Đề tài dựa vào các cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra ngân hàng đối với các ngân hàng thương mại theo hướng tăng cường cảnh báo sớm để từ đó làm rõ thực trạng công tác này tại ngân hà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG PHƯƠNG MAI
TĂNG CƯỜNG CẢNH BÁO SỚM TRONG HOA ̣T ĐỘNG THANH TRA TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG PHƯƠNG MAI
TĂNG CƯỜNG CẢNH BÁO SỚM TRONG HOA ̣T ĐỘNG THANH TRA TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
CHI NHÁNH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH THỊ HOA MAI
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Hoàng Phương Mai
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai cũng như các thầy cô ; sự giúp đỡ , tạo điều kiện thuận lợi của Lãnh đạo , các đồng nghiệp tại ngân hàng Nhà nước – Chi
nhánh Hà Nội và sự động viên, giúp đỡ từ gia đình, bạn bè
Học viên
Hoàng Phương Mai
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢNH BÁO SỚM TRONG HOẠT ĐỘNGTHANH TRA NGÂN HÀNG 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cư ́ u 4
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về hoạt động thanh tra các ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng 8
1.1.3 Kết luận chung 10
1.2 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n về cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng 11
1.2.1 Ý nghĩa cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng 11
1.2.2 Nội dung cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng 15
1.2.3 Các điều kiện tác động đến cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng 27
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 31
2.1.1 Phương pháp luận 31
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 31
2.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 31
2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp 32
2.4 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 34
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CẢNH BÁO SỚM TRONG HOA ̣T ĐỘNG THANH TRA TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH HÀ NỘI 35
Trang 73.1 Giới thiệu khái quát về hoạt động thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi
nhánh Hà Nội 35
3.1.1 Nhiê ̣m vụ, quyền hạn cu ̉a bộ phận thanh tra giám sát ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội 35
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của bộ phận thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội 37
3.2 Cảnh báo sớm trong hoạt động thanh t ra giám sát ta ̣i ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nô ̣i 38
3.2.1 Cảnh báo sớm trong hoạt động giám sát từ xa 38
3.2.2 Cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra tại chỗ 47
3.3 Đánh giá chung 60
3.3.1 Kết quả đạt được 60
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 62
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CẢNH BÁO SỚM TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH HÀ NỘI 66
4.1 Định hướng hoa ̣t đô ̣ng thanh tra ngân hàng trong giai đoạn hiện nay 66
4.2 Một số giải pháp tăng cường ca ̉ nh báo sớm trong hoa ̣t đô ̣ng thanh tra của ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nô ̣i 68
4.2.1 Đổi mới mô hình tổ chức, bộ máy của bộ phận thanh tra, giám sát 68
4.2.2 Hoàn thiện phương pháp thanh tra 69
4.2.3 Hoàn thiện khung pháp lý 83
4.2.4 Nâng cao năng lực cu ̉a đội ngũ cán bộ 84
4.2.5 Phát triển hệ thống công nghệ thông tin 86
4.3 Một số kiến nghị 87
4.3.1 Đối với Chính phủ 87
4.3.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 88
4.3.3 Đối với các tổ chức tín dụng 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
1 AGRB Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
3 BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
4 CAMELS Hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng
5 CAR Tỷ lệ an toàn vốn
6 CDIC Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Đài Loan
7 CQTTGSNH Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng
8 DPRRTD Dự phòng rủi ro
9 GDP Thu nhập tổng sản phẩm quốc dân
10 HĐQT Hội đồng quản trị
11 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
12 MB Ngân hàng TMCP Quân đội
13 NHNN Ngân hàng Nhà nước
14 NHTM Ngân hàng thương mại
15 NHTW Ngân hàng trung ương
16 NIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
17 ROA Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản
18 ROE Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
19 SHB Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
20 TCTD Tổ chức tín du ̣ng
21 TTGS Thanh tra giám sát
22 TTS Tổng tài sản
23 VCB Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
24 VCSH Vốn chủ sở hữu
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU STT Bảng Nội dung Trang
1 Bảng 1.1 Các tiêu chí đánh giá theo khuôn khổ CAMELS 15
2 Bảng 1.2 Nội dung xếp hạng theo các yêu tố CAMELS 19
3 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu an toàn tài chính đối với các NHTM 38
4 Bảng 3.2 Nội dung cảnh báo sớm đối với từng kỳ giám sát 40
5 Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu cơ bản của các TCTD (10/2014) 43
6 Bảng 3.4 Tình hình cho vay và huy động của một số NHTM
7 Bảng 3.5 Quy mô tổng tài sản của 8 ngân hàng (07/2014) 45
8 Bảng 3.6 Mô hình đánh giá xếp hạng 8 ngân hàng 45
11 Bảng 3.9 Số lượng các cuộc thanh tra từ 2010 - 2014 47
12 Bảng 3.10 Hoạt động tín dụng các chi nhánh NHNo&PTNT 57
13 Bảng 3.11 Tổng hợp sai phạm tại các chi nhánh
14 Bảng 3.12 Sai phạm trong phân loại nợ của một số chi nhánh
16 Bảng 4.2 So sánh quy trình thanh tra tuân thủ và quy trình
17 Biểu 3.1 Phương pháp thanh tra tại chi nhánh (2010 – 2014) 48
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT Sơ đồ Nội dung Trang
1 Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức bô ̣ phâ ̣n thanh tra ta ̣i Chi nhánh 37
2 Sơ đồ 3.2 Quy trình giám sát từ xa tại Chi nhánh 39
3 Sơ đồ 3.3 Quy trình thanh tra áp du ̣ng ta ̣i Chi nhánh 49
4 Sơ đồ 4.1 Quy trình thanh tra giám sát ngân hàng 70
5 Sơ đồ 4.2 Quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 73
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới kinh tế, hệ thống ngân hàng đã có sự phát triển vượt bậc theo hướng hiện đại, đa dạng hóa và không ngừng cải cách, đóng góp những vai trò to lớn đối với những thành tựu về kinh tế - xã hội nước ta những năm qua Các ngân hàng thương mại không chỉ tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế mà còn góp phần ổn định sức mua đồng tiền Theo số liệu của WorldBank năm 2014, vốn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn
do các ngân hàng thương mại đáp ứng, với tổng tài sản của hệ thống tương đương 183% GDP; Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có tăng nhẹ, nhưng vẫn thấp so với khu vực (xếp thứ 68/148 quốc gia) Tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng
đã dồi dào hơn nhưng vẫn chưa ổn định, nợ xấu đã giảm nhưng còn ở mức cao Đảm bảo an toàn, hiệu quả, bền vững của từng ngân hàng cũng như toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là mục tiêu quan trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Hoạt động thanh tra giám sát đối với ngân hàng thương mại là một đề tài nghiên cứu đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm do tầm quan trọng của hoạt động này đối với sự an toàn của toàn hệ thống ngân hàng Hệ thống ngân hàng cần được xây dựng phù hợp đối với từng quốc gia và các quan điểm tranh luận
về mô hình tổ chức giám sát vẫn tiếp tục được đưa ra
Trong quá trình hội nhập quốc tế, rủi ro hoạt động trong hệ thống ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng về loại hình và tinh vi về mức độ dẫn đến tình trạng
an toàn thiếu bền vững, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại còn thấp Hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước nói chung và của Ngân hàng Nhà nước – chi nhánh Hà Nội nói riêng nếu được tăng cường cảnh báo sớm sẽ đảm bảo tài chính của các ngân hàng, giúp hệ thống ngân hàng phát triển bền vững và phát huy được vai trò huyết mạch của nền kinh tế
Như vậy, làm thế nào để hoàn thiện hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng tăng cường cảnh báo sớm đang là một câu hỏi cần được quan tâm hiện nay
Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Tăng cường cảnh báo sớm trong hoạt động
Trang 12thanh tra tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội” nhằm giải
quyết câu hỏi cấp thiết trên
Đề tài dựa vào các cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra ngân hàng đối với các ngân hàng thương mại theo hướng tăng cường cảnh báo sớm để từ đó làm rõ thực trạng công tác này tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội hiện nay; đánh giá được những mặt ưu nhược điểm trong công tác thanh tra, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng tăng cường cảnh báo sớm
Để có thể đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau:
- Hoạt động thanh tra ngân hàng tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội hiện nay thể hiện nội dung cảnh báo sớm như thế nào? Cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội hiện nay đã đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như thế nào?
- Có những giải pháp nào để tăng cường cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội?
- Mô hình nào cho hoạt động thanh tra ngân hàng của NHNN để thực hiện tốt
yêu cầu cảnh báo sớm?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp tăng cường cảnh báo sớm trong thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luâ ̣n về hoa ̣t đô ̣ng cảnh báo sớm trong hoa ̣t đô ̣ng thanh tra ngân hàng
- Phân tích, đánh giá thực trạng cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp cho ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội khi thanh tra các ngân hàng thương mại trên địa bàn hiện nay theo hướng cảnh báo sớm
Trang 133 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động thanh tra của
ngân hàng Nhà nước Hà Nội đối với các ngân hàng thương mại (Không bao gồm các quỹ Tín dụng nhân dân) trên địa bàn Hà Nội Như vậy, góc độ nghiên cứu của luận văn là đứng về phía NHNN để thực hiện thanh tra các NHTM theo hướng cảnh báo sớm, không đi sâu vào nội dung thanh tra mà chủ yếu là tổ chức thực hiện Luận văn đưa ra các báo cáo thanh tra ở một số chi nhánh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam làm ví dụ về kết quả của hoạt động thanh tra tại NHNN chi nhánh Hà Nội
- Về thời gian: Hoạt động thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà
Nội trong thời gian 2010-2014 và kiến nghị cho giai đoạn 2015-2020
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội
Chương 4: Định hướng và một số giải pháp tăng cường cảnh báo sớm
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢNH BÁO SỚM TRONG HOẠT ĐỘNGTHANH TRA NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cư ́ u
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về hoạt động thanh tra các ngân hàng thương mại
- Lê Mạnh Dũng, 2013 Hoạt động thanh tra của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh Luận văn thạc sĩ
Luận văn đã khái quát được tầm quan trọng của hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng quốc doanh Các ngân hàng đảm nhiệm vai trò đặc biệt trên thị trường tài chính nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, nó là kênh chuyển giao vốn từ tiết kiệm đến đầu tư, là công cụ của Chính phủ trong việc tài trợ vốn cho các mục tiêu chiến lược; hoạt động của các trung gian tài chính, đặc biệt là các tổ chức nhận tiền gửi, có ảnh hưởng quyết định đến việc điều hành chính sách tiền tệ
Hoạt động của các ngân hàng liên quan đến hầu hết các chủ thể kinh tế trong
xã hội nên sự sụp đổ của một ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền đồng thời đến toàn hệ thống ngân hàng Các ngân hàng có mối liên hệ và phụ thuộc với nhau chặt chẽ thông qua các luồng vốn tín dụng luân chuyển và thông qua hoạt động của hệ thống thanh toán Chỉ một trục trặc nhỏ trong quá trình thanh toán của một ngân hàng cũng sẽ gây nên vấn đề về tính thanh khoản của cả hệ thống Mặt khác, sự sụp đổ của ngân hàng sẽ gây khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời ảnh hưởng tới quyền lợi của người gửi tiền Chính vì lẽ đó mà hoạt động thanh tra ngân hàng rất quan trọng, góp phần đảm bảo an toàn cho hệ thống các ngân hàng thương mại, đồng thời bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Trong luận văn, tác giả cũng đưa ra một số nội dung đổi mới trong công tác thanh tra của ngân hàng nhà nước đối với các ngân hàng quốc doanh trong thời gian hiện nay Tuy nhiên, luận văn mới chỉ dừng lại tập trung nghiên cứu với đối tượng
Trang 15nghiên cứu là hoạt động thanh tra tại các ngân hàng thương mại quốc doanh mà chưa đề cập đến các loại hình ngân hàng khác trong hệ thống các ngân hàng thương mại
- Lê Hà Thanh, 2013 Tăng cường công tác thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ
Luận văn đã làm rõ chức năng quản lý của thanh tra Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại Ngân hàng Nhà nước thực hiện hai chức năng cơ bản đó là ngân hàng của quốc gia và thực hiện chức năng quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn cho
cả hệ thống ngân hàng, qua đó mà thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế Mục đích hoạt động của Ngân hàng Nhà nước không phải là mưu tìm doanh lợi mà là ổn định lưu thông tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, Ngân hàng Nhà nước còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền, trong quan
hệ với ngân hàng Khác với các tổ chức kinh doanh khác, kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ cần thiết phải được kiểm soát và điều tiết chặt chẽ vì bản chất hoạt động của các ngân hàng là chứa đựng rủi ro Mức độ rủi ro sẽ tăng lên khi các ngân hàng có xu hướng chạy theo lợi nhuận làm phương hại đến quyền lợi của người gửi tiền Nguyên tắc hoạt động của các ngân hàng là đi vay để cho vay Bảng tổng kết tài sản của nó luôn chứa đựng mức rủi ro tiềm năng do chênh lệch về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, giữa yêu cầu thanh khoản và mong muốn sinh lời tối đa
Vì thế sự điều tiết chặt chẽ và giám sát thường xuyên của ngân hàng trung ương sẽ ngăn cản xu hướng chạy theo lợi nhuận quá mức, đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi
ro và phá sản Sự tồn tại và phát triển của các trung gian tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng phụ thuộc vào lòng tin của công chúng với tư cách là người gửi tiền Một sai sót nhỏ trong quá trình kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngân hàng
Trang 16cũng có thể gây nên sự nghi ngờ có tính chất lan truyền Điều này thật sự đe doạ sự tồn tại của các ngân hàng
Luận văn đã đánh giá khái quát những thành công và hạn chế trong công tác thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước, từ đó tìm ra nguyên nhân để đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu lực công tác thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài khá bao quát, không phân rõ hoạt động thanh tra tại chỗ và hoạt động giám sát từ xa của một địa bàn cụ thể; Vì vậy, tác giả chưa đánh giá chi tiết những nguyên nhân cụ thể dẫn đến các hạn chế trong công tác thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước, dẫn đến các giải pháp đưa ra còn mang tính định hướng chung
- Ủy ban Basel đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc tế đề cập đến tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng và việc áp dụng các tiêu chuẩn giám sát ngân hàng của Basel vào hoạt động giám sát ngân hàng của một quốc gia Bên cạnh việc đưa ra các qui định cụ thể về an toàn vốn của ngân hàng, Basel còn là bộ tiêu chuẩn đảm bảo xử lý rủi ro hệ thống mang tính vĩ mô, tập trung vào việc xây dựng nguồn dự phòng cao hơn để xử lý rủi ro bắt nguồn từ hoạt động của các tập đoàn tài chính, tạo lập khuôn khổ để xử lý rủi ro phát sinh từ sự liên thông giữa các thị trường tài chính, xây dựng nguồn dự phòng rủi ro bắt nguồn từ những yếu tố vĩ
mô trên đây Đồng thời, ủy ban Basel đã đưa ra các phương pháp luận cho việc hình thành mô hình đo lường rủi ro hiệu quả hơn
- Dopico, 2013 Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng
Bài nghiên cứu nêu lên các mô hình giám sát đang được áp dụng trên thế giới: Đối với mô hình giám sát theo định chế, tư cách pháp nhân của định chế tài chính sẽ quyết định cơ quan giám sát, mô hình này được các quốc gia lựa chọn khi xây dựng cơ chế giám sát tài chính ở giai đoạn đầu, khi có sự phân định rõ ràng giữa các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và giao cho các đơn vị chủ quản thực hiện quản lý và giám sát Mô hình này được áp dụng tại Trung Quốc sau năm 1883, Hàn Quốc trước năm 1998, Latvia trước năm 2000
Trang 17Đối với mô hình giám sát theo chức năng, việc quản lý giám sát được quyết định bởi hoạt động kinh doanh của định chế tài chính Tuy nhiên, mô hình này gặp trở ngại do xu hướng hình thành các sản phẩm liên kết Mô hình này được áp dụng tại Hungari trước năm 2000, và hiện nay tại Pháp, Italia, Brazil
Mô hình giám sát hợp nhất, có hai dạng hợp nhất là hợp nhất hoàn toàn và hợp nhất từng phần Trong mô hình hợp nhất hoàn toàn, chỉ có một cơ quan duy nhất thực hiện chức năng quản lý, giám sát toàn bộ thị trường tài chính Trong mô hình hợp nhất từng phần, một cơ quan quản lý giám sát được hình thành thực hiện chức năng đối với 2 trong 3 lĩnh vực của thị trường tài chính (bảo hiểm và ngân hàng, hoặc bảo hiểm và chứng khoán, hoặc ngân hàng và chứng khoán) Mô hình này được áp dụng tại nhiều quốc gia như: Thụy Điển từ năm 1991, Vương quốc Anh và Ba Lan từ năm 1997, Hàn Quốc từ năm 1999, Hungari từ năm 2000, CHLB Đức từ năm 2002
Mô hình giám sát hai đỉnh tạo sự phân biệt trong cơ quan quản lý Cụ thể là, một cơ quan chuyên giám sát mức độ an toàn và năng lực tài chính, một cơ quan giám sát hành vi kinh doanh và bảo vệ người tiêu dùng Mô hình này được áp dụng
từ năm 1997 tại Australia và Hà Lan
Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ mô tả các kinh nghiệm quốc tế về hiệu quả hoạt động thanh tra, chưa nêu được các nhóm biện pháp để áp dụng vào điều kiện kinh tế hiện nay của nước ta
- Bài báo cáo cuộc hội thảo khoa học về thanh tra, giám sát hoạt động ngân
hàng của tác giả Nguyễn Ngọc Tuyền với chủ đề “Giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát an toàn hoạt động ngân hàng” ngày
20/8/2013 Bản báo cáo đã tập trung nêu được những nội dung chính sau: Đánh giá thực trạng thanh tra giám sát ngân hàng thời gian qua; Kinh nghiệm quốc tế về các giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra giám sát ngân hàng; Định hướng và giải pháp hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin, hợp lý hóa cơ cấu tổ chức và hoàn thiện cơ chế pháp lý cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Việt Nam
Trang 181.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng
- Nguyễn Thị Minh Huệ, 2013 Đẩy mạnh công tác cảnh báo sớm đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Luận văn Thạc sĩ
Luận văn đã chỉ ra vai trò của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi hiện nay; những rủi ro mà các tổ chức này có thể gặp phải, từ đó đánh giá tầm quan trọng của công tác cảnh báo sớm trong hoạt động của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế Tác giả đã đề ra một số giải pháp trong công tác giám sát từ xa và công tác kiểm tra tại chỗ để đưa ra những cảnh báo sớm đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có khả năng gặp rủi ro để tránh tình trạng đổ
vỡ trong hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là đối với
tổ chức bảo hiểm tiền gửi, chưa đề cập đến sự cần thiết của hoạt động cảnh báo sớm trong công tác thanh tra trong hệ thống các ngân hàng thương mại
- Hồ Thanh Sơn, 2012.Nghiên cứu vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng tiền tệ tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ
Thứ nhất, luận văn nghiên cứu tập trung đi vào những lý thuyết kinh điển về khủng hoảng tài chính cũng như vận dụng mô hình cảnh báo khủng hoảng tiền tệ
Từ đó xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ cho Việt Nam dựa trên
mô hình đã được phát triển áp dụng thành công tại các quốc gia Thứ hai, thông qua luận văn có thể dự báo được xác suất xảy ra khủng hoảng tiền tệ trong tương lai gần dựa vào các số liệu được thu thập trong quá khứ của các yếu tố ảnh hưởng đến khủng hoảng tiền tệ Thứ ba, dựa vào kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đưa ra được các kiến nghị, đề xuất các giải pháp, chính sách kinh tế đến các cấp quản lý Tuy nhiên, luận văn cũng chưa đi sâu nghiên cứu để vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng
- Bài báo “Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về nợ xấu”của tác giả Hà Tâm
đăng trên Báo đầu tư điện tử ngày 13/07/2013 Bài báo đã nêu lên những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại; Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống cảnh báo về nợ xấu; Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số biện pháp xây dựng hệ thống cảnh báo sớm vừa giảm nợ xấu cho các ngân hàng thương mại vừa cứu được
Trang 19các doanh nghiệp Điều quan trọng nhất với xử lý nợ là ngân hàng phải đánh giá đúng tiềm năng và nhận diện rõ khó khăn của doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, nếu thấy doanh nghiệp còn khả năng phục hồi, ngân hàng phải đồng hành với doanh nghiệp, gia hạn nợ, tái cơ cấu để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đó, biến
nợ xấu thành nhóm nợ bình thường và một trong những biện pháp quan trọng là vấn
đề xây dựng được hệ thống cảnh báo sớm về nợ xấu tại từng tổ chức tín dụng
- Bài báo “Thanh tra trên cơ sở rủi ro và vấ n đề dựng một khung nghiệp vụ giám sát từ xa trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng”của tác giả Dương
Văn Thực được đăng trên báo điê ̣n tử vnexpress vn ngày 08/04/2014 Nội dung bài viết có nêu ra vấn đề về khuôn khổ nghiệp vụ giám sát từ xa ngân hàng theo CAMELS Giám sát ngân hàng theo CAMELS, không chỉ là hoạt động riêng lẻ của giám sát từ xa hay thanh tra tại chỗ, mà đòi hỏi có sự kết hợp giữa hai bộ phận với nhau mới có thể đánh giá được toàn diện về NHTM; sự kết hợp đó phải được thiết lập thành quy trình và trở thành kỹ năng thành thục của mỗi thanh tra viên
Bài báo chủ yếu đề cập đến vấn đề giám sát từ xa theo hướng cảnh báo sớm, đưa ra được khái niệm và tác dụng của việc cảnh báo sớm trong hoạt động giám sát
mà chưa đi sâu vào nghiên cứu hoạt động thanh tra tại chỗ các ngân hàng thương mại
- Barth J.R , 2011 Hệ thống cảnh báo sớm tình hình tài chính các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi tại Đài Loan Đăng trên báo điê ̣n tử của Bảo hiểm tiền gửi Viê ̣t Nam ngày 28/02/2012
Hệ thống cảnh báo sớm tình hình tài chính các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi ở Đài Loan là một mô hình thống kê để các cơ quan quản lý tài chính đánh giá định kỳ tình hình hoạt động của tất cả các tổ chức tài chính nhận tiền gửi bao gồm: ngân hàng, công ty tín thác đầu tư, hiệp hội hợp tác xã tín dụng và hiệp hội tín dụng nông dân, ngư dân Đài Loan là nơi đầu tiên của châu Á thành công trong việc căn cứ vào Hệ thống cảnh báo sớm tình hình tài chính các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi làm cơ sở để xây dựng Hệ thống cảnh báo quốc gia về tài chính rất hiệu quả Bộ Tài chính và ngân hàng Trung ương Đài Loan đã tổ chức và tài trợ thành lập CDIC nhằm kiểm soát hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi,
Trang 20phát hiện sớm các vấn đề của các tổ chức này để kịp thời có các hoạt động hỗ trợ, kiểm soát cần thiết, đồng thời hình thành công cụ hữu hiệu cho công tác kiểm tra tài chính và phân tích, quản trị rủi ro Bài nghiên cứu đã nêu ra hệ thống cảnh báo sớm của CDIC sử dụng hai công cụ giám sát chính là: Hệ thống kiểm tra và đánh giá dữ liệu, hệ thống xếp hạng tham chiếu báo cáo Việc xây dựng, phát triển và vận hành
có hiệu quả Hệ thống cảnh báo sớm quốc gia về tài chính được đánh giá là thành công to lớn của CDIC, góp phần quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra nhằm phát hiện rủi ro của tổ chức tài chính, góp phần bình ổn nền kinh
tế vĩ mô
Đề tài đã nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi của Đài Loan và kinh nghiệm cho Việt Nam Ở Việt Nam, bảo hiểm tiền gửi là một định chế tài chính của Chính phủ, là tổ chức công đóng vai trò thực hiện chính sách công cho hoạt động tiền tệ và không vì mục tiêu lợi nhuận, đây
là tổ chức quan trọng và là mắt xích trong mạng an toàn tài chính quốc gia Vì có chức năng giám sát, đánh giá rủi ro và đưa ra những cảnh báo sớm nhằm chấn chỉnh hoạt động, bảo đảm sự lành mạnh của từng tổ chức tham gia bảo hiểm Cảnh báo sớm tình hình hoạt động các tổ chức tín dụng là công cụ rất mạnh thể hiện rõ vai trò cũng như sự phối hợp của tổ chức bảo hiểm tiền gửi với các thành viên trong mạng
an toàn tài chính quốc gia
1.1.3 Kết luận chung
Các công trình nghiên cứu trên đã có nhiều đóng góp trong việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thanh tra giám sát của cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, các công trình vẫn chưa phân tích hoạt động cảnh báo sớm trong công tác thanh tra ngân hàng
Áp dụng các tiêu chuẩn quản trị rủi ro mới theo Basel II là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng hiện nay Thực hiện Basel II tại Việt Nam được coi là giải pháp tái cơ cấu có tính đột phá, phân bổ vốn hợp lý theo rủi
ro, tạo ra giá trị cốt lõi và sự phát triển bền vững trong tương lai cho chính bản thân các ngân hàng thương ma ̣i ; đồng thời tạo nền tảng cho sự an toàn, phát triển lành mạnh, nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong xu hướng
Trang 21hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay Hoạt động thanh tra ngân hàng ở Việt Nam theo hướng tăng cường cảnh báo sớm đang trở thành một vấn đề được quan tâm, nhất là trong hoàn cảnh hệ thống ngân hàng đang có những yêu cầu cấp bách về tái cấu trúc ngân hàng
Khoảng trống nghiên cứu mà các công trình trên chưa đề cập đến sẽ được luận văn tìm hiểu, đó là nghiên cứu các vấn đề lý luận về tăng cườ ng cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng theo tiêu chuẩn củ a Basel II đối với các tổ chức tín dụng; Nêu ra những hạn chế và nguyên nhân khi thực hiện cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội; Đưa ra các biện pháp tăng cường cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra tại ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội.Với đặc điểm và vị thế của thủ đô Hà Nội, các nội dung trong luận văn có thể là một trong những cơ sở để ngân hàng Nhà nước nói chung và ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội nói riêng tham khảo khi đưa ra và thực hiện những chính sách, quy trình thanh tra phù hợp với các yêu cầu mà chuẩn mực Basel II đòi hỏi trong giai đoạn tới năm 2020, góp phần thực hiện tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và đạt độ an toàn tài chính ngân hàng cao
1.2 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n về cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng
1.2.1 Ý nghĩa cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng
1.2.1.1 Một số khái niệm chung
Khái niệm thanh tra
Thanh tra (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định; “là sự kiểm soát, kiểm
kê đối với đối tượng bị thanh tra” Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Tính chất của thanh tra mang tính thường xuyên, tính quyền lực, ngăn chặn những gì trái với quy định
Theo tài liệu bồi dưỡng thanh tra viên của Thanh tra Chính phủ năm 2014:
“Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Hoạt động thanh tra được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm phòng ngừa,
Trang 22phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.”
Khái niệm thanh tra ngân hàng
Thanh tra ngân hàng là việc tổ chức thanh tra thực hiện chức năng kiểm tra giám sát đối với các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về thanh tra nhằm bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng
Trong cơ cấu của NHTW, cơ quan thanh tra ngân hàng là đơn vị thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về ngân hàng và giúp Thống đốc ngân hàng Nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật
Hoạt động thanh tra ngân hàng cần đươ ̣c hiểu là mô ̣t hê ̣ thống thanh tra giám sát ngân hàng trong đó bao gồm hai hoạt động cơ bản là giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ Hoạt động giám sát từ xa t ập trung vào việc xem xét và đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế đến hoạt động của ngân hàng Giám sát từ xa dựa vào các chỉ số an toàn tài chính và các chỉ số kinh tế vĩ mô , thông số trên thi ̣ trường , các thông tin mang tính đi ̣nh lượng và cấu trúc cũng như các phương pháp phân tích đi ̣nh tính khác nhau như phương pháp kiểm tra tập trung , phương pháp phân tích tình huống , phân tích cảnh báo sớm hê ̣ thống Khi có những dấu hiê ̣u bất thườ ng của mô ̣t ngân hàng hay một nhóm ngân hàng từ kết quả của hoạt động giám sát từ xa , cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng sẽ tiến hành thành lâ ̣p các đoàn thanh tra tại chỗ để đi xác minh và điều tra nguyên nhân của những biế n đô ̣ng này Ngược la ̣i, hoạt động giám sát từ xa sẽ được củng cố và bổ trợ từ các kết quả của hoạt động thanh tra trực tiếp ta ̣i cơ sở
Khái niệm cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng
Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thức nào về cảnh báo sớm trong ho ạt động thanh tra tại chỗ đối với các NHTM được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, qua thực tiễn có thể khái quát nội dung cảnh báo sớm trong
Trang 23hoạt động thanh tra ngân hàng thể hiện qua các bản báo cáo về phân tích các biến số kinh tế vi mô và vĩ mô, các chỉ số tài chính theo các phương pháp tính toán và các báo cáo kết quả thanh tra tại chỗ mà cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng thực hiện
để từ đó đưa ra các cảnh báo sớm để khuyến nghị các NHTM nhằm tránh hoă ̣c giảm thiểu những rủi ro có t hể xảy ra đối với một ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung
Đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng , yếu tố “sớ m” trong thuâ ̣t ngữ
“cảnh bá o sớm” có thể được xác đi ̣nh là từ 1 đến 12 tháng trước khi xảy ra một trong những rủi ro tác nghiê ̣p có thể gă ̣p phải gây ra hâ ̣u quả nghiêm tro ̣ng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một ngân hàng hoặc chậm nhất là đế n 12 tháng sau khi đã xảy ra rủi ro tác nghiê ̣p Có hai lý do cho vấn đề này , đó là: Hâ ̣u quả của viê ̣c xảy ra rủi ro về vốn trong hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh ngân hàng thường kéo dài có thể đến 4-5 năm và đỉnh điểm của rủi ro ngân hàng thường diễn ra một vài năm khi
nó có dấu hiệu bắt đầu Như vâ ̣y, viê ̣c đă ̣t được mô ̣t tín hiê ̣u cảnh báo sớm ngay cả khi phát hiê ̣n ra rủi ro dẫn đến bắt đầu các sai pha ̣m của mô ̣t ngân hàng là vẫn có ích Đối với hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng, nội hàm của khái niệm cảnh báo sớm chính là phát hiện ra những dấu hiệu bất thường của NHTM trong quá trình thanh tra giám sát của thanh tra viên để kịp thời có biện pháp xử lý
1.2.1.2 Ý nghĩa cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân ha ̀ ng
Bảo đảm an toàn hệ thống các NHTM
Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro là khả năng mà các sự kiện, được dự đoán trước hay không được dự đoán trước, có thể gây ra tác động bất lợi đối với vốn hay thu nhập của ngân hàng Việc đưa ra những cảnh báo sớm trong hoa ̣t đô ̣ng thanh tra ngân hàng được coi là mô ̣t trong những biê ̣n pháp hữu hiê ̣u đối với những người giám sát hệ thống tài chính với nỗ lực nhằm nâng cao quá trình thanh tra giám sát của mình Mục tiêu quan trọng nhất của hê ̣ thống cảnh báo sớm là thấy trước về khả năng cũng như thời điểm ngân hàng thương ma ̣i đối mă ̣t với những rủi ro trong quá trình tác nghiệp
Tăng cường quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đồng thời phục vụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Trang 24NHNN là đơn vị có vị trí rất quan trọng trong quản lý nhà nước và điều hành chính sách vĩ mô vì NHNN nắm giữ những công cụ chính sách tiền tệ quan trọng Hoạt động quản lý của NHNN có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân NHNN sử dụng các công cụ của mình để điều hành thị trường tiền tệ như lãi suất,
dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở để kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, giảm lạm phát, ổn định giá trị tiền tệ và cân bằng cán cân thanh toán Để các công cụ chính sách tiền tệ của NHNN phát huy hiệu quả và có tác động tích cực đến hệ thống ngân hàng từ đó góp phần ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế, đòi hỏi phải tăng cường cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra nhằm đảm bảo việc tuân thủ đúng các quy định pháp luật cũng như việc chấp hành các quy định NHNN của các NHTM
Góp phần ổn định và phát triển hệ thống tài chính và nền kinh tế
Thông qua việc đưa ra các cảnh báo sớm trong quá trình thanh tra giám sát ngân hàng, cán bộ thanh tra sẽ đánh giá tình hình chấp hành pháp luật và các quy định trong hoạt động kinh doanh của đối tượng thanh tra trong một thời kỳ nhất định nhằm phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các vi phạm pháp luật về tiền tệ, hoạt động ngân hàng của NHTM Các NHTM có dấu hiệu vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý theo đúng quy định pháp luật Qua đó, đảm bảo hoạt động của các NHTM được an toàn, hiệu quả và tuân thủ đúng quy định pháp luật
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền
Trong hoạt động ngân hàng, các NHTM là trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay thông qua đó để hưởng lợi nhuận Bằng cách huy động tiền gửi đa dạng và phong phú từ các NHTM khác, tổ chức kinh tế và dân cư, NHTM có được nguồn vốn để cho vay lại đối với các doanh nghiệp, các tổ chức và người tiêu dùng
Do hoạt động ngân hàng của các NHTM có tính hệ thống, điều này được thể hiện ở việc, để đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng, ngoài nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư, các tổ chức tín dụng còn huy động vốn từ các NHTM khác, một tổ chức cá nhân có thể vay tiền của nhiều NHTM và ngược lại một
Trang 25NHTM có thể cho nhiều cá nhân vay vốn để phục vụ nhu cầu riêng, vì thế nếu một khách hàng rủi ro có thể sẽ ảnh hưởng tới NHTM và ngược lại Do đó, một NHTM không ổn định hoặc đổ vỡ sẽ ảnh hưởng tới các NHTM khác từ đó ảnh hưởng dây truyền đến nền tài chính tiền tệ của quốc gia
Như vậy, để đảm bảo an toàn và ổn định trong kinh doanh, các NHTM phải đảm bảo khả năng chi trả, đây là việc đảm bảo lòng tin của khách hàng vào NHTM, một khi lòng tin này bị giảm sút thì năng lực thu hút vốn của ngân hàng bị ảnh hưởng và do đó sẽ rất khó khăn trong kinh doanh Điều này đòi hỏi ngân hàng luôn phải đảm bảo có một lượng vốn có thể đáp ứng được trách nhiệm đối với người gửi tiền
Để đảm bảo sự an toàn của các NHTM và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền cần thiết phải đưa ra các cảnh báo sớm trong hoạt động giám sát từ
xa và thanh tra tại chỗ đối với các NHTM nhằm phát hiện các sai phạm của các NHTM, đưa ra các cảnh báo và kiến nghị đối với các bên liên quan để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân
Theo quy định của NHNN, các nội dung thanh tra thực hiện theo quy định của pháp luật Các nội dung về cảnh báo sớm cũng thể hiện thông qua các chỉ tiêu luật định và thể hiện qua cả hoạt động giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ
1.2.2.1 Cảnh báo sớm trong hoạt động giám sát từ xa ngân hàng
Cảnh báo sớm trong hoạt động giám sát từ xa được tiến hành đánh giá theo khuôn khổ CAMELS, theo đó các thanh tra viên thực hiện giám sát đối với các NHTM theo 6 tiêu chí (Theo bảng 1.1) Đây sẽ là cơ sở để thanh tra viên đưa ra bảng xếp hạng sơ bộ đối với TCTD
Bảng 1.1 Các tiêu chí đánh giá theo khuôn khổ CAMELS STT Các tiêu chí
1
C (Capital Adequacy) – Mức đảm bảo vốn
- Mức vốn, chất lượng vốn và khả năng tài chính tổng thể của ngân hàng
- Khả năng quản lý để có thể xác định những nhu cầu cho nguồn vốn bổ
Trang 26sung
- Bản chất xu hướng và số lượng các tài sản có vấn đề, và mức độ đảm bảo
dự phòng rủi ro cho các khoản mất nợ và các quỹ dự phòng khác
- Bảng tổng hợp cân đối tài sản bao gồm nội dung và số lượng các tài sản
vô hình, rủi ro thị trường, rủi ro tập trung và những rủi ro có lien quan đến các hoạt động không mang tính truyền thống của ngân hàng
- Các rủi ro tiềm ẩn đối với hoạt động ngoại bảng của ngân hàng
- Mức thu nhập và sự hợp lý của cổ tức
- Triển vọng và kế hoạch phát triển, cũng như việc đảm bảo kế hoạch tăng trưởng trong quá khứ
- Khả năng tiếp cận với thị trường vốn và các nguồn vốn khác bao gồm cả
sự hỗ trợ vốn của các cổ đông hiện tại và cổ đông triển vọng trong tương lai
2
- Khả năng đảm bảo các tiêu chuẩn bảo lãnh nợ, khả năng điều hành và quản lý tín dụng, và các năng lực quản lý rủi ro cần thiết khác
- Số lượng, sự phân bổ tình trạng và xu hướng của các tài sản có vận động
đã phân loại, không tính cộng dồn, cơ cấu lại,quá hạn và không hoạt động trên cả nội bảng lẫn ngoại bảng
- Mức độ đảm bảo dự phòng cho mất nợ và các dự phòng tài sản khác
- Những rủi ro tín dụng có thể tăng hoặc giảm thông qua các hoạt động ngoại bảng như các cam kết nợ không được thực hiện, các cam kết tín dụng, các thư tín dụng thương mại hoặc bảo lãnh
- Khả năng đa dạng hóa vá chất lượng của các khoản nợ và các danh mục đầu tư
- Mức độ tập trung hóa tài sản
- Tính hợp lý của các chính sách cho vay, đầu tư cũng như các thủ tục có liên quan
- Khả năng quản lý trong việc xử lý các tài sản bao gồm cả việc phát hiện
Trang 27kịp thời và thu hồi được những khoản nợ có vấn đề
- Năng lực kiểm soát nội bộ và hệ thống thông tin quản lý
- Số lượng và bản chất của những hồ sơ tín dụng đặc biệt
3
M (Management) – Quản lý
- Mức độ và chất lượng của hoạt động kiểm tra và hỗ trợ đối với tất cả các hoạt động của ngân hàng, của ban quản lý và hội đồng quản trị ngân hàng
- Năng lực của ban quản lý và hội đồng quản trị, trong từng chức năng nhiệm vụ của mình, để lên kế hoạch và đối phó với những rủi ro có thể có
do những thay đổi trong điều kiện kinh doanh hoặc những cải cách để đưa
ra những sản phẩm dịch vụ và hoạt động mới
- Khả năng đưa ra và thích ứng với những chính sách nội bộ và kiểm soát hoạt động kinh doanh cũng như rủi ro của những hoạt động chủ yếu
- Tính chính xác kịp thời và hiệu quả của hệ thống thông tin quản lý và hệ thống kiểm soát rủi ro tương ứng với quy mô sự phức tạp và rủi ro của ngân hàng
- Tính hợp lý của kiểm toán và kiểm soát nội bộ nhằm tạo động lực cho các hoạt động của ngân hàng được hiệu quả và đảm bảo tính tin cậy cho các báo cáo tài chính và báo cáo thanh tra, các tài sản đảm bảo, đồng thời cũng đảm bảo sự tuân thủ với các quyết định, chỉ thị và hướng dẫn của thanh tra
và các chính sách nội bộ
- Mức độ thực hiện và tuân thủ với các quyết định và chỉ thị và khả năng đáp ứng với các khuyến nghị của kiểm toán viên và các thanh tra viên có thẩm quyền
- Kết quả và sự thành công của các nhà lãnh đạo cao cấp
- Mức độ mà ban quản lý và hội đồng quản trị phải chịu sự chi phối, tác động và kiểm soát của chủ sở hữu chính
- Tính hợp lý của các chính sách khen thưởng, tránh tình trạng tập trung quyền lực và mâu thuẫn lợi ích
- Xem xét khả năng thích ứng với các yêu cầu có tính pháp lý của ngân
Trang 28hàng trong hệ thống, và hoạt động tổng thể của ngân hàng cũng như các rủi
ro của nó
4
E (Earnings) – Thu nhập
- Mức thu nhập, bao gồm cả xu hướng tăng trưởng và mức độ ổn định
- Khả năng đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại
- Chất lượng và các nguồn của thu nhập, cũng như mức chi phí gắn liền với các hoạt động kinh doanh
- Khả năng đảm bảo ngân quỹ và những tác nghiệp dự tính và hệ thống thông tin quản lý
- Khả năng đảm bảo dự phòng mất nợ và các dự phòng tài sản khác
- Những rủi ro tiềm ẩn đối với biến động lãi suất, tỷ giá
5
- Mức độ đầy đủ của nguồn vốn thanh khoản hiện tại và tương lai có thể đáp ứng nhu cầu về thanh khoản mà không ảnh hưởng đến tình hình hoạt động và tài chính của ngân hàng
- Các tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt mà không gây ra những tổn thất lớn
- Khả năng tiếp cận với thị trường tiền tệ và những nguồn vốn khác
- Mức độ đa dạng hóa các nguồn vốn, bao gồm các nguồn trong và ngoài bảng cân đối tài sản
- Mức độ phụ thuộc vào các nguồn vốn ngắn hạn, các nguồn vốn dễ biến động, bao gồm các nguồn vốn vay, các khoản tiền gửi lớn nhạy cảm với lãi suất, để sử dụng cho các tài sản có kỳ hạn dài hơn
- Xu hướng và tình ổn định của các khoản tiền gửi
- Khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát tình hình thanh khoản của đơn vị mình, bao gồm cả mức độ hiệu quả của các chiến lược quản lý vốn,các chính sách về thanh
khoản hệ thống thông tin quản lý và kế hoạch dự phòng vốn
Trang 296
S (Sensitivity to Market risk) - Độ nhạy cảm với rủi ro
- Độ nhạy về thu nhập của ngân hàng hoặc giá trị kinh tế về vốn đối với những thay đổi bất lợi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá thị trường hoặc giá vốn
- Khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, đo lường,giám sát, và kiểm soát rủi ro đối với rủi ro thị trường dựa vào quy mô ngân hàng, mức độ phức tạp và rủi ro trong quá khứ
Nếu phù hợp, bản chất mức độ phức tạp của rủi ro thị trường xuất phát từ
hoạt động kinh doanh
Nguồn: Sổ tay thanh tra NHNN – CN Hà Nội
Kết thúc một quá trình thanh tra, giám sát, các thanh tra viên tiến hành xếp hạng đối với TCTD Xếp hạng sơ bộ do giám sát từ xa thực hiện và chỉ xếp hạng theo kỳ giám sát năm Bằng những kết quả thu thập, xử lý thông tin trong năm về TCTD, kết hợp với số liệu tổng hợp của các nhóm ngân hàng đồng hạng và các chỉ
số bình quân trong toàn hệ thống, các thanh tra viên xây dựng nên các tiêu chí xếp hạng cho máy tính thực hiện
Bảng 1.2 Nội dung xếp hạng theo các yếu tố CAMELS Xếp hạng Nội dung
Trang 30- Ngân hàng có khối lượng trên mức cần thiết các tài sản có được thanh toán và mức độ sẵn sàng, khả năng dễ dàng đáp ứng các kỳ hạn linh hoạt hơn với các nguồn vốn bên ngoài theo chiến lược chung về quản lý tài sản nợ - tài sản có của ngân hàng
- Thể hiện độ nhạy cảm với rủi ro thị trường được kiểm soát tốt và có ít khả năng thu nhập và trạng thái về vốn của ngân hàng chịu ảnh hưởng bất lợi
Mức 3
- Mức vốn đảm bảo cho các tài sản có rủi ro, các tài sản có chất lượng ở mức tương quan thấp
- Xếp hạng chất lượng có đòi hỏi một mức giám sát nhất định
- Hoạt động quản lý chưa đủ thỏa mãn để đối phó với những tình huống trong hoạt động ngân hàng, hoặc là hoạt động quản lý này được đánh giá
ở mức vừa phải, có thể trên trung bình một chút, hoặc dưới mức trung bình theo quy mô hoặc loại hình ngân hàng
- Mức thu nhập được cho là không đủ để đảm bảo trích dự phòng mất
nợ và đảm bảo tăng trưởng vốn đều theo kịp với tốc độ tăng trưởng ngân hàng
- Tính thanh khoản phản ánh mức độ không đầy đủ về tài sản thanh khoản và mức độ phụ thuộc vào các nguồn vốn có độ nhạy về lãi suất nằm trong hoặc vượt tỷ lệ cho phép hợp lý đối với một ngân hàng
- Việc kiểm soát mức độ nhạy cảm rủi ro thị trường cần được cải thiện hoặc có nhiều khả năng thu nhập và vốn của ngân hàng có thể có ảnh hưởng bất lợi
Mức 4
- Không đảm bảo được mức vốn cần thiết
- Xếp hạng chất lượng tài sản có ởmức độ có những vấn đề nghiêm trọng
- Khả năng quản lý nhìn chung là dưới mức được chấp nhận và mức được yêu cầu
- Vẫn đảm bảo lợi nhuận dương, cho thấy những dao động bất thường
Trang 31trong thu nhập ròng, có khuynh hướng của chiều hướng giảm, những khoản mất nợ không liên tục hoặc những suy giảm lớn trong nhưng năm trước đó
- Tình hình về thanh khoản đang ngày càng nguy hiểm
- Việc kiểm soát mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường là không chấp nhận được và có nhiều khả năng thu nhập và vốn của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng bất lợi
- Năng lực quản lý yếu kém, ngân hàng không còn khả năng cạnh tranh
- Ngân hàng đang chịu những khoản mất nợ hoặc có những mức thu nhập nằm dưới mức thu nhập đã đưa ra cho mức 4
- Mức độ thanh khoản ở mức nguy hiểm được coi là sắp có mối đe dọa tới khả năng tồn tại
- Việc kiểm soát mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường rõ ràng là không chấp nhận được hoặc mức độ rủi ro thị trường của ngân hàng có
đe dọa tới sự tồn tại của ngân hàng, thực tế quản lý rủi ro không đạt
Nguồn: Sổ tay thanh tra NHNN – CN Hà Nội
Nói đến giám sát ngân hàng theo CAMELS là nói đến cảnh báo, nói đến xếp hạng ngân hàng và đó cũng là mục tiêu cuối cùng của CAMELS Mục đích của những cảnh báo sớm được đưa ra trong quá trình thanh tra giám sát là nhằm đảm bảo các ngân hàng thương mại có đủ mức vốn đảm bảo cho các rủi ro của họ, đồng thời thúc đẩy những hoạt động quản trị rủi ro tốt hơn được thực hiện tại các ngân hàng Thông qua chuẩn mực theo thông lê ̣ quốc tế , cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng sẽ xây dựng hệ thống cảnh báo sớm trong công tác thanh tra để có thể giảm thiểu rủi ro trong hoa ̣t đô ̣ng ngân hàng, nâng cao chất lượng tín du ̣ng trong hê ̣ thống các ngân hàng thương mại
Trang 321.2.2.2 Cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra tại chỗ ngân hàng
Hoạt động thanh tra tại chỗ đối với NHTM là việc Ngân hàng Nhà nước định
kỳ hoặc đột xuất cử các nhân viên là các thanh tra viên tới làm việc tại NHTM Trên
cơ sở xem xét trực tiếp các hoạt động thực tế diễn ra tại các NHTM và dựa vào các tài liệu do NHTM cung cấp, các thanh tra viên sẽ đưa ra những đánh giá, cảnh báo
và khuyến nghị về từng mặt hoặc toàn bộ hoạt động của NHTM
Các phương pháp thanh tra tại chỗ được cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng áp dụng hiện nay đó là: phương pháp thanh tra tuân thủ và phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro
Nô ̣i dung cảnh báo sớm trong hoa ̣t đô ̣ng thanh tra ta ̣i chỗ đối với các ngân hàng thương mại được cán bộ thanh tra áp dụng dựa theo các tiêu chuẩn của hiệp ước Basel II thông qua phương pháp thanh tra trê n cơ sở rủi ro Xây dựng hệ thống phương pháp thanh tra dựa trên cơ sở rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel nhằm nâng cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Hoạt động thanh tra ngân hàng cần áp du ̣ng những nguyên t ắc cơ bản theo hiệp ước Basel, đây được coi là một khuôn khổ về những chuẩn mực tối thiểu cho hoạt động thanh tra giám sát lành m ạnh được áp dụng trên cơ sở tự nguyện Các nguyên tắc chủ chốt của cảnh báo sớm trong công tác thanh tra đó là:
- Nguyên tắc 1: Các ngân hàng cần có một quy trình đánh giá mức độ vốn
nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược duy trì mức vốn của họ Trong nội dung này, quản lý ngân hàng phải gánh trách nhiệm cơ bản đối với việc khẳng định rằng ngân hàng có vốn để đủ hỗ trợ các rủi ro xảy ra Quá trình quản lý rủi ro ngân hàng bao gồm các nội dung sau: giám sát quản lý của ban giám đốc và cấp cao; đánh giá vốn chắc chắn; đánh giá về rủi ro toàn diện, thanh tra và báo cáo; kiểm tra kiểm soát nội bộ
- Nguyên tắc 2: Các tổ chức thực hiện chức năng thanh tra cần rà soát, kiểm
tra và đánh giá lại quy trình đánh giá về yêu cầu vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng của họ để thanh tra và khẳng định sự tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu Các tổ chức thực hiện chức năng thanh tra cần thực hiện hành động giám sát
Trang 33phù hợp nếu các ngân hàng không hài lòng với kết quả của quy trình này Các tổ chức thực hiện chức năng thanh tra cần kiểm tra các nội dung sau: kiểm tra tính đầy
đủ vốn của các đánh giá rủi ro, đánh giá về tính đầy đủ vốn, đánh giá về môi trường kiểm soát, kiểm tra giám sát về sự tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu, đáp ứng yêu cầu nội dung thanh tra
- Nguyên tắc 3: Các tổ chức thực hiện chức năng thanh tra cần kỳ vọng các
ngân hàng hoạt động trên các tỷ lệ vốn yêu cầu tối thiểu và khuyến nghị ngân hàng cần duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định
- Nguyên tắc 4: Các tổ chức thực hiện chức năng thanh tra sẽ tìm cách thâm
nhập vào những giai đoạn đầu tiên để ngăn cản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu, và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu
Dựa vào những nguyên tắc trên , trong quá trình thanh tra ta ̣i chỗ ta ̣i đơn vi ̣ , khi phát hiê ̣n được những rủi ro có thể xảy ra, cán bộ ngân hàng sẽ đưa ra những nội dung cảnh báo sớm để có thể đảm bảo tính an toàn của hê ̣ thống nói chung và của từng đơn vi ̣ là đối tượng thanh tra nói riêng
Khi thực hiện thanh tra đối với các TCTD, cơ quan thanh tra ngân hàng căn
cứ vào các Luật chuyên ngành như Luật Thanh tra, Luật Ngân hàng trung ương, Luật Các TCTD, các quy chế, Thông tư trong hoạt động ngân hàng… Căn cứ vào
đó, nội dung chính khi tiến hành thanh tra ngân hàng theo hướng cảnh báo sớm:
Công tác quản trị điều hành
Khi tiến hành thanh tra nô ̣i dung này , cơ quan thanh tra ngân hàng cần đánh giá việc chấp hành pháp luật của ban quản trị điều hành của NHTM Việc đánh giá
về chất lượng quản trị, điều hành của TCTD còn được xem xét dựa trên kết quả thanh tra đối với từng nghiệp vụ cụ thể, tổ chức và hoạt động của TCTD cũng như các tiềm ẩn rủi ro mà TCTD đang gặp phải trong quá trình hoạt động của mình
Qua đó, Đoàn Thanh tra có thể thấy rõ bức tranh toàn cảnh về tổ chức và hoạt động của TCTD cũng như các tiềm ẩn rủi ro mà TCTD đang gặp phải trong quá trình hoạt động của mình, từ đó có thể đưa ra các nội dung cảnh báo sớm những rủi ro có khả năng xảy ra, đề xuất, khuyến nghị, kiến nghị đối với TCTD để TCTD
Trang 34có thể kiện toàn bộ máy hoạt động và có biện pháp xử lý đối với các rủi ro đã được Đoàn Thanh tra cảnh báo
Thanh tra hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ
Thanh tra viên tiến hành kiểm tra mô hình tổ chức và hoạt động theo các quy định của pháp luật về kiểm soát, kiểm toán nội bộ như việc phân bố mạng lưới kiểm tra từ hội sở tới tất cả các chi nhánh, sở giao dịch, đơn vị sự nghiệp; tính chuyên trách của bộ máy kiểm soát, kiểm toán nội bộ, tính độc lập của các kiểm tra viên; việc xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, kiểm toán nội bộ và kết quả triển khai chương trình kế hoạch đề ra; xác định sai phạm của ngân hàng mà hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ không phát hiện ra hoặc phát hiện nhưng không kiến nghị xử lý; thái độ của Ban lãnh đạo ngân hàng đối với hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong việc ban hành quy chế hoạt động và tạo các điều kiện cơ sở vật chất cho bộ phận này hoạt động
Thanh tra hoạt động tín dụng (cho vay, bảo lãnh, chiết khấu)
Thanh tra viên tập trung xem xét sự biến động tăng, giảm của dư nợ cho vay,
dư nợ bảo lãnh qua các thời kỳ; đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng, bảo lãnh của ngân hàng thông qua việc xác định nợ quá hạn, nợ khó đòi Phân tích nợ quá hạn theo thời gian, khả năng thu hồi, nguyên nhân So sánh đối chiếu giữa số thực tế kiểm tra và số báo cáo của ngân hàng Tiếp theo xác định các vi phạm về quy chế cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, làm rõ nguyên nhân và quy trách nhiệm cá nhân, đặc biệt đối với những vi phạm dẫn đến các khoản nợ khó đòi và không có khả năng thu hồi gây thất thoát vốn cho ngân hàng
Thông qua hoạt động thanh tra, thanh tra viên sẽ phát hiện ra những sai phạm dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Nội dung cảnh báo sớm khi thanh tra sẽ giúp cho TCTD nhìn nhận rõ những khả năng xảy ra rủi ro, giảm thiểu tối đa những sai phạm gây thất thoát vốn cho TCTD, đảm bảo cho khoản vay diễn
ra an toàn, đảm bảo lợi ích cho TCTD và khách hàng vay vốn
Thanh tra nghiệp vụ huy động vốn
Khi tiến hành nội dung này, thanh tra viên chủ yếu tập trung đánh giá sự biến động về tổng số và cơ cấu vốn huy động qua các thời điểm để đánh giá khả năng
Trang 35mở rộng nguồn vốn, tính ổn định của nguồn vốn; xem xét nguồn vốn huy động với các khoản nợ của NHTM để đánh giá các rủi ro về kỳ hạn, đồng tiền so với yêu cầu
sử dụng vốn và cơ cấu tài sản có
Nội dung cảnh báo sớm trong thanh tra nhiệm vụ huy động vốn được thể hiện qua việc TCTD có tuân thủ các quy định pháp luật của các TCTD hay không, đặc biệt là việc tuân thủ quy định về trần lãi suất huy động
Khi tiến hành thanh tra, thanh tra viên sẽ đưa ra các cảnh báo cho TCTD trong hoạt động huy động vốn, nhất là khi các TCTD chạy đua lãi suất huy động, lách trần lãi suất huy động bằng cách đưa ra các hình thức thưởng, khuyến mại để hoạt động huy động vốn của TCTD đó theo đúng quy định pháp luật
Thanh tra hạch toán, kế toán và thu chi tài chính
Thanh tra viên tiến hành thanh tra việc tuân thủ các quy định về hạch toán kế toán; tính hợp pháp của các khoản thu chi; xem xét các khoản phải thu, phải trả tồn đọng lâu ngày; Kiểm tra các vi phạm về chế độ tài chính: tính hợp lệ, hợp pháp của các chứng từ kế toán và việc lưu trữ, bảo quản các chứng từ kế toán; tổ chức công tác kế toán, việc hạch toán và việc chấp hành các quy định chế độ kế toán và chính sách quản lý tài chính của Nhà nước; lập và gửi các báo cáo tài chính theo qui định… Thông qua việc đánh giá các khoản mục trong bảng và ngoài bảng cân đối, các thanh tra viên có thể đánh giá mức độ rủi ro trên các mặt hoạt động và kết quả kinh doanh của TCTD
Trong các cuộc thanh tra tuân thủ về hoạt động kinh doanh ngoại tệ, Đoàn thanh tra tiến hành thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật về thủ tục mua bán ngoại tệ; tỷ giá, thời hạn áp dụng trong các giao dịch giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi; biến động về doanh số mua bán ngoại tệ…
Trong thanh tra trên cơ sở rủi ro, thanh tra hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn được xem xét ở các khía cạnh: Giám sát của HĐQT/BĐH đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ; Các chính sách/quy trình/thủ tục/hạn mức; Hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ; Hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ hoạt động kinh doanh ngoại
tệ Việc xem xét, đánh giá các khía cạnh trên giúp cho Đoàn thanh tra có thể đánh
Trang 36giá được mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của TCTD cũng như các biện pháp quản lý, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh này của TCTD
Thanh tra việc chấp hành các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo quy định của pháp luật
Trong các cuộc thanh tra về việc chấp hành các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo quy định của pháp luật, thông qua các số liệu, báo cáo của NHTM cung cấp theo yêu cầu, các thanh tra viên sẽ tiến hành tính toán (hoặc chọn mẫu tính toán) và so sánh kết quả tính được với kết quả mà NHTM báo cáo Đoàn thanh tra, NHNN, đồng thời so sánh với các tỷ lệ, giới hạn theo quy định của pháp luật, từ đó đánh giá mức độ tuân thủ của NHTM và đưa ra các cảnh báo đối với hoạt động này khi phát hiện những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình thanh tra
Thanh tra việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro
Trong các cuộc thanh tra về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, Đoàn thanh tra tiến hành thực hiện trên cơ sở kiểm tra việc phân loại tài sản có; sử dụng dự phòng rủi ro; lập báo cáo dự phòng rủi ro của NHTM có phù hợp với các quy định hiện hành của NHNN hay không và xác minh tính chính xác của số liệu báo cáo so với kết quả thực tế kiểm tra
Việc cảnh báo sớm trong thanh tra việc trích lập dự phòng rủi ro sẽ giúp cho công tác phân loại nợ của TCTD diễn ra đúng bản chất, giảm thiểu những vấn đề thiếu trung thực trong hoạt động tín dụng về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro
Như vậy, hoạt động thanh tra ngân hàng được hướng dẫn trong Basel II với mục đích nhằm đẩy mạnh những nỗ lực của các ngân hàng trong việc tự nguyện và duy trì liên tục công tác quản lý nội bộ của ngân hàng, đồng thời duy trì sự đối thoại giữa các cán bộ thanh tra và lãnh đạo ngân hàng Dựa vào những nô ̣i dung trên, trong quá trình thanh tra ta ̣i chỗ ta ̣i đơn vi ̣ , khi phát hiê ̣n được những rủi ro có thể xảy ra, cán bộ ngân hàng sẽ đưa ra những nội du ng cảnh báo sớm để có thể đảm bảo tính an toàn của hệ thống nói chung và của từng đơn vị là đối tượng thanh tra nói riêng
Trang 371.2.3 Các điều kiện tác động đến cảnh báo sớm trong hoạt động thanh tra ngân hàng
1.2.3.1 Điều kiện chủ quan
Mô hình tổ chức, bộ máy thanh tra, giám sát
Mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn về hoạt động an toàn tài chính riêng phù hợp với tình hình kinh tế và chính trị của mỗi nước, do đó, không có một khuôn mẫu về mô hình cơ quan thanh tra, giám sát chuẩn nào cho tất cả các quốc gia Tuy nhiên, một hệ thống thanh tra ngân hàng hiệu quả phải đảm bảo:
- Phân định rõ ràng trách nhiệm của các đơn vị liên quan đến các cơ quan thanh tra giám sát: Chức năng và trách nhiệm của từng đơn vị liên quan phải rõ ràng, có đầy đủ các quy định về an toàn tối thiểu, các quy chế phải được cập nhật và thay đổi tương thích với sự phát triển của thị trường; có cơ chế hữu hiệu về phối hợp giữa các đơn vị liên quan đến công tác thanh tra giám sát kể cả các trường hợp đóng cửa và cơ cấu lại ngân hàng, cơ chế phối hợp này phải chủ động và phản ứng nhanh trước các biến động lớn, nhất là cuộc khủng hoảng ngân hàng
- Từng đơn vị liên quan đến thanh tra giám sát phải có tính độc lập tương đối trong hoạt động và có đầy đủ nguồn lực, cần hạn chế sự can thiệp của chính trị và của chính quyền địa phương khi thanh tra thực hiện công việc của mình theo quy định;
- Cơ sở pháp lý thích hợp cho hệ thống thanh tra giám sát: Cơ quan thanh tra giám sát phải có quyền đưa ra những tiêu chí về thành lập ngân hàng để bảo đảm cho an toàn hệ thống (bao gồm tiêu chí về vốn, cổ đông lớn, cơ cấu cổ đông, kế hoạch phát triển, kinh nghiệm hoạt động ngân hàng của ban điều hành, hệ thống quy chế về kiểm soát nội bộ,…); cơ quan thanh tra giám sát được quyền chủ động đưa ra các quy định về an toàn hoạt động, phân loại nợ và xử lý dự phòng; cơ quan giám sát được đưa ra những nhận định mang tính định tính khi đánh giá về an toàn hoạt động của từng ngân hàng
Phương pháp thanh tra
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng tài chính, hoạt động thanh tra của các nước trên thế giới đã thay đổi căn bản và thay đổi
Trang 38liên tục Đối với các nước có thị trường tài chính, tiền tệ phát triển mạnh thì hoạt động thanh tra trên cơ sở tuân thủ đã được thay đổi từ rất sớm bằng hoạt động thanh tra trên cơ sở rủi ro khi các nước này thực hiện các chuẩn mực và nguyên tắc thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả của Uỷ ban Basel Ở các nước đang phát triển, phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro đang từng bước được áp dụng, xen kẽ với phương pháp tuân thủ Trong tương lai, phương pháp thanh tra này sẽ là phương pháp được áp dụng chủ yếu tại các nước trên thế giới và thay thế hoàn toàn cho phương pháp thanh tra tuân thủ
Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t quan tro ̣ng phu ̣c vụ cho hoạt động thanh tra là phát triển và ứng du ̣ng công nghê ̣ th ông tin Trong thời đa ̣i công nghê ̣ thông tin đang phát triển thì việ c ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và h oạt động thanh tra ngân hàng nói riêng đóng vai trò quan tro ̣ng trong hoa ̣t đô ̣ng của thi ̣ trường tài chính Viê ̣c thanh tra sẽ trở nên hiê ̣u quả hơn bởi hệ thống công nghê ̣ thông tin hiê ̣n đa ̣i và có thể tự động hóa hầu hết các hoạt động phân tích dữ liệu và tìm kiếm thông tin đầu vào phục vụ quá trình thanh tra
Cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t phát triển tác đô ̣ng đến hoa ̣t đô ̣ng thanh tra trên
phương diê ̣n tiết kiê ̣m chi phí và thời gian thực hiê ̣n các hoa ̣t đô ̣ng phân tích chỉ tiêu
đi ̣nh lượng và góp phần nhâ ̣n diê ̣n dấu hiê ̣u bất thường , những nghi vấn sai pha ̣m Nếu cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng được trang bi ̣ cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t mô ̣t cách đồng bộ và hiện đại thì công viê ̣c thanh tra sẽ được giải quyết mô ̣t cách chính xác, kịp thời
Nhân lực
Hê ̣ thống thanh tra hiê ̣u quả đòi hỏi sự đáp ứng về nguồn lực và nhân viên đươ ̣c đào ta ̣o với kỹ năng trình đô ̣ cao , đáp ứng được yêu cầu công tác than h tra Đặc tính phức tạp , đă ̣c thù của ngành ngân hàng và các sai pha ̣m ngày càng tinh vi hiê ̣n nay đòi hỏi cán bô ̣ làm công tác thanh tra phải được chuyên môn hóa với kỹ năng cao Cán bộ thanh tra phải có trình độ , am hiểu nghiê ̣p vu ̣ ngân hàng , có kinh
Trang 39nghiê ̣m và kỹ năng trong công tác , đồng thời phải có bản lĩnh nghề nghiê ̣p để có thể hoàn thành công việc một cách hiệu quả
1.2.3.2 Điều kiện khách quan
Các thông lệ quốc tế về hoạt động thanh tra ngân hàng
Hoạt động thanh tra ngân hàng theo thông lệ của Basel được đổi mới cả về hoạt động giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, khuyến nghị về chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong quy trình thanh tra, giám sát và phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở các thông lệ và chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro và giám sát an toàn hoạt động ngân hàng
Theo đó, một hệ thống thanh tra ngân hàng hiệu quả phải quy định trách nhiệm và mục tiêu rõ ràng cho từng tổ chức tham gia vào việc thanh tra các ngân hàng thương mại Một khuôn khổ pháp lý cần có sự độc lập trong hoạt động thanh tra là điều kiện cần thiết, bao gồm các quy định liên quan đến việc cấp phép của các ngân hàng và thanh tra trực tiếp các ngân hàng; quyền hạn trong việc yêu cầu tuân thủ luật pháp cũng như những quan ngại về sự an toàn và tính lành mạnh; và sự bảo
vệ của pháp luật đối với cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng
Hoạt động thanh tra ngân hàng theo hiệp ước an toàn Basel cũng cần quy định rõ quyền hạn chính thức của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng Các cơ quan thanh tra cần có những biện pháp, quy trình thanh tra đồng bộ để có những hành động chấn chỉnh kịp thời khi một ngân hàng không đáp ứng được các yêu cầu đảm bảo an toàn, khi có sự vi phạm các quy định về thanh tra giám sát
Việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về thanh tra ngân hàng, đặc biệt tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Basel có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng hệ thống ngân hàng tài chính vững mạnh, đáp ứng các điều kiện tiên quyết của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, hoạt động thanh tra ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế còn giúp xây dựng được một hệ thống thanh tra ngân hàng hiệu quả, hỗ trợ việc phát triển thị trường tài chính, phát triển hoạt động ngân hàng vững mạnh, nâng cao khả năng cạnh tranh, gia tăng giá trị cho các tổ chức tín dụng, đồng thời mở rộng thị trường trong nước và quốc tế
Trang 40 Hệ thống pháp luật về hoạt động thanh tra ngân hàng
Thanh tra ngân hàng là hoa ̣t đô ̣ng thanh tra mang tính chuyên ngành Do đó, pháp luật về hoạt động này mang n hững đă ̣c điểm cơ bản , đă ̣c trưng so với hoa ̣t
đô ̣ng thanh tra thông thường Pháp luật về hoạt động thanh tra , giám sát ngân hàng
là tổng thể những quy định về hoạt động này do Nhà nước ban hành , theo đó xác
đi ̣nh rõ mô hình , cơ cấu tổ chức , chức năng, nhiê ̣m vu ̣ của bô ̣ máy thanh tra , giám sát ngân hàng , quy trình , thủ tục tiến hành , các đối tượng thanh tra và các bên có liên quan
Những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về hoa ̣t đô ̣ng thanh tra ngân hàng có va i trò tạo hành lang để ngân hàng trung ương giám sát và thanh tra hoạt động ngân hàng , góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng , đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng khi giao dịch
Hê ̣ thống pháp luật là nhân tố quan tro ̣ng ảnh hưởng tới hoa ̣t đô ̣ng thanh tra của ngân hàng trung ương Sự ảnh hưởng này được thể hiê ̣n trên các phương diê ̣n:
Thứ nhất, thông qua hê ̣ thống pháp luâ ̣t , ngân hàng trung ương điều chỉnh
đến các chủ thể tham gia thị trường tài chính (quy đi ̣nh các tiêu chí giám sát , thanh tra; quy định các hành vi , sai pha ̣m không theo luâ ̣t đi ̣nh ), nhằm bảo vê ̣ quyền lợi người gửi tiền , đảm bảo cho hoa ̣t đô ̣ng của hê ̣ thống ngân hàng thư ơng ma ̣i hoa ̣t
đô ̣ng minh ba ̣ch và ha ̣n chế các rủi ro có thể xảy ra
Thứ hai, hê ̣ thống pháp luâ ̣t được xây dựng mô ̣t cách đồng bô ̣ , chă ̣t chẽ, thì
sẽ ngăn chặn được các hành vi gian lận trong các hoạt động nghiệp vụ của hệ th ống ngân hàng Đồng thời pháp luật cũng quy định trao quyền cho tổ chức thanh tra đảm bảo đủ quyền lực trong điều tra và áp dụng những biện pháp xử phạt nghiêm minh đối với những ngân hàng thương ma ̣i cố tình thực hiê ̣n các hành vi vi phạm bị cấm theo luâ ̣t