1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính minh bạch trong chính sách tiền tệ và sự dẫn truyền của lãi suất bán lẻ

24 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 267,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu trước đây về hệ thốngtruyền dẫn của chính sách tiền tệ cho rằng có sự truyền dẫn ngay lập tức và hoàn toàn từ sự thay đổi của lãi suất chínhthức vào lãi suất bán lẻ ngân h

Trang 1

Tính minh bạch trong chính sách tiền tệ và sự dẫn

truyền của lãi suất bán lẻ

Trang 2

Tóm tắt

Bài nghiên cứu này kiểm tra mức độ truyền dẫn và tốc độ điều

chỉnh của lãi suất bán lẻ trong phản ứng với những thay đổi trong lãi

suất cơ bản ở New Zealand trong giai đoạn 1994-2004 Chúng tôi xem

xét ảnh hưởng của sự minh bạch chính sách và cấu trúc tài chính lên hệ

thống truyền dẫn tiền tệ New Zealand là quốc gia OECD đầu tiên áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu toàn phần với cácquy định về trách nhiệm và tính minh bạch cụ thể Sự minh bạch chính sách được tăng cường hơn bởi sự thay đổi mụctiêu hoạt động từ số lượng (cơ chế thanh toán bù trừ) sang mục tiêu giá cả (lãi suất) trong năm 1999 Sử dụng ước tínhPhillips- Loretan của hồi quy đồng liên kết chúng tôi thấy không phải tất cả lãi suất bán lẻ truyền dẫn hoàn toàn trong

dài hạn Kết quả của chúng tôi cũng chỉ ra rằng sự ra đời của lãi suất vay qua đêm (OCR) đã làm gia tăng mức dẫn

truyền của lãi suất thả nổi và lãi suất tiền gửi nhưng không làm tăng mức truyền dẫn của lãi suất thế chấp cố định Phùhợp với một số nghiên cứu trước, chúng tôi tìm thấy rằng sự truyền dẫn tức thời của lãi suất thị trường tới lãi suất bán lẻ

là không hoàn toàn Mặc dù chúng tôi không phát hiện các bằng chứng thống kê trong phản ứng của lãi suất bán lẻ tới sựthay đổi của lãi suất thị trường khác hơn đối với lãi suất cho vay kinh doanh trong giai đoạn trước sự ra đời của OCR, sựkhác biệt trong độ lớn của độ trễ điều chỉnh trung bình chỉ ra rằng các ngân hàng xuất hiện để góp phần làm giảm lãisuất thế chấp cố định nhanh hơn Nhìn chung, kết quả của chúng tôi xác nhận rằng lãi suất chính sách tiền tệ đã ảnhhưởng nhiều đến lãi suất ngắn hạn và tính minh bạch gia tăng đã giảm biến động của công cụ và tăng cường hiệu quảcủa chính sách

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

DANH SÁCH NHÓM 6

1 Trần Trung Hiếu

2 Lê Huỳnh Sơn

3 Nguyễn Đan Thanh

4 Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 3

Trong khi có một số lượng lớn các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ thì quá trình truyền dẫn lãi suấtbán lẻ gần như chưa được nghiên cứu nhiều đến thời điểm nghiên cứu bài này Các nghiên cứu trước đây về hệ thốngtruyền dẫn của chính sách tiền tệ cho rằng có sự truyền dẫn ngay lập tức và hoàn toàn từ sự thay đổi của lãi suất chínhthức vào lãi suất bán lẻ ngân hàng (ví dụ, Bernanke và Gertler, 1995; Kashyap và Stein, 2000; Altunbass và cộng sự,2002) Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự truyền dẫn có thể không hoàn toàn và tốc độ điều chỉnh có thểchậm chạp Sự truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh cũng có thể khác nhau giữa các định chế tài chính và giữa các sản phẩmtài chỉnh, nghĩa là tốc độ truyền dẫn tiền tệ có thể khác nhau giữa các phân khúc khác nhau của ngành ngân hàng (xemCottarelli và Kourelis, 1994; Mojon, 2000; Bondt, 2002; Hofmann và Mizen, 2004) Hơn nữa, một số nghiên cứu chỉ rarằng tốc độ điều chỉnh có thể bất đối xứng (xem Chong và cộng sự, 2006; Kleimeier và Sander, 2006).

Trong hoàn cảnh của New Zealand, nơi chúng tôi thực hiện nghiên cứu, Espinosa- Vega và Rebucci đã phân tích,giữa các quốc gia khác nhau, sự truyền dẫn từ lãi suất vay qua đêm liên ngân hàng tới lãi suất tiền gửi (huy động và 6tháng) và bình quân gia quyền của lãi suất cho vay kinh doanh Họ chỉ ra rằng trong dài hạn truyền dẫn là không hoàntoàn và đưa ra một độ trễ điều chỉnh trung bình khoảng 2 tháng cho cả 3 loại lãi suất Tripe và cộng sự (2005) đã xemxét ảnh hưởng của sự ra đời lãi suất vay qua đêm (OCR), một lãi suất tiêu chuẩn được kiểm soát bởi chính sách, vào thịtrường tiền tệ và lãi suất cho vay cá nhân ở New Zealand Họ quan sát thấy rằng sự ra đời của OCR đã làm giảm biếnđộng của cả lãi suất bán lẻ và cho vay cá nhân Hơn nữa, họ chỉ ra rằng mức độ truyền dẫn trong dài hạn từ lãi suất thịtrường tiền tệ tới lãi suất thế chấp thả nổi tăng lên trong giai đoạn sau khi đưa ra OCR Tuy nhiên, họ cũng nhận ra rằngđối với lãi suất thế chấp cố định với kỳ hạn 1, 2, 3 năm, mức độ truyền dẫn trong dài hạn giảm nhẹ sau khi OCR xuấthiện Tripe và cộng sự (2005) đã không kiểm tra tính động trong ngắn hạn giữa lãi suất thị trường tiền tệ và lãi suất thếchấp trong khi đó Espinosa-Vega và Rebucci (2003) đã không xem xét liệu sự điều chỉnh có bất đối xứng hay không

Trang 4

Các tài liệu thực nghiệm về truyền dẫn hiện tại có 2 thiếu sót lớn Thứ nhất, nó không đưa vào tính toán sự ảnhhưởng của những thay đổi trong kỳ vọng tương lai trong lãi suất thị trường khi kiểm tra mối quan hệ trong dài hạn giữalãi suất bán lẻ và lãi suất thị trường Thứ hai, phương pháp Engle – Granger được sử dụng rộng rãi không thừa nhận cáckết luận có giá trị được rút ra đối với mức độ truyền dẫn dài hạn sử dụng lý thuyết phân phối chuẩn.

Nghiên cứu này đóng góp vào việc nghiên cứu hệ thống truyền dẫn chính sách tiền tệ bằng cách áp dụng phươngpháp của Phillips và Loretan (1991) để đánh giá mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ khi lãi suấttiêu chuẩn thay đổi ở New Zealand Chúng tôi phân tích 3 vấn đề sau: thứ nhất, chúng tôi xem xét trong dài hạn truyềndẫn của lãi suất thị trường tiện tệ tới các loại lãi suất bán lẻ khác nhau, ví dụ như lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay baogồm lãi suất cho vay cơ bản và lãi suất thể chấp với các kỳ hạn khác nhau Thứ hai, chúng tôi xem xét truyền dẫn và tốc

độ điều chỉnh trong ngắn hạn của lãi suất bán lẻ để sự thay đổi trong lãi suất thị trường, sử dụng một mô hình hiệu chỉnhsai số cấu trúc (SEC) để kiểm định liệu tốc độ điều chỉnh là đối xứng hay không Phương pháp Philips-Loretan (PL)cung cấp một cách thức hiệu quả và chắc chắn để ước tính các thông số dài hạn đưa vào kỳ hạn hiệu chỉnh sai số của môhình SEC Lần lượt các kỳ hạn hiệu chỉnh sai số đóng vai trò chính trong việc mô tả tính động của các điều chỉnh trongngắn hạn trong lãi suất bán lẻ tới sự thay đổi trong lãi suất thị trường Thứ ba, chúng tôi kiểm tra liệu sự gia tăng trongtính minh bạch của chính sách tiền tệ quy trình hoạt động như kết quả của sự chuyển đổi từ mục tiêu số lượng (thanhtoán bù trừ) tới mục tiêu giá cả (lãi suất) có ảnh hưởng tới sự truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh của lãi suất Chúng tôi kỳvọng rằng, bằng cách quản lý trực tiếp lãi suất tiền mặt qua đêm cơ quan có thẩm quyền tiền tệ sẽ có thể ảnh hưởng hiệuquả hơn tới cả mức độ lãi suất ngắn hạn khác và chế độ tiện tệ mở rộng hơn (xem Ngân hàng dự trữ của New Zealand,1999)

Trang 5

Vào tháng 3/1999, có một sự chuyển đổi lớn trong hệ thống kiểm soát tiền tệ ở New Zealand, một sự thay đổi từmục tiêu số lượng (cơ chế thanh toán bù trừ) và hướng tới thiết lập lãi suất tiền mặt chính thức dựa trên giá cả Mặc dù,dưới cả 2 cơ chế này, truyền dẫn chính sách tiền tệ chủ yếu hoạt động thông qua lãi suất, vấn đề đặt ra là liệu cơ chếOCR sẽ ảnh hưởng hiệu quả tới mức độ và tốc độ điều chỉnh của truyền dẫn từ công cụ chính sách tới lãi suất bán lẻ vànếu có thì mức độ ảnh hưởng như thế nào Chúng tôi kỳ vọng rằng dưới cơ chế giá, vai trò của lãi suất trong hệ thốngtruyền dẫn sẽ trở nên minh bạch hơn Do đó, chúng tôi kỳ vọng rằng, có mối quan hệ mật thiết hơn giữa OCR và lãi suấtngắn hạn Hệ quả là sẽ có một sự gia tăng trong quy mô truyền dẫn và biến động lãi suất ngắn hạn sẽ gia tăng Cân bằngtài khoản thanh toán, khác với lãi suất (và tỷ giá hối đoái) thường không có mối quan hệ ổn định với thu nhập thôngthường hay lạm phát và thường dẫn tới biến động lãi suất cao hơn đáng kể so với mục tiêu lãi suất Trong tất cả cáctrường hợp, chúng tôi kỳ vọng rằng mục tiêu lãi suất sẽ tăng cường hơn vai trò phát tín hiệu và đòn bẩy trong việc thựchiện chính sách Trong thực tế, các bằng chứng cho thấy mục tài khoản tiền mặt đóng vai trò nhỏ trong việc phát tín hiệucác mục đích chính sách hay mang đến đòn bẩy chính sách tin cậy và hiệu quả để đạt được những thay đổi định trướctrong chế độ tiền tệ (xem Ngân hang Dự trữ của New Zealand, 1999).

Trang 6

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1 Sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường và lãi suất bán lẻ

Trong chu kỳ nền kinh tế, khi NHTW điều chỉnh chính sách tiền tệ thì đồng thời làm ảnh hưởng đến lãi suất liênngân hang Khi đó NHTM có thể điều chỉnh chi phí gia tăng do thay đổi này sang lãi suất bán lẻ (thể hiện ở lãi suất tiềngửi và cho vay) Quá trình này được gọi là sự truyền dẫn lãi suất (Wang & Lee, 2009; Wang & Nguyen, 2010) Quanđiểm tương tự cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Karagiannis và cộng sự năm 2010

Sarno, L., Thornton, D.L., (2003) đã tìm thấy có sự ổn định đáng kể trong mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất quỹ

liên bang (lãi suất chính sách) và lãi suất tín phiếu kho bạc (lãi suất thị trường tiền tệ) trong suốt giai đoạn nghiên cứumặc dù trải qua các thay đổi trong quy trình hoạt động chính sách tiền tệ

Dan Chirleşan Marius Constantin Apostoaie (2011) đã tìm hiểu sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất

liên ngân hàng ở Romani Theo các tác giả này, sự phản ứng của lãi suất liên ngân hàng đối với sự thay đổi trong chínhsách tiền tệ là chậm trong giai đoạn 2003-2008 và mạnh từ sau 10/2008

Altunbas, Fazylov và Molyneux (2002) đã nghiên cứu bằng chứng về các kênh cho vay ở ngân hàng châu Âu.

Ông cho rằng, các ngân hàng thiếu vốn có xu hướng dẫn truyền nhiều hơn những thay đổi trong chính sách tiền tệ tại cácnước nhỏ trong một hệ thống liên minh kinh tế tiền tệ (EMU)

Mojon (2000) kiểm tra sự dẫn truyền ngắn hạn đến lãi suất cho vay và huy động ở 5 nước khu vực đồng tiền

chung châu Âu (Bỉ, Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Hà Lan), giả định rằng có sự dẫn truyền hoàn toàn trong dài hạn Ôngthấy rằng lãi suất bán lẻ phản ứng chậm đối với thay đổi trong lãi suất thị trường tiền tệ; lãi suất dài hạn phản ánh chậm

Trang 7

hơn so với lãi suất ngắn hạn, và có sự bất cân xứng trong mức độ dẫn truyền Sự dẫn truyền đến lãi suất cho vay cao hơnkhi lãi suất thị trường đang tăng hơn là khi nó đang giảm xuống, nhưng điều ngược lại là đúng cho lãi suất tiền gởi

Bondt (2002) kiểm tra mối quan hệ giữa lãi suất trái phiếu chính phủ và lãi suất huy động cũng như lãi suất cho

vay trên cơ sở kỳ hạn phù hợp cho khu vực Euro Ông ta tìm thấy rằng sự dẫn truyền là hoàn toàn cho hầu hết lãi suấtcho vay nhưng không hoàn toàn lên tác động của cả lãi suất tiền gởi và một số lãi suất cho vay

Kleimeier và Sander (2005) kiểm tra sự dẫn truyền trong thị trường bán lẻ của ngân hàng đối với khu vực đồng

Euro và thấy rằng lãi suất cho vay phản ánh nhanh hơn đối với sự thay đổi trong chính sách tiền tệ

Chong và các cộng sự (2005) kiểm tra lãi suất huy động ở các kỳ hạn khác nhau và lãi suất cho vay ở cả ngân

hàng thương mại và công ty tài chính ở Singapore và thấy rằng định chế tài chính điều chỉnh lãi suất của họ tăng lênchậm hơn so với điều chỉnh giảm Họ cũng thấy rằng tốc độ điều chỉnh khác nhau qua các sản phẩm tài chính và khácnhau giữa các ngân hàng và công ty tài chính Họ không tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn của lãi suất

Mark A.Weth (2002) đã nghiên cứu về sự dẫn truyền từ lãi suất thị trường sang lãi suất cho vay ở Đức Ông cho

rằng tổ chức tín dụng lớn hơn điều chỉnh lãi suất cho vay thị trường nhanh hơn tổ chức nhỏ do các tổ chức lớn tiếp cậntốt hơn với thị trường vốn và linh hoạt thay đổi để bù đắp sự thay đổi trong lãi suất chính sách

2 Tính minh bạch của chính sách tiền tệ

Malcolm Edey and Andrew Stone (2004) đã làm rõ nhận thức về chính sách tiền tệ cũng như sự minh bạch và

truyền thông của chính sách tiền tệ Theo tác giả, minh bạch trong chính sách tiền tệ là một khái niệm với nhiều khíacạnh Nghiên cứu của Geraats (2001) đã phân loại các khía cạnh khác nhau của minh bạch thành năm loại chính: chínhtrị, kinh tế, thủ tục, chính sách và hoạt động Hơn nữa, do các loại hình này có mức độ thay thế nhau nhất định nên

Trang 8

chúng đã được Hahn (2002) chia thành ba loại đó là: minh bạch về mục tiêu, minh bạch về thông tin và minh bạch tronghoạt động Minh bạch về mục tiêu: liên quan đến tính minh bạch về mục tiêu tổng thể của ngân hàng trung ương, mà cónghĩa là mở rộng mục tiêu chính sách, hơn nữa là mục tiêu hoạt động từng ngày ví dụ như duy trì lãi suất tiềnmặt qua đêm tại các mục tiêu mong muốn Cần phân biệt rõ ràng giữa tính minh bạch của một mục tiêu chính sách nhấtđịnh với độ chính xác mà mục tiêu đó được đưa ra Minh bạch về thông tin: liên quan đến các thông tin mà ngân hàngtrung ương cung cấp cho công chúng nói chung về: đầu tiên, là các dữ liệu ngân hàng trung ương dựa vào để xây dựngchiến lược nhằm đạt được mục tiêu tổng thể của nó, và thứ hai, làm thế nào nó sử dụng dữ liệu đó để đi đến mục tiêuchiến lược cuối cùng Minh bạch trong hoạt động: liên quan chủ yếu đến sự cởi mở của một ngân hàng trung ương

về các công cụ sử dụng để cố gắng đạt được các mục tiêu chính sách của mình và về việc sử dụng các công cụ này nhưthế nào

Guthrie và Wright (2000) đã tìm hiểu về hoạt động “Open mouth operations” Bài viết đã trình bày một mô hình

thực hiện chính sách tiền tệ mà trong đó một khi lãi suất đi lệch ra khỏi yêu cầu của cơ quan tiền tệ, một hoạt động

“Open mouth operations” là tất cả những gì cần thiết để khôi phục lại chúng Sau thông báo thắt chặt của RBNZ (Ngânhàng dự trữ New Zealand), lãi suất của tất cả các kì hạn tăng Những sự thay đổi này không phải do hoạt động của thịtrường mở Ông lập luận rằng thông báo thắt chặt không hạ thấp mục tiêu lạm phát của RBNZ, hay gây ra lạm phát caohơn trong dài hạn Thay vào đó, ông cho rằng lãi suất tăng sau thông báo thắt chặt chủ yếu là bởi vì chúng báo hiệu rằngRBZN mong muốn một lãi suất cao hơn so với lãi suất trong thị trường lúc bấy giờ

Trang 9

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Dữ liệu

Chuỗi dữ liệu là lãi suất hàng tháng lấy từ hai nguồn Lãi suất thế chấp cố định có thời hạn từ 1 – 5 năm lấy từngân hàng thương mại ở New Zealand, dữ liệu về lãi suất trái phiếu, lãi suất cho vay cơ bản, lãi suất thế chấp thả nổi vàlãi suất huy động thời gian 6 tháng, OCR (lãi suất qua đêm liên ngân hàng lấy từ Ngân hàng dự trữ của New Zealand

Thời gian mẫu là từ tháng 8 năm 1994 đến tháng 12 năm 2004, bao gồm khoảng thời gian hơn 10 năm mà chínhsách tiền tệ hoạt động bởi chính sách lạm phát mục tiêu hoàn toàn Kích thước mẫu là 125 chuỗi lãi suất

Trong tài liệu này, tác giả xem xét sự dẫn truyền cả trong ngắn hạn và dài hạn của các lãi suất chính sách tiền tệđến các loại lãi suất bán lẻ khác nhau cũng như là tốc độ điều chỉnh của các động lực ngắn hạn đến mối quan hệ cânbằng trong dài hạn

Mối quan hệ trong dài hạn giữa lãi suất bán lẻ và lãi suất thị trường tiêu chuẩn được thể hiện như sau:

(1) yt = α0 + α1 xt + ε t

Trong đó: yt là lãi suất cho vay của ngân hàng hay lãi suất tiền gửi,

xt thể hiện lãi suất chính sách tương ứng hay lãi suất của thị trường tiền tệ;

εt là sai số;

α0 và α1 là tham số dài hạn

Trang 10

Các chuỗi lãi suất được mong đợi là sẽ lấy sai phân bậc 1, (I1), còn các biến và sai số lại được kì vọng là sẽ dừng.Như đã được thảo luận trong Rousseas (1985), α0 là tung độ gốc, α1 đo lường mức độ dẫn truyền trong dài hạn Dẫntruyền dài hạn là hoàn toàn nếu α1 là không khác biệt thống kê so với 1.

Tác giả ước lượng phương trình (1) là sử dụng phương pháp Phillips- Loretan (1991) Phương pháp này đáp ứngtốt việc ước lượng mối quan hệ dài hạn, bao gồm các biến được hợp nhất, nơi mà các động lực có thể đóng vai trò quantrọng trong DGP (tiến trình tạo dữ liệu) cho yt Nó được mô hình hóa bởi hệ thống ba phương trình sau đây:

(1a) yt = α + β ′xt + u1t (1b) ∆xt= u2t

Ở đây ut= [u1t, u2t]’ là một vector cố địnhPhương trình (1a) có thể được ước lượng bằng các cách sử dụng các phương trình bậc nhất, và với điều kiện làphương trình được làm tăng một cách thích hợp, tính chất gần đúng của phương thức ước lượng và phân phối của nó cóthể được xác định một cách dễ dàng Các tính chất này xoay quanh mối quan hệ qua lại tồn tại giữa u1t và u2t, chúngđược giả định rằng không đổi

Nếu ma trận hiệp phương sai của ut là ma trận đường chéo (là ma trận chỉ có giá trị ở đường chéo, còn các giá trịcòn lại đều bằng 0), (vì thế mà các thành phần phân chia của vector không cùng thay đổi) và ut cũng vậy Sau đó,phương trình (1a) có thể được ước lượng bằng cách dùng phương pháp bình phương bé nhất Các ước lượng sẽ đượcphân phối chuẩn, gần như là bé nhất, và sẽ được cân bằng đến các ước lượng hợp lí cực đại của hệ thống các tham số

Trang 11

Kết quả này quan trọng vì nó cho phép có một sự suy luận thống kê, bằng việc sử dụng các bảng thống kê chuẩn đượcdùng với các biến hợp nhất.

Nếu ma trận hiệp phương sai của ut là ma trận đường chéo nhưng các số dư bị tự tương quan (nhưng cũng là matrận đường chéo), thì sự hồi qui có thể được tăng lên trong giới hạn điều chỉnh sai số bị trễ, ngược lại với tác động của

sự tự tương quan của u1t Giải pháp này có tác dụng bới vì các biến hồi qui độc lập- xt - là siêu ngoại sinh Chúng độc lậpvới giá trị trong quá khứ và tương lai của u1t Và chúng vuông góc với {u1t} t = −∞

Nếu u1t và u2t tương quan với nhau, người ta có thể làm dịu bớt các vấn đề mà chúng gây nên bằng sự gia tăng hệ

số hồi quy với độ sớm và trễ pha (lead and lag) của Δxt Số khác có thể suy nghĩ về điều này giống như việc dự báo để

u1t chống lại sự sớm và trễ pha của u2t, và sau đó ứng dụng định lí Frisch- Waugh Lovell Sai số từ việc dự báo này thìkhông tương quan với u2t, và vấn đề nội sinh hay không đồng nhất, vì thế mà được xử lí Việc đề cập đến sự sớm pha đãgiới hạn các phản hồi từ u1t về lại u2t và điều này quan trọng trong điều kiện hợp lí Vấn đề cơ bản là, với một tiên liệutrước chúng ta không biết rằng u1t là tương quan với sự sớm pha của u2t hay là ngược lại

Kể cả các khác biệt về sự trễ pha hai phía có giới hạn được vấn đề nội sinh, thì khi đó, vấn đề tự tương quan cóthể cần được khắc phục bằng việc việc bao gồm thêm cả độ trễ pha trong giới hạn điều chỉnh sai số, Phillips và Loretansau đó có ước lượng phương trình tiếp theo bằng cách dùng phương pháp bình phương bé nhất:

(1c)

Trang 12

Phillips và Loretan chứng minh rằng các ước lượng tham số từ việc ước lượng phương trình bậc nhất này sẽ cânbằng với ước lượng hợp lí cực đại của hệ thống và do đó có hiệu quả Hơn thế nữa, các tham số gần như có phân phốichuẩn và không chệch Ngược lại, ước lượng OLS (bình phương bé nhất) của (1) trong khi có sự tương thích mạnh, lạigần như không chệch hay được phân phối bình thường; và độ chệch mẫu hữu hạn của nó có thể lớn và không đổi Mộtthuận lợi nữa của việc xem xét điểm đặc biệt của (1c) là nó giải thích rõ ràng cho vai trò của tính bất ngờ trong chínhsách ở quá khứ và sự thiết lập chính sách mong đợi trong tương lai, trong mối quan hệ giữa lãi suất bán lẻ và các công

cụ chính sách

Phương trình (1) là một mô hình dài hạn Vì sự thay đổi trong lãi suất của chính sách tiền tệ, các ngân hàng sẽkhông điều chỉnh lãi suất bán lẻ ngay lập tức Lãi suất ngắn hạn được kì vọng sẽ được điều chỉnh nhanh hơn lãi suấttrung và dài hạn, vì nó phụ thuộc vào lãi suất ngắn hạn trong tương lai cũng như lãi suất ngắn hạn hiện tại

Để kiểm tra các động lực trong ngắn hạn của sự thay đổi trong lãi suất mà đáp ứng lại với sự thay đổi của lãi suấtchính sách hay lãi suất thị trường tiền tệ, tác giả sử dụng phương pháp hiệu chỉnh sai số cấu trúc (structural error-correction) Phương pháp này là các mô hình rõ ràng cùng với những thay đổi trong biến chính sách Sự thể hiện của môhình hiệu chỉnh sai số (ECM) tương ứng với mô hình ADL(p.q) thông dụng, được thể hiện như sau:

(2)

Trong đó: Δ thể hiện tiến trình lấy sai phân bậc một;

Ngày đăng: 21/06/2015, 23:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Truyền dẫn trong dài hạn (ước tính OLS và Phillips – Loretan) - Tính minh bạch trong chính sách tiền tệ và sự dẫn truyền của lãi suất bán lẻ
Bảng 1 Truyền dẫn trong dài hạn (ước tính OLS và Phillips – Loretan) (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w