Giới thiệu đề tài Từ năm 1980- 2001 số lượng phát hành đầu tiên ra công chúng của các công ty ở Mỹ thay đổi qua các năm Vào cuối ngày giao dịch đầu tiên, những cổ phiếu của họ sẽ được gi
Trang 1Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Viện Đào Tạo Sau Đại Học Nhóm 7 – Lớp Cao Học Tài Chính 5 – Khóa 23
THUYẾT TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
GVHD: TS Lê Đạt Chí
A REVIEW OF IPO ACTIVITY, PRICING AND ALLOCATIONS
Trang 3Giới thiệu đề tài
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG (IPO),
ĐỊNH GIÁ VÀ PHÂN BỔ
Trang 4Giới thiệu đề tài
Từ năm 1980- 2001 số lượng phát hành đầu tiên ra công chúng của các công ty ở Mỹ thay đổi qua các năm
Vào cuối ngày giao dịch đầu tiên, những cổ phiếu của họ sẽ được giao dịch cao hơn trung bình 18.8% so với giá chào bán
Với nhà đầu tư mua những cổ phiếu tại mức giá đóng cửa của ngày đầu tiên và nắm giữ trong ba năm, tỷ suất sinh lợi của IPOs là 22.6%
Trong vòng ba năm, trung bình IPO sẽ thấp hơn chỉ số giá trị thị trường gia quyền 23.4%
Trang 5Giới thiệu đề tài
Trong những năm 1980 đã chứng kiến hoạt động phát hành IPO nhỏ
Trong những năm 1990, khối lượng phát hành tăng khoảng gấp đôi lên đến 20 tỷ $ mỗi năm Sau đó lại tăng gấp đôi từ 1995-1998 (35 tỷ $ mỗi năm), và sau đó lại tăng gấp đôi từ 1999-2000 (65 tỷ $ mỗi năm), trước khi giảm 34 tỷ $ năm
2001
Tỷ suất sinh lợi ngày giao dịch đầu tiên trung bình cũng gia tăng tương tự, tăng từ 7.4% trong những năm 1980 lên 11.2% trong những năm đầu 1990, lên 14% trong năm
2001
Kết quả trong dài hạn của các đợt IPO cũng thay đổi theo thời gian
Trang 6Giới thiệu đề tài
Bài viết của chúng tôi tìm cách xem xét đến những cách giải thích khác nhau đối với việc phát hành chứng khoán, định dưới giá và kém hiệu quả trong dài hạn
Hiệu quả trong dài hạn của các đợt IPOs không những trở thành tranh cãi lớn, nhạy cảm trong chọn lựa phương pháp trong kinh tế lượng mà còn trong chọn mẫu thời gian
Lý thuyết về thông tin bất cân xứng thì không phải là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động và định giá thấp của các đợt IPO, đặc biệt là thời kì thái quá bong bóng internet
Vấn đề về phát hành cổ phiếu và sở hữu tiếp theo cũng được quan tâm
Trang 7Giới thiệu đề tài
Trang 8Tiền còn lại trên bảng: được tính toán bằng cách lấy số lượng cổ phiếu đã phát hành nhân cho chênh lệch giữa giá chào bán với giá đóng cửa ngày đầu tiên
Phần trăm tỷ suất lợi nhuận mua và nắm giữ cổ phiếu trung bình 3 năm EW ( vốn cộng thêm cổ tức) thì được tính toán
từ giá thị trường đóng cửa ngày đầu tiên đến giá (aniversary price) sớm hơn 3 năm- giá hủy bỏ niêm yết
Tỷ suất sinh lợi của thị trường được điều chỉnh bằng tỷ suất sinh lợi mua và nắm giữ IPOs trừ đi tỷ suất sinh lợi hàng ngày compounded trên chỉ số CRSP có trọng số của các sàn giao dịch Amex, Nasdaq, NYSE
Trang 9Nội dung trình bày
2 ĐỊNH GIÁ VÀ PHÂN BỔ IPO
1 HOẠT ĐỘNG IPO
3 HIỆU QUẢ TRONG DÀI HẠN
4 KẾT LUẬN
Trang 10Nội dung trình bày
2 ĐỊNH GIÁ VÀ PHÂN BỔ IPO
1 HOẠT ĐỘNG IPO
3 HIỆU QUẢ TRONG DÀI HẠN
4 KẾT LUẬN
Trang 11Hoạt động IPO
Tại sao các doanh nghiệp phải “go public”?
Để tăng vốn cổ phần cho công ty và tạo ra thị trường công khai nơi mà những nhà sáng lập và các cổ đông khác có thể chuyển đổi một vài tài sản có giá trị của họ thành tiền mặt tại một ngày trong tương lai
Nhưng tại sao IPOs là cách tốt nhất cho các doanh nghiệp tăng vốn? và trong một vài trường hợp và một vài thời điểm thì động cơ để phát hành các đợt IPO thì mạnh hơn là những trường hợp khác?
Trang 12Hoạt động IPO
A Các lý thuyết vòng đời
Hơn nữa, các nhà đầu tư nhận ra rằng acquiror có thể gây
áp lực lên mục tiêu nhượng bộ giá cả hơn là gây áp lực cho các nhà đầu tư bên ngoài Trước khi đưa ra công chúng, các doanh nghiệp help facilitate the acquisition của công ty của họ để tăng giá trị hơn cái mà họ có được từ outright sale
Trang 13Hoạt động IPO
A Các lý thuyết vòng đời
Chemmanur and Fulghieri (1999) phát triển the more conventional wisdom rằng các đợt IPOs được phép phân tán nhiều hơn về việc sở hữu, với những ưu điểm và nhược điểm Những nhà đầu tư Pre-IPO “angle” hoặc những nhà đầu tư liên doanh nắm giữ những danh mục đầu tư không đa dạng hóa, và vì thế không trả một giá cao hơn như những nhà đầu tư thị trường công khai đa dạng hóa
Trang 14Hoạt động IPO
A Các lý thuyết vòng đời
Có những chi phí cố định liên quan đến đưa ra công chúng, tuy nhiên, thông tin độc quyền và không thể tiết lộ costlessly- sau tất cả , các nhà đầu tư nhỏ không thể take a tour của các doanh nghiệp và its secret inventions Do đó , doanh nghiệp trong đầu vòng đời có thể là sở hữu tư nhân, nhưng nếu như nó phát triển đủ lớn, nó trở nên tối ưu để đưa ra công chúng
Trang 15Hoạt động IPO
B Market-Timing Theories
Các doanh nghiệp quyết định “go public” cũng phụ thuộc vào từng thời điểm Lucas and McDonald (1990) đã phát triển mô hình thông tin bất cân xứng đề cập đến việc các doanh nghiệp trì hoãn việc phát hành cổ phần của họ nếu
họ biết họ đang bị định giá thấp Họ sẽ trì hoãn các đợt phát hành IPOs của họ cho đến khi thị trường tăng trưởng mang đến những giá tốt hơn
Trang 16Hoạt động IPO
B Market-Timing Theories
Lý thuyết semi-rational đáng tin cậy mà không có thông tin bất cân xứng cũng có thể giải thích về vòng đời trong hoạt động phát hành: các nhà khởi nghiệp của các doanh nghiệp thường rất nhạy cảm với các thông tin nội bộ của các doanh nghiệp niêm yết so với các nhà đầu tư thông thường Vì thế các nhà đầu tư thường điều chỉnh giá của
họ với độ trễ
Trang 17Hoạt động IPO
C Bằng chứng
Họ đã thấy rằng những công ty lớn và những công ty trong những ngành công nghiệp với market-to-book ratios cao thì nhiều khả năng phát hành ra công chúng hơn, và những công ty đó phát hành ra công chúng dường như có giảm chi phí tín dụng
Khi các nhà đầu tư lạc quan hơn, các doanh nghiệp phản ứng lại bằng việc phát hành cổ phiếu trong một “window of opportunity”
Trang 19Hoạt động IPO
D The changing composition of IPO issuers
Trang 20Hoạt động IPO
D The changing composition of IPO issuers
Bảng 2 cho thấy rằng phẩn trăm tăng lên của những doanh nghiệp công nghệ tăng lên khoảng 25% của thị trường IPO trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, tăng lên 37% sau năm 1995 tăng đáng kinh ngạc lên 72% trong suốt thời kì bong bóng internet, trước khi giảm xuống 29% năm
2001
Trang 21Hoạt động IPO
D The changing composition of IPO issuers
Bảng 2 cho thấy rằng có một mối quan hệ khá mạnh theo thời gian giữa phần trăm các doanh nghiệp với lợi nhuận
âm và tỷ suất sinh lợi ngày đầu tiên 2 cột cuối cho thấy tỷ suất sinh lợi trung bình ngày đầu tiên, điều kiện để xem liệu doanh nghiệp có lợi nhuận dương hay không Ngoại trừ giai đoạn bong bóng, có sự khác nhau ít giữa 2 cột trong trung bình tỷ suất sinh lợi ngày đầu tiên
Trang 22Nội dung trình bày
2 ĐỊNH GIÁ VÀ PHÂN BỔ IPO
1 HOẠT ĐỘNG IPO
3 HIỆU QUẢ TRONG DÀI HẠN
4 KẾT LUẬN
Trang 23Định giá và phân bổ IPO
Stoll và Curley (1970), Logue (1973), Reilly (1973), và Ibbotson (1975) lần đầu tiên ghi nhận một sự gia tăng có hệ thống từ giá chào bán tới mức giá đóng cửa ngày giao dịch đầu tiên
Hai thuật ngữ “tỷ suất sinh lợi ngày giao dịch đầu tiên” và
“định dưới giá” được sử dụng thay thế cho nhau
Trang 24Định giá và phân bổ IPO
Trang 25Mẫu: gồm 6249 đợt IPO từ 1980-2001
Tỷ suất sinh lợi ngày giao dịch đầu tiên trung bình là 18.8% Gần 70% đợt IPO kết thúc ngày giao dịch đầu tiên với giá đóng cửa lớn hơn giá chào bán
Từ 1980-1994, chỉ có 15 trong tổng số 3614 đợt IPO tăng giá gấp đôi vào ngày giao dịch đầu tiên
Từ 1995-1998, có 34 trong tổng số 1752 đợt IPO tăng giá gấp đôi vào ngày đầu tiên
Từ 1999-2000 (thời kỳ bong bóng internet), có 182 trong số
803 đợt IPO tăng giá gấp đôi trong ngày giao dịch đầu tiên
Trang 26Định giá và phân bổ IPO
A Giải thích lý thuyết cho sự định dưới giá trong
ngắn hạn
Các nhà đầu tư (NĐT) tham gia vào ngày giao dịch IPO đầu tiên đòi hỏi một sự bù đắp do rủi ro hệ thống và rủi ro thanh khoản như một khoản phí bảo hiểm
Trang 27Định giá và phân bổ IPO
Để giải thích cho vấn đề định dưới giá cần tập trung vào việc thiết lập giá chào bán (the offer price)
Bài nghiên cứu phân loại các lý thuyết cho sự định dưới giá theo giả định thông tin bất cân xứng và thông tin cân xứng Những lý thuyết dựa trên giả định thông tin bất cân xứng được chia làm hai trường hợp:
Các nhà phát hành IPO có nhiều thông tin hơn so với các NĐT
Các NĐT có nhiều thông tin hơn nhà phát hành
A Giải thích lý thuyết cho sự định dưới giá trong
ngắn hạn
Trang 28Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Nếu nhà phát hành có nhiều thông tin hơn so với các NĐT: Các NĐT khôn ngoan lo ngại vấn đề quả chanh (lemons problem): chỉ có nhà phát hành có chất lượng thấp hơn mức trung bình mới bán cổ phiếu của họ tại mức giá trung bình
Các nhà phát hành chất lượng tốt hơn (high-quality issuer)
cố gắng tách biệt khỏi nhóm chất lượng thấp Một số doanh nghiệp có thể tự làm thấp giá cổ phiếu của họ như một cách báo hiệu và tạo sự khác biệt cổ phiếu của họ với những doanh nghiệp giá trị thấp
Trang 29Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Nếu NĐT có nhiều thông tin hơn so với tổ chức phát hành Lúc này nhà phát hành phải đối mặt với vấn đề phân phối
Họ không xác định được cầu thị trường đối với cổ phiếu của mình và mức giá thị trường sẵn lòng trả
Với giả định đơn giản rằng tất cả các NĐT đều có thông tin như nhau
Họ chỉ mua khi giá cổ phiếu thấp hơn mức họ đánh giá
Các đợt IPO cần định dưới giá để phát hành thành công
Trang 30Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Một giả định thực tế hơn là các NĐT có thông tin khác nhau Định giá quá cao có thể khiến các NĐT và tổ chức phát hành lo ngại “lời nguyền của người chiến thắng”
Trong một chuỗi liên hoàn thông tin (informational cascade), các NĐT đánh giá sở thích của nhau Họ chỉ mua cổ phiếu khi tin rằng đợt phát hành đó là nóng
Định giá chỉ cần cao hơn một chút có thể khiến đợt phát hành thất bại (một NĐT không mua do các NĐT khác không mua)
Trang 31Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Theo Benveniste và Spindt (1989), Benveniste và Wilhelm (1990), và Spatt và Srivastava (1991) việc “bookbuilding” (đăng ký ghi sổ) cho phép các nhà bảo lãnh thu thập thông tin từ các NĐT Nhờ “bookbuilding”, giá chào bán ban đầu được thiết lập Sau đó nhà bảo lãnh phát hành và tổ chức phát hành thực hiện road show để giới thiệu công ty với các NĐT
Trang 32Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Road show giúp nhà bảo lãnh phán đoán được nhu cầu của các NĐT tiềm năng
Nếu nhu cầu cao, các nhà bảo lãnh sẽ đặt mức giá chào bán cao hơn
Nếu NĐT biết việc thể hiện sẵn lòng trả giá cao sẽ làm giá chào bán cao hơn, họ sẽ hành động khác đi => để NĐT thể hiện ra việc sẵn lòng mua cổ phiếu với giá cao, nhà bảo lãnh phát hành sẽ cung cấp cho họ mức phân bổ cổ phiếu nhiều hơn và định dưới giá cổ phiếu
Trang 33Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Baron (1982) đưa ra một cách giải thích khác cho việc định dưới giá
Lý thuyết của ông cũng dựa trên giả định nhà phát hành có
ít thông tin hơn, nhưng liên quan với nhà bảo lãnh chứ không phải NĐT
Tổ chức phát hành nên cho phép một sự định dưới giá để nhà bảo lãnh phát hành nỗ lực hơn, vì tổ chức phát hành không thể giám sát nhà bảo lãnh mà không tốn chi phí
Trang 34Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Tuy nhiên Muscarella và Vetsuypens (1989) thấy rằng khi các tổ chức bảo lãnh này tự mình phát hành cổ phiếu ra công chúng thì cổ phiếu của họ bị cũng định dưới giá mặc
dù không có vấn đề giám sát
Tổ chức bảo lãnh phát hành có thể muốn định dưới giá đợt phát hành của họ vì xem việc định dưới giá là chi phí cần thiết khi phát hành cổ phiếu ra công chúng
Trang 35Định giá và phân bổ IPO
A1 Các lý thuyết dựa trên thông tin bất cân xứng
Habib và Ljungqvist (2001) cũng cho rằng việc định dưới giá là một sự thay thế cho chi phí tiếp thị tốn kém
Tất cả các lý thuyết về việc định dưới giá dựa trên thông tin bất cân xứng đưa ra dự đoán rằng việc định dưới giá có liên quan mật thiết đến mức độ bất cân xứng của thông tin
Trang 36Định giá và phân bổ IPO
A.2 Các lý thuyết dựa trên thông tin cân xứng
Tinic (1988) và Hughes và Thakor (1992) lập luận rằng các
tổ chức phát hành định dưới giá để giảm bớt trách nhiệm pháp lý
Một lý do khác của việc định dưới giá là rủi ro tranh chấp của nhà bảo lãnh Như một bên trung gian giữa nhà phát hành và NDDT, nhà bảo lãnh có thể kiếm lợi nhuận bằng cách thiết lập một mức giá cao cho cổ phiếu mới Nếu NĐT thấy rằng thấy rằng giá này là quá cao, nhà bảo lãnh có thể
bị kiện, khả năng thắng kiện thuộc về NĐT
Trang 37Định giá và phân bổ IPO
Tìm hiểu xem các đợt IPO được phân bổ như thế nào và cách thức mà các cổ phiếu được giao dịch là một lĩnh vực thu hút nhất trong các nghiên cứu về IPO hiện nay
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra việc phân bổ IPO tập trung vào sự khác biệt giữa các NĐT tổ chức và NĐT cá nhân (hoặc bán lẻ)
B Các lý thuyết tập trung việc phân bổ cổ phiếu
Trang 38Định giá và phân bổ IPO
B Các lý thuyết tập trung việc phân bổ cổ phiếu
Sử dụng dữ liệu của Mỹ, Aggarwal, Prabhala, và Puri (2002) và Hanley và Wilhelm (1995) nhận thấy rằng các tổ chức được ưu đãi, cũng như Cornelli và Goldreich (2001)
sử dụng dữ liệu Vương quốc Anh, nhưng Lee, Taylor và Walter (1999) tìm thấy điều ngược lại sử dụng dữ liệu từ Singapore
Booth và Chua (1996), Brennan và Franks (1997), Mello và Parsons (1998), và Stoughton và Zechner (1998) đều chỉ ra rằng underpricing tạo ra nhu cầu dư thừa và do đó cho phép tổ chức phát hành và nhà bảo lãnh phát hành quyết định phân bổ cổ phiếu cho ai
Trang 39Định giá và phân bổ IPO
B Các lý thuyết tập trung việc phân bổ cổ phiếu
Trong một mẫu gồm 69 đợt IPO ở Anh, Brennan và Franks (1997) thấy rằng khi cổ phiếu được phân phối rộng rãi hơn
là chỉ phân phối cho một vài cổ đông lớn mạnh, các nhà điều hành sẽ không dễ dàng bị mất quyền quản lý Brennan
và Franks cũng thấy rằng các nhà quản lý tiếp tục nắm giữ
cổ phần nhiều hơn các NĐT khác để duy trì quyền kiểm soát công ty
Trang 40Định giá và phân bổ IPO
B Các lý thuyết tập trung việc phân bổ cổ phiếu
Trong tất cả các mô hình này, underpricing dẫn đến lượng cầu vượt mức, điều này cho phép nhà bảo lãnh phát hành phân phối cổ phiếu cho những khách hàng riêng biệt Để tăng cùng một lượng vốn, nếu cổ phiếu được chào bán bị định dưới giá, công ty phát hành phải bán thêm cổ phiếu, pha loãng quyền của cổ đông hiện hữu
Trang 41Định giá và phân bổ IPO
B Các lý thuyết tập trung việc phân bổ cổ phiếu
Trong việc phân bổ cổ phiếu, họ kiểm soát không chỉ những người được mua cổ phiếu, mà còn kiểm soát xem có bao nhiêu cổ phiếu trong tổng số được phân bổ
Hầu như tất cả các đợt IPO đều bao gồm một lựa chọn overallotment lên đến 15 phần trăm cổ phần được chào bán Trong phân bổ cổ phiếu, nếu có lượng cầu vượt mức, nhà bảo lãnh phát hành sẽ phân bổ 115 phần trăm cổ phần Sau
đó, nếu giá suy yếu trong phiên giao dịch ngoài giờ, nhà bảo lãnh phát hành có thể mua lại lên đến 15 phần trăm