1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Phân tích chính sách thuế Phạm vi ảnh hưởng của thuế

19 629 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 365,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi chính phủ đánh thuế vào một đối tượng ví dụ như nhà sản xuất, thì nhà sản xuất sẽ là người nộp thuế, nhưng câu hỏi đặt ra là nhà sản xuất có thực sự là người gánh chịu thuế hay không

Trang 1

I.Nguyên tắc xác định ảnh hưởng của thuế

Nguyên tắc 1: Trách nhiệm pháp lý của thuế không phân định rõ ai là người gánh chịu thuế thực sự

Phạm vi ảnh hưởng do luật pháp quy định: xác định chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý về

nghĩa vụ nộp thuế

Đối với thuế gián thu, chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý (chủ thể chịu trách nhiệm nộp

thuế) khác với chủ thể gánh chịu thuế thực sự

Ví dụ:Minh mua một hộp sữa với giá chưa có thuế VAT là 200.000 đồng, thuế VAT là

10% Vậy, tổng số tiền Minh phải thanh toán là 220.000 đồng, trong đó Minh phải chịu 20.000 đồng thuế VAT Số tiền thuế này sẽ do người bán nộp cho Nhà Nước

Kết luận: Thuế VAT là thuế gián thu, đối với loại thuế này người chịu trách nhiệm nộp thuế khác với người chịu gánh nặng thuế thực sự

Đối với thuế trực thu, chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý ( chủ thể chịu trách nhiệm nộp

thuế) cũng chính là chủ thể gánh chịu thuế thực sự Các loại thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản…

Phạm vi ảnh hưởng kinh tế: thể hiện mức thay đổi phân phối thu nhập thực của từng chủ

thể do thuế gây ra

Khi chính phủ đánh thuế vào một đối tượng ví dụ như nhà sản xuất, thì nhà sản xuất sẽ là người nộp thuế, nhưng câu hỏi đặt ra là nhà sản xuất có thực sự là người gánh chịu thuế hay không

Xét ở thị trường cạnh tranh, khi đánh một khoản thuế t vào nhà sản xuất, khoản thuế này được xem như là chi phí đối với họ Nhà sản xuất sẽ có xu hướng chuyển gánh nặng thuế này cho người tiêu dùng bằng cách dịch chuyển đường cung của họ lên một khoản đúng bằng t

Ta xem xét một ví dụ cụ thể: Chính phủ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt 2$ /thuốc lá

Trang 2

Hình 1.1 Nếu như Chính phủ đánh thuế 2$ trên một điếu thuốc lá và người sản xuất phải nộp thuế Điều này có phải người sản xuất sẽ phải nhận ít hơn 2$ trên mỗi điếu thuốc lá sản xuất ra?

Để trả lời câu hỏi này, ta xem xét ảnh hưởng của thuế đánh vào thị trường thuốc lá

Trước khi đánh thuế Sau khi đánh thuế Thị trường thuốc lá đầu tiên cân bằng tại

điểm A với mức giá 3$, người sản xuất sẵn sàng cung cấp 16000 điếu thuốc tại mức giá này

Khi Chính phủ đánh thuế 2$/điếu thuốc

điều này tương đương với việc tăng 2$

trên chi phí biên, dẫn đến nhà sản xuất yêu cầu tăng giá thêm 2$ để sản xuất mỗi một đơn vị sản phẩm Khi đó đường cung S1 sẽ dịch chuyển song song sang trái thành S2 Lúc này đường cung S2 mới cắt đường cầu D tại mức giá 3.8$ và sản lượng là 14000 điếu thuốc

Nhận xét: Khi Chính phủ đánh thuế, điều này làm giá cả thị trường tăng 0.8$ (từ 3$

lên 3.8$) và nhà sản xuất phải nộp thuế 2$/điếu thuốc cho Chính phủ

Từ góc độ người sản xuất, tiền thuế 2$ được bù đắp: họ nhận được 0.8$ do tăng giá, thục tế họ chỉ nộp 0.2$ cho chính phủ

Gánh nặng thuế của nhà sản xuất: (3-3.8)+2=1.2$

Từ góc độ người tiêu dùng, họ phải trả thêm 0.8$/(điếu thuốc) mặc dù họ không

P

Q

B

P

3.8 3

16 14

A

S1 S2

Q

D 3

A

16

S1

D

Thuế

Trang 3

tiêu dùng.

Gánh nặng thuế của người tiêu dùng: 3.8-3=0.8$

Nguyên tắc 2: Khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào không phản ảnh thích hợp sự phân phối gánh nặng thuế

Nguyên tắc 2 của ảnh hưởng thuế là khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào là không thích hợp đối với phân phối gánh nặng thuế: gánh nặng thuế là giống nhau cho dù thuế đánh vào người sản xuất hoặc người tiêu dùng

Ví dụ: Trong hình 1.1, chúng ta đã xét trường hợp chính phủ đánh thuế 2$ vào người sản

xuất Chúng ta cần xem xét thêm trường hợp chính phủ đánh thuế 2$ vào người tiêu dùng (hình 1.2)

Trong trường hợp này người tiêu dùng chịu trách nhiệm pháp lý nộp thuế chứ không phải

là nhà sản xuất Việc phải trả thêm 2$ tiền thuế cho mỗi đơn vị sản phẩm tiêu dùng làm cho đường cầu dịch chuyển song song sang trái một khoảng 2$ Lúc này D2 cắt S tại điểm cân bằng mới là B với mức giá 1.8$/điếu thuốc

Nhận xét: Khi đánh thế vào người tiêu dùng nó cũng làm thay đổi giá cả thị trường thuốc

lá, tuy nhiên giá cả thị trường lại giảm xuống 1.8$ Người tiêu dùng bây giờ phải nộp 2$

trên mỗi điếu thuốc tiêu dùng

P

Q

B

P

1.8 3

16 14

A

S

D2

Q

D1

16

S1

D

t

Trang 4

lại mặc dù nhà sản xuất không chịu trách nhiệm pháp lý nộp thuế, nhưng bởi vì giá cả giảm

đã chuyển một phần gánh nặng thuế từ người tiêu dùng đến người sản xuất

Kết luận: Dù thuế đánh vào người tiêu dùng hay nhà sản xuất thì gánh nặng thuế mà họ phải chịu cũng không thay đổi Người tiêu dùng vẫn chịu gánh nặng thuế là 0.8$ và nhà sản xuất phải chịu gánh nặng thuế là 1.2$

Nguyên tắc 3: Mức độ gánh chịu thuế của các đối tượng phụ thuộc vào mức độ co giácn của cung hoặc cầu

Phạm vi ảnh hưởng của đánh thuế đối với người sản xuất và người tiêu dùng được quyết định bởi độ co giãn của cung và cầu

II.Phạm vi ảnh hưởng của thuế

1 Thuế gián thu

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Thị trường cạnh tranh hoàn toàn có đặc điểm có rất nhiều người bán và rất nhiều người mua, giá cả do thị trường cung cầu quyết định, thông tin thị trường là hoàn hảo, người mua và người bán tự do gia nhập và rời khỏi thị trường

Trường hợp 1: Cầu co giãn hơn cung:

P

Q

B P

3.5 3

16 14

A S1

Q

D

16

S

D

t

1.5 S2

Trang 5

Trước khi Chính Phủ đánh thuế Sau khi Chính Phủ đánh thuế Thị trường cân bằng tại điểm A với giá 3$

và sản lượng là 16000

Chính phủ đánh thuế 2$ vào nhà sản xuất, làm đường cung dịch chuyển song song sang trái một khoảng t=2$

Đường cung S2 cắt đường cầu D tại điểm B với mức giá 3.5$

Do giá tăng lên 0.5$, người tiêu dùng chịu thuế 0.5$, nhà sản xuất bán được giá cao hơn 0.5$ nhưng phải đóng thuế 2$ nên gánh nặng thuế của nhà sản xuất là 1.5$

Kết luận: gánh nặng của nhà sản xuất lớn hơn người tiêu dùng Sở dĩ người sản xuất chịu gánh nặng thuế nhiều hơn là do mức co giãn của cung nhỏ hơn so với cầu

Trường hợp 2: Cầu co giãn ít hơn cung:

P

Q

B P

4.5 3

16 14

A S1

Q D

3

A

16

S

D

t

2.5 S2

Trang 6

Trước khi Chính Phủ đánh thuế Sau khi Chính Phủ đánh thuế

Thị trường cân bằng tại điểm A với giá 3$, sản lượng là 16000 điếu thuốc

Chính phủ đánh thuế 2$ vào nhà sản xuất, làm đường cung dịch chuyển song song sang trái một khoảng t=2$

Đường cung S2 cắt đường cầu D tại điểm B với mức giá 4.5$

Do giá tăng lên 1.5$, người tiêu dùng chịu thuế 1.5$, nhà sản xuất bán được giá cao

hơ 1.5$ nhưng phải đóng thuế 2$ nên gánh nặng thuế của nàh sản xuất là 0.5$

Kết luận: gánh nặng của nhà sản xuất nhỏ hơn người tiêu dùng Sở dĩ người sản xuất chịu gánh nặng thuế ít hơn là do mức co giãn của cung lớn hơn so với cầu

Trường hợp 3: Cầu hoàn toàn không co giãn:

Cũng với ví dụ trên, ta xem xét trường hợp Chính phủ đánh thuế vào nhà sản xuất nhưng lúc này giả sử cầu về thuốc lá hoàn toàn không co giãn

P

Q

B P

5 3

16

A S1

Q

D

3

A

16

S D

t S2

Trang 7

Trước khi Chính Phủ đánh thuế Sau khi Chính Phủ đánh thuế

Thị trường cân bằng tại điểm A với giá 3$,

sản lượng là 16000

Khi Chính phủ đánh thuế vào người sản xuất, làm chi phí biên tăng 2$, khiến đường cung dịch chuyển sang trái, điểm cân bằng mới tại B với giá 5$ Cao hơn 2$

so với giá bna đầu như vậy khi đường cầu không co giãn, gánh nặng thuế của người tiêu dùng là 2$, người sản xuất không chịu thuế

Kết luận: Khi cầu hoàn toàn không co giãn nhà sản xuất không chịu gánh nặng thuế,

gánh nặng thuế hoàn toàn do người tiêu dùng gánh chịu

Trong thực tế, chúng ta khó có thể thấy đường cầu hoàn toàn không co giãn Với một số mức giá, cầu chất insulin, chất thấm tách, và những hàng hoá khác chẳng hạn như dược phẩm trị bệnh có vẻ gần giống với cầu hoàn toàn không co giãn nhất Tuy nhiên, khi giá của những hàng hoá này tăng, chúng ta vẫn thấy lượng cầu giảm vì các cá nhân có ngân sách hạn chế Không có loại hàng hoá nào mà đường cầu của nó là không co giãn một cách tuyệt đối, dù nó có quan trọng với đời sống con người tới đâu Thuốc men là những thứ quan trọng, giá cả tăng, người bệnh vẫn tiêu sài Nhưng giá cả bị giới hạn bởi đường ngân sách của cá nhân

Trường hợp 4: Cầu hoàn toàn co giãn

P

Q

B

P

3

16

A S1

Q

D

16

S

D

t S2

Trang 8

Trước khi Chính Phủ đánh thuế Sau khi Chính Phủ đánh thuế

Thị trường cân bằng tại điểm A với giá 3$,

sản lượng là 16

Khi chính phủ đánh thuế vào người sản xuất , làm chi phí biên tăng 2$, khiến đường cung dịch chuyển sang trái thành S2, điểm cân bằng mới tại B với giá vẫn ở mức 3$ Như vậy khi đường cầu co giãn hoàn toàn, gánh nặng thuế của người tiêu dùng

là 0, nhà sản xuất chịu thuế là 2$

Kết luận: Khi cầu hoàn toàn co giãn nhà sản xuất chịu gánh nặng thuế hoàn toàn, người tiêu dùng không chịu gánh nặng thuế

Kết luận: Đánh thuế gián thu trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo người tiêu dùng

có lợi hơn, từ đó khuyến khích thị trường cạnh tranh

Thị trường độc quyền :

Đặc điểm của thị trường độc quyền: Những nhà độc quyền tối đa hóa lợi nhuận như các công ty cạnh tranh đã làm, tức là họ cũng sản xuất đến khi MC=MR.Tuy nhiên, bởi vì thị trường độc quyền là thị trường chỉ có một người cung cấp hàng hóa cho nên cũng chính họ là người làm giá cả => MR không phải là giá cả được quyết đinh bởi thị trường mà là giá cả được chọn lựa bởi nhà độc quyền.

Trường hợp thuế đánh vào người tiêu dùng trong thị trường độc quyền hoàn toàn

Trang 9

Q1

Q 2

P

1

P

2

D 1 1 1 1 1 1

S

MR 1

P

MR 2

D 2 2

Khi chính phủ đánh thuế vào người tiêu dùng trong thị trường độc quyền như miêu tả trên đồ thị Đánh thuế làm người tiêu dùng mua ít sản phẩm hơn, đường cầu D1 dịch chuyển sang D2 một khoản đúng bằng t => kéo theo đường MR2 dịch chuyển Lúc này cân bằng mới ở mức giá P2 Nhà độc quyền gánh chịu một phần thuế như trong trường hợp thị trường cạnh tranh.

Gánh nặng thuế của người tiêu dùng: (P2 – P1 )+t

Gánh nặng thuế của nhà độc quyền: P1- P2

Trường hợp thuế đánh vào nhà độc quyền (thuế đánh theo sản lượng)

Trang 10

Q 1

Q 2

P

1

P

2

D S

M R

P

S2

Khi chính phủ đánh thuế vào nhà độc quyền sẽ làm dịch chuyển đường cung S1 song song sang trái đến S2 một khoảng t Lúc này thị trường cân bằng ở mức giá P2> P1 Nhà độc quyền chia bớt gánh nặng thuế cho người tiêu dùng Gánh nặng thuế của người tiêu dùng là: P2-P1

Gánh nặng thuế của nhà độc quyền: (P1-P2)+t.

Kết luận: Ba nguyên tắc ảnh hưởng thuế vẫn có giá trị trong thị trường độc quyền

1 Thuế trực thu

Thuế trực thu được thể hiện thông qua thuế thu nhập cá nhân, là loại thuế đánh vào tiền lương của người lao động Người lao động sẽ nộp thuế nhưng ủy nhiệm cho doanh nghiệp nộp hộ

Phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất giống như trong thị trường hàng hóa tiêu dùng Điểm khác biệt đó là người tiêu dùng các yếu tố sản xuất là các doanh nghiệp (đường DL ) và người cung cấp các yếu tố sản xuất là các cá nhân (lao động) (đường SL )

Trang 11

động sẽ chịu thuế hoàn toàn.

•Trường hợp 2: Tiền lương tăng, số giờ lao động giảm: đây là trường hợp

phổ biến

Tiền lương (W)

SL

S ’ L

D L

Thuế

A B

C

W2=5.65$

W1=5.15$

W3=4.65$

Số giờ lao động (H)

Tiền lương

(W)

Thuế

W

H 1

H 2

D L

S L ’

S L

Trang 12

Xem xét thị trường lao động ở hình trên Ta có:

Đường cầu lao động DL và đường cung lao động SL

Tại điểm A thị trường cân bằng với mức tiền lương W1 là 5,15 đôla/giờ

Giả sử chính phủ đánh thuế tiền lương với mức t = 1 đôla/giờ vào người lao động, người lao động là người nộp thuế, điều này dẫn đến:

+Người lao động yêu cầu phải tăng thêm 1 đôla tiền lương trên mỗi giờ lao động để bù vào tiền thuế để sẵn lòng làm việc với mức giờ như cũ => Đường cung lao động SL dịch chuyển song song về phía bên trái đến S’ L một đoạn tương ứng với 1 đôla.

+Lúc này đường cung lao động mới S’L cắt đường cầu lao động vẫn còn ở vị trí cũ tại điểm B tương ứng với W2=5,65 đôla.

Kết luận: Gánh nặng thuế lúc này được chia sẻ bởi người lao động và công ty (người lao động bị giảm 0,5 đôla và công ty phải trả thêm 0,5 đôla cho người lao động) Tổng tiền lương trong thị trường lao động tăng lên 5,65 đôla nhưng tiền lương thực thế sau thuế chỉ còn 4,65 đôla.

•Trường hợp 3: Tiền lương tăng, số giờ lao động không đổi:

Thuế

Tiền lương

W

W 2

W 1

D L

S L

S L ’

Trang 13

yếu tố sản xuất (thuế đánh vào tiền lương) đó là mức tiền lương tối thiểu

theo pháp lý mà mỗi người lao động phải được thanh toán cho mỗi giờ lao động.

Giả sử mức tiền lương tối thiểu này quy định là 5,15 đôla/ giờ Vậy thì:

Trong trường hợp này, sau khi có thuế mức tiền lương người lao động được trả là 5,65 đôla (>mức tối thiểu), do đó tiền lương tối thiểu sẽ không có ảnh hưởng gì đến phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế

Tóm lại: Tùy theo chính sách của công ty và cách đánh thuế của chính phủ mà thuế có sự ảnh hưởng khác nhau Ở Việt Nam đa phần là đánh thuế vào người lao động ta cũng có thể nhận thấy thông qua luật thuế thu nhập cá nhân Tuy nhiên cũng có một số trường hợp đặc biệt, công ty chọn trả lương cho nhân viên theo hình thức đánh thuế vào công ty Tức công

ty sẳn sàng trả cho cho nhân viên số tiền 15 triệu thay vì 10 triệu, công ty sẽ chịu phần thuế phải đóng cho nhà nước thay nhân viên với nhưng mục đích sau:

Số giờ lao động

Tiền lương

S1

D1

S2

W2=$5.65

Wm=$5.15

W3=$4.65

H2 H1

Trang 14

 Chính sách khuyến khích người lao động ở lại làm cho công ty.

 Mục đích phát triển của công ty…

Thị trường độc quyền nhóm:

Hiện tại chưa có lý thuyết nào khẳng định phạm vi ảnh hưởng của thuế trong trường hợp

có nhóm độc quyền Các nhà độc quyền nhóm thành lập các –ten để thu lợi nhuận độc quyền Các nhóm độc quyền thường yêu cầu các hãng trong nhóm cắt giản sản lượng để gây sức ép lên giá, tuy nhiên thảo thuận này khó thực hiện được vì bất đồng trong sự phân chia lợi nhuận Lợi dụng giá cao, họ sản xuất sản lượng cao hơn mức cho phép nhằm tối đa hóa lợi nhuận Kết quả là sản lượng trên thị trường có nhóm độc quyền cao hơn mức giới hạn mà các cac – ten thành lập Khi có thuế, các hãng sẽ bị thiệt tuy nhiên lợi nhuận trước thuế của họ gia tăng Về lý thuyết, lợi nhuận trước thuế tăng lên nhiều hơn so với mức sau khi nộp thuế, nên các hãng không bị thiệt

3.Phạm vi ảnh hưởng của thuế và vấn đề vốn hóa

- Phần này phân tích tác động của thuế đến đất đai Đất đai có đặc tính là cung cố định và

là loại hàng hóa có tính lâu bền

- Nếu như thị trường bất động sản cạnh tranh, thì giá cả của đất bằng với giá trị chiết khấu hiện tại của dòng thời gian thuê (T), Gọi tỷ suất sinh lợi là r, giá của đất sẽ là:

P R=Ro+

i=1

T

Ri

(1+r )i

Số thuế thu vào đầu năm đầu tiên là uo và các năm tiếp theo lần lượt là: u1, u2, … số tiền cho thuê đất hàng năm mà người sở hữu nhận được giảm xuống đúng bằng toàn bộ số tiền thuế Như vậy những người mua đất về sau họ sẽ mua dòng tương lai của khoản nợ thuế cũng như dòng tương lai của thu nhập Mức tối đa mà người mua sẵn lòng chi trả tiền đất sau thuế là (P’R):

P ' r =( RoưUo)+

i=1

T RiưUi

1¿ ¿ ¿ Vậy do có tác động cuả thuế mà giá đất giảm xuống bằng:

Uo+

i=1

T

u 1

(1+r)T

Tại thời gian đầu tiên mà chính phủ đánh thuế đất, giá cả của đất giảm xuống bằng giá trị hiện tại của tất cả tiền thuế thanh toán trong tương lai, tiến trình mà chuỗi tiền thuế được hợp nhất vào trong giá cả tài sản gọi là vốn hóa

Do vốn hóa, nên người chủ đất tại thời gian thuế được đánh phải gánh chịu gánh nặng của thuế mãi mãi Còn người chủ đất về sau, khi mua họ phải thanh toán giá đất trong đó có tiền thuế, nhưng tiền thuế này không tạo ra gánh nặng, bởi vì chỉ làm cân bằng mức giá thấp hơn khi mua

Ngày đăng: 22/06/2015, 00:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w