Giáo trình “Phòng trừ bệnh hại tằm” giới thiệu khái quát về các nguyên nhân gây bệnh cho tằm, sự lan truyền bệnh; các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh hại tằm; triệu chứng, sự phát sinh
Trang 1GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI TẰM
MÃ SỐ: MĐ 06 NGHỀ: TRỒNG DÂU – NUÔI TẰM
Trình độ: Sơ cấp nghề
Trang 2TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể đƣợc phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Mã tài liệu: MĐ 06
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Trồng dâu nuôi tằm là nghề cổ truyền của dân tộc ta, đã có từ lâu đời Nghề trồng dâu nuôi tằm ở nước ta đã đạt đến trình độ khá cao, và hình thành nhiều vùng ươm tơ, dệt lụa nổi tiếng Nghề trồng dâu nuôi tằm có hiệu quả kinh tế cao hơn so với các ngành nghề nông nghiệp khác Thu nhập từ trồng dâu nuôi tằm cao hơn so với cây mì, bắp hay đậu tương từ 30 – 50%
Trồng dâu nuôi tằm là nghề có chi phí sản xuất thấp, vốn đầu tư không cao, cây dâu sinh trưởng tốt trên nhiều loại đất Chỉ sau 4 – 6 tháng trồng dâu có thể thu hoạch lá và một lần trồng có thể thu hoạch 15 – 20 năm Tằm là con vật dễ nuôi, mau có lợi, tuy lợi nhuận thu vào 1 lần không cao nhưng thường xuyên trong năm Khi tằm bị bệnh, năng suất kén không cao cũng không tốn kém nhiều
về vốn Chi phí trồng dâu thấp, đồng thời nuôi tằm lại cho thu hoạch nhanh nên nghề trồng dâu nuôi tằm có nhiều thuận lợi hơn so với các ngành nghề khác Nghề trồng dâu nuôi tằm có nguồn nhân lực đồi dào, mọi người dân từ người trẻ đến già đều có thể thực hiện được Đồng thời, có thể thu hút được lao động nông nhàn Nghề trồng dâu nuôi tằm có thể được coi là một nghề đặc biệt
có ý nghĩa trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
Chương trình đào tạo nghề “Trồng dâu – nuôi tằm” cùng với bộ giáo trình
được biên soạn đã tích hợp những kiến thức, kỹ năng cần có của nghề trồng dâu nuôi tằm Bộ giáo trình gồm 7 quyển:
1) Giáo trình mô đun Trồng dâu
2) Giáo trình mô đun Chăm sóc dâu - Thu hái dâu
3) Giáo trình mô đun Phòng trừ sâu bệnh hại trên cây dâu
4) Giáo trình mô đun Nuôi tằm con
5) Giáo trình mô đun Nuôi tằm lớn
6) Giáo trình mô đun Phòng trừ bệnh hại tằm
7) Giáo trình mô đun Chăm sóc tằm chín và thu hoạch kén
Để hoàn thiện bộ giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn, hướng dẫn của Vụ Tổ chức Cán bộ – Bộ Nông nghiệp và PTNT; Tổng cục dạy nghề - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đồng thời chúng tôi cũng nhận được các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật của các Viện, Trường, các cơ sở nuôi tằm, Ban Giám Hiệu và các thầy cô giáo Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Vụ
Tổ chức cán bộ – Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục dạy nghề, Ban lãnh đạo các Viện, Trường, các cơ sở sản xuất, các nhà khoa học, các cán bộ kỹ thuật, các thầy cô giáo đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi
để hoàn thành bộ giáo trình này
Trang 4Giáo trình “Phòng trừ bệnh hại tằm” giới thiệu khái quát về các nguyên
nhân gây bệnh cho tằm, sự lan truyền bệnh; các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh hại tằm; triệu chứng, sự phát sinh của bệnh, chẩn đoán và biện pháp phòng trừ bệnh truyền nhiễm; triệu chứng, biện pháp phòng trừ bệnh không truyền nhiễm
Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các cán bộ kỹ thuật, các đồng nghiệp để giáo trình hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
THAM GIA BIÊN SOẠN
1 Chủ biên Nguyễn Viết Thông: giảng Trường Cao Đẳng Công nghệ và Kinh
tế Bảo Lộc;
2 Trần Thu Hiền: giảng Trường Cao Đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc
3 Đặng Thị Hồng: giảng Trường Cao Đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc
4 Phan Duy Nghĩa: giảng Trường Cao Đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc
5 Phan Quốc Hoàn: giảng Trường Cao Đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc
6 Trịnh Thị Vân: giảng Trường Cao Đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc
Trang 61.5.2 Tách riêng tằm khỏe mới lột xác 25
Trang 8MÔ ĐUN: PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI TẰM
Mã mô đun: MĐ 06
Giời thiệu mô đun
Mô đun Phòng trừ bệnh hại tằm là mô đun thuộc khối kiến thức chuyên môn nghề trong danh mục các mô đun đào tạo bắt buộc của nghề Kỹ thuật trồng dâu – nuôi tằm Nội dung mô đun trình bày những công việc có liên quan đến công tác phòng trừ bệnh hại tằm như: Sự thay đổi hoạt động của tằm khi bị bệnh, nguyên nhân gây bệnh cho tằm và biện pháp phòng trừ bệnh tằm Đồng thời mô đun cũng trình bày hệ thống các bài tập, bài thực hành cho từng bài dạy và bài thực hành khi kết thúc mô đun Học xong mô đun này, học viên có khả năng phân biệt được những triệu chứng của mỗi loại bệnh thường gặp, kết hợp các biện pháp phòng trừ dịch hại tằm
Trang 9Bài 1: GIỚI THIỆU VỀ BỆNH TẰM
Mã bài: MĐ06–1
Bệnh là trạng thái không bình thường, có tính chất của quá trình bệnh lý biến đổi lâu dài, liên tục trong cơ thể do các điều kiện ngoại cảnh không phù hợp hay ký sinh xâm nhập gây ra, phá hủy chức năng trao đổi chất và làm biến đổi
về cấu tạo ngoại hình tằm, làm giảm năng suất, phẩm chất tơ kén
Bệnh truyền nhiễm là một quá trình tổng hợp phát sinh ra trong cơ thể ký chủ, là quá trình bệnh lý do hệ thống thần kinh điều tiết để thích ứng với điều kiện ngoại cảnh và đặc tính gây bệnh của ký sinh để giết chết hay tiêu trừ độc tố của chúng
Bệnh cấp tính là một loại bệnh xảy ra nhanh chóng và có thời gian gây chết không dài khi các yếu tố bệnh đã gây nên những tổn thất lớn cho hoạt động sinh
lý và cấu trúc tế bào
Tất cả mọi hoạt động, diễn biến sinh lý của tằm không bình thường đều gọi chung là bệnh tằm Sự không bình thường này bị chi phối do nhiều nguyên nhân khác nhau: do sự thay đổi đột ngột của thời tiết, khí hậu; do dinh dưỡng trong lá dâu; do sự có mặt của vi sinh vật trong cơ thể tằm; do các độc tố của môi trường sống…
Mục tiêu
Hiểu được khái niệm cơ bản và tác hại của bệnh tằm;
Trình bày được nguyên nhân gây bệnh, các con đường xâm nhập và quá trình phát triển của bệnh tằm;
Phân biệt được bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm;
Xây dựng thái độ học tập nghiêm túc, chuyên cần, tác phong khoa học
Nhóm 1: Bệnh không truyền nhiễm
Nhóm bệnh này không có khả năng lan truyền từ cá thể này sang những cá thể khác trong quần thể tằm
Bệnh không truyền nhiễm do các nguyên nhân như thay đổi ngoại cảnh, thiếu dinh dưỡng, do sinh vật như nhóm chân đốt, hay do các hóa chất nông nghiệp, do tác dụng cơ học
Nhóm 2: Bệnh truyền nhiễm
Trang 10Bệnh truyền nhiễm là những bệnh có thể lan truyền từ tằm bệnh sang tằm khỏe
Nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm là do vi sinh vật và động vật nguyên sinh nhƣ: virus, vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật và những vi sinh vật tuơng
tự khác xâm nhập vào cơ thể, gây hại cho tằm
Cách phân loại và gọi tên các loại bệnh tằm (sơ đồ 1)
Sơ đồ M6-01 Phân loại bệnh tằm
2 Nguyên nhân gây bệnh cho tằm
Mỗi loại bệnh tằm đều có nguyên nhân riêng có thể là nguyên nhân sinh học, vật lý học, hóa học, dinh duỡng, hoặc môi truờng Nguyên nhân quan trọng nhất là sinh học
2.1 Nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm
Các tác nhân sinh học gây nên bệnh truyền nhiễm gồm virus, vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật
Tuy nhiên nhiều bệnh của các loài côn trùng khác có thể lan truyền tới tằm, đặc biệt là bệnh ở các loài côn trùng thuộc bộ cách vẩy, kiến, các loài gặm nhấm, chim, ong bắp cày và nhện
Bệnh virus Bệnh vi khuẩn Bệnh nấm
Bệnh động vật nguyên sinh
Bệnh ngộ độc Bệnh sinh lý
Bệnh do ruồi
ký sinh
Bệnh truyền nhiễm
Trang 112.2 Nguyên nhân gây bệnh không truyền nhiễm
Nguyên nhân gây bệnh không truyền nhiễm bao gồm:
Tác nhân sinh học: ong ký sinh, ruồi ký sinh … gây nên bệnh tằm không truyền nhiễm
Tác nhân hoá học gây hại cho tằm bao gồm: hóa chất nông nghiệp, hơi thuốc lá, hơi cây kim cúc, khí thải từ nhà máy, khói than, những hóa chất tồn dư khi khử trùng nhà nuôi tằm Những tác nhân này gây độc cho tằm thông qua không khí vào đuờng hô hấp hoặc thông qua lá dâu, làm cho tằm ngộ độc Các tác nhân hóa học không phải là tác nhân truyền nhiễm
Tác nhân vật lý gây vết thương cơ giới cho tằm, nhộng, ngài truởng thành: Thao tác cẩu thả khi thu nhặt tằm mới nở, cho tằm ăn, vệ sinh cho tằm, cho tằm lên né, hoặc khi thu nhặt kén, cắt kén, phối giống, v v v…
Chất luợng thức ăn, nhiệt độ môi truờng và sự thoáng gió có tác động trực tiếp tới sức đề kháng của tằm với bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi Sức đề kháng của tằm đối với các loài vi sinh vật gây bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi thay đổi tùy theo giống tằm và tuổi của tằm Vì vậy, trong quá trình nuôi tằm cần thực hiện mọi biện pháp kỹ thuật tác động tới lá dâu, nhiệt
độ, độ ẩm, độ thông thoáng… sao cho phù hợp với các yêu cầu sinh lý, giai đoạn phát triển của các giống tằm, các phuơng pháp chăm sóc tằm khác nhau và các điều kiện riêng biệt
Yếu tố chủ yếu trong phát sinh bệnh là nguồn bệnh Nếu không có nguồn bệnh, bệnh lây nhiễm không thể xuất hiện
Trạng thái sinh lý của tằm trong một số truờng hợp có thể kìm hãm tác nhân gây bệnh Điều kiện môi truờng ảnh huởng tới cả sức sống và độ độc của tác nhân gây bệnh, sức đề kháng của tằm
Sự lan truyền bệnh tằm phụ thuộc vào các đặc điểm sau:
3.1 Đặc điểm gây bệnh của các vi sinh vật gây bệnh
Các vi sinh vật khác nhau gây nên các bệnh khác nhau
Bệnh virus tế bào chất đa diện (cpv) gây ra bởi virus đa diện tế bào chất, bệnh tằm vôi gây ra bởi nấm ký sinh, bệnh nhiễm trùng máu gây ra bởi vi khuẩn
Trang 12Để gây nên bệnh, các vi sinh vật gây bệnh cần có đủ các điều kiện như: nấm bệnh, số luợng của nó, đuờng xâm nhập, vị trí ký sinh và đuờng bài tiết các nấm bệnh ra ngoài
Sau khi xâm nhập vào cơ thể tằm và truớc khi phát bệnh, vi sinh vật gây bệnh phải thích ứng với ký chủ để có thể ký sinh trên ký chủ và sản sinh ra các chất gây bệnh cho tằm, tức là hình thành mầm bệnh
Vi sinh vật gây bệnh có thể đi vào cơ thể bằng nhiều con đuờng
Ví dụ: nấm đi vào qua màng da, bệnh nhiễm trùng máu do vi khuẩn septicaemia đi vào qua vết thuơng ở da Phần lớn bệnh tằm lan truyền qua vết thương ở miệng Vì vậy giữ vệ sinh lá dâu là một khâu quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tằm
Khi vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể tằm, chúng sẽ gặp phải sức
đề kháng của ký chủ Vì vậy, cần phải có số luợng đủ lớn thì bệnh mới có thể xuất hiện Số luợng này phụ thuộc vào sức sống của tằm và môi truờng nuôi tằm
Vị trí ký sinh là nơi để nầm bệnh ký sinh lớn lên và sinh sôi
Ví dụ: vi khuẩn gây bệnh bủng mủ có loại ký sinh trong nhân tế bào, có loại
ký sinh ở tế bào chất của tế bào, còn vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng máu do septicaemia sinh sôi trong huyết cầu tố (bạch cầu)
Sự sinh sôi và tràn lan của vi sinh vật trong cơ thể tằm sẽ làm tổn thương các mô, làm rối loạn các chức năng và gây chết Trong những quá trình này, nguồn bệnh đuợc bài thải ra ngoài theo các con đuờng khác nhau, từ đó chúng lại tiếp tục gây nhiễm bệnh
Ví dụ nguồn bệnh bủng mủ, virus gây bệnh có dạng hình cầu và bào tử bệnh tằm gai đuợc thải ra cùng với phân Bào tử của mầm gây bệnh tằm vôi đuợc phát tán từ da, vi khuẩn gây bệnh hoại huyết lan truyền bằng huyết cầu tố, qua vết thương trên da Phân mang vi sinh vật gây bệnh là nguồn chính của nhiều bệnh lây lan
3.2 Sức đề kháng của tằm đối với các loại bệnh
Trong quá trình tiến hóa của tằm, một khả năng kháng bệnh nhất định đã hình thành Cơ chế kháng bệnh này của tằm đã hạn chế sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh; có tác dụng đề kháng bệnh; ngăn cản khả năng ký sinh, lan rộng và gây hại của nguồn bệnh
Cơ cấu chống đỡ của tằm chủ yếu gồm lớp da, ống tiêu hóa, dịch tiêu hóa,
tế bào máu và hệ thống miễn dịch:
Bề mặt của da tằm đuợc phủ một lớp sáp và lớp sừng kitin Lớp da này
có khả năng ngăn đuợc sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh, chỉ khi cơ thể tằm
có những vết thương khó lành thì vi sinh vật gây bệnh mới có thể xâm nhập được
Trang 13 Khi gặp khí độc hoặc điều kiện ngoại cảnh bất lợi, lỗ thở của tằm đóng vai trò nhƣ một phễu lọc, ngăn chặn vi sinh vật gây bệnh Đó cũng là một cơ chế kháng bệnh của tằm
Ruột truớc và ruột sau của tằm có màng kitin bên trong có khả năng ngăn cản sự xâm nhập của nguồn bệnh
Lớp màng perithrophic của ruột giữa có tác dụng bảo vệ tốt Khi tằm lột xác nguồn bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể tằm, vì thời điểm này lớp màng perithrophic đang trong quá trình hình thành Đó là thời điểm tằm có sức đề kháng yếu, cần chăm sóc tằm cẩn thận
Dịch tiêu hóa của tằm mang tính kiềm mạnh, pH từ 9 đến 10, là môi truờng không thích hợp cho sự phát triển và sinh sản của một số vi sinh vật gây bệnh
Chất protêin phát quang trong dịch tiêu hóa cũng có tính kháng virus
Mỗi giống tằm có khả năng kháng bệnh khác nhau Trong cùng một giống tằm, nhƣng ở những tuổi khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau thì mức độ kháng vi sinh vật gây bệnh cũng khác nhau Sức kháng bệnh đó mang tính di truyền
Các biện pháp cần thực hiện là loại trừ nguồn bệnh bằng cách phá vỡ chu
kỳ phát triển của nó, đồng thời cải thiện về nuôi dƣỡng và chăm sóc để nâng cao sức kháng bệnh của tằm Nhƣ thế sẽ có thể trừ bỏ sớm nguồn bệnh, làm cho tằm khỏe, có chất lƣợng tốt và sản lƣợng cao
B Câu hỏi và bài tập thực hành
Câu hỏi 1: Nêu các nguyên nhân gây bệnh cho tằm?
Câu hỏi 2: Nêu sự lan truyền bệnh tằm?
C Ghi nhớ
Cần chú ý nội dung trọng tâm sau:
Nguyên nhân gây bệnh cho tằm
Sự lan truyền bệnh tằm
Trang 14Bài 2: PHÒNG TRỪ TỔNG HỢP BỆNH HẠI TẰM
Mã bài: MĐ06–2
Trong nghề trồng dâu, nuôi tằm, vấn đề phòng trừ tổng hợp bệnh tằm là một nhiệm vụ then chốt, được quan tâm một cách đặc biệt Từ nguồn dâu cho tằm ăn, nhà nuôi, dụng cụ nuôi, môi trường nuôi phải đảm bảo sạch sẽ
Trong quá trình nuôi, phòng trừ bệnh tằm kết hợp nhiều khâu công việc, được chú trọng ngay từ đầu
Bệnh tằm sẽ gây hại lứa tằm, làm tổn hại đến kinh tế của người nuôi tằm Việc phòng trừ tổng hợp có ý nghĩa quyết định sự thành bại của nghề nuôi tằm,
do đó phòng trừ tổng hợp phải được đặt lên hàng đầu
Xây dựng thái độ học tập nghiêm túc, chuyên cần, tác phong khoa học,
có ý thức trách nhiệm xây dựng sinh thái – môi trường trong sạch
A Nội dung
1 Khái niệm về phòng trừ dịch hại tổng hợp
1.1 Khái niệm phòng trừ dịch hại tổng hợp
Phòng trừ dịch hại tổng hợp là sử dụng kết hợp nhiều biện pháp, kỹ thuật khác nhau vào phòng trừ dịch hại tằm; nhằm đạt hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao, không ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và các loài sinh vật khác Trong công tác phòng trừ dịch hại tằm tổng hợp có thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật, biện pháp phòng trừ như: nguồn lá dâu và dinh dưỡng trong lá dâu, sử dụng giống sạch bệnh, môi trường sống của tằm, kỹ thuật nuôi tằm, thuốc hóa học để phòng trừ Các biện pháp này có thể sử dụng không cùng một lúc nhưng cũng có thể kết hợp đồng thời với nhau để phòng trừ
Ý nghĩa của công tác phòng trừ dịch hại tổng hợp
Con tằm có vòng đời ngắn, một vòng đời của tằm từ trứng đến ngài có tổng thời gian từ 50 – 60 ngày: ở mỗi giai đoạn phát dục của tằm có thời gian phát dục khác nhau như: ở giai đoạn tằm (sâu non) chỉ kéo dài 23 – 25 ngày, các giai đoạn kén, nhộng, trứng, mỗi giai đoạn có thời gian phát dục từ 10 – 15 ngày Do
đó bệnh dịch sẽ phát triển nhanh hơn rất nhiều
Ví dụ bệnh tằm mủ từ khi virus xâm nhập vào cơ thể tằm đến khi kết thúc bệnh chỉ kéo dài từ 3 – 6 ngày
Trang 15Biện pháp phòng trừ tổng hợp đáp ứng được nguyên tắc phòng bệnh cho tằm từ xa, tạo điều kiện thuận lợi cho tằm sinh trưởng và phát dục Khi phát hiện tằm có triệu chứng bị bệnh tùy từng trường hợp cụ thể để ra quyết định chính xác
Ví dụ tằm mắc bệnh tằm vôi, bệnh trong đầu có thể phải hủy lứa tằm để phòng bệnh cho những lứa sau
Biện pháp phòng trừ tổng hợp áp dụng đúng và nghiêm ngặt còn đạt được hiệu quả kinh tế cao, không ảnh hưởng tới sức khỏe con người, không phát tán nguồn bệnh và tránh làm ô nhiễm môi trường sống
2 Các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp
2.1 Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hái dâu
Lá dâu đảm bảo chất lượng thì nuôi lứa tằm sẽ cho kết quả theo mong đợi
Do đó, trồng, chăm sóc và thu hái lá dâu đúng kỹ thuật ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tăng khả năng chống bệnh cho tằm, rút ngắn thời gian phát dục của tằm
Chọn đất trồng dâu là một khâu rất quan trọng Vị trí đất trồng dâu không được gần các nhà máy hóa chất, lò gạch, lò vôi, đất không bị ô nhiễm, không gần khu vực trồng thuốc lá, cây rau đậu sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật Nếu trồng dâu vào những khu đất có đặc điểm trên lá dâu hấp thu khí độc hoặc ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật, khi hái dâu nuôi tằm, tằm dễ bị mắc các bệnh ngộ độc do thức ăn đưa vào
Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc dâu phải đảm bảo: bón phân cân đối N:P:K nếu bón không cân đối tằm rất dễ mắc bệnh
Ví dụ bón quá nhiều đạm cho dâu, cây dâu sinh trưởng phát triển mạnh nhưng lá mỏng chứa nhiều đạm, khi tằm ăn vào sẽ mắc bệnh tiêu chảy, dẫn đến các bệnh thứ cấp phát triển
Khi bón phân, phun thuốc cho dâu phải sử dụng loại thuốc chuyên dùng cho dâu tằm và đảm bảo thời gian cách ly, nếu không khi tằm ăn loại lá dâu này
có chứa nhiều N tự do hay còn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật dẫn đến tình trạng ngộ độc tằm
Ngược lại chăm sóc dâu không phun thuốc bảo vệ thực vật hoặc bón ít dinh dưỡng lá dâu nhanh già cỗi, trên lá dâu dễ bị bệnh bạc thau, bệnh đốm nâu, làm cho lá có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, tằm ăn loại lá dâu này sức khỏe kém
Trang 162.2 Môi trường và nhà nuôi tằm
Trong sản xuất dâu tằm, nguồn bệnh tồn tại trong không khí, trong đất và trong các chất thải, xác dâu ăn dư của tằm tương đối rộng rãi Tiêu diệt nguồn gây bệnh là biện pháp cơ bản trong phòng trừ bệnh truyền nhiễm và việc khử trùng thích hợp là biện pháp quan trọng
H06-1: Khử trùng khu vực nuôi tằm
Trước vụ nuôi tằm, phải khử trùng môi trường xung quanh một cách toàn diện Sau đó khử trùng nghiêm ngặt các phòng nuôi tằm, phòng dự trữ lá dâu, phòng né
Kế hoạch khử trùng chặt chẽ phải được vạch ra và thi hành nghiêm chỉnh Sắp xếp trong phòng nuôi tằm hợp lí – tằm con và tằm lớn, tằm lên né được nuôi
ở những phòng riêng Việc tẩy uế được tiến hành ngay sau khi thu hoạch kén để ngăn ngừa sự lan truyền của virus và sự nhiễm bẩn môi trường
Trong quá trình nuôi, những con tằm bệnh, tằm chết là nguồn bệnh có sức lây lan nhanh và mạnh nhất Vì chúng chứa 1 số lượng lớn những virus còn rất khỏe Cần phải thu gọn và xử lý những con tằm này bằng foormolandehyt hoặc vôi bột và đem chôn lấp kín
2.3 Kỹ thuật nuôi tằm
Sự lây nhiễm bệnh và tổn hại do bệnh truyền nhiễm gây ra có liên quan mật thiết với sức khỏe của tằm Vì vậy trong quá trình nuôi cần lưu ý nuôi dưỡng và quản lí tốt, quan tâm đến các điều kiện sống và yêu cầu sinh lí của tằm ở từng giai đoạn
Trang 17Trong quá trình ấp trứng và nuôi tránh nhiệt độ và ẩm độ cao quá mức Nhiệt độ ấp trứng thích hợp nhất là từ 23 – 27oC Ở thời kì tằm, phải đề phòng điều kiện oi bức, phải thực hiện thông gió chu đáo
Điều tiết ôn, ẩm độ thích hợp, thoáng khí trong phòng ấp trứng và nuôi tằm
là công việc thường xuyên và thực hiện kịp thời Khi những yếu tố này thay đổi thì quá trình điều tiết phải từ từ không được thay đổi đột ngột
Ví dụ: khi tăng nhiệt độ nhà tằm, không được tăng nhiệt độ đột ngột, phải tăng từ từ Cứ sau 1 giờ nhiệt độ tăng dần lên khoảng 0,5 – 10C là thích hợp Trường hợp cần giảm nhiệt độ thì ngược lại
Khi thấy nong tằm xuất hiện tằm yếu, tằm bệnh dùng đũa, panh, kẹp gắp nhẹ nhàng và gom tằm yếu, tằm bệnh vào một dụng cụ và tiêu hủy ngay, không
để lưu chúng trong nhà tằm
Sau mỗi lần cho ăn, thay phân tằm, tiến hành làm vệ sinh nhà tằm, đưa toàn
bộ phân tằm, cọng dâu và những nong đã sử dụng ra khỏi phòng nuôi tằm Việc thu hái, vận chuyển và bảo quản lá dâu phải được chú trọng để đảm bảo lá dâu có đủ chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu nuôi tằm Để tránh gây thương tổn cho tằm, không nên nuôi với mật độ quá dày
Dụng cụ nuôi tằm là phương thức truyền bệnh chủ yếu Vì vậy phải loại trừ nguồn gây bệnh trong các khay nuôi
Khử trùng mình tằm, khay nuôi, là cần thiết Đối với các bệnh truyền nhiễm, khử trùng mình tằm ở tuổi 3 và tuổi 4 để ngăn chặn sự bùng nổ bệnh ở tằm tuổi 5 là biện pháp có tính quyết định và bắt buộc
Khi phát hiện tằm bệnh trên nong tằm phải loại bỏ ngay để tiêu diệt nhân tố gây bệnh
2.4 Sử dụng giống chống bệnh và giống sạch bệnh
Trong việc chọn lọc để tạo những giống tằm chống bệnh và khỏe mạnh cần chú ý đến các đặc điểm của mùa vụ nuôi và điều kiện thực tế của mỗi địa phương
Chọn giống tốt có ý nghĩa thực tế trong việc ngăn ngừa các bệnh virus phát sinh và lan truyền, từ đó giảm bớt những thất thoát về kinh tế
Sử dụng trứng nuôi tằm phải rõ nguồn gốc nhà phân phối Trứng tằm phải sạch bệnh, bám dính và không có vi sinh vật gây bệnh trong phôi thai, đặc biệt
Trang 18Do đó, kiểm dịch thực vật cần kiểm soát chặt chẽ tất cả các sảm phẩm về dâu tằm ngay từ cửa khẩu như: nguồn giống bố mẹ, trứng tằm giống, tơ, kén và các loại sản phẩm phụ khác từ dâu tằm
2.6 Biện pháp vật lý và cơ học
Đây là một trong những biện pháp quan trọng, gắn liền với kỹ thuật nuôi tằm và biện pháp này mang lại hiệu quả kinh tế cao
Biện pháp vật lý và cơ giới yêu cầu phải lắp đặt hệ thống điều tiết nhiệt ẩm
độ, lắp cửa thông gió, lắp đặt hệ thống cửa lưới chống nhặng xâm nhập vào nhà tằm, trong sản xuất phân tán tại nhà dân có thể sử dụng vải màn để che đậy nong đũi tằm
Sau mỗi lứa nuôi tằm, dụng cụ nuôi tằm phải được sát trùng Sau đó rửa sạch và phơi dưới ánh nắng trực xạ để tiêu diệt nguồn bệnh
Nhà tằm làm vệ sinh và dùng đèn cực tím tiêu diệt nguồn bệnh trước khi nuôi lứa tiếp theo
Những dụng cụ nhỏ gọn (thường là dụng cụ nuôi tằm con) có thể dùng nước sôi luộc rửa, tiêu diệt nguồn bệnh
Dọn vệ sinh sạch sẽ xung quanh nhà tằm và trong nhà nuôi tằm trước và sau mỗi lứa nuôi
Phân tằm và xác dâu thừa được đem ủ nóng trước khi đưa vào sử dụng
2.7 Biện pháp hóa học
Biện pháp hóa học thường xuyên được sử dụng trong quá trình nuôi tằm, nhưng yêu cầu không ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người nuôi tằm và bảo vệ môi trường
Trước và sau mỗi lứa nuôi dùng thuốc sát trùng phun xịt trong ngoài nhà tằm và khu vực nuôi tằm Trong trường hợp nhà nuôi tằm riêng rẽ thì dụng cụ, nhà nuôi tằm có thể dùng foormaldehyt để xông hơi hoặc phun xịt và tủ kín để tiêu diệt nguồn bệnh
Trước khi ấp trứng có thể dùng dung dịch foormaldehyt 2% sát trùng bề mặt trứng trong thời gian từ 30 – 45 phút, sau đó hong khô trứng trong mát Trước mỗi bữa ăn hoặc sau khi thay phân, sử dụng vôi bột, clorua vôi hoặc foormol khô rây lên mình tằm để sát trùng mình tằm
Trong những mùa nóng, ẩm độ không khí cao, tằm dễ mắc bệnh virus và bệnh do vi khuẩn, có thể sử dụng cloramphelincol cho tằm ăn thêm bằng cách pha nước và phun lên lá dâu cho tằm ăn
Nếu nuôi tằm không lắp lưới chống nhặng thì sử dụng thuốc Bi58 25% hoặc Bassa 50% pha nồng độ 1/1000 để phun trực tiếp lên mình tằm đợi khô mình tằm cho ăn dâu Chú ý phải thay phân cho tằm và phun thử trước khi phun cho toàn bộ lứa tằm
Trang 19Có thể dùng nước dấm ăn hoặc axit acetic 1% ngâm tằm, cấp cứu tằm ngộ độc và cho tằm ăn thêm đường, vitamin nhất là vitamin C
B Câu hỏi và bài tập thực hành
Bài thực hành 1: Thực hành phòng bệnh tằm
C Ghi nhớ
Cần chú ý nội dung trọng tâm sau:
Các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp
Trang 20Bài 3: BỆNH TRUYỀN NHIỄM
Mã bài: MĐ06–3
Bệnh truyền nhiễm là một loại bệnh có khả năng lây lan mạnh giữa các cá thể trong một lứa nuôi, lây lan từ thế hệ này sang thế hệ khác và lây lan giữa các vùng nuôi tằm
Đây là loại bệnh nguy hiểm, nguồn bệnh do các loài vi sinh vật gây nên, bệnh phát triển nhanh, mạnh trên diện rộng và gây ô nhiễm môi trường, tổn hại nghiêm trọng về kinh tế cho người trồng dâu nuôi tằm
Để phòng trừ tốt bệnh truyền nhiễm hại tằm đòi hỏi người trồng dâu, nuôi tằm phải am hiểu được những biến đổi sinh lý và triệu chứng tằm bệnh, những nguyên nhân gây bệnh cho tằm và có những biện pháp phòng trừ thích hợp nhất cho từng loại bệnh để đạt hiệu quả cao
Mục tiêu
Quan sát và nhận biết những biến đổi sinh lý và triệu chứng tằm bệnh;
Tìm hiểu những nguyên nhân gây bệnh cho tằm;
Áp dụng biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả cao;
Xây dựng thái độ học tập nghiêm túc, chuyên cần, tác phong khoa học
A Nội dung
1 Bệnh virus (bệnh bủng mủ)
Bệnh virus là bệnh gây hại tằm, ở Việt Nam gọi chung là bệnh tằm bủng
mủ, bệnh virus do 4 loại virus gây bệnh và được gọi tên bệnh cụ thể theo tên từng loại virus Đó là các bệnh virus nhân đa diện, bệnh virus tế bào chất đa diện, bệnh virus hình cầu và bệnh virus hình trụ
Những biểu hiện đặc trưng của bệnh virus:
Bệnh tằm nghệ đối với giống kén vàng, bệnh bủng mủ đối với giống kén trắng
Triệu chứng này biểu hiện khi tằm bị nhiễm cùng lúc 2 loại virus bệnh virus nhân đa diện và bệnh virus tế bào chất;
Ở ruột giữa xuất hiện các virus, sau đó lượng virus tăng lên gấp bội và gây bệnh
Các bệnh virus xuất hiện ở tất cả các vùng nuôi tằm, nhưng đặc biệt là vào mùa vụ hè thu – khi thời tiết xấu – việc tẩy uế cẩu thả và quản lý kém sẽ dẫn đến
sự bùng nổ bệnh hàng loạt, làm thất thu nghiêm trọng
Theo số liệu điều tra một số nước và một số khu vực thì bệnh virus chiếm
70 – 80% trong tổng số tổn thất do các loại bệnh tằm
Trang 211.1 Triệu chứng
Tằm bị nhiễm virus thường biểu hiện những triệu chứng sau:
Gian đốt thường phồng lên, da bóng, có màu trắng sữa và tằm bò liên tục xung quanh khay nuôi
Da dễ vỡ kèm theo máu màu trắng sữa rỉ ra, cơ thể co ngắn lại và chết
Xác chết của những con tằm bị nhiễm bệnh đen dần và thối rữa
Tằm sinh trưởng chậm, cơ thể còi cọc, kém ăn và có màu trắng đục
Nếu bệnh xảy ra ở tằm mới lớn thì ngực gần như trong suốt, cơ thể teo dần, xuất hiện nôn mửa và ỉa chảy, triệu chứng này rất dễ nhầm lẫn với triệu chứng của bệnh nhiễm trùng máu
Khi bệnh phát triển mạnh thì xuất hiện phân màu trắng
Triệu chứng này thường khác nhau ở từng giai đoạn phát triển của tằm
Nếu như chúng bị nhiễm ngay trước khi lột xác thì các đốt của nó sẽ phồng lên do màng ngăn giữa các đốt bị gập lại
Nếu tằm ở tuổi 4 và tuổi 5, thì các màng ngăn giữa các đốt phồng lên trông giống như một đoạn cây tre (gọi là là bệnh tằm nghệ đối với tằm kén vàng) hay còn có tên khác gọi là bệnh tằm khúc Ở giai đoạn tằm chín sự phồng to rất
dễ thấy
H06-2: triệu chứng bệnh bủng mủ (tằm khúc)
Đối với bệnh virus, triệu chứng bệnh phát triển chậm và diễn biến kéo dài Những con tằm tuổi nhỏ khi bị nhiễm ít virus không có biểu hiện bệnh cho đến tận tuổi 4
Trang 22 Nếu tằm bị nhiễm bệnh ở tuổi 1 thì sự phát bệnh sẽ thấy ở tuổi 2 và 3
Nếu ở tuổi 2 thì bệnh sẽ bắt đầu ở tuổi 3 và 4
Nếu ở tuổi 3 hoặc 4 thì triệu chứng bệnh xuất hiện ở tuổi 5
Nếu ở tuổi 5 thì hoàn toàn không thấy triệu chứng
Một số tằm bị mắc bệnh ở thời kì sau của tằm tuổi 5 thì kén có màu nâu tối, vỏ kén dễ thủng rách, các chất dịch lỏng nhỏ ra bên ngoài làm nhiễm bẩn vỏ kén
Bệnh này xuất hiện hầu như trong suốt vụ tằm xuân, trong mùa mưa ở các tỉnh phía nam
Tằm con bị chết khoảng 3 – 4 ngày sau khi bị nhiễm bệnh, còn tằm trưởng thành thì sau 4 – 6 ngày
H06-3: Giai đoạn cuối của tằm bệnh bủng mủ
1.2 Sự phát sinh của bệnh
Sự lây nhiễm bệnh do các thể virus chủ yếu qua miệng, nhưng virus tự do cũng có thể đi vào qua các vết thương Sau khi qua cuống họng, đa diện đi vào ruột, bị hòa tan do chất kiềm trong ruột và giải phóng ra các thể virus
Sau khi virus xâm nhập vào cơ thể tằm, một số đi vào các cơ quan nội tạng
và kí sinh trên những tế bào dễ bị nhiễm ở đó; một số khác có thể cư trú tại tế bào ruột giữa
Sự diễn biến bệnh chịu ảnh hưởng của nhiệt độ (t°) và ẩm độ (rh%), cũng như số lượng và độc tính của virus
Bệnh do virus xuất hiện chủ yếu trong tằm hè – thu
Trang 23Ở mức độ nhất định, sức kháng bệnh virus có liên quan đến thể trạng, giống, giai đoạn phát triển và tình trạng sinh lí của tằm
Những giống tằm nhân nhanh và giống lai F1 của nó thể hiện tính chống chịu tốt với thể virus nhân đa diện, virus tế bào chất đa diện
Đối với lai F1 thì dòng Trung Quốc chống chịu khỏe, dòng Nhật Bản yếu, dòng lai Châu Âu có sức chống chịu ở mức trung bình
Nhìn chung các giống có khả năng chịu nhiệt độ và độ ẩm cao, thì có tính chống chịu tốt đối với bệnh virus hình cầu và con lai có tính chống chịu tốt hơn bố mẹ chúng
Tính chống chịu đối với bệnh virus khác nhau tùy thuộc vào thời kì phát triển của tằm Tằm tuổi nhỏ có xu hướng dễ nhiễm bệnh hơn
Nghiên cứu sự nhiễm LD50 qua miệng đối với bệnh virus nhân đa diện cho thấy: ở tuổi 1 là 1, tuổi 2 là 14, tuổi 3 là 500, tuổi 4 là 550, và tuổi 5 là 1400 Đối với bệnh virus tế bào chất đa diện, nếu LD50 ở tuổi 1 là 1 thì tuổi 2 là 1,7; tuổi 3 là 2,1; tuổi 4 là 2,3 và tuổi 5 là 550
Đối với bệnh virus hình cầu thì nếu LD50 đối với tằm tuổi 1 là 1, tuổi 2 là 1,5; tuổi 3 là 3,0; tuổi 4 là 13, và tuổi 5 là 10.000 – 12.000
Tính chống chịu của từng cá thể có thể tăng lên theo tuổi của nó, nhưng tính chống chịu đối với bệnh virus tế bào chất đa diện và fv thì không khác nhau nhiều từ tuổi 1 đến tuổi 4 Vì vậy điều quan trọng là không chỉ cần tăng cường quản lí tằm nhỏ mà còn phải chú trọng phòng bệnh đối với tằm lớn Điều này đặc biệt đúng đối với bệnh virus tế bào chất đa diện và bệnh virus hình cầu, khi
sự lây nhiễm ở tuổi 3 và tuổi 4 lan truyền qua khay nuôi có thể dẫn đến sự bùng phát dịch bệnh ở tuổi 4
Thời kì tằm dễ nhiễm bệnh nhất trong mỗi tuổi là khi tằm mới lột xác Thời gian tằm chống chịu khỏe nhất là thời kì chúng ăn mạnh nhất Tuy nhiên, tính chống chịu có xu hướng giảm sút khi gần đến lúc tằm lột xác
1.3 Điều kiện môi trường
Thể trạng của tằm phụ thuộc nhiều vào điều kiện cho ăn và chất lượng thức
ăn Tính chống chịu của tằm đối với bệnh virus phụ thuộc vào thể trạng tằm, tằm khỏe chống bệnh tốt hơn
Nhiệt độ ở thời kì ấp trứng và thời kì tằm con có ảnh hưởng đến tính chống chịu đối với bệnh
Ví dụ: khi ấp trứng ở 250C sẽ gấp 14 lần khi ở 320C Nếu từ tuổi 1 đến tuổi
3 tằm được nuôi ở 2 ngưỡng nhiệt độ khác nhau là 25 và 300C, rồi cấy virus tế bào chất đa diện, thì thể hiện tình trạng bệnh ở ngưỡng 250C là thấp nhất
Tỉ lệ cao về bệnh virus tế bào chất đa diện và virus hình cầu đối với tằm vụ
hè thu có liên quan đến nhiệt độ Bệnh virus nhân đa diện với tằm vụ xuân có
Trang 24liên quan đến ẩm độ (rh%) Nhiệt độ và ẩm độ cao có ảnh hưởng đến tính chống chịu của tằm, nó làm tăng tính dễ nhiễm bệnh
Chất lượng và số lượng lá dâu có ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng sinh lí của tằm
Ví dụ, nếu cho tằm vụ xuân và vụ hè, ăn lá dâu bánh tẻ hoặc non, thì tằm chỉ ăn những lá dâu non thường mắc bệnh virus nhân đa diện, và nếu điều kiện bất lợi thì tình trạng bệnh càng tăng
Nếu tằm vụ hè và vụ thu phải chịu đói, thiếu lá dâu thì chúng sẽ bị rối loạn trao đổi chất, giảm khả năng chống bệnh Khi đó chỉ cần có số lượng nhỏ virus tế bào chất đa diện chúng cũng dễ nhiễm bệnh virus tế bào chất và virus hình cầu
Hơn nữa, sự nhiễm độc do hóa chất nông nghiệp hoặc do khói thải từ các nhà máy hóa chất độc hại tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh virus
1.4 Chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán bệnh dựa vào những điểm sau:
Ở thời kì nhiễm bệnh ban đầu là đầu tằm có màu xanh, không lột xác, da bóng
Sau đó toàn bộ cơ thể có màu trắng sữa, tằm bò liên tục, gai đuôi bị đứt
và cuối cùng 1 chất lỏng hoặc máu màu trắng sữa ứa ra
Nếu như triệu chứng của bệnh không biểu hiện rõ như vậy thì cắt đuôi hoặc chân lấy mẫu để diểm tra Chuẩn bị mẫu tươi, quan sát dưới kính hiển vi phóng đại 400 lần tìm sự có mặt của đa diện, rồi dựa vào đó để chẩn đoán bệnh
H06-4: triệu chứng tằm không lột xác (tằm trốn ngủ)
Trang 251.5 Phòng trừ bệnh virus
Hiện nay bệnh virus là bệnh phổ biến rộng rãi trong các bệnh tằm, là loại bệnh nguy hiểm nhất đối với tằm Khi biết rõ nguyên nhân của từng bệnh, ta có thể khống chế được bệnh bằng biện pháp phòng trừ tổng hợp
Những phương pháp phòng trừ chính:
1.5.1 Khử trùng triệt để, tiêu diệt nguồn bệnh
Tiêu diệt nguồn gây bệnh là biện pháp cơ bản trong phòng trừ bệnh virus
và việc khử trùng thích hợp là 1 biện pháp quan trọng
Trước khi nuôi tằm phải khử trùng môi trường xung quanh một cách toàn diện Sau đó khử trùng nghiêm ngặt các phòng nuôi tằm, phòng dự trữ lá dâu còn phòng né thì cần khử trùng vài lần
Kế hoạch khử trùng chặt chẽ phải được vạch ra và thi hành nghiêm chỉnh Sắp xếp trong phòng nuôi tằm phải hợp lí – tằm con và tằm lớn (lên né) nuôi ở những phòng riêng
Vào cuối vụ, những con tằm chết trên giá là nguồn nhiễm bệnh mạnh nhất
Vì chúng chứa 1 số lượng lớn những virus còn rất khỏe Vì vậy, việc tẩy uế phải được tiến hành ngay sau khi thu hoạch kén để ngăn ngừa sự lan truyền của virus
và sự nhiễm bẩn môi trường
1.5.2 Tách riêng tằm khỏe mới lột xác
Phương thức truyền bệnh chủ yếu nhất là qua khay nuôi Vì vậy phải loại trừ nguồn gây bệnh trong các khay nuôi, đặc biệt là phải ngăn ngửa lây nhiễm cho tằm tuổi nhỏ
Tằm bị nhiễm bệnh virus, sinh trưởng chậm, lột xác muộn và kéo dài Phân của những con tằm này trong nong ngày càng tăng, tằm khỏe tiếp xúc với phân tằm bệnh sẽ bị lây nhiễm bệnh Từ đó, dịch bệnh co nguy cơ phát triển mạnh trong nong
Trong thời gian nuôi luôn phải theo đúng kĩ thuật, tách những con tằm lột xác ra khỏi những con chưa lột xác và nuôi riêng, cách li tằm khỏe để giảm nguy
Trang 261.5.3 Cải tiến việc cho ăn và chăm sóc tằm
Sự lây nhiễm bệnh và tổn hại do bệnh virus gây ra có liên quan mật thiết với sức khỏe của tằm Vì vậy trong quá trình nuôi cần lưu ý nuôi dưỡng và quản
lí tốt, quan tâm đến các điều kiện sống và yêu cầu sinh lí của tằm
Trong quá trình ấp trứng và nuôi cần tránh nhiệt độ và ẩm độ cao quá mức
Ở thời kì tằm phải đề phòng điều kiện oi ả ngột ngạt, phải thực hiện thông gió chu đáo
Ẩm độ phòng nuôi và các khay phải được điều chỉnh thường xuyên Việc thu hái, vận chuyển và bảo quản lá dâu phải được chú trọng để đảm bảo lá dâu
có đủ chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu nuôi tằm Để tránh gây thương tổn cho tằm, không nên nuôi với mật độ quá dày
1.5.4 Sử dụng những giống tằm chống bệnh
Trong việc chọn lọc để tạo những giống tằm chống bệnh và khỏe mạnh cần lưu ý đến các đặc điểm của mùa vụ nuôi và điều kiện thực tế của mỗi địa phương
Chọn giống đúng đắn phải có ý nghĩa thực tế trong việc ngăn ngừa các bệnh virus phát sinh và lan truyền cũng như giảm bớt những thất thoát về kinh
tế
Hiện nay chưa có các loại thuốc đặc trị có hiệu lực cao để trộn vào thức ăn nhằm trị bệnh cho tằm Theo kinh nghiệm thì cho tằm ăn thêm cloramphenicol cho một số hiệu quả Phương pháp này chủ yếu là ức chế vi khuẩn đường ruột và làm yếu hoặc hãm bớt việc phát sinh các bệnh virus tế bào chất đa diện và virus hình cầu
Người ta đã tiến hành nghiên cứu về khả năng tác động vào virus và quá trình miễn dịch đối với virus về phép “điều trị nhiệt độ cao” để ức chế các bệnh virus tế bào chất và virus hình cầu ở tằm
2 Bệnh vi khuẩn
Bệnh vi khuẩn là bệnh phổ biến của tằm và có xu hướng xuất hiện trong nhũng vụ tằm có thời tiết nóng ẩm Bệnh vi khuẩn ít khi bùng phát hàng loạt Tuy nhiên, nếu việc khử trùng không được chú ý thường xuyên, nếu phân tằm
để lâu trong khay nuôi, lá dâu bị nhiễm khuẩn, hoặc sử dụng thuốc diệt khuẩn không an toàn, thì bệnh vi khuẩn có thể gây tổn thất lớn
Bệnh vi khuẩn được gọi là bệnh thối nhũn, bởi vì khi tằm chết thì xác của
nó mềm nhũn và thối rữa
Bệnh này được phân loại theo 3 dạng vi khuẩn như sau:
Bệnh nhiễm khuẩn đường máu hay còn gọi là nhiễm trùng máu
Nhiễm khuẩn đường ruột hoặc nhiễm trùng độc tố
Bệnh vi khuẩn độc tố
Trang 272.1 Bệnh nhiễm trùng máu (bệnh hoại huyết)
Trong bệnh này, vi khuẩn sống và nhân lên rất nhanh trong máu của tằm, nhộng và ngài Sự nhiễm trùng máu trong cơ thể nhộng và ngài thường làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất trứng
Có 2 loại vi khuẩn phổ biến gây ra bệnh nhiễm trùng máu đó là vi khuẩn
bacillus sp và vi khuẩn serratia marcescens
Tính kháng của vi khuẩn bacillus sp tốt hơn vi khuẩn serratia marcescens
Trừ dung dịch vôi, còn vôi bột, clorua vôi, foormaldehyt và các chất vệ sinh thông thường khác vẫn sử dụng trong nghề nuôi tằm và đem lại hiệu quả khử trùng tốt
2.1.1 Triệu chứng bệnh nhiễm trùng máu
Tằm di chuyển chậm chạp, kém ăn, cơ thể duỗi thẳng, các đốt ngực sưng phồng lên, các đốt bụng co lại, có hiện tượng nôn mửa, phân mềm dạng hạt lấm tấm
Tằm chết thì đầu và ngực duỗi thẳng, cơ thể mềm nhũn và biến màu, vách
cơ thể dễ vỡ để chảy ra chất lỏng mùi hôi thối
H06-5: Xác chết của tằm bị bệnh nhiễm trùng máu (Bệnh hại huyết)
Khi tằm mới chết vì bệnh do vi khuẩn bacillus sp trên lưng đốt ngực hoặc
đốt bụng 4 – 6 biểu hiện màu xanh tối, sau đó lan ra toàn bộ cơ thể, xác tằm biến màu đen thối rữa và rỉ ra chất lỏng màu sẫm
Trang 28Xác chết của tằm bị bệnh do vi khuẩn serratia marcescens có các đốm bệnh
màu nâu tối, toàn bộ cơ thể mềm nhũn, sau đó toàn thân chuyển sang màu đỏ sáng nhạt Khi động đến thì chất dịch màu đỏ nhạt rỉ ra
Bệnh nhiễm trùng máu là loại bệnh cấp phổ biến
Nhiệt độ môi trường càng cao, bệnh phát triển càng nhanh
Thời gian từ khi nhiễm bệnh đến khi chết: nếu nhiệt độ môi trường > 280
C khoảng 10 giờ tằm chết và ở nhiệt độ 250
C thì sau 1 ngày tằm chết
2.1.2 Sự phát sinh bệnh
Vi khuẩn sống chủ yếu ở môi trường tự nhiên, ở trong đất và bám theo các hạt bụi, trong nước cống, trên lá dâu, trong phòng nuôi và trên các dụng cụ khác Môi trường nóng ẩm, nhiệt độ và độ ẩm cao là điều kiện thích hợp nhất cho
sự truyền lan của vi khuẩn này Bệnh này xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa và mùa nhiều sương mù
Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể tằm, nhộng và ngài chủ yếu qua vết thương
cơ giới Chúng nhân lên nhanh trong máu và phá vỡ chức năng sinh lí bình thường của máu, làm loạn quá trình trao đổi chất dẫn đến tằm bị bệnh và chết Tằm tuổi 5 dễ bị bệnh nhất Thực tế bệnh này xuất hiện nhiều và gây hại nặng nhất vào cuối tuổi 4
Việc nuôi không cẩn thận, khay nuôi quá chật, để phân lưu cữu trong khay
và động tác quá mạnh khi dọn phân, cho tằm lên né, thu kén, cho giao phối… đã làm tổn thương đến tằm, nhộng và ngài, tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập Những dụng cụ bẩn trong phòng bảo quản lá dâu, đặc biệt là khi bảo quản
lá dâu ướt, đã tạo điều kiện cho sự lan truyền của vi khuẩn và làm nhiễm bẩn lá dâu
2.1.3 Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh dựa vào những triệu chứng ở từng cá thể tằm như:
Sự thay đổi màu sắc của xác chết
Hiện tượng thối rữa và mùi thối
Sử dụng kính hiển vi để kiểm tra xác định vi khuẩn
Để chính xác thì tốt nhất là phải kiểm tra tìm vi khuẩn ngay trước khi tằm chết
2.2 Bệnh vi khuẩn đường ruột
Bệnh vi khuẩn đường ruột còn gọi là bệnh trong đầu, bệnh tằm teo; gây ra
do vi khuẩn tăng nhanh trong hệ thống tiêu hóa
Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng Khi kiểm tra bệnh phẩm tìm thấy phổ
biến là vi khuẩn steptococcus sp Vi khuẩn có hình tròn, 2 hoặc nhiều chỗ nối
Trang 29tạo thành chuỗi hạt Kích thước 0,7 – 0,9 µm Ngoài steptococcus, vi khuẩn
bacilli trong hệ thống tiêu hóa cũng gây ra bệnh này
2.2.1 Triệu chứng bệnh trong đầu
Triệu chứng chung của bệnh này là tằm giảm sức ăn, di chuyển chậm chạp,
cơ thể còi cọc, sinh trưởng chậm và các triệu chứng mãn tính khác
Các triệu chứng có thể khác nhau tùy thuộc vào thời kì phát triển của tằm
và các loại vi khuẩn kí sinh trong đường tiêu hóa
Tằm bệnh có biểu hiện tằm tuổi nhỏ không lên dâu, tằm tuổi lớn bò nhiều lên trên lá dâu, trên cạp nong Giai đoạn sau cơ thể co ngắn lại, đầu trong suốt,
Khi chăm sóc kém, gặp điều kiện môi trường bất lợi, đặc biệt là sau khi tằm
ăn phải những lá dâu quá già hoặc quá non thì chức năng sinh lý của tằm bị rối loạn, đặc tính kháng vi khuẩn của dịch tiêu hóa và máu suy yếu, làm vi khuẩn tăng nhanh và gây ra bệnh
Bệnh này xuất hiện chủ yếu ở thời kỳ tằm tuổi nhỏ và tằm mới lột xác ở các tuổi khác nhau
2.2.3 Chẩn đoán
Nếu các biện pháp loại bỏ tằm bệnh, cải thiện môi trường nuôi và thêm cloramphenicol vào thức ăn mà kết quả rõ rệt thì có thể chẩn đoán là bệnh này Kiểm tra dịch tiêu hóa trong ruột dưới kính hiển vi, nếu thấy nhiều vi khuẩn thì cũng chẩn đoán là bệnh vi khuẩn đường ruột
2.3 Bệnh vi khuẩn độc tố
Bệnh khuẩn độc tố, còn gọi là bệnh “sotto” Tằm nhiễm bệnh khuẩn độc tố
vì ăn phải độc tố do nha bào bacilli sinh ra
Thuốc diệt khuẩn bacillus thuringiensis và các thuốc tương tự áp dụng
trong các vùng nuôi tằm cũng là nguyên nhân gây nhiễm và lan tràn của bệnh
2.3.1 Nguyên nhân gây bệnh
Vi khuẩn có dạng hình gậy, phần cuối hơi tròn, có lông roi và thường tạo thành chuỗi liên kết với nhau, nhuộm gram âm
Khuẩn lạc tròn có màu trắng sữa Sau khi đạt tới giai đoạn phát triển nhất định các thể sinh dưỡng tạo thành bào xác, trong đó bào tử phát triển ở một đầu còn đầu kia là tinh thể prôtein (một thể kết tinh phụ của bào tử)
Trang 30Bào tử có hình ô van hoặc hình ống, có tính khúc xạ, khó nhuộm màu, chống chịu tốt với điều kiện bất lợi và khi gặp điều kiện thích hợp thì phát triển thành thể sinh dưỡng
Thể kết tinh có hình thoi và chứa nội độc tố đelta ( ) Tinh thể prôtein chứa nhiều enzym, không tan trong nước và các dung môi hữu cơ như axêtôn, nhưng hòa tan trong dung dịch kiềm Nó có độ độc cao đối với sâu non bộ cánh vảy và
là nguyên nhân làm tằm chết sau khi ăn phải vài giờ
Khi tằm ăn phải lượng nhỏ vi khuẩn độc tố sotto thì nó bị bệnh mãn tính Sức ăn của tằm giảm, phân hình dạng không đều, thỉnh thoảng xuất hiện nôn mửa Tằm bị liệt, ngực và đuôi trở nên trong suốt, tằm nằm bất động ở trong lá thừa, phân Bệnh có thể kéo dài vài ngày tằm mới chết
2.3.3 Sự phát sinh bệnh
Vi khuẩn “sotto” là nguyên nhân gây bệnh ngẫu nhiên Có thể tìm thấy một lượng lớn vi khuẩn này trong cơ thể và phân của tằm bệnh, những côn trùng hại dâu bị bệnh, trong nước bị nhiễm bẩn Đó là nguồn nhiễm bệnh chính Những thuốc diệt khuẩn dùng không đúng cách cũng có thể gây nhiễm bệnh này
Con đường xâm nhiễm chính là qua miệng Sau khi tằm ăn phải lá dâu nhiễm vi sinh vật gây bệnh từ tằm bệnh, từ xác và phân tằm bệnh, thì tiền bào tử
bị tiêu hóa do chất kiềm trong dịch ruột sẽ giải phóng ra các độc tố làm tằm bị say và chết
Môi trường ẩm là yếu tố chính dẫn đến bệnh (như trong những ngày mây
mù, ngày mưa, ẩm độ cao mà sự khử ẩm lại khó khăn) Đặc biệt là khi liên tục cho ăn lá dâu ướt, làm khay nuôi bị ẩm ướt Điều kiện như vậy rất thích hợp cho
sự sinh sôi và lan truyền của vi khuẩn nhưng lại làm cho tằm yếu đi, khiến tỷ lệ mắc phải bệnh vi khuẩn độc tố cao
Nếu dự trữ quá nhiều lá dâu trong phòng chứa, đồng thời nhiệt độ và độ ẩm lại cao, thì vi khuẩn càng nhân nhanh Lá dâu mang vi khuẩn làm tăng cơ hội nhiễm bệnh
Trang 312.3.4 Chẩn đoán
Bệnh vi khuẩn độc tố không có triệu chứng nổi bật, thậm chí ngay cả khi tằm sắp chết Không thấy biến màu khi chết; sờ xác tằm thấy cứng, đầu thụt vào tạo thành dạng móc
Trường hợp bệnh cấp thì giữ tằm một thời gian ngắn (khoảng 1 ngày), sau
đó lấy mẫu dịch chứa trong ruột làm một mẫu tươi quan sát dưới kính hiển vi Nếu phát hiện một lượng lớn các thể sinh dưỡng tinh thể tiền bào tử thì đó chính là bệnh vi khuẩn độc tố
Cũng có thể giữ tằm bệnh một ngày, sau đó lấy dịch ruột giữa ra cho vào nước vô trùng Chất nổi trên mặt trong suốt đem cho tằm 1 tuổi ăn cùng thức ăn; nếu gây ra nhiễm độc cấp thì chẩn đoán là bệnh này
2.4 Phòng trừ các bệnh do vi khuẩn
Ngoài việc khử trùng thông thường cần phải chú ý giữ vệ sinh phòng nuôi, phòng dự trữ lá dâu, khay nuôi và nguồn nước Chú ý chọn lá dâu phù hợp và giữ cho lá dâu tươi
Tránh dự trữ quá nhiều lá dâu trong kho Lá dâu cần được bảo quản khô ráo
và tươi, trước khi cho ăn 15 – 30 phút phải đảo tơi dâu cho thoáng khí, thoát nhiệt
Tăng cường thông gió và khử ẩm Nên rắc một ít vôi bột hoặc chất hút ẩm trên các khay nuôi để giữ cho chúng luôn khô ráo
Chú ý theo dõi sức ăn của tằm Khi phát hiện ra tằm bệnh phải tách chúng
ra và khử trùng ngay
Cải tiến chế độ ăn và chăm sóc, duy trì khoảng cách thích hợp Khi cắt và chọn kén, cho ngài giao phối thì các thao tác phải cẩn thận để tránh làm tằm bị thương
Phòng trừ dịch hại cây dâu Cấm sử dụng biện pháp sinh học cùng với thuốc diệt khuẩn ở các khu vực nuôi tằm
Thêm vào thức ăn 500 – 1000 đơn vị quốc tế chloramphenicol (nếu là syntomycine thì liều lượng gấp đôi)
Trong thời gian bệnh bùng nổ nghiêm trọng, cứ 8 giờ 1 lần cho thức ăn có trộn thuốc trên, và ăn liên tục một số liều
Trang 32Trong số những bệnh do nấm gây ra, phổ biến nhất là bệnh tằm vôi, bệnh nấm cúc vàng và bệnh nấm xanh
Bệnh nấm được chặn đứng từ khi phổ biến bột trừ các bệnh nấm xác cứng ở tằm
Đính bào tử có hình cầu hoặc hình ô van, không màu nhưng dưới kính hiển
vi có màu xanh nhạt, thường tập hợp lại thành dạng phấn trắng
Khi điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hợp thì sau khoảng 10 giờ bám vào
cơ thể tằm, bào tử nẩy mầm, các ống mầm mọc ra, đồng thời tiết theo chất phân giải vỏ kitin khiến chúng đâm thủng được vách cơ thể tằm, định vị và nhân nhanh trong cơ thể tằm
Sợi nấm sinh dưỡng
Ống mầm xâm nhập, phát triển thành sợi nấm sinh dưỡng
Ở đỉnh sợi nấm hình thành các sợi nấm ngắn hình tròn hoặc hình ô van Chúng có thể tự tách ra và kéo dài để tạo thành sợi nấm sinh dưỡng
Sợi nấm ưa khí (aerial mycelium)
Sợi nấm sinh dưỡng đâm thủng vách ra ngoài trở thành sợi nấm ưa khí trên
cơ thể tằm Chúng mọc ra các conidiophories, từ đó tạo thành những cành nhỏ, mỗi cành có một hoặc nhiều conidia
Giai đoạn phát triển của nấm tằm vôi từ khi bào tử nảy mầm tới sợi nấm sinh dưỡng, sợi nấm ngắn và đính bào tử là một chu kỳ
Bào tử của nấm Beauveria bassiana có thể tồn tại trong môi trường tự
nhiên vài tháng đến 1 năm Có thể diệt nấm bằng bột tẩy trắng có 2% hoạt chất clo hoặc 1% formalin, trong 5 – 7 phút
3.1.2 Triệu chứng
Tằm có thể nhiễm bệnh tằm vôi ở giai đoạn tằm, nhộng và ngài