túc văn hoá và xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi
Biện pháp giáo dục thanh niên bảo vệ chăm sóc giáo dục thiếu niên, nhi đồng; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngăn chặn
Trang 16việc truyền bá văn hoá phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục, phòng chống các tệ nạn xã hội và những biểu hiện không lành mạnh trong đời sống xã hội ở địa phương
Biện pháp phát triển hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, hướng dẫn các lễ hội cổ truyền; bảo vệ di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương
Biện pháp bảo đảm, giữ gìn vệ sinh, phòng chống dịch bệnh, thực hiện
có hiệu quả chương trình y tế cơ sở, dân số kế hoạch hoá gia đình
Biện pháp thực hiện chính sách chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước, thực hiện công tác cứu tế xã hội và biện pháp vận động nhân dân giúp đỡ gia đình khó khăn, người già, người tàn tật, trẻ mồi côi, không nơi nương tựa, tổ chức chăm sóc
đối tượng được nuôi dưỡng; biện pháp thực hiện xoá đói giảm nghèo
+ Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, HĐND cấp xã quyết định:
Biện pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng quốc phòng toàn dân; bảo đảm thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương
Biện pháp thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; nhiệm vụ động viên chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương
Biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương
Biện pháp bảo đảm trật tự công cộng, an toàn xã hội
+ Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, HĐND cấp xã quyết định:
Biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc, giữ gìn, tăng cường khối đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc ở địa phương
Trang 17Biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật
+ Trong lĩnh vực thi hành pháp lụât, HĐND cấp xã quyết định:
Biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, lụât, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên ở địa phương
Biện pháp bảo hộ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân
Biện pháp bảo vệ tài sản lợi ích của Nhà nước, bảo hộ tài sản của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ở địa phương
Biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo quy định của pháp lụât
+ Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính, HĐND cấp xã quyết định:
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên khác của UBND cùng cấp
Bãi nhiệm đại biểu HĐND, chấp nhận việc đại biểu HĐND cùng cấp xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp lụât
Bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp
Thông qua đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định
Đơn vị phường, do có nét đặc thù riêng về kinh tế xã hội, nên bên cạnh những nhiệm vụ quyền hạn nói trên, HĐND phường còn quyết định:
Biện pháp bảo đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô thị
Biện pháp thực hiện xây dựng nếp sống văn minh đô thị; phòng chống các tệ nạn xã hội; giữ gìn trật tự vệ sinh sạch đẹp khu phố, lòng lề đường; bảo vệ trật tự vệ sinh công cộng và cảnh quan đô thị
Biện pháp tổ chức quản lý dân cư đô thị trên địa bàn phường
Trang 18- Chức năng giám sát:
+ Giám sát hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; giám sát việc thực hiện Nghị quyết HĐND, việc tuân thủ pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế,
đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương
- Xem xét báo cáo của chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn theo quy định tại điều 24 luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi)
Trong trường hợp cần thiết, giao cho chủ tịch HĐND và đại biểu HĐND giúp HĐND giám sát việc thi hành pháp luật, Nghị quyết của HĐND
và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất
Trong quá trình thực hiện giám sát, chủ tịch HĐND, đại biểu HĐND
có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước liên quan, tổ chức chính trị xã hội,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế cung cấp tài liệu thông tin cần thiết; khi phát hiện có sai phạm thì có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức đó xem xét, xử
lý theo thẩm quyền
Hoạt động của HĐND cấp xã được thể hiện qua 3 hình thức:
- Hoạt động tập thể của HĐND: kỳ họp HĐND là hình thức hoạt động của yếu của HĐND HĐND cấp xã họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của UBND hoặc ít nhất 1/3 số đại biểu HĐND yêu cầu thì chủ tịch HĐND quyết định triệu tập kỳ họp bất thường
Kỳ họp HĐND được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu tham
dự Trong trường hợp không thể triệu tập kỳ họp HĐND đúng kỳ hạn theo quy định của pháp luật, chủ tịch HĐND cấp xã báo cáo để thường trực HĐND cấp trên trực tiếp xem xét và chuẩn y
Kỳ họp HĐND cấp xã là hình thức hoạt động rất quan trọng của HĐND, vì thông qua kỳ họp, nhân dân địa phương thực hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của mình
Trang 19- Hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch HĐND cấp xã - Chủ tịch HĐND cấp xã có trách nhiệm:
Phối hợp với UBND cùng cấp chuẩn bị dự kiến chương trình làm việc, báo cáo đề án trình HĐND, triệu tập kỳ họp HĐND
Đôn đốc kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND
Tổ chức việc tiếp dân, đôn đốc kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân
Giữ mối liên hệ với các đại biểu HĐND và các tổ đại biểu HĐND, báo cáo tình hình hoạt động của HĐND cấp mình lên HĐND và UBND cấp trên trực tiếp
- Hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã:
Đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện pháp luật chính sách và tham gia vào việc quản lý nhà nước
Trong kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm tham gia thảo luận và quyết định chương trình làm việc của kỳ họp HĐND; thảo luận các vấn đề thuộc nội dung chương trình kỳ họp; biểu quyết những vấn đề thuộc nội dung chương trình kỳ họp
Đại biểu HĐND có quyền chất vấn chủ tịch HĐND, chủ tịch và các thành viên khác của UBND; liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, phải thu thập và phản ánh trung thực ý kiến nguyện vọng của cử tri, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri
Đại biểu HĐND phải tiếp dân theo lịch đã phân công; có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức đơn vị hoặc của nhân viên cơ quan tổ chức đơn vị đó
Trang 201.2.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức, hoạt động của UBND
1.2.2.1 Tổ chức của UBND cấp xã
Theo Nghị định 174/CP ngày 29-9-1994 của Chính phủ, thành viên của UBND cấp xã gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên
Chủ tịch phải là đại biểu HĐND Các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu HĐND
Khi HĐND bầu xong, danh sách thành viên UBND phải được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp phê chuẩn
Theo luật định, số thành viên của UBND cấp xã là 7 người, trong đó
có 1 chủ tịch và 1 phó chủ tịch UBND Các thành viên được quy định cụ thể như sau:
- UBND xã, thị trấn gồm 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch + 5 uỷ viên
Các thành viên được phân công phụ trách từng lĩnh vực như sau:
1- Chủ tịch phụ trách chung, kinh tế và đất đai
2- Một phó chủ tịch phụ trách nội chính, trưởng công an
3- Một uỷ viên phụ trách quân sự
4- Một uỷ viên phụ trách tài chính
5- Một uỷ viên phụ trách văn hoá - xã hội, thông tin
6- Một uỷ viên phụ trách giao thông thuỷ lợi
7- Một uỷ viên phụ trách văn phòng
- UBND phường gồm 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 5 uỷ viên, phân công như sau:
1- Chủ tịch phụ trách chung, nội chính, an ninh đô thị
2- Một phó chủ tịch phụ trách văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục, thể dục thể thao
3- Một uỷ viên phụ trách công an
4- Một uỷ viên phụ trách quân sự
5- Một uỷ viên phụ trách tài chính
Trang 216- Một uỷ viên phụ trách nhà đất
7- Một uỷ viên phụ trách lao động - thương binh và xã hội
1.2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp xã
a Về kế hoạch ngân sách, tài chính, UBND cấp xã có những nhiệm
vụ, quyền hạn sau:
+ Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình HĐND cùng cấp thông qua và trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó
+ Về ngân sách, UBND xã, thị trấn lập dự toán và phương án bổ xung ngân sách địa phương, dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết, trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp
+ Lập quyết toán ngân sách địa phương trình HĐND cùng cấp phê chuẩn
và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp
+ Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND cùng cấp, quyết định giao nhiệm
vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan đơn vị trực thuộc
Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương
Báo cáo về ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật
+ Phối hợp với các cơ quan hữu quan thu thuế ở địa phương
+ Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của địa phương trên nguyên tắc tự nguyện
b Về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, UBND cấp xã có những nhiệm vụ quyền hạn sau:
+ Tổ chức hướng dẫn việc thực hiện các chương trình kế hoạch đề án khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp theo quy định của cấp trên
+ Tổ chức thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển sản xuất; hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất
Trang 22+ Tổ chức vịêc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ của xã, thị trấn;
tổ chức thực hiện việc tu bổ, bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương
+ Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của xã, thị trấn trình HĐND cùng cấp thông qua trước khi trình UBND cấp huyện xét duyệt; sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở
địa phương
+ Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật
c Về tiểu thủ công nghiệp, UBND cấp xã:
+ Tổ chức hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành nghề truyền thống ở địa phương
+ Tổ chức thực hiện biện pháp ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát triển các ngành, nghề mới nhằm giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt, đời sống nhân dân ở địa phương
d Về giao thông, UBND cấp xã:
Tổ chức thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã
+ Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm đường giao thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp luật
+ Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao thông, cầu cống trong xã theo quy định của pháp luật
- Về thương mại, dịch vụ, UBND cấp xã:
+ Quản lý sắp xếp chợ và các điểm buôn bán dịch vụ ở địa phương + Quản lý các dịch vụ, buôn bán nhỏ ở địa phương theo quy định của pháp luật
+ Phối hợp với các cơ quan hữu quan chống buôn lậu, trốn thuế, sản xuất, lưu hành hàng giả ở địa phương
Trang 23e Về văn hoá giáo dục, UBND cấp xã:
+ Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương + Phối hợp với trường học tổ chức đăng ký huy động trẻ em vào lớp 1
đúng độ tuổi; hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục, thực hiện xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi
+ Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở địa phương
+ Phối hợp với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên quản lý trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn
+ Tổ chức các hoạt động văn hoá, thông tin, nghệ thuật, thể dục thể thao; tổ chức thực hiện việc hướng dẫn các lễ hội truyền thống; bảo vệ di tích lịch sử, vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá
f Về y tế, xã hội, UBND cấp xã:
+ Tổ chức và quản lý trạm y tế của xã; tổ chức triển khai các chương trình y tế cơ sở, dân số kế hoạch hoá gia đình được giao
+ Tổ chức thực hiện chính sách chế độ thương binh, bệnh binh, gia
đình liệt sỹ, người có công với nước; thực hiện công tác cứu tế xã hội, hoạt
động nhân đạo từ thiện ở địa phương
+ Quản lý, bảo vệ tu bổ nghĩa trang liệt sỹ; quy hoạch quản lý nghĩa
địa ở địa phương
g Về quốc phòng, UBND cấp xã:
+ Tổ chức huấn luyện quân sự phổ thông, tuyên truyền giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng xã chiến đấu
+ Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự, công tác tuyển quân theo kế hoạch + Thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương
Trang 24h Về an ninh, trật tự an toàn xã hội, UBND cấp xã:
+ Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội; xây dựng công an xã, thị trấn và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc
+ Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương
+ Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án, tổ chức thực hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp lụât
i Về thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, UBND cấp xã: + Thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo
+ Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp lụât
k Về thi hành pháp lụât, UBND cấp xã:
+ Căn cứ vào các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND cùng cấp, ban hành quyết định, Chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành văn bản đó
+ Tổ chức thực hiện các biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp
+ Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật ở địa phương
+ Tổ chức và hướng dẫn hoạt động của các tổ hoà giải, thanh tra nhân dân; kịp thời giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức việc đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp lụât
+ Thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh
dự nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân ở địa phương
+ Kiểm tra việc thực hiện pháp luật trên địa bàn
+ Tổ chức tiếp dân, xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân theo thẩm quyền
Trang 25+ Quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp lụât
k Về xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính, UBND cấp xã có những nhiệm vụ quyền hạn sau:
+ Tổ chức thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND theo quy định của pháp luật
+ Lập hồ sơ về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương đưa ra HĐND cùng cấp thông qua để trình cấp trên xem xét quyết định
+ Quản lý hồ sơ, mốc và bản đồ địa giới hành chính của địa phương Theo quy định của pháp lệnh về nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND mỗi cấp thì ngoài những nhiệm vụ quyền hạn nói trên, UBND phường có thêm những nhiệm vụ quyền hạn sau:
- Tổ chức thực hiện các Nghị quyết của HĐND phường về việc bảo
đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch
đô thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự vệ sinh sạch đẹp khu phố; quản lý dân cư đô thị trên địa bàn phường
- Thống kê theo dõi sự biến động về đất đai trên địa bàn phường, thanh tra việc sử dụng đất của tổ chức cá nhân trên địa bàn phường theo quy
định của pháp lụât
- Bảo vệ cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn phường, ngăn chặn xử lý các hành vi vi phạm đối với các cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo quy định của pháp luật; kiểm tra giấy phép xây dựng của tổ chức, cá nhân trên địa bàn phường; lập biên bản đình chỉ những công trình xây dựng, sửa chữa cải tạo không có giấy phép và báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định
Hình thức hoạt động của UBND cấp xã được thể hiện ở phiên họp của UBND và hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên UBND
Phiên họp của UBND là hình thức hoạt động tập thể của UBND cấp xã UBND cấp xã họp chính thức mỗi tháng 1 lần
Trang 26Hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên UBND cấp xã
là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình
Từ nhiệm vụ quyền hạn của HĐND và UBND cấp xã nêu trên, có thể thấy rằng nhiệm vụ quyền hạn của HĐND và UBND được xác định là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa bàn cơ sở Nhưng những nhiệm vụ quyền hạn ở đây vẫn còn ở mức quy định chung chung, chưa thể hiện rõ mức độ phân cấp, phân quyền cho chính quyền cấp xã những gì Chẳng hạn về ngân sách bảo đảm thực hiện được những nhiệm vụ của chính quyền cấp xã cũng chưa được xác định rõ ràng Đành rằng trong điều kiện hiện nay phải thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" nhưng phần trách nhiệm của Nhà nước đến đâu cũng cần được xác định
cụ thể
Về nội dung, nhiệm vụ quyền hạn của HĐND và UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ HĐND quyết định biện pháp còn UBND tổ chức thực hiện Trong khi đó bộ máy của HĐND không đủ sức chủ động độc lập
mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo các Nghị quyết
Đối với các chức danh của HĐND và UBND thì luật (sửa đổi) đã quy
định chức năng nhiệm vụ chung cuả HĐND, UBND, mức độ phân cấp phân quyền chưa cụ thể, đặc biệt là chưa gắn trách nhiệm pháp lý rõ ràng Vì thế trong thực tiễn hoạt động của HĐND, UBND vẫn còn tình trạng khuyết điểm thì có nhưng rất khó xác định trách nhiệm pháp lý thuộc về ai
1.3 Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước - yêu cầu cấp bách hiện nay
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm và nội dung cải cách hành chính
1.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm cải cách hành chính
Cải cách hành chính thực chất là thay đổi phương thức hoạt động quản
lý nhà nước, nhằm thích ứng với môi trường và đem lại hiệu quả hơn
Trang 27Trong những năm gần đây cải cách hành chính đã trở thành một vấn
đề quan trọng cấp bách không những được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ
đạo triển khai mà còn được nhân dân nói chung hết sức chú ý
Chúng ta tiến hành cải cách trong điều kiện còn thiếu kiến thức về hành chính học và kinh nghiệm xây dựng một nền hành chính công của dân,
do dân, vì dân Nền hành chính nhà nước mặc dù bị quyết định bởi các điều kiện kinh tế và các yêu cầu của cải cách kinh tế, nhưng lại là một bộ phận của hệ thống chính trị nên cũng thực sự quyết định bởi nội dung và tiến độ của đổi mới hệ thống chính trị
Sau hơn 10 năm triển khai cải cách hành chính, đã đến lúc chúng ta cần nhận diện cho được những đặc điểm cơ bản của công cuộc này để từ đó
có những kết luận đúng đắn về tiến độ và những giải pháp thích hợp
Đặc điểm của cải cách hành chính ở nước ta thể hiện như sau:
- Cải cách hành chính nước ta là cuộc cải cách có nội dung tương đối toàn diện: cải cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, cải cách tài chính công Trong tình hình cụ thể của nước ta, mỗi nội dung trên khi triển khai lại bao gồm rất nhiều vấn đề, vấn
đề nào cũng hết sức cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết ngay Xử lý giải quyết vấn đề nào trước, vấn đề nào sau, hay xử lý đồng thời cùng một lúc đều buộc phải cân nhắc tính toán
- Cải cách hành chính được đặt trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị và cải cách bộ máy nhà nước nói chung
Căn cứ vào yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta xác định trong tiến trình cải cách Nhà nước Việt Nam phải tiến hành
đồng bộ; cải cách lập pháp, cải cách tư pháp và cải cách hành chính, trong
đó cải cách hành chính được xác định là trọng tâm của công cuộc xây dựng
và kiện toàn Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Cải cách hành chính nước ta còn thiếu những động lực rất cần thiết thúc đẩy tiến trình cải cách
Trang 28Cải cách hành chính nước ta với nội dung rộng lớn tác động đến tất cả các bộ phận của hệ thống hành chính, trước hết là tới con người, đó là cán bộ
đang làm việc trong hệ thống này từ Trung ương đến cơ sở Do điều kiện lịch
sử cụ thể ở nước ta, đội ngũ cán bộ hình thành và phát triển từ nhiều nguồn khác nhau, năng lực và trình độ không đồng đều Mặc dù trong những năm qua, đội ngũ cán bộ cùng với nhân dân trong cả nước đã góp phần tạo nên những thành tựu to lớn trong phát triển đất nước, nhưng nhìn chung đội ngũ cán bộ nước ta đang ở trong tình trạng bất cập với yêu cầu
Cải cách hành chính đòi hỏi những thay đổi trước hết là thay đổi tư duy, phong cách lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ Bên cạnh đó những thay
đổi cần thiết trong quan hệ giữa cơ quan hành chính với dân, trong thẩm quyền phân cấp đang làm cho một bộ phận cán bộ cảm thấy bị thua thiệt về mặt quyền lợi, đặc biệt là thông qua việc xoá bỏ cơ chế xin cho Trong khi
đó những người tích cực cải cách muốn cải cách mạnh dạn hơn sau những bước cải cách nhất định cũng chưa nhận thấy rõ những gì mình được hưởng
- Cải cách hành chính Việt Nam chịu ảnh hưởng khá lớn của điều kiện xã hội và tâm lý người dân Việt Nam
Về xã hội, cải cách hành chính ở nước ta đang được tiến hành trong
điều kiện một xã hội còn mang nặng tàn dư nông nghiệp lạc hậu cổ truyền, phong kiến đẳng cấp chưa được cải tạo triệt để
Thói quen tâm lý, ý thức xã hội lạc hậu coi lệ làng cao hơn phép nước trong một số trường hợp "lệ" vẫn có sức mạnh lấn át luật vẫn tồn tại
Tính tự do vô chính phủ, đã dẫn đến những hành động và phản ứng đòi dân chủ trái pháp luật, gây ra những mất ổn định chính trị xã hội, trật tự an toàn xã hội
Về con người: Một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ công chức và trong nhân dân còn mang tính bình quân thụ động, ỷ lại trông chờ thoái thác trách nhiệm Cùng với nó là những tệ nạn mới phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường, thói vụ lợi thực dụng thiển cận đi liền với tâm lý háo
Trang 29danh hư thực đã dẫn đến hiện tượng mua bằng, dùng bằng cấp để trang sức,
để thành đạt hành tiến
Coi thường và vi phạm pháp luật thường đi liền với những sai lệch chuẩn mực đạo đức
1.3.1.2 Nội dung cải cách hành chính
Chiến lược xác định hoàn chỉnh khuôn khổ cải cách cơ bản nền hành chính nhà nước trên 4 nội dung cơ bản sau đây:
- Cải cách thể chế: Xây dựng và thực hiện chương trình đổi mới thể chế, tập trung trước hết vào việc xây dựng thể chế cơ bản về tổ chức và hoạt
động của hệ thống hành chính, khuôn khổ pháp lý và thể chế cần thiết của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ những quan điểm
và thủ tục mang nặng tính hành chính quan liêu bao cấp kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Cải cách thể chế tập trung vào xây dựng một số thể chế then chốt sau:
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành thể chế pháp lý theo hướng luật hoá yêu cầu "tập trung hơn" trong phân cấp, uỷ quyền ban hành văn bản pháp luật, đồng thời dân chủ hơn trong việc tổ chức huy động trí tuệ của nhân dân
Tiếp tục đổi mới cơ chế bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước; của cán bộ đảm bảo đúng lụât
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính với những nội dung chính là: đổi mới đồng bộ các thể chế và thủ tục hành chính, đảm bảo tính thống nhất, năng động, hợp lý, khoa học của hệ thống thủ tục hành chính Loại bỏ những thủ tục rườm rà, dễ lợi dụng để tham nhũng gây nhiều khó khăn cho dân
Xây dựng cơ chế có hiệu quả để kiểm tra cán bộ công chức và giải quyết công việc của dân, xử lý thật nghiêm người có biểu hiện nhũng nhiễu, hách dịch trong quan hệ với dân, khen thưởng kịp thời những người có thành tích tốt trong công tác
Trang 30Thường xuyên thực hiện rà soát những công việc mà Chính phủ, các
bộ và chính quyền địa phương đang làm để khắc phục những chồng chéo trùng lặp trong chức năng nhiệm vụ, xác định những công vịêc cần thiết tiếp tục phải thực hiện
Đến năm 2010 về cơ bản xác định xong và đưa vào áp dụng có hiệu quả mối quan hệ phân cấp Trung ương - địa phương
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá trong các ngành, lĩnh vực có điều kiện, nhất là giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, luật sư, công chứng, kiểm định, giám định thông qua đó giảm thiếu đáng kể khối lượng công việc các cơ quan hành chính sự nghiệp đang làm để tập trung vào thực hiện các chức năng đích thực của quản lý nhà nước
+ Thực hiện cải cách tổ chức của Chính phủ
+ Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
+ Cải tiến phương thức quản lý lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp, xác định rõ nguyên tắc làm việc và qui chế phối hợp trong cơ chế vận hành bộ máy hành chính
+ Nghiên cứu triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, hoạt động và
sự chỉ đạo điều hành hệ thống hành chính nhà nước
- Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức:
+ Quản lý cán bộ công chức
+ Cải cách tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ
+ Đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức
+ Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ công chức
Trang 31+ Đảm bảo thực quyền quyết định ngân sách của HĐND các cấp, phân cấp thêm nhiệm vụ chi và tăng nguồn thu cho địa phương để địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương
+ Đảm bảo quyền quyết định của các Bộ, Sở, ban ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc
+ Sửa đổi các quy định về phí, lệ phí theo hướng dẫn rõ 2 loại là phí bắt buộc do cơ quan Nhà nước thực hiện khi cung cấp dịch vụ công và phí tự nguyện
+ Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực sự nghiệp công + Tiếp tục thực hiện hoặc nghiên cứu xây dựng và thí điểm một số chế
độ tài chính như cho thuê đất để xây dựng nhà trường, bệnh viện
+ Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài chính công
+ Đổi mới công tác kiểm toán đối với cơ quan hành chính sự nghiệp theo hướng nâng cao trách nhiệm sử dụng có hiệu quả kinh phí từ ngân sách Nhà nước
Từ đặc điểm, nội dung cải cách hành chính nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng cải cách hành chính đóng vai trò quan trọng trong đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã, cải cách hành chính làm cho bộ máy chính quyền cấp xã hoạt động có hiệu quả, đời sống kinh tế xã hội ở địa phương phát triển, dân chủ được mở rộng và phát huy, trật tự xã hội được ổn
định, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, là yêu cầu hết sức quan trọng trong toàn bộ công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta
Trang 32Đặc biệt cải cách hành chính làm giảm phiền hà cho dân, thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân; đồng thời còn tạo ra sự phân công phân nhiệm một cách rõ rệt, tạo phản ứng mau lẹ khi có các điều kiện chín muồi trong từng lĩnh vực tương ứng, giúp cho việc điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức trên cơ sở một hệ thống pháp luật đồng bộ khoa học, phản ánh được tình hình kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, nhằm lập lại trật tự kỷ cương xã hội
1.3.2 Yêu cầu khách quan của việc đổi mới tổ chức, hoạt động chính quyền cấp xã trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước
Nắm vững những đặc điểm và nội dung của cải cách hành chính nêu trên, đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã phải đảm bảo yêu cầu sau đây:
1.3.2.1 Yêu cầu mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước
Cấp cơ sở là một trong 4 hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước ta Việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, phải bảo đảm tính Đảng, tính khoa học, tính hệ thống, tính dân tộc và kế thừa những thành tựu xây dựng chính quyền cấp xã trong những năm qua, phải bảo đảm ổn định tình hình chính trị để thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển
Chính quyền cấp xã vừa là người đại diện quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời là người đại diện cho nhân dân địa phương trong hệ thống quyền lực
Tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã phải quán triệt những quan điểm và mục tiêu cải cách nền hành chính nhà nước trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá VII Cụ thể là:
- Phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ, mọi chủ trương Nghị quyết của Đảng bộ về lãnh đạo kinh tế - xã hội ở địa phương, phải được thể chế hoá thành kế hoạch, biện pháp thực hiện và quản lý của chính quyền,
Đảng bộ Phải kiểm tra, kiểm soát hoạt động của chính quyền và bố trí cán
Trang 33bộ chủ chốt, giới thiệu đảng viên có đủ tiêu chuẩn tham gia chính quyền theo pháp luật qui định thông qua bầu cử, không tách Đảng và chính quyền một cách máy móc
- Xây dựng chính quyền trong sạch, thực sự có năng lực, hiệu lực và hiệu quả để thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, phải bảo đảm tính hệ thống của cơ quan hành chính nhà nước thông suốt từ Trung ương đến cơ sở
- Xây dựng chính quyền cấp xã vững mạnh phải nhằm đạt được sự kết hợp hài hoà tính quyền lực của nhà nước với tính cộng đồng dân cư đã được hình thành trong lịch sử
- Tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hoạt động năng động, có hiệu quả, đào tạo rèn luyện được đội ngũ cán bộ có tài năng và phẩm chất, làm cho nền hành chính quốc gia ngày càng được đổi mới, thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để thực hiện những mục tiêu trên, phải đảm bảo 2 yêu cầu lớn:
- Phải dân chủ hoá đất nước thông qua việc xây dựng một hệ thống tổ chức nhà nước của dân, do dân, vì dân; xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phải luật hoá mọi hoạt động của đời sống xã hội và hoạt động của chính quyền; giáo dục mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; thực hiện tốt nguyên tắc Pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ nghiêm kỷ cương của đất nước, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Hai yêu cầu trên luôn có quan hệ biện chứng trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước ta Nếu dân chủ mà không có Pháp lụât sẽ dẫn
đến dân chủ cực đoan, vô chính phủ; ngược lại nếu có pháp luật mà không dân chủ sẽ dẫn đến sự độc tài khác với bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân Vì vậy thực hiện dân chủ hoá và pháp luật hoá giúp ta xây dựng chính quyền cấp xã đúng hướng, vừa đẩy nhanh sự tiến bộ của cuộc sống, vừa thực hiện mục tiêu lý tưởng của Bác Hồ đã chọn là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 341.3.2.2 Yêu cầu hoàn thiện chính quyền cấp xã hiện nay nhằm khắc phục những bất cập của chính quyền cấp xã và đáp ứng công cuộc cải cách hành chính nói riêng và sự nghiệp đổi mới nói chung
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo kiện toàn và củng cố cấp cơ sở nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng Song từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã chậm đổi mới, công tác cán bộ và chế độ chính sách đối với cán bộ cấp xã chậm được chú ý đúng mức, luôn thay đổi, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã và hiệu lực quản lý nhà nước ở cơ sở Có thể nói, tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã thể hiện: năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức của cán
bộ cấp xã vừa không đáp ứng được yêu cầu công cuộc đổi mới, vừa không
đáp ứng được đòi hỏi mong đợi của nhân dân; tổ chức bộ máy cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ và hoạt động chồng chéo và nhất là sự suy thoái về đạo
đức, phẩm chất, tệ tham nhũng lãng phí, quan liêu, cửa quyền, ức hiếp, sách nhiễu nhân dân của không ít cán bộ cấp xã Qua triển khai Qui chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và qua kiểm tra của 6 đoàn công tác liên ngành của Chính phủ năm 2000 cho thấy không chỉ có ở Thái Bình, mà ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có không ít chính quyền cấp xã không trong sạch, chưa thực sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân Một số nơi chính quyền đối lập với nhân dân, nhân dân mất lòng tin đối với cán bộ cấp xã
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII chỉ rõ: Phải tập trung sức kiện toàn chính quyền cấp xã Trong thông báo số 304/TB-TW ngày 22/6/2000, Bộ chính trị đã giao cho Ban tổ chức cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với một số ban của Đảng sớm tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện về cơ sở Trong chương trình xây dựng pháp luật năm 2001 của Quốc hội cũng đề ra nhiệm vụ phải hoàn thiện pháp luật về chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền cấp xã Như vậy vấn đề hoàn thiện tổ chức
và hoạt động của chính quyền cấp xã hiện nay là mục tiêu của hoàn thiện
Trang 35Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước,
là nhiệm vụ cần thiết để giữ vững và phát huy bản chất cách mạng của nhà nước ta, để chính quyền cấp xã thực sự là của dân, do dân và vì dân; thực sự trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, hiệu lực
1.3.2.3 Yêu cầu hội nhập quốc tế
Những biến đổi to lớn và sâu sắc của thế kỷ XXI với xu thế toàn cầu hoá hội nhập kinh tế thế giới, những yêu cầu của nền kinh tế tri thức đã và
đang đặt Việt Nam trước nhiều cơ hội và thử thách, đặc biệt đối với việc thực hiện các yêu cầu của AFTA, của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và của WTO Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định mục tiêu tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2010 là đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế, thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản Vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao [28, tr.24]
Toàn cầu hoá phát triển làm cho sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia ngày càng tăng - sự liên kết kinh tế trên phạm vi khu vực cũng như toàn cầu diễn
ra nhanh chóng ở nhiều cấp độ khác nhau, từ song phương, đa phương, tam giác,
tứ giác, từ tiểu khu vực đến toàn khu vực, toàn châu lục Hội nhập quốc tế không chỉ phù hợp với xu thế của thời đại, mà còn đáp ứng nhu cầu nội tại và lợi ích của dân tộc trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên bên cạnh những tác động theo chiều thuận, còn nảy sinh những vấn đề phức tạp về an ninh, về môi trường Vì thế phải tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, nhất là cải cách nền hành chính trong đó có chính quyền cấp xã để chủ
động khai thác mặt thuận lợi, hạn chế và vượt qua được những thách thức Có như vậy Nhà nước mới có khả năng kiểm soát được toàn bộ nền kinh tế, dẫn dắt các thành phần kinh tế đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 36Đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã nói riêng, cải cách hành chính nói chung cần phải được thực hiện dựa trên điều kiện lịch sử và các yếu tố văn hoá truyền thống, đặc điểm thực tế của đất nước Đồng thời cần phải dựa trên xu hướng chung của thời đại toàn cầu hoá hội nhập quốc
tế Bởi vì, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan
đòi hỏi có những thay đổi sâu sắc trong vai trò và phương thức hoạt động của
bộ máy hành chính để đáp ứng với những thay đổi và thách thức to lớn
Để thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra, đất nước phải giải quyết nhiều vấn đề, đó là đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, xây dựng được những điều kiện cần thiết để có thể tận dụng được mọi cơ hội của hội nhập và toàn cầu hoá cho việc phát triển kinh tế; xây dựng một hệ thống hành chính hoạt động có hiệu quả, trong đó chính quyền cấp xã là mắt khâu quan trọng tạo ra điều kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng một nhà nước thật sự
là của dân, do dân và vì dân
Trang 37Chương 2 Thực trạng tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình
2.1 Một số nét về đặc điểm kinh tế xã hội ở Thái Bình
2.1.1 Về địa lý
Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc lưu vực sông Hồng, nằm ở toạ độ từ
20017' đến 20044' vĩ bắc và 1060 06' đến 106039' kinh đông Diện tích tự nhiên 1.537 km2 [18, tr.1]
Thái Bình có vị trí Bắc và Tây Bắc giáp các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng; phía Tây và Nam giáp tỉnh Hà Nam, Nam Định; phía
Đông giáp vịnh Bắc Bộ Đất đai Thái Bình được bao bọc bằng các con sông lớn và biển cả Phía Tây Bắc là sông Luộc; phía Đông Bắc là sông Hoá; phía Tây Nam là sông Hồng Bờ biển Thái Bình dài 54km với 3 cửa sông lớn đổ
ra biển là: cửa sông Thái Bình, cửa sông Trà Lý và cửa Ba Lạt của sông Hồng [56, tr.14]
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng duy nhất không có rừng núi, đất đai phì nhiêu, hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận tiện Quốc lộ 10 đi qua tỉnh nối liền hai thành phố lớn là Hải Phòng và Nam Định; đường 39 nối Thái Bình với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Hà Nội với các tỉnh phía Bắc [56, tr.15]
Nằm trong quá trình cải tạo hàng chục vạn năm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đất đai Thái Bình được hình thành chủ yếu do sự bồi tụ phù sa của 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình cùng với công cuộc quai đê lấn biển khẩn hoang của nhiều thế hệ cư dân
Do đặc điểm trên, nền kinh tế Thái Bình chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, bờ biển dài 54 km là lợi thế trong việc phát triển đánh bắt cá, nuôi trồng thuỷ sản Ngoài ra, Thái Bình còn nổi tiếng với các nghề thủ công truyền thống như dệt vải, tơ lụa (Hưng Hà, Đông Hưng), dệt chiếu
Trang 38(Hưng Hà, Quỳnh Phụ), đúc đồng (Quỳnh phụ), rèn sắt (Thái Thụy), chạm bạc (Kiến Xương) Song Thái Bình bao bọc bởi các con sông lớn và biển cả, vì vậy có khó khăn cho việc mở rộng giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh
2.1.2 Về dân cư lãnh thổ
Thật sự mảnh đất Thái Bình đã có niên đại hình thành muộn nhất cũng
là từ sau khi người Việt cổ xây dựng thành công Nhà nước đầu tiên của mình
- Nhà nước Văn Lang với triều đại vua Hùng từng đã được lịch sử ghi nhận Các "lạc dân" nguồn gốc từ những miền đất cổ trung du Bắc Bộ chính là lớp cư dân đầu tiên đặt chân đến Thái Bình trong quá trình thiên di khai phá "lạc
điền", tạo ra một dòng thác chuyển về vùng đồng bằng duyên hải Tiếp theo trải qua hàng nghìn năm thời Bắc thuộc đến tận khi đất nước dành quyền tự chủ, Nhà nước phong kiến Đại Việt được xây dựng củng cố, chú trọng ban hành các chính sách khẩn hoang khuyến nông, nhiều luồng cư dân với những nguyên nhân biến cố và nguồn gốc khác nhau vẫn tiếp tục tìm về tạo ra sự quần cư ngày càng có xu thế đông đúc trên mảnh đất còn nhiều hoang hoá, nhưng luôn luôn hứa hẹn một cuộc sống trù mật ổn định Thành phần nguồn gốc các luồng cư dân đã được phản ánh đa dạng qua nhiều gia phả các dòng
họ lớn hiện còn trong tỉnh Có dòng họ từ miền trung du Bắc bộ như Phú Thọ, Sơn Tây, Bắc Ninh về Có dòng họ ở các vùng lân cận như Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định sang Lại có rất nhiều dòng họ từ mãi Thanh Hoá, Nghệ An đến
Tuy hình thành sớm song sự phát triển và ổn định của làng xã Thái Bình chỉ có thể bắt đầu từ thời kỳ Lý Trần (thế kỷ XI - XV) trở về sau Lúc này Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền có điều kiện tập trung xây dựng củng cố về mọi mặt Trong đó đặc biệt đã chú trọng ban hành nhiều chủ trương chính sách khẩn hoang, khuyến nông, mở mang điền trang thái
ấp Thực tế qua các tài liệu dư địa chí còn lưu lại cho thấy tổng số làng xã trên địa phận Thái Bình từ thế kỷ XI - XII trở đi ít có sự biến động chênh lệch về số lượng Cuối thời Trần, Thái Bình có khoảng 564 xã, phường, thôn,
Trang 39trang, sở Đầu thời Nguyễn có 616 xã, thôn, trang, phường, ấp Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc kỳ, Thái Bình có 627 xã, thôn Ngày 21/3/1890 thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp cắt nhỏ các địa bàn và thành lập Thái Bình thành tỉnh riêng biệt gồm 802 làng xã với số đinh
là 161.927 người Cho đến trước cách mạng tháng 8/1945 Thái Bình có 820 làng xã (số liệu năm 1943), dân số khoảng 1.036.000 người, số đinh là 284.484 người [56, tr.23]
Sau cách mạng tháng 8/1945 toàn tỉnh Thái Bình có 12 huyện, 1 thị xã với
829 xã Số lượng huyện thị không thay đổi cho đến sau hoà bình lập lại (1954)
Năm 1969 trước yêu cầu phát triển kinh tế, xây dựng quốc phòng, Hội
đồng Chính phủ ra quyết định số 93/CP ngày 17/6/1969 về việc hợp nhất và
điều chỉnh địa giới các huyện ở Thái Bình Từ đây Thái Bình có 7 huyện và thị xã Ngoài sự thay đổi chút ít về địa giới một số huyện, thị do sự mở rộng
địa giới thị xã, cắt một số xã ở huyện Kiến Xương về huyện Tiền Hải, còn hầu hết số lượng và phạm vi quản lý của các huyện vẫn không thay đổi
- Hiện Thái Bình có 1 thị xã, 7 huyện với tổng số 285 xã, phường, thị trấn là một tỉnh đất chật người đông, mật độ dân số cao, năm 1989 bình quân
1 km2 có tới 1.062 người, đến năm 1999 lên tới 1.161 người [18, tr.2]
Đáng chú ý là dân số Thái Bình phân bổ chủ yếu là khu vực nông thôn, ở khu vực thành thị rất thấp, tốc độ phát triển chậm Năm 1989 dân số khu vực nông thôn chiếm 94,62%, trong khi khu vực thành thị chỉ chiếm 5,38% Đến năm 1999, khu vực nông thôn chiếm 94,22%, khu vực thành thị 5,78% [18, tr.2] Như vậy, trong vòng 10 năm sau (1989-1999), tỷ trọng dân
số khu vực thành thị chỉ tăng được 0,4%, tốc độ quá chậm Đặc điểm đó thể hiện rõ Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp thuần túy
- Quy mô dân số của một số xã, phường tăng lên nhưng quy mô dân
số của hộ gia đình giảm xuống Bình quân dân số trên 1 xã, phường năm
1989 là 5.768 người, đến năm 1999 lên tới 6.265 người, trong đó 76 xã, phường có 3.000 dân cư trở lên, chiếm 26,6% số xã, phường trong tỉnh, 93
Trang 40xã, phường có 7.000 dân trở lên chiếm 32,6% Phân bổ dân số giữa các xã không đều (nêu loại trừ 6 phường của thị xã) chỉ tính 272 xã thì quy mô dân
số giữa xã cao nhất và xã thấp nhất chênh lệch nhau quá xa, xã cao nhất có gần 14.000 người (xã Phú Sơn, huyện Hưng Hà), xã thấp nhất chỉ có gần 3.000 người (xã Đông Phong, huyện Đông Hưng), xã Vũ Sơn, Quyết Tiến, huyện Kiến Xương [18, tr.2]
Về cơ cấu dân số được thể hiện (xem phụ lục số 1)
Hơn 100 năm qua không tách, không nhập và luôn có đặc điểm nổi bật là một tỉnh thuần tuý đồng bằng Do vậy tạo thuận lợi cho việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực hoạt động ở địa phương, song với điều kiện đất chật, người đông có khó khăn cho việc giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho nhân dân địa phương
2.1.3 Đặc điểm truyền thống
Với đặc điểm hình thành đất đai, từ sớm Thái Bình miền đất hạ lưu sông Hồng đã luôn luôn chứa đựng trong mình cả 2 yếu tố song hành: thuận lợi và khó khăn Đó là sự hứa hẹn to lớn về cuộc sống định cư mở mang trước vùng đất vốn là sản phẩm bồi tụ màu mỡ của thiên nhiên Song đó cũng là miền đất hoang sơ với muôn vàn nguy hiểm rình rập thử thách như dông bão, lụt lội, nắng hạn, đầm lầy lau lách, thú dữ Song với truyền thống chinh phục thiên nhiên, cần cù lao động sáng tạo trong sản xuất của người dân Thái Bình đã được đền đáp xứng đáng Từ một vùng hẻo lánh hoang sơ ngập mặn, Thái Bình đã được bàn tay kiên trì dũng cảm của nhiều thế hệ cư dân biến cải thành miền đất đầy sức sống với bạt ngàn đồng lúa, bãi dâu, làng xóm trù phú, dân đông vật thịnh và sớm đóng góp một vai trò vị trí quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước hết sức hào hùng của dân tộc
Không chỉ có truyền thống lao động sản xuất, Thái Bình còn chứa
đựng cả một đời sống sinh hoạt văn hoá truyền thống vừa mang những nét
đặc trưng văn hoá tiêu biểu của cư dân đồng bằng sông Hồng, vừa có sắc thái riêng do tác động sâu sắc của đặc điểm tình hình đất đai dân cư