1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước và sự vận dụng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

78 1,4K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước và sự vận dụng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Luật Học Nguyễn Thị Hồi
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 433 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình học tập và trau dồi kiến thức về chính trị - pháp lý ở trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 1

Lời nói đầu

Trong quá trình học tập và trau dồi kiến thức về chính trị - pháp lý ởtrường Đại học Luật Hà Nội, có một vấn đề đã làm chúng em hết sức bănkhoăn

Tại sao Điều 16 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp lại nhấn mạnh rằng : "Một xã hội trong đó không bảo đảm việc sử dụng các quyền và không thực hiện sự phân quyền thì không có Hiến pháp"(1);

hay tại sao Điều 13 của Tuyên ngôn về chủ quyền quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga lại khẳng định: "Việc phân công các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga như là một nhà nước pháp quyền"(2) ?

Việc chưa biết gì nhiều về tư tưởng phân chia quyền lực, và việc khôngthể dùng những kiến thức đã có của mình để giải thích cho mối liên hệ giữa tưtưởng này với công cuộc xây dựng một xã hội tôn trọng pháp luật, một nhànước pháp quyền đã thực sự cuốn hút chúng em để tâm tìm hiểu và nghiêncứu

Với sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của các thầy cô giảng viên bộ môn

Lý luận Nhà nước và Pháp luật, khoa Luật Hành chính - Nhà nước, trườngĐại học Luật Hà Nội, chúng em đã rút ra được những bài học rất quý báu

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - một nhiệm vụ đã được Đảng ta đề ratrong các Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, và X, thìviệc vận dụng những hạt nhân tư tưởng phân chia quyền lực nhà nướctrong tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam theo hướng dân chủ,tiến bộ, khoa học và nhân đạo là điều tất yếu Điều đó đã được thể hiện rõ

trong Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: " Nhà nước ta

là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp"

Bởi vậy, với mong muốn là góp thêm một vài dòng vào bên cạnhnhững công trình nghiên cứu đã có trước đây, để càng làm rõ hơn ý nghĩa vàgiá trị của tư tưởng phân chia quyền lực, cũng như cách thức vận dụng nhữnghạt nhân hợp lý của nó trong công cuộc xây dựng Nhà nước ta trong giai đoạn

hiện nay, chúng em đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài " Tư tưởng phân chia

Trang 2

quyền lực nhà nước và sự vận dụng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam"

Do nguồn tư liệu được tiếp cận còn hạn chế, lại phải đề cập tới nhữngvấn đề có sức bao trùm cao, có ý nghĩa sâu sắc như học thuyết phân chiaquyền lực và mô hình nhà nước pháp quyền nên bản báo cáo kết quả nghiêncứu này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót Rất mong nhận được sựchỉ bảo, đóng góp của các thầy cô để giúp chúng em hoàn thiện được kiếnthức của mình Chúng em xin chân thành cảm ơn

Nhân đây chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Tiến sĩ Luật học NguyễnThị Hồi, giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, đã hướng dẫn và giúp đỡ chúng

em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu

=

Trang 3

Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước

và sự vận dụng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền việt Nam

Mục lục

Mục lục 3

Lời nói đầu 5

Chương 1 Quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử 7

1 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong thời kỳ cổ đại 10

- Tư tưởng của Aristote 10

- Tư tưởng của Polybe và Cicéron 11

- Bộ máy nhà nước Athène 13

- Bộ máy nhà nước Roma thời kỳ cộng hoà 15

2 Học thuyết phân chia quyền lực nhà nước trong thời kỳ cách mạng Tư sản 17

- John Locke ( 1632 - 1704 ) 17

- Chales Louis Montesquieu ( 1689 - 1755 ) 25

- Jean - Jacques Rousseau ( 1712 - 1788 ) 34

3 Học thuyết phân chia quyền lực nhà nước trong giai đoạn hiện nay 42

- Phân quyền ngang 42

- Phân quyền dọc 45

Trang 4

Chương 2.

Sự vận dụng Tư tưởng phân chia

quyền lực nhà nước trong xây dựng

Nhà nước pháp quyền Việt Nam 52

1.Sự vận dụng tư tưởng phân chia quyền lực

vào việc tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng

xây dựng nhà nước pháp quyền 53

- Khái niệm Nhà nước pháp quyền 53

- Mối quan hệ giữa tư tưởng phân chia quyền lựcnhà nước với mô hình Nhà nước pháp quyền 57

2 Về cách thức tổ chức, phân công và phối hợp

hoạt động giữa các nhánh quyền lực nhà nước trong

quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta 60

2.1 Thực trạng bộ máy Nhà nước tahiện nay và những tồn tại cần khắc phục 602.2 Một số giải pháp nhằm xây dựng

Nhà nước pháp quyền Việt Nam 67Kết luận 87

Tài liệu tham khảo 89

Trang 5

Chương 1

Quá trình hình thành và phát triển

tư tưởng phân chia quyền lực

trong lịch sử

Bàn về quyền lực, Jean - Jacques Rousseau đã viết lên những dòng thật

đẹp trong Chương 3, Quyển thứ nhất của tác phẩm kinh điển Bàn về khế ước

xã hội hay là các nguyên tắc của quyền chính trị ( Du Contrat social - ou principes du droit politique ) Ông cho rằng quyền lực là sức mạnh có khả

năng buộc người khác phải nghe theo Và quyền lực nhà nước cũng vậy

Quyền lực nhà nước là sức mạnh mang tính ý chí của nhà nước, có tính bắt buộc phải tuân theo đối với mọi cá nhân, tổ chức, lực lượng trong xã hội; được đảm bảo thực hiện bởi một bộ máy chuyên nghiệp quản lý mọi mặt đời sống xã hội, bởi các công cụ sức mạnh như nhà tù, toà án, cảnh sát, quân đội , và bởi hệ thống các quy tắc xử sự chung thống nhất cho toàn xã hội Quyền lực nhà nước về bản chất là biểu hiện tập trung cho quyền lực chính trị của lực lượng chiếm ưu thế về kinh tế trong xã hội

Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp biên soạn có

nêu ra những đặc điểm cơ bản của quyền lực nhà nước như sau:

"1) Luôn luôn gắn với sự tồn tại của chính quyền nhà nước; 2) Được phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 3) Do giai cấp, hoặc liên minh các giai cấp thống trị xã hội tổ chức và thực hiện; 4) Được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước." (1)

Trong một xã hội có giai cấp, quyền lực nhà nước là sức mạnh có tínhbao trùm rộng lớn nhất, quan trọng nhất, có khả năng khống chế và bắt buộcmọi cá nhân, tổ chức, lực lượng trong xã hội phải phục tùng ý chí của mình

_

(1) Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Nxb

Tư pháp, Hà Nôi, 2006, tr.652, từ mục " quyền lực nhà nước ".

Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách thứcthực hiện thứ quyền lực này, nhưng tựu chung lại thì có hai quan điểm cơ bản,

đó là tập quyền và phân quyền.

Tập quyền là "nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thể hiện việc tập trung quyền lực vào tay một người hoặc một cơ quan"(1)

Trong chế độ quân chủ chuyên chế, mọi quyền lực nhà nước nằm hoàntoàn trong tay nhà vua, ý chí của vua là luật pháp đối với thần dân, vua quản

lý mọi công việc hành chính của nhà nước, đồng thời vua cũng là vị quan toà

Trang 6

tối cao Các chức vụ quan lại, đều do vua cắt cử hoặc bãi chức, chính là hệthống những người có nhiệm vụ thực thi các mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhàvua

Phân quyền, hiểu một cách đơn gian là trái với tập quyền, là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước sao cho không một cá nhân hay cơ quan nào nắm trọn vẹn quyền lực.

Nhà nước quân chủ nhị hợp là một dạng nhà nước phân quyền Vua nắmtoàn quyền hành pháp với quyền hạn thành lập và điều hành Chính phủ, nhưnglại không được tham gia vào công việc lập pháp, là quyền được Hiến pháp giaocho cơ quan đại diện nhân dân (có thể là cơ quan đại diện đẳng cấp hoặc Nghịviện), cũng như không nắm quyền tư pháp - thứ quyền lực đã thuộc về cơ quanToà án

Trong nhà nước quân chủ đại nghị thì vua chỉ còn là một chức danhtượng trưng, hình thức, không có thực quyền trong tất cả các lĩnh vực hoạtđộng của quyền lực nhà nước Nghị viện nắm quyền lập pháp, quyền hànhpháp nằm trong tay Chính phủ do Nghị viện bầu ra, và Toà án nắm quyền tưpháp

Những nhà nước cộng hoà tư sản thể hiện hình thức phân quyền rõ rệt

và triệt để hơn nữa Ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư phápđược giao cho các cơ quan khác nhau như Tổng thống, Nghị viện, Chính phủ

và Toà án, với cơ cấu tổ chức để các cơ quan này có thể giám sát, kiềm chếlẫn nhau, không cho phép cơ quan nào có khả năng thâu tóm toàn bộ quyềnlực

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho cơ quan đại diện cao nhất của họ,

do họ trực tiếp bầu ra qua phổ thông đầu phiếu ở Việt Nam, Điều 82 Hiến pháp

1980 và Điều 83 Hiến pháp 1992 đều

_

(1) Từ điển Luật học, Sđd, tr.694, từ mục "tập quyền ".

khẳng định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"(1) Nhưng

cơ quan đại diện của nhân dân này chỉ nắm giữ quyền lập pháp, giám sát tối caocác hoạt động của Nhà nước, và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước;

nó phải thành lập các cơ quan khác như nguyên thủ quốc gia, chính phủ, toà án

để chúng thực hiện những quyền lực khác của Nhà nước

Tập quyền là nguyên tắc tổ chức nhà nước không còn phổ biến trên thếgiới ngày nay, trong khi phân quyền đã trở thành nguyên tắc hàng đầu trong việc

xây dựng bộ máy nhà nước Trong điều 16 Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân

Trang 7

quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 có nêu : "Một xã hội mà trong đó việc tuân thủ pháp luật không được đảm bảo, hay sự chia tách các quyền không được rõ ràng, thì cũng chẳng có một hiến pháp nào hết " Điều 13 của Tuyên ngôn về chủ quyền quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga do

Đại hội đại biểu nhân dân Liên bang Nga thông qua ngày 12/12/1989 khẳng

định: "Việc phân công các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga như là một nhà nước pháp quyền"(3)

Nguyên tắc nền tảng cho cách thức xây dựng bộ máy nhà nước của đa sốcác quốc gia trên thế giới ngày nay ấy được rút ra từ một học thuyết có tên gọi

học thuyết phân chia quyền lực, hay còn được gọi là học thuyết phân quyền.

Học thuyết phân chia quyền lực lần đầu tiên được nêu ra thành hệthống lý luận hoàn chỉnh vào năm 1689 bởi John Locke, trong tác phẩm

Khảo luận thứ hai về Chính quyền hay Luận về Nguồn gốc, Phạm vi và Mục đích chân chính của Chính quyền dân sự; và được phát triển hoàn thiện bởi

Charles Louis Montesquieu

_

(1) Hiến pháp Việt Nam ( Năm 1946, 1959, 1980, 1992 ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm

1995, tr.102 và tr.163

(2) Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, Approved by the National Assembly of

France, 1789, translate by Marquis de Lafayette and Thomas Jefferson

(3) TS Trần Hậu Thành: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2005,

tr.225 - 226

với tác phẩm De L'esprit des Lois (Bàn về tinh thần Pháp luật),xuất bản

năm 1748 ở Paris Nhà nước đầu tiên trên thế giới mà trong hiến pháp côngnhận thực hiện nguyên tắc phân chia quyền lực giữa các cơ quan nhà nước làHợp chủng quốc Hoa Kỳ với bản Hiến pháp năm 1787

Nhưng đó không phải là lần đầu tiên con người tìm đến nguyên tắc nàynhư một cách thức hữu hiệu để xây dựng bộ máy nhà nước, chống lại sự lạmquyền của những người cai trị Mầm mống của tư tưởng phân quyền đã xuấthiện ngay từ những xã hội sơ khai đầu tiên của nhân loại

1 Tư tưởng phân chia quyền lực trong thời kỳ cổ đại.

Aristote ( 384 - 322 TCN ) - bộ óc bách khoa nhất của thế giới cổ đại, làngười đầu tiên đề cập tới việc phân chia quyền lực trong các nhà nước Trong

tác phẩm Politics ( Chính trị ) được viết từ cơ sở nghiên cứu tổ chức bộ máy

nhà nước của 158 quốc gia, ông cho rằng để đảm bảo sự công bằng trong dânchúng, để có được những đạo luật công bằng thì nhà nước phải được tổ chức

Trang 8

có quy củ, để có sự quy củ này thì mọi nhà nước đều phải có "ba bộ phận: bộ phận tư vấn pháp lý về hoạt động của nhà nước, bộ phận thứ hai là các toà thị chính, bộ phận thứ ba là các cơ quan tư pháp" và "chính sự khác nhau của chế độ nhà nước bắt nguồn từ sự khác nhau của mỗi bộ phận này"(1)

Không dừng lại ở đó, ông còn trình bày về cách thức hình thành, chứcnăng, quyền hạn và cơ cấu của từng bộ phận cụ thể

Về bộ phận thứ nhất, hay còn được gọi là Hội nghị nhân dân, được ông

chỉ các chức năng là: "quyết định về vấn đề chiến tranh và hoà bình, lập ra hoặc phá vỡ những liên mình, ban hành các đạo luật, những án tử hình, đi đày hoặc tịch thu tài sản và yêu cầu các pháp quan giải thích về cách xử sự của họ trong thời gian giữ chức vụ"(2) Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì Hộinghị nhân dân này nắm quyền lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọngnhất của quốc gia Số lượng, cách thức lựa chọn các thành viên và quyền hạn củaHội nghị công dân có liên quan tới hình thức nhà nước: ở chế độ

Về các toà thị chính, mà cụ thể là về các pháp quan, Aristote cho rằng cần

có nhiều pháp quan để chăm lo cho từng việc cụ thể trong nhà nước: quản lý thịtrường, quản lý đường xá, nhà cửa, quản lý đất đai Nhưng cần có một phápquan cao nhất, có quyền chỉ huy toàn bộ nhân dân với tư cách như là người đứngđầu nhà nước Theo ông, trong chế độ dân chủ, các pháp quan được chọn ra từtrong toàn thể nhân dân; trong chế độ đầu sỏ chính trị thì được chọn ra từ mộtđẳng cấp đặc biệt; còn trong chế độ quý tộc thì một số pháp quan được chọn ra từnhân dân, và một số khác được chọn ra từ những đẳng cấp trên trong xã hội

Về cơ quan tư pháp toà án, Aristote chia ra rất nhiều loại khác nhau, tuỳtheo tính chất và đặc điểm các vụ việc mà toà án đó chuyên giải quyết Về cáchthức lựa chọn các thẩm phán, ông cũng chỉ ra nhiều dạng tuỳ theo hình thức nhànước: việc mọi công dân đều có thể trở thành thẩm phán là đặc điểm của nhànước dân chủ; nếu chỉ có một số công dân thuộc những đẳng cấp nhất định mới

có thể trở thành thẩm phán thì đó là chế độ đầu sỏ chính trị; còn tuỳ theo từng vụviệc cụ thể mà chọn thẩm phán trong nhân dân hay trong những người đặc biệt làbiểu hiện của chế độ quý tộc

Trang 9

Dù là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đề cập tới vấn đề phân chiaquyền lực, nhưng tư tưởng này của Aristote vẫn chưa chứa đựng quan điểm phânchia quyền lực theo tinh thần của thuyết phân chia quyền lực hiện đại, và ôngmới chỉ dừng lại ở mô tả bộ máy nhà nước mà chưa đi sâu, chỉ ra mối liên hệgiữa các cơ quan nhà nước, cũng như chưa chỉ được ra nguyên nhân phải chiaquyền lực nhà nước thành các nhánh quyền lực như vậy.

Polybe và Cicéron là những người đã thể hiện tư tưởng phân chia quyềnlực qua quan điểm về sự cai trị hỗn hợp

Polybe ( khoảng 200 -120 TCN ) cho rằng một nhà nước lý tưởng là nhànước hỗn hợp của ba chính quyền - ba thế lực chính trị: chính quyền quốcvương, chính quyền quý tộc và chính quyền nhân dân, mà theo quan điểm ngàynay đó chính là ba thứ quyền lực: quyền hành pháp trong tay vua, quyền lập pháptrong tay viện nguyên lão của giới quý tộc và quyền tư pháp thuộc về sự phán xétcủa dư luận nhân dân Polybe chỉ ra nhà nước tổng thể thực hiện quyền lực bằngcách nào, và các chính quyền khác nhau trong nhà nước ấy bằng cách thức nào

có thể cản trở, kiềm chế nhau, hoặc ngược lại, bảo vệ và ủng hộ nhau Khi mộtthế lực muốn vượt quyền hạn của mình và gây phương hại tới lợi ích của các thếlực khác thì sẽ đụng độ sự phản đối thích đáng từ các thế lực này, và kết quả là sẽđạt đến một trật tự đúng đắn, đảm bảo cho sự ổn định và vững mạnh của nhànước tổng thể

Cicéron ( 106 - 43 TCN ) - nhà lập pháp nổi tiếng của Roma thời kỳ Cộng

hoà Trong tác phẩm Đối thoại, ông viết: " một phần quyền lực của nhà nước phải được phân chia và trao cho uy thế của những người chiếm hàng đầu, còn một số công việc phải dành cho nhân dân xét đoán và giải quyết "(1) Cicéron đãnghiên cứu nhiều hình thức của nhà nước hỗn hợp, và cuối cùng ủng hộ cho hình

thức nhà nước có sự cân bằng giữa các phần quyền lực: "phân chia quyền lực: nghĩa vụ và quyền hạn công bằng"(2)

Như vậy, ngay từ thời cổ đại, tư tưởng phân chia quyền lực đã hình thànhvới nhiều quan điểm, trường phái khác nhau, và trở thành nền tảng cho sự pháttriển của tư tưởng trong thời kỳ cách mạng tư sản và giai đoạn hiện nay

Khi nói đến tư tưởng phân chia quyền lực thì không thể không nhắc đếnbiểu hiện cụ thể của nó trong các bộ máy nhà nước, mà tiêu biểu nhất trong thời

kỳ cổ đại chính là nhà nước Athène ở Hy Lạp và nhà nước Roma cộng hòa Từ

cơ sở nghiên cứu sự tổ chức của các nhà nước này mà các học giả cổ đại đã đưa

ra những quan điểm, tư tưởng như đã nêu trên Ta hãy thử nhìn qua bộ máy nhà

Trang 10

nước cũng như cơ cấu phân chia quyền lực ở các thành bang này để có thể hiểu

rõ hơn tư tưởng phân quyền trong thời kỳ cổ đại

_

(1) TS Trần Hậu Thành: Sđd, tr.37

(2) TS Trần Hậu Thành: Sđd, tr.38

Bộ máy nhà nước Athène:

Athène là thành bang nằm ở vùng đồng bằng Attic, miền trung Hy Lạp Nhà nước Athène có chính thể Cộng hoà dân chủ chủ nô, là kết quả củanhững cuộc cải cách chính trị, đã biến liên minh các bộ lạc của thời mạt kỳ xãhội thị tộc thành đỉnh cao của nền chuyên chính dân chủ thời kỳ cổ đại

Theo truyền thuyết, Thésée là người đặt nền móng cho sự ra đời củanhà nước Athène Ông chia lãnh thổ miền đồng bằng Attic thành 48 địa khu,

và chia dân tự do Athène thành 3 tầng lớp: quý tộc, nông dân và thợ thủ công.Dấu vết của các bộ lạc cũ trong liên minh đã bị xoá nhoà Đại hội nhân dâncủa các bộ lạc cũ vẫn còn tồn tại, nhưng quyền lực thực tế đã được chuyểnsang một tổ chức khác - Viện nguyên lão - gồm những đại biểu của tầng lớpquý tộc giàu có Viện nguyên lão có toàn quyền trong các lĩnh vực lập pháp,

tư pháp, giám sát và quyết định mọi vấn đề hệ trọng của đất nước Chức vụthủ lĩnh quân sự của các bộ lạc ( basileus ) được thay thế bằng chức vụ quanchấp chính, được cử ra từ tầng lớp quý tộc Athène trở thành một thành bangtheo chế độ cộng hoà quý tộc chủ nô

Trước đà phát triển của nền kinh tế công thương, năm 594 TCN, Solon

- đang là chấp chính quan của Athène, đã tiến hành một cuộc cải cách mangtính dân chủ tiến bộ Quan trọng nhất trong những cải cách về tổ chức bộ máynhà nước của ông là thành lập toà án nhân dân có nhiều bồi thẩm, cùng thảoluận xét xử để tránh sự tuỳ tiện và tăng cường tính dân chủ

Tiếp theo Solon là Clisthenes, và cuối cùng là hai thầy trò Ephialtes Pericles đã tiến hành những cuộc cải cách chính trị sâu rộng, từng bước dânchủ hoá bộ máy nhà nước Athène, cũng như hạn chế quyền lực của Việnnguyên lão, đưa Viện nguyên lão từ cơ quan nắm giữ mọi quyền lực nhà nướcthành tổ chức chỉ có quyền trong các hoạt động tôn giáo

-Cải cách của Pericles đã xây dựng bộ máy nhà nước Athène một cáchhoàn thiện nhất, bao gồm các cơ quan chủ yếu: Hội nghị công dân, Hội đồng

500 người, Toà án nhân dân và Hội đồng 10 tướng lĩnh

Hội nghị công dân ( người Hy Lạp gọi là Eccơlêdia ) là cơ quan quyềnlực cao nhất của thành bang, có quyền thảo luận và biểu quyết các vấn đề hệtrọng của đất nước, thông qua hay phủ quyết các dự luật, chọn cử những viên

Trang 11

chức nhà nước Eccơlêdia là đại hội của tất cả các công dân nam Athène tuổi

từ 18 trở lên, họp hàng tháng, và ít nhất là 10 lần trong một năm Trong hộinghị, mọi công dân đều có quyền đưa ra một dự án luật hoặc đề nghị bãi bỏmột điều luật hiện hành

Hội nghị công dân bầu ra Hội đồng 500 người ( gọi là Bulê ) - là cơquan hành pháp của nhà nước Bulê có nhiệm vụ thay mặt nhân dân thực hiệncác công việc hành chính của nhà nước trong suốt một năm Ngoài ra Bulêcòn có nhiệm vụ kiểm tra tư cách công dân cũng như tư cách của các viênchức trong bộ máy nhà nước Hội đồng được chia thành 10 uỷ ban - Pơritani.Mỗi Pơritani có chức năng thường trực thay mặt Bulê giải quyết các công việchành chính hàng ngày trong nhiệm kỳ 1/10 năm ( khoảng từ 36 đến 39 ngày )

Toà án nhân dân là cơ quan tư pháp của nhà nước có cơ cấu gồm 6000thành viên, do Hội nghị công dân bầu ra, vừa làm thẩm phán, vừa làm bồithẩm trong nhiệm kỳ một năm Khi cần xét xử một vụ án cụ thể thì tiến hànhbốc thăm trong số 6000 người này để chọn ra một số thẩm phán

Hội đồng 10 tướng lĩnh có thành viên là các quý tộc giàu có, ban đầuchỉ nắm quyền chỉ huy quân sự, nhưng sau dần trở thành cơ quan hành chínhcao nhất của nhà nước Hội đồng được Hội nghị công dân bầu ra theo hìnhthức biểu quyết chứ không phải là bỏ phiếu kín như việc bầu cử các cơ quannhà nước khác, và hoạt động của Hội đồng 10 tướng lĩnh phải chịu sự giámsát của Hội đồng 500 người

Trong mỗi kỳ họp của Hội nghị công dân, đều có thủ tục biểu quyếtchấp thuận hay khiển trách các viên chức nhà nước Nếu bị khiển trách, viênchức ấy sẽ bị bãi miễn chức vụ Ngoài ra, tại phiên họp cuối cùng hàng năm,các viên chức phải tường trình trước một uỷ ban đặc biệt của Hội nghị côngdân về số tiền công quỹ do mình thu giữ và chi tiêu Đây chính là hình thứcđầu tiên của hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực tối cao -chính là nhân dân, đối với hoạt động của các viên chức trong bộ máy nhànước, với các cơ quan nhà nước khác

Bộ máy nhà nước Roma thời kỳ Cộng hoà:

Theo truyền thuyết, thành Roma được vua Romulux xây dựng vào năm

753 TCN trên bờ sông Tibes, miền Trung bán đảo Italia

Lịch sử Roma có thể chia làm ba thời kỳ: thời kỳ Vương chính ( thế kỷ

7 TCN đến thế thế kỷ 4 TCN ), thời kỳ Cộng hoà (từ thế kỷ 4 TCN đến thế kỷ

1 ), và thời kỳ Đế chế ( từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 5 ) Nhưng ở đây ta chỉ xem xét

bộ máy nhà nước dưới thời Cộng hoà

Trang 12

Dưới thời kỳ Cộng hoà, bộ máy nhà nước Roma bao gồm các bộ phậnchủ yếu sau: Đại hội nhân dân Centuries, Đại hội bình dân Plebs, Viện nguyênlão, hai quan chấp chính, và hội đồng các quan bảo dân Bộ máy này thể hiệnkhá rõ tư tưởng phân chia quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.

Đại hội nhân dân Centuries, Đại hội bình dân Plebs và Viện nguyên lão

là các cơ quan nắm quyền lập pháp của nhà nước

Đại hội nhân dân Centuries họp mỗi năm hai lần tại quảng trường ThầnChiến tranh Mars, để quyết định những vấn đề cơ bản của nhà nước như:chiến tranh, hoà bình, và bầu chọn các quan chức nhà nước Hai chấp chínhquan ( consul ) cũng do Đại hội bầu ra với nhiệm kỳ 1 năm

Đại hội bình dân Plebs ra đời muộn hơn các cơ quan khác của nhà nướcRoma, là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các cư dân mới tới ( Plebs ) đòi hỏiphải có tiếng nói của mình bên cạnh Đại hội nhân dân Centuries của cư dânRoma bản địa Do người Plebs chiếm tỉ lệ cao trong số cư dân Roma nên họ tựcoi đại hội của mình là đại hội của toàn thể cư dân Roma, những quyết nghịcủa đại hội này có hiệu lực như pháp luật với toàn thể công dân Roma, nhưngĐại hội bình dân Plebs chỉ quyết định các vấn đề liên quan tới các bộ lạc hayliên quan tới các đơn vị hành chính lãnh thổ

Viện nguyên lão ( Senate ) bao gồm 300 thành viên, là các quý tộc giàu

có, hoạt động theo nguyên tắc: Đại hội Centuries là cơ quan quyền lực tối cao,nhưng mọi quyết định đều phải thông qua sự phê chuẩn của Viện nguyên lão;các quan chức của bộ máy nhà nước cũng chỉ được bầu chọn từ những nghịviên của Viện, bởi vậy, thực tế Viện nguyên lão chính là cơ quan đại diệnthường trực của Đại hội nhân dân Centuries để quyết định những vấn đềthường xuyên của nhà nước như: hành chính, ngân sách, ngoại giao, lễ nghitôn giáo

Hai chấp chính quan do Đại hội Centuries bầu ra nắm trong tay quyềnhành pháp, ngoài ra, còn có một số quyền lập pháp nhất định Trong nhiệm kỳ

1 năm, nếu xảy ra trường hợp Tổ quốc lâm nguy thì một trong hai chấp chínhquan sẽ được chọn cử làm Dictato - hay Độc tài, trong thời hạn 6 tháng Trongthời gian này, Dictato nắm giữ quyền hành tối cao về mọi vấn đề

Hội đồng các quan bảo dân lúc đầu chỉ gồm 2 người, rồi là 4, 6 và 10người, để bảo vệ, bênh vực người dân trước những quyết định đi ngược lại lợiích nhân dân của Viện nguyên lão hay của các quan chấp chính, giám sát và

có ý kiến đối với những dự luật và việc làm của chính quyền Roma, ngoài racòn giải quyết các vụ án dân sự Hội đồng này tương ứng với cơ quan tư pháp

Theo thoả thuận giữa Viện nguyên lão với nhân dân, quyền lực và tưcách của các quan bảo dân ( tribun ) là thiêng liêng và bất khả xâm phạm.Nằm bên cạnh các cơ quan của nhà nước Cộng hoà, các quan bảo dân cóquyền phủ quyết đối với mọi dự luật hay đề án chính sách của Viện nguyên

Trang 13

lão nếu xét thấy có hại cho nhân dân Quan bảo dân cũng có quyền tham dự vàtheo dõi các phiên họp của của Viện nguyên lão để có thể can thiệp trực tiếphay phủ quyết tại chỗ các quyết nghị bất lợi cho người dân Tuy nhiên, quyềnlực của các quan bảo dân ở Roma không phải là vô biên Theo thoả thuận, cómột số giới hạn đối với quyền phủ quyết của quan bảo dân như: quan bảo dânkhông được can dự vào chuyện quân sự, và quyền lực của quan bảo dân chỉ cóhiệu lực trong thành Roma Trong trường hợp Tổ quốc lâm nguy, và mộttrong hai quan chấp chính đã trở thành Độc tài thì quyền hành của quan bảodân tạm thời bị đình chỉ.

Như trên, ta đã thấy tổ chức nhà nước ở Athène và Roma thời kỳ Cộnghoà là một hình thức phân quyền khá triệt để, các cơ quan lập pháp, hànhpháp, tư pháp tách biệt nhau trong cơ cấu tổ chức và hoạt động; giữa các cơquan này đã có sự kiểm tra, giám sát, kiềm chế và đối trọng nhau một cáchhợp lý Bởi vậy, nhà nước Athène và nhà nước Cộng hoà Roma là biểu hiệncao nhất của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong thời kỳ cổ đại

2 Học thuyết phân chia quyền lực trong thời kỳ cách mạng Tư sản

Trong gần 1500 năm của "đêm trường Trung cổ", tất cả các nhà nước ởChâu Âu đều theo chính thể quân chủ chuyên chế, và không hề có sự tiếp nối

tư tưởng phân chia quyền lực từ thời kỳ cổ đại Nhưng sự chuyên quyền củacác vua, và sự khủng hoảng của nhà nước phong kiến, cũng như sự xuất hiện

và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm thay đổi tấtcả

Bối cảnh chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản đã tạo ranhiều quan điểm mới về nhà nước, cũng như về vai trò của nó trong đời sống

xã hội Vị trí trung tâm của các quan điểm này là vấn đề tổ chức và hoạt độngcủa nhà nước: làm sao để loại trừ sự độc đoán quyền lực trong tay một ngườihay một nhóm người, làm sao để bảo vệ được quyền tự do, bình đẳng của mọi

cá nhân trong xã hội bằng pháp luật ? Và các học giả trong thời kỳ này đã

tìm được câu trả lời qua một tư tưởng cổ xưa: phân chia quyền lực nhà nước.

John Locke ( 1632 - 1704 ):

Phần hai của Hai khảo luận về chính quyền ( Two Treatises of Gorvernment ), Khảo luận thứ hai về chính quyền hay Luận về Nguồn gốc, Phạm vi và Mục đích chân chính của chính quyền dân sự - một trong những

Trang 14

tác phẩm vĩ đại nhất của nền triết học chính trị và chính trị học nhân loại,chính là nơi Locke trực tiếp đưa ra học thuyết của mình về nhà nước - một họcthuyết đan xen các tư tưởng pháp quyền tự nhiên, khế ước xã hội và phân chiaquyền lực.

Trong những chương đầu của tác phẩm, Locke giải thích cho sự ra đờicủa nhà nước là từ một bản khế ước, khi những con người ở trạng thái tựnhiên chấp thuận kết hợp bản thân mình vào cộng đồng quốc gia, và nhườngnhững quyền tự nhiên của mình cho nhà nước, nhằm mong muốn có được sựbảo vệ tài sản và bản thân mình một cách ổn định Từ đó, ông nêu cao yêu cầunhà nước và pháp luật thực định phải tôn trọng những quyền tự nhiên của conngười, như là sự thực hiện đúng những cam kết trong khế ước

Về quyền lực nhà nước, Locke cho rằng đó là "quyền làm luật có án phạt

tử hình, và do đó, bao hàm tất cả những hình phạt thấp hơn, để quy định và bảo toàn sở hữu, quy định và bảo toàn việc sử dụng vũ lực của cộng đồng khi thực thi các luật này, trong việc phòng vệ của cộng đồng quốc gia trước những phương hại gây ra từ nước ngoài; và tất cả những việc như thế chỉ duy nhất là

vì lợi ích công"(1)

Từ quan điểm trên, có thể thấy Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với

quyền lập pháp Ông nhấn mạnh: "chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp, mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là, những cái phụ thuộc vào nó"(2) Hơn thế, theo ông, "tuỳ việc quyền lực lập pháp được đặt ở cương vị nào mà hình thức của cộng đồng quốc gia là như thế đó"(3) Nếu nhưquyền lực lập pháp nằm trong tay đa số cộng đồng, và việc thi hành các đạoluật này là bởi các quan chức do chính họ bổ nhiệm thì đó là một nền dân chủhoàn hảo Nếu như quyền lực này nằm trong tay một số ít người được lựa chọn

và những người thừa kế của họ thì đó là chính thể đầu sỏ Còn nếu như quyềnlực này được giao trọn cho một người, thì đó là một nền quân chủ Khi quyềnlực được dành cho ông ta và những người thừa kế của ông ta, đó là nền quânchủ cha truyền con nối Còn khi nó được dành cho ông ta trọn đời nhưng vàolúc ông ta chết đi, quyền đề cử một người kế vị trở về với số đông nhân dân, thì

đó là nền quân chủ tuyển cử Và từ những chính thể này mà cộng đồng quốc gia

có thể tạo sự kết hợp hoặc hỗn hợp giữa các hình thức chính quyền, theo nhưcách họ cho là tốt nhất

Bởi vậy, Locke cho rằng "Luật xác thực đầu tiên và làm nền tảng của mọi cộng đồng quốc gia, là việc thiết lập cơ quan quyền lực lập pháp"(4) Cơ quanlập pháp không những là quyền lực tối cao của cộng đồng quốc gia, mà còn làquyền lực thiêng liêng và không thể hoán đổi một khi cộng đồng đã nhất trí đặt

nó vào cương vị đó Cơ quan lập pháp là cơ quan duy nhất có quyền ban hànhpháp luật, bởi nếu không có sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp - cơ quan đạidiện cho cộng đồng toàn xã hội, thì dù đó là sắc lệnh của bất cứ ai, được bất cứ

Trang 15

quyền lực nào hậu thuẫn đi chăng nữa thì cũng không thể có được điều tuyệtđối cần thiết đối với pháp luật - đó chính là sự chấp thuận của xã hội Đồngthời, không một thành viên nào của cộng đồng có thể không tuân thủ hay đi

xa hơn những luật mà cơ quan

Bên cạnh những quyền hạn ấy, Locke cũng vạch ra những ranh giới mà

cơ quan lập pháp không được phép vượt qua

Thứ nhất, nó không thể là quyền lực độc đoán, chuyên chế đặt trên cuộcsống và vận mệnh nhân dân Con người trong trạng thái tự nhiên không thểxâm hại đến tính mạng và tài sản của người khác, nếu như đó không phải là sựtrừng phạt thích đáng với những gì người đó đã gây ra cho mình, vậy nên cơquan lập pháp - thứ quyền lực có được từ tổng số tất cả những quyền tự nhiênđược uỷ thác từ các cá nhân trong cộng đồng, cũng không thể có quyền huỷhoại sinh mạng của bất kỳ ai trong xã hội một cách vô cớ Không một luật lệ

nào được coi là tốt hay là có căn cứ nếu chống lại cái luật tự nhiên căn bản là

bảo toàn loài người Không một luật lệ nào được coi là tốt hay là có căn cứnếu không được thiết lập nhằm mục đích tối thượng là vì lợi ích của nhân dân

Thứ hai, hay thực chất là nguyên tắc để ngăn chặn sự độc đoán, chuyênchế của cơ quan lập pháp, là yêu cầu phải có những đạo luật thường trực đãban hành và những quan toà có hiểu biết được trao thẩm quyền khi đưa ranhững quyết định có liên quan tới các quyền của mỗi thành viên trong xã hội.Chỉ khi có những luật được minh định, những quy tắc thường trực để ràng

buộc thì con người mới biết đâu là quyền và đâu là sở hữu của mình; "còn nếu không như thế thì hoà bình, sự yên ổn và sở hữu của họ vẫn chỉ là trong cùng một trạng thái bất định như đã có ở trạng thái tự nhiên"(1)

Thứ ba, cơ quan lập pháp không thể ban hành những quyết định chophép lấy toàn bộ hay một phần tài sản của bất kỳ ai mà không có sự chấpthuận của anh ta, vì bảo toàn sở hữu là mục đích chân chính và hàng đầu củachính quyền, và cũng là nguyên nhân con người đồng ý từ bỏ trạng thái tựnhiên mà gia nhập vào cộng đồng quốc gia, nên vi phạm vào nguyên tắc nàynghĩa là nhà nước đã vi phạm vào khế ước đầu tiên tạo thành xã hội Nếukhông có nguyên tắc này thì cũng có nghĩa là không ai trong xã hội có sở hữu,

Trang 16

bởi có thể bị người khác hay bởi chính chính quyền tước mất Cụ thể,

Locke nhấn mạnh rằng: "nếu một người bất kỳ nào đòi hỏi một

_

(1) John Locke: Sđd, tr.189

quyền lực để đặt ra và thu thuế đối với nhân dân bằng thẩm quyền riêng của ông ta mà không có sự chấp thuận của nhân dân, thì ông ta đã xâm lấn vào luật căn bản của sở hữu và làm biến chất mục đích của chính quyền"(1)

Thứ tư, cơ quan lập pháp không thể chuyển giao quyền làm luật vào taybất kỳ ai khác, bởi theo khế ước, các cá nhân trong xã hội đã trao quyền lực

vào cơ quan lập pháp với nhiệm vụ "để làm luật mà không phải là để làm nên các nhà lập pháp, do đó, cơ quan lập pháp không có quyền gì để chuyển giao thẩm quyền làm luật của họ và đặt nó vào tay người khác"(2)

Theo Locke, luật pháp được làm nên trong thời gian ngắn nhưng có sứcmạnh bất biến và dài lâu, nên cơ quan lập pháp không phải lúc nào cũng cầnhiện diện Hơn thế, sự cám dỗ của quyền lực rất dễ khiến những nhà làm luật

có tham vọng nắm luôn quyền thi hành nó, để rồi đặt lợi ích và bản thân mìnhlên trên luật pháp, và đi trái lại mục đích của xã hội và chính quyền Do đó,ông đưa ra mô hình của cơ quan lập pháp tốt nhất là tập hợp của những ngườikhác nhau trong một thời gian nhất định để làm luật, và khi đã hoàn thànhcông việc, họ sẽ lại tách ra, trở lại là một thành viên của cộng đồng và chịu sựchi phối của những luật mà mình làm ra, như thế mới đảm bảo cho việc làmluật của họ là vì lợi ích chung của toàn cộng đồng

Trong một cộng đồng quốc gia, quyền lực lập pháp là thứ quyền lực đầutiên và quan trọng nhất, nhưng những nhà lập pháp phải luôn ghi nhớ rằngquyền lực của họ là do nhân dân uỷ thác, và sự uỷ thác đó không phải là nhândân trao tất cả các quyền của mình cho cơ quan lập pháp, mà có một thứquyền lực tối cao vẫn luôn luôn được lưu giữ lại trong cộng đồng, đó là quyền

tự bảo toàn Đó là quyền "cứu lấy chính mình trước cố gắng hay mưu đồ của bất kỳ ai, cho dù là các nhà lập pháp của họ, vào bất kỳ lúc nào - khi mà những người này trở nên quá ngu xuẩn hay quá độc ác"(3), nhằm chống lại các

quyền tự do và sở hữu của con người Khi ấy, quyền lực phải "được chuyển giao về tay những người đã trao nó ra, để họ lại đặt nó vào nơi mà

Trang 17

Trong chương XII: Về cơ quan lập pháp, hành pháp và quyền liên hiệp của cộng đồng quốc gia, Locke chỉ ra trong quyền lực tối cao của cộng đồng

xã hội, bên cạnh quyền lập pháp còn có quyền hành pháp và quyền liên hiệp

Bởi nếu như cơ quan lập pháp không cần, và cũng không nên hiện diệnthường xuyên thì việc thực hiện những đạo luật đã được làm ra lại luôn cầntồn tại một cách thường trực, đó chính là quyền hành pháp Và như đã trìnhbày ở trên, nếu quyền lập pháp và hành pháp cùng nằm trong tay một cá nhânhay một nhóm người nào đó thì có thể họ sẽ miễn cho bản thân việc chấp hànhcác đạo luật, hay khiến cho cả quá trình làm luật và thực hiện luật đều chỉ vìlợi ích của bản thân mình, nên hai quyền lực này cần được trao vào những bàntay khác nhau

Theo Locke, nếu như trong một nhà nước mà cơ quan lập pháp khôngtồn tại thường xuyên, một người nào đó nắm toàn quyền hành pháp và cũng

có quyền tham dự vào cơ quan lập pháp thì con người này, theo một nghĩa cóthể chấp nhận được, chính là quyền lực tối cao, bởi lẽ ông ta nắm toàn quyềnhành pháp, và bởi lẽ không có một cơ quan lập pháp cấp trên nào có thể thôngqua một đạo luật nếu không có sự đồng ý của ông ta Từ bản thân ông ta xuấtphát ra thứ quyền cai trị của tất cả các quan cấp dưới, và các viên quan nàycũng như toàn thể dân chúng phải tuyệt đối trung thành với ông ta, phải tuânthủ mọi ý chí của ông ta Nhưng sự trung thành và sự tuân thủ này chỉ là một

sự chấp hành luật pháp không hơn không kém Hành động của ông ta là dựatheo ý chí xã hội, là thứ đã được minh định trong pháp luật, bởi vậy, ông takhông có ý chí nào khác, quyền lực nào khác ngoài ý chí và quyền lực củaluật pháp Nếu ông ta không thực hiện, hoặc thực hiện trái lại nhiệm vụ mà cơquan lập pháp đã uỷ nhiệm cho, nghĩa là ông ta đã tự giáng chức mình, trởthành một thành viên của cộng đồng như mọi thành viên khác, và không cònbất cứ một quyền lực nào hơn những thành viên còn lại để buộc họ phải tuânthủ theo ý chí của mình, khi mà bản thân họ chỉ duy nhất phải tuân thủ theo ýchí chung của pháp luật

Những cá nhân nắm quyền hành pháp phải luôn nhớ rằng quyềnlực của mình là do cơ quan lập pháp uỷ thác, để thực hiện cũng như giám sát

sự thực hiện các đạo luật đã được ban hành Và

_

(1) John Locke: Sđd, tr.203

do quyền lực đó được cơ quan lập pháp trao cho, nên cơ quan lập pháp cũng

có quyền thu hồi nó lại khi nhận thấy sự yếu kém hay sự đi ngược lại luậtpháp của quyền hành pháp, và trao lại cho một cá nhân hay tập thể khác thíchhợp hơn nắm giữ

Còn một thứ quyền lực khác nữa của chính quyền được Locke đưa ra,

đó là quyền liên hiệp, dù bản thân ông tự nhận là không quan tâm tới việc đặt

Trang 18

tên gọi cho nó Ông cho rằng thứ quyền lực này "bao hàm quyền lực về chiến tranh và hoà bình, tạo liên minh và lập đồng minh, cũng như tất cả mọi giao kết khác, với mọi cá nhân và cộng đồng, bên ngoài cộng đồng quốc gia"(1) Giảithích cho nguồn gốc của quyền liên hiệp, Locke chỉ ra rằng trong trạng thái tựnhiên con người có những mối liên hệ với các cá nhân khác, bởi vậy, khi đãliên kết lại với nhau thành xã hội, thì cái cơ thể chính trị mới này - tức là cộngđồng quốc gia, cũng phải có những mối liên hệ với các cá nhân hoặc vớinhững cơ thể chính trị - cộng đồng quốc gia khác.

Theo Locke, quyền liên hiệp có tầm quan trọng to lớn đối với cộngđồng quốc gia, hơn thế, lại rất khó để có thể điều chỉnh hoạt động của nó theonhững luật xác thực đã được cơ quan lập pháp thông qua, do những biến đổithường xuyên trong hành động, ý đồ và quyền lợi của những người nướcngoài, nên cần phải trao nó vào tay một cá nhân cụ thể thông thái và cẩntrọng

Về quyền liên hiệp này, nhiều nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng nókhông có ý nghĩa thực tiễn trong bộ máy nhà nước Nhưng chúng em khôngnghĩ như thế, nhất là xét trong hoàn cảnh thế giới hiện nay: khi xu thế toàncầu hoá, hợp tác quốc tế đang ngày càng được tăng cường, ranh giới giữa cácquốc gia ngày càng bị xoá nhoà, và sau các cuộc chiến tranh "bất hợp pháp"của Mỹ ở Afghanistan năm 2001, ở Iraq năm 2003 thì theo chúng em, việcquan tâm tới quyền liên hiệp đang là một yêu cầu quan trọng của tổ chức bộmáy nhà nước trong thời đại ngày nay

Theo Locke, dù quyền hành pháp và quyền liên hiệp rất khác nhau, vìmột thứ là sự thực thi các đạo luật đã có ở bên trong cộng đồng quốc gia đốivới những thành viên của nó, còn một thứ là sự bảo đảm an ninh và lợi ích củacác cá nhân cũng như toàn thể cộng đồng trong mối liên quan bên ngoài vớicác cá nhân và cộng đồng khác, nhưng thực chất chúng luôn thống nhất vớinhau Ông viết: _

Trang 19

Quay lại với cơ quan lập pháp, về thời điểm nhóm họp và hoạt động của

cơ quan quyền lực tối cao này, Locke đưa ra hai phương án: thứ nhất là thờiđiểm này được ấn định rõ ràng trong hiến pháp gốc, và cơ quan hành pháp chỉphải điều hành cụ thể việc bầu chọn và hội họp của cơ quan lập pháp theođúng quy định; thứ hai là cơ quan hành pháp, bằng sự cân nhắc thận trọng củamình, tiến hành tuyển cử hay triệu tập cơ quan lập pháp, khi nhận thấy đòi hỏiphải tu chỉnh, sửa đổi những luật cũ hay ra những luật mới, hoặc khi nhậnthấy những hiểm nguy đang đe doạ nhân dân

Việc trao quyền triệu tập hay giải tán cơ quan lập pháp cho cơ quanhành pháp không phải là trao một vị thế cao hơn cho nó Đó đơn giản chỉ làniềm tin được uỷ thác cho nó, vì lợi ích cao nhất của nhân dân Có thể cần banhành ngay một điều luật mới, có thể cần sửa đổi hay bãi bỏ ngay một điều luật

cũ, có thể cần qiải quyết một vấn đề khẩn cấp của cộng đồng, cũng có khi làkhông có việc gì cần tới cơ quan lập pháp , mà thời gian hội họp của cơquan lập pháp được ghi nhận trong hiến pháp là không hợp lý ở hoàn cảnh đó,bởi vậy, một cá nhân luôn luôn hiện diện, có nhiệm vụ canh giữ cho lợi íchcông, được nắm quyền triệu tập hay giải tán cơ quan lập pháp là phương cáchtốt nhất có thể tìm được cho khiếm khuyết này

Một câu hỏi được đặt ra là phải làm sao khi cơ quan hành pháp, với vũlực của toàn thể cộng đồng trong tay, sử dụng nó để cản trở việc hội họp

và hoạt động của cơ quan lập pháp ? Locke khẳng định rằng hành động đó của

cơ quan hành pháp là trái với thẩm quyền và nhiệm vụ đã được uỷ thác cho

nó, và hơn thế, khi dùng sức mạnh để chống lại nhân dân thì đây đã là trạngthái chiến

để có luật thích ứng, nên khi ấy cơ quan hành pháp phải hành động theo ýmình, nhưng mục đích cuối cùng cần đạt được là lợi ích cao nhất của nhândân Cũng vì mục đích này, trong một số trường hợp khác, cơ quan hành pháp

Trang 20

có thể giải quyết các sự vụ khác với quy định trong pháp luật, thậm chí là đingược lại, bởi sự khắc nghiệt của luật pháp không phải lúc nào cũng đúng,Locke cho ví dụ của trường hợp này là: không cho kéo sập nhà của một người

vô can để dừng ngọn lửa lại khi căn nhà bên đang cháy; do vậy, việc làm nàytrái với quy định của pháp luật thực định nhưng lại phù hợp với pháp luật tốicao, chính là lợi ích của nhân dân, như câu nói nổi tiếng của nhà luật học

Lamã Cicéron: "Salus populi suprema lex - Hạnh phúc của nhân dân là pháp luật tối cao".

Trong những dòng cuối cùng của tác phẩm, Locke đưa ra một câu hỏi:Vậy ai sẽ là người phán xét rằng quốc vương hay cơ quan lập pháp có hànhđộng trái với sự uỷ thác đã được đặt vào họ hay không ? Locke khẳng định: đóchính là nhân dân Ông cho rằng khi có tranh cãi giữa quốc vương với một sốngười dân khi pháp luật không có quy định rõ ràng, hay khi vấn đề tranh cãi

có hậu quả lớn thì người trọng tài thích hợp nhất phải là cơ quan quyền lựccủa nhân dân, bởi ai sẽ là người phán xét rằng một người được uỷ nhiệm cóhành động tốt và theo đúng sự uỷ nhiệm hay không thích hợp hơn chính người

đã uỷ nhiệm ? Nhưng nếu quốc vương phản đối cách giải quyết của cơ quan

quyền lực nhân dân thì việc cáo kiện buộc phải "đưa đến trời cao", mà ở đây có

thể hiểu là việc sử dụng bạo lực và cách mạng để lật đổ ông vua ấy đi, để thaythế cái hình thức chính quyền cũ ấy đi, bằng những con người mới, nhữnghình thức mới mà nhân dân cho là tốt đẹp nhất

Tóm lại, qua tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền hay còn có tựa

đề phụ là Luận về Nguồn gốc, Phạm vi và Mục đích chân chính của chính quyền dân sự của Locke, ta có thể khẳng định tư tưởng phân quyền của Locke

là một bước phát triển hơn hẳn so với các học giả thời kỳ cổ đại Hy Lạp Lamã Tuy vẫn còn một số điểm hạn chế, mà chủ yếu là chưa phân tách quyền

-tư pháp ra độc lập với quyền hành pháp, nhưng -tư -tưởng phân chia quyền lựccủa Locke vẫn là nền tảng đầu tiên vững chắc cho các học giả tư sản về sautiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

Charles Louis Montesquieu ( 1689 - 1755 ):

Bàn về Tinh thần pháp luật ( De L'esprit des Lois ) - viên ngọc sáng

trong kho tàng lý luận về khoa học pháp lý cũng như triết học và nhiều mônkhoa học xã hội khác của nhân loại, là tác phẩm đồ sộ nhất và cũng là tácphẩm xuất sắc nhất của người tiên phong cho phong trào Khai sáng PhápCharles Louis Montesquieu Đây chính là nơi ông thể hiện một cách sâu sắctoàn bộ tư tưởng của mình

Trang 21

Thành tựu to lớn nhất của Bàn về Tinh thần pháp luật chính là tư tưởng phân chia quyền lực, bởi vậy khi nhắc đến Bàn về Tinh thần pháp luật là

người ta nghĩ ngay đến tư tưởng phân quyền, và bởi sự xuất sắc củaMontesquieu trong tác phẩm kinh điển này mà khi nhắc đến tư tưởng phân

quyền, người ta cũng sẽ nghĩ ngay đến Bàn về Tinh thần pháp luật Tư tưởng này của Montesquieu được tập trung thể hiện trong quyển 11, chương 6: Hiến pháp nước Anh, mà ta có thể dễ dàng nhận ra nhiều sự tiếp thu, kết nối với tư tưởng phân quyền của Locke trong Khảo luận thứ hai về chính quyền.

Ngay từ dòng đầu tiên của chương này, Montesquieu đã khẳng định:

"Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.

Với quyền lực thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và huỷ bỏ hay sửa đổi các luật này.

Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định việc hoà hay chiến, gửi đại

sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược.

Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân

xử tranh chấp giữa các cá nhân Người ta sẽ gọi đây là quyền tư pháp, vì trên kia là quyền hành pháp quốc gia"(1)

Ta có thể nhận ra ngay sự tiến bộ hơn hẳn trong tư tưởng phân quyềncủa Montesquieu so với tư tưởng của Locke, khi đã tách quyền lực xét xử -quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyền lực khác

Theo Montesquieu, một nhà nước tự do hoàn hảo là một nhà nước mà

ba thứ quyền lực này được phân chia và được đặt vào tay những cá nhân, tổ

chức khác nhau: "Tự do chính trị chỉ có được khi không có sự lạm dụng quyền lực Nhưng kinh nghiệm muôn đời chỉ ra cho chúng ta rằng bất kỳ ai khi được trao quyền lực là sẽ có khuynh hướng lạm dụng quyền lực ấy, và sẽ tăng quyền lực của anh ta lên đến hết mức Để ngăn chặm sự lạm dụng này, điều cần thiết rất tự nhiên là quyền lực phải được ngăn cản ( kiềm chế ) bởi quyền lực"(2)

Về nguyên nhân của sự phân quyền, ông viết:

"Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta

sợ rằng chính ông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan toà sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.

Trang 22

Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết"(3).

Nguyên nhân này, so với nguyên nhân do Locke đưa ra về cơ bản làgiống nhau, bởi đều xuất phát từ luận đề: người nắm quyền luôn có xu hướnglạm quyền, nên muốn chống sự lạm quyền đó để

bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân thì phải tổ chức và phân chia quyền

lực sao cho đảm bảo "quyền lực ngăn cản quyền lực" Thực tế lịch sử đã chứng

minh: xu hướng lạm quyền của nhà cầm quyền là rất phổ biến khi các quyềnlực không được phân tách rõ ràng Chính bản thân Montesquieu đã đưa ra rấtnhiều minh chứng cho hiện tượng này

Ông cho rằng ở phần lớn các nước châu Âu, khi nhà vua nắm quyền lậppháp, hành pháp và nhường quyền tư pháp cho nhân dân thì việc cai trị còn cómức độ; nhưng ở các nhà nước mà quyền lực bị thâu tóm toàn bộ trong tay

một người hay một nhóm người thì "nền chuyên chế nghiệt ngã đè lên đất nước"(1) Và ông nghiên cứu khá kỹ các nhà nước cộng hoà Italia - những biểuhiện của việc quyền lực tập trung trong tay một tập đoàn quý tộc Theo ông,nhân dân trong các nhà nước này có ít quyền tự do hơn nhiều so với trong các

nước quân chủ châu Âu Ông khẳng định: "ở đây, tất cả quyền lực chỉ là một Tuy bề ngoài chẳng có sự phô trương gì của ông vua chuyên chế, mà người ta vẫn cảm thấy sự chuyên chế vào bất cứ lúc nào"(2) Nhưng sự chuyên chế củanhững nhà nước cộng hoà này không giống hẳn chính thể chuyên chế ở châu

á, ví dụ như ở Cộng hoà Venise có sự phân quyền tương đối, khi Đại hội đồng

có quyền lập pháp, các đại quý tộc Prégadi nắm quyền hành pháp, và nắmquyền tư pháp là các quý tộc Quaranties; nhưng cái dở ở nhà nước Venise nàylà: tuy có sự phân quyền, nhưng mọi cơ quan này đều nằm trong tay tầng lớpquý tộc, nên cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thực chất cũng chỉ làmột thứ quyền lực mà thôi, thực chất là chẳng có một sự phân quyền nào cả

Và ông chỉ ra cái tai hại của nhà nước ấy: "cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật vừa tự cho mình là kẻ lập pháp Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ

có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ"(3)

Cũng giống như Locke, Montesquieu đặc biệt chú trọng tới cơ quan lậppháp, dù ông hoàn toàn không thừa nhận rằng đây là cơ quan quan trọngnhất, có khả năng uỷ thác quyền lực để hình thành nên các cơ quan khác nhưtrong học thuyết của Locke

_

Trang 23

(1) C.L Montesquieu: Sđd, tr.106

(2)(3) C.L Montesquieu: Sđd, tr.107

Theo ông, trong một nước tự do thì mọi người dân cũng được tự do, và

do đó họ có quyền tự quản, bởi vậy, dân chúng phải nắm quyền lập pháp.Nhưng theo ông, nếu mọi người dân đều tham gia vào công việc lập pháp, nhưtrong Hội nghị công dân của các nhà nước dân chủ thời cổ đại thì hoàn toànkhông thích hợp, vì họ thường đòi hỏi thực hiện những việc mà bản thân họ vàcộng đồng không đủ sức làm Bởi vậy, tốt nhất dân chúng chỉ nên tham giavào công việc của nhà nước bằng cách bầu chọn đại biểu của mình Và cơquan đại biểu dân chúng cũng không nên giải quyết các công việc cụ thể, vì

họ không thể làm tốt điều này, họ chỉ nên làm ra luật, và xem xét người tathực thi những luật này ra sao

Về tổ chức của cơ quan lập pháp - cơ quan đại biểu nhân dân,Montesquieu cho rằng nó nên gồm hai viện: Viện quý tộc và Viện thứ dân

Nguyên nhân của việc cần có hai nghị viện riêng biệt, theo ông là dotrong xã hội có những người mà dòng giống, của cải hoặc danh vọng của họnổi bật lên trên những người khác, nên nếu trong cuộc bầu cử họ chỉ có đượcmột phiếu bầu như các công dân khác thì sự tự do chung là xiềng xích nô lệđối với họ, bởi phần lớn các quyết nghị chung sẽ chống lại họ Bởi vậy, nhữngngười này cần phải có một cơ quan đại diện riêng bên cạnh cơ quan đại diệndân chúng, để bảo vệ quan điểm và lợi ích của mình Ngoài ra, theo ông,quyền lập pháp cần phải có một uy lực điều chỉnh để dung hoà, nên cơ quanlập pháp gồm hai viện riêng biệt là một cơ chế thật thích hợp để phát huy sựdung hoà này

Quan điểm này là một hạn chế của Montesquieu, bởi chính bản thânông cũng là một nam tước - nam tước De La Brède Nhưng cách thức hoạtđộng của các viện này được ông đưa ra lại là sự tiến bộ rất rõ ràng

Theo ông, cơ quan đại diện quý tộc có thể đình chỉ dự định của cơ quan đạidiện dân chúng, cũng như cơ quan đại diện dân chúng có thể ngăn cản cácquyết định từ cơ quan đại diện các nhà quý tộc Montesquieu chia quyền lậppháp ra làm hai chức năng: chức năng quy định và chức năng ngăn cản Trong

đó, "chức năng quy định là quyền tự mình ra lệnh, hoặc tự mình sửa lại điều

mà người khác ra lệnh"; còn "chức năng ngăn cản là quyền làm cho quyết định của người khác trở thành vô hiệu"(1) Theo ông, Viện quý tộc chỉ được _

(1) C.L Montesquieu: Sđd, tr.113

tham gia vào công việc lập pháp với chức năng ngăn cản chứ không có chứcnăng quy định, tức là chỉ có quyền phủ quyết hoặc chuẩn y các quyết định củaViện thứ dân mà không được sửa đổi quyết định đó, hoặc đưa ra một quyếtđịnh khác Nguyên nhân của việc này, theo ông là do Viện quý tộc có hìnhthức cha truyền con nối, mà lại được lập nên để bảo vệ đặc quyền của một

Trang 24

nhóm người, nên có thể nó sẽ chỉ biết đến lợi ích riêng tư của mình mà quên

đi lợi ích chung của cả cộng đồng

Về hoạt động của các đại biểu dân chúng trong cơ quan lập pháp, theoMontesquieu, các đại biểu này là người đã nhận được ý kiến chung của nhữngngười bầu ra họ, là đại diện cho ý chí của các cử tri, nên không nhất thiết mọiviệc đều phải hỏi ý kiến dân chúng Ông thừa nhận làm như thế mới đảm bảođược quyền tự do và dân chủ của nhân dân, nhưng như vậy thì công việc sẽkéo dài vô tận, và trong những trường hợp cấp bách thì lối làm việc này sẽlàm ngưng trệ cả quốc gia, hay thậm chí là huỷ diệt nó Và ông đưa ra cáchlàm mà ông cho là hợp lý như ở quốc hội Hà Lan, khi các đại biểu chỉ phảibáo cáo lại công việc với các cử tri

Về cách thức bầu cử cơ quan lập pháp, Montesquieu cho rằng ngườidân biết rõ nhu cầu của thành phố mình hơn là của các thành phố khác, hiểunăng lực của người láng giềng mình hơn là láng giềng của người khác, nêndân chúng ở mỗi địa phương phải được chọn ra một người đại biểu, chứkhông nên tiến hành bầu cử chung trong cả nước

Về tinh thần của người lập pháp, được ông nêu lên trong Chương 1,Quyển 29, và được khẳng định lại bởi một chính khách Pháp về sau là Abel

Francois Villemain thì: "Luật phải thật vô tư, không thiên vị Chính người lập pháp phải vô tư để không ghi tham vọng của mình vào tác phẩm luật"(1) Và

Montesquieu nhấn mạnh lại quan điểm chính phủ phải "trung dung" của Aristote trong quyển 1, sách Politics: "Một chính phủ càng xa đảng phái và càng gắn với phương sách trung dung thì càng được vững vàng Nhiều nhà lập pháp trong chính thể quý tộc đã cho người giàu quá nhiều và rút bớt của người nghèo cũng quá nhiều Lầm lẫn đưa tới cái xấu xa thực sự; ưu thế của nhà giàu đánh đổ chính phủ nhiều hơn là ưu thế của người nghèo, của muôn dân"(2) Có thể nhận thấy đây là một

_

(1) C.L Montesquieu: Sđd, tr.228

(2) C.L Montesquieu: Sđd, tr.228

quan điểm rất tiến bộ của Montesquieu, nhưng tiếc là ông lại không chỉ ra làm

sao để có được sự "vô tư" và "trung dung" ấy, nên ta chỉ có thể phỏng đoán dựa

trên tư tưởng của ông rằng, theo ông, cái mà một nhà lập pháp khôn ngoan cần

có chính là "đức hạnh" và trí thông minh.

Về thời điểm họp bàn của cơ quan lập pháp, ông khẳng định nếu trongthời gian dài mà cơ quan này không nhóm họp thì cũng sẽ không có tự do nàohết, bởi hoặc nhà nước sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ do không có nghịquyết lập pháp mới phù hợp hoàn cảnh, hoặc cơ quan hành pháp sẽ nắm lấy vàthao túng các nghị quyết lập pháp cũ, dẫn đến tình trạng chuyên chế Nhưng

cơ quan lập pháp họp liên tục thì cũng bất hợp lý Thứ nhất nó là sự bất tiệnvới các đại biểu Thứ hai nó là khó khăn cho cơ quan hành pháp, bởi sẽ mãi

Trang 25

chỉ lo bảo vệ quyền hạn chuyên trách của mình mà không lo được việc chấphành các đạo luật Và cuối cùng, nếu như nghị viện rơi vào tình trạng sa đoạthì thật là vô phương cứu chữa, bởi nó luôn hiện diện nên nhân dân sẽ nhậnthấy ngay sự bại hoại của cơ quan lập pháp, nhận thấy ngay sự vô nghĩa ởpháp luật, họ sẽ tức giận mà nổi loạn, hoặc thờ ơ, hững hỡ với công việc quốcgia.

Vậy là cơ quan lập pháp phải có thời gian họp bàn nhất định, và sauthời gian đó nó phải giải tán Nhưng sự triệu tập và triển hạn của cơ quan này

sẽ diễn ra như thế nào ?

Theo Montesquieu, cơ quan lập pháp không nên tự mình triệu tập lấymình mà cơ quan hành pháp, tuỳ theo hoàn cảnh mà nó cho là hợp lý, sẽ quyếtđịnh thời gian và thời hạn họp bàn của nghị viện

Vậy nghị viện có quyền tự triển hạn cho mình hay không ? Nếu như vậy thì cóthể nó sẽ không bao giờ tự triển hạn cả, và như thế thật là nguy hiểm khi nghịviện có ý định công kích cơ quan hành pháp Và Montesquieu lại nhấn mạnhrằng ở nước Anh, nhà vua - người nắm quyền hành pháp có thể triển hạn nghịviện và tổ chức bầu cử nghị viện mới; nhưng ông cũng không loại trừ hìnhthức xác định nhiệm kỳ của nghị viện bằng Hiến pháp

Về quyền hành pháp, Montesquieu cho rằng nó phải nằm trong tay một

vị vua chúa, bởi bản thân quyền hành pháp luôn cần đến những hành động tứckhắc, kịp thời, mà nếu phải qua một cuộc họp bàn thì quyết định đưa rathường đã muộn hơn yêu cầu thực tế Ông cũng khẳng định cần phải có một vịvua, bởi vua nắm quyền bằng con đường thế tập chứ không phải do được bầuchọn ra; nếu cá nhân hành pháp lại được nghị viện bầu ra thì đó thường làngười trong nghị viện, và như thế thì sẽ chẳng còn tự do nữa, bởi hai quyềnlập pháp và hành pháp đã nhập lại với nhau, con người hành pháp ấy có thểnhúng tay vào cả quyền này lẫn quyền kia

Như đã nói ở trên, theo Montesquieu, nhà vua có quyền triệu tập vàtriển hạn nghị viện, tuỳ theo hoàn cảnh mà vua thấy thích hợp Còn về quyềnngăn cản giữa hai cơ quan này thì sao? Theo Montesquieu, cơ quan lập phápkhông có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp, do hành pháp có những đặc

điểm riêng của nó, mà ở đây có thể hiểu là ông muốn nói đến "đặc quyền hành động" của cơ quan hành pháp, như theo quan điểm của Locke Nhưng cơ quan

hành pháp phải có quyền ngăn cản cơ quan lập pháp, bởi nếu không cơ quanlập pháp sẽ trở thành chuyên chế, sẽ tạo ra những đạo luật để tự ban cho mình

mọi thứ quyền hành, và xoá bỏ các quyền lực khác Ông khẳng định: "quyền lực hành pháp phải vận dụng chức năng ngăn cản để tham gia việc lập pháp, nếu không nó sẽ bị tước mất ưu quyền Nhưng trái lại, nếu quyền lực lập pháp tham gia vào việc hành pháp thì quyền hành pháp sẽ bị thủ tiêu"(1)

Trang 26

Về sự tham gia của quyền hành pháp vào chức năng lập pháp, ông chỉ rõ:

"Quyền hành pháp chỉ tham gia việc lập pháp bằng chức năng ngăn cản, chứ không chen vào bàn cãi công việc, mà cũng không phải làm các kiến nghị"(2)

Và ông lấy ví dụ trong các nước cộng hoà thời kỳ cổ đại, trong các cuộc Hộinghị nhân dân, nhà nước phải có quyền đưa ra kiến nghị và cùng bàn cãi vớidân, nếu không thì quyết nghị cuối cùng sẽ có sự hỗn độn, xa lạ với chính thể,bởi dân chúng không phải lúc nào cũng hiểu hết được đất nước bằngnhững nhà cầm quyền

Nhưng nếu như cơ quan lập pháp không có quyền ngăn cản hoạt độngcủa cơ quan hành pháp, nhưng nó vẫn phải có chức năng xem xét các đạo luật

do nó ban hành đã được thực thi như thế nào, như thế mới đảm bảo cho sự tự

do của công dân Nhưng như thế thì nó cũng không có quyền xét xử con ngườihành pháp, bởi cá nhân con người hành pháp là bất khả xâm phạm, ông ta làcần thiết cho quốc gia; nếu cơ quan lập pháp xâm phạm tới ông ta thì có nghĩa

là nó đã trở thành chuyên chế, và như vậy cũng không còn có tự do gì nữa cả

Montesquieu còn chỉ ra một vài vấn đề quan trọng trong hoạt động củahai cơ quan này, là vấn đề thu thuế, và vấn đề quân đội

_

(1)(2) C.L Montesquieu: Sđd, tr.117

Đầu tiên là vấn đề thu thuế Ông khẳng định đây phải là công việc của

cơ quan lập pháp mà cơ quan hành pháp không thể can thiệp vào, do đó là :

"điểm quan trọng nhất của việc lập pháp"(1) Ông còn cho rằng cơ quan lập phápkhông nên quy định việc thu thuế một cách vĩnh viễn bởi như thế thì cơ quanhành pháp cũng không còn phụ thuộc vào cơ quan lập pháp nữa, và tự do củacông dân cũng sẽ biến mất

Còn về vấn đề quân đội, Montesquieu cho rằng nó phải nằm dưới sựquản lý của cơ quan hành pháp chứ không phải của cơ quan lập pháp, như thếmới hợp với bản chất của quân đội là hành động chứ không phải là bàn cãi

Nhưng "để cho người hành pháp không áp bức được dân chúng thì quân đội trong tay cơ quan hành pháp phải mang tính nhân dân, cùng lòng với dân", "và muốn được như vậy thì chỉ có hai cách: hoặc là những người tham gia quân đội phải có tài sản bảo đảm tính mạng của mình trước các công dân khác và chỉ tòng quân trong thời hạn một năm; hoặc là có một quân đội thường trực

mà quân nhân thuộc tầng lớp thấp kém nhất trong nước, để cơ quan lập pháp muốn giải tán nó lúc nào cũng được Binh sĩ thường trực này ở ngay trong dân chúng, không có doanh trại hay đồn luỹ tách biệt với dân"(2)

Còn về thứ quyền lực cuối cùng, quyền tư pháp, Montesquieu cho rằng

nó không nên được giao cho một cơ quan hay một cá nhân cụ thể, thường trựcnhư hai quyền lực kia, mà do một đoàn thể dân chúng được cử ra trong mộtthời gian ngắn do luật định Làm như thế thì thứ quyền lực đáng sợ với

Trang 27

người đời này mới không phải là một sự hữu hình, như thế người ta mới sợ

cơ chế cai trị chứ không phải là sợ các quan cai trị

Nghiêng theo cơ cấu tổ chức nhà nước của Anh, ông cho rằng quyền tưpháp không nên kết hợp với bộ phận nào của quyền lập pháp, nhưng vẫn cónhững trường hợp ngoại lệ đặc biệt

Thứ nhất, khi người bị xét xử thuộc tầng lớp quý tộc, nếu giao cho dânchúng xét xử thì thường do bị ganh ghét mà bị xử sai lệch, hơn thế, người nàylại không được hưởng quyền cơ bản của công dân là chỉ bị xét xử bởi nhữngngười ở cùng đẳng cấp với mình, bởi vậy, trong trường hợp này, Viện quý tộc

Thứ ba, khi một viên chức nhà nước vi phạm quyền của dân chúng, gâytội ác với nhân dân, thì Viện thứ dân sẽ tố cáo lên Viện quý tộc, và bộ phậntrong Viện quý tộc không có chung quyền lợi hay ý đồ với cả hai bên sẽ nắmquyền xét xử

Quan điểm này của ông có những hạn chế nhất định khi vẫn chủ trương

đề cao các đặc quyền của tầng lớp quý tộc phong kiến, nhưng mặt khác vẫn cóđiểm tiến bộ, khi đề cao thủ tục đàn hạch, đảm bảo sự phụ thuộc của cơ quanhành pháp vào cơ quan lập pháp

Nói tóm lại, qua tác phẩm Bàn về Tinh thần pháp luật của Montesquieu,

ta có thể nhận thấy một bước phát triển mới của tư tưởng phân chia quyền lực,khi tác giả đưa ra quan điểm phân tách các quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp một cách triệt để, có sự giám sát, kiềm chế và đối trọng giữa các nhánhquyền lực, và ngay giữa các cơ quan trong cùng một nhánh quyền lực vớinhau, nhằm ngăn chặn sự lạm quyền, những vẫn tạo nên một bộ máy nhà

nước thống nhất: "Cả ba quyền lực này do ràng buộc lẫn nhau mà dường như nghỉ ngơi hay bất động Tuy nhiên, vì tính tất yếu của mọi sự vật là vận động nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, mà đi tới một cách nhịp nhàng"(1)

Tư tưởng của Montesquieu tuy vẫn còn mang nặng tư duy bảo thủphong kiến, đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớp quý tộc, nhưng nó vẫn là nền tảngnòng cốt cho tư tưởng phân chia quyền lực ngày nay, vẫn đã và đang được ápdụng rộng rãi trong tổ chức bộ máy nhà nước ở nhiều quốc gia như Anh,

Mỹ

Trang 28

Có thể khẳng định sau Aristote 1300 năm, với Charles LouisMontesquieu, tư tưởng phân chia quyền lực đã hồi sinh trở lại, và với lần trởlại này nó đã thực sự trở thành một học thuyết đầy đủ, trọn vẹn và hoàn hảo.Montesquieu xứng đáng được mệnh danh là cha đẻ của tư tưởng phân quyềnhiện đại.

_

(1) C.L Montesquieu: Sđd, tr.117

Jean - Jacques Rousseau ( 1712 - 1778 ):

Bàn về Khế ước xã hội hay là các nguyên tắc của quyền chính trị ( Du contrat social - ou principes du droit politique ) của Jean - Jacques Rousseau

là một tác phẩm mà tư tưởng của nó đã tạo ra sự chuyển biến lớn lao trong xãhội và đã trở thành di sản trí tuệ quý báu cho nhiều thế hệ Trong 5 năm của

cuộc Đại Cách mạng Pháp 1789-1794, Bàn về Khế ước xã hội đã được coi như "một thứ kinh Coran của cách mạng dân chủ"(1)

Đúng như tên gọi của mình, Bàn về Khế ước xã hội trình bày một cách

rất hoàn thiện về học thuyết khế ước xã hội, mà nội dung chủ yếu của nó làcho rằng: xã hội và nhà nước ra đời không phải do ý muốn của Chúa trời, mà

do những con người trong trạng thái tự nhiên liên kết lại với nhau thông quamột bản khế ước Theo khế ước, nhân dân có nghĩa vụ phải phục tùng nhànước, nhưng nhà nước cũng có nghĩa vụ phải chăm lo cho nhân dân; xã hội vànhà nước chỉ có thể tồn tại nếu như mối quan hệ hai chiều này được đáp ứngmột cách thích đáng và đầy đủ Một khi nhà nước đã vi phạm những nguyêntắc của khế ước xã hội, lạm quyền, chà đạp lên quyền lợi của nhân dân thìnhân dân có quyền lật đổ nhà nước ấy đi mà thiết lập một bản khế ước mới,tạo dựng một nhà nước mới mà họ cho là phù hợp hơn, vì lợi ích của họ hơn

Dù nội dung chủ yếu của tác phẩm là trình bày về học thuyết khế ước

xã hội, nhưng bên cạnh đó, tác giả Rousseau cũng đã đưa ra những quan điểmrất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước

Trong cả 4 quyển, 48 chương của tác phẩm, Rousseau không hề đề cập tớiviệc: quyền lực nhà nước được chia quyền lập pháp, quyền hành pháp vàquyền tư pháp; hơn thế Rousseau còn cho rằng quyền lực tối cao là không thể

phân chia, ông cực lực phản đối việc chia tách các quyền: "Trong chính trị của

ta, tuy về nguyên tắc thì quyền lực tối cao là không thể phân chia, nhưng trên thực tế người ta vẫn chia tách nó trong đối tượng Họ chia nó thành lực lượng và ý chí, thành quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp, thành

Trang 29

quyền quan thuế, quyền tư pháp, quyền chiến tranh, thành cai trị đối nội

Dù nêu cao tư tưởng quyền lực là không thể phân chia, nhưng Rousseaulại cho rằng phân quyền là phương cách tốt nhất để ngăn chặn sự lạm quyền,

ông viết: "ai đã truyền lệnh cho người thì không được truyền lệnh cho pháp luật Và kẻ đã truyền lệnh cho pháp luật thì cũng không nên truyền lệnh cho người Không như thế thì luật pháp vốn là công cụ chế ngự tham vọng sẽ trở thành công cụ để duy trì bất công"(2) Ông đưa ra dẫn chứng: " La Mã đến thời cực thịnh thì bắt đầu quy vào cho một số người cả quyền lập pháp và quyền cai trị tối cao; từ đó nảy sinh các tệ nạn độc đoán chuyên quyền và nhà nước

La Mã cổ đại bước dần vào chỗ suy vong"(3)

Và ngay trong bố cục của tác phẩm Khế ước xã hội đã toát lên rất rõ tư

tưởng phân quyền Nếu như trong Quyển 1, ông dành để đề cập khái quát tới

học thuyết khế ước xã hội, thì Quyển 2 là để "bàn về người lập pháp" (đầu đề Chương 7) và nghiên cứu về "các hệ thống lập pháp khác nhau" (đầu đề

Chương 11); Quyển 3 được dành trọn vẹn cả 18 chương để viết về chính phủ,

hay cơ quan hành pháp; và Quyển 4, dĩ nhiên là được dành để "bàn về cơ quan

tư pháp" và "chức quan tư pháp" (đầu đề Chương 5 và Chương 7)

Sự phân quyền của Rousseau không giống với Locke, và càng khác xa

so với Montesquieu, bởi ông vẫn luôn khẳng định một điều duy nhất rằng

"những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao" và "mỗi bộ phận đều chỉ thực hiện ý chí tối cao đó"(4) mà thôi

Khi nói về sự phân tách quyền lập pháp và quyền hành pháp, ông viết:

"Mỗi hành động tự do đều có hai nguyên nhân tạo sinh ra nó Một nguyên nhân thường và một nguyên nhân vật lý Nguyên nhân vật lý tức là cái lực tác động thành việc làm Cơ thể chính trị cũng có những động lực như thế: sức mạnh và ý chí Một cái gọi là

Trang 30

quyền lập pháp thực chất là ý chí, và quyền hành pháp thực chất là sức mạnhcủa một cơ thể chính trị duy nhất, là quyền lực tối cao Rousseau chủ trươngkhông phân quyền, nhưng thực chất lại phân quyền tương đối giữa lập pháp vàhành pháp.

Về quyền lực lập pháp, theo Rousseau, "quyền lực lập pháp thuộc về nhân dân và chỉ có thể thuộc về nhân dân mà thôi"(2)

Ông khẳng định: "Dân chúng tuân theo luật phải là người làm ra luật Chỉ những người họp thành xã hội mới có quyền xử lý các điều kiện xã hội" Nhưng ông cũng đặt ra một câu hỏi: "Làm sao mà một đám người muôn vẻ, mù quáng, thường không biết mình muốn gì, hoạ hoằn lắm mới hiểu cái gì là tốt cho mình, lại có thể cùng nhau thực hiện một công trình lớn lao và khó khăn như công trình lập pháp ?"(3) "Chính vì thế mà cần phải có một người lập pháp"(4); con người này sẽ giúp dân chúng nắm được thời điểm, thấy đượcnhững món lợi và những mối nguy hại, giúp định hướng cho ý chí của dânchúng luôn hướng tới một cái đích đúng đắn, vì lợi ích chung của toàn thể

Vậy phải có một cá nhân phi thường đứng ra vạch đường chỉ lối cho ý

chí chung, và ghi chép ý chí chung ấy thành luật Nhưng "người lập pháp quyết không phải là một vị pháp quan hay một quốc vương" bởi lập pháp "là một chức năng đặc biệt và cao cả, không giống với chức năng của một con người cụ thể; bởi vì ai đã truyền lệnh cho người thì không được truyền lệnh cho luật pháp Và kẻ đã truyền lệnh cho luật pháp cũng không nên truyền lệnh cho người Không như thế thì luật pháp vốn là công cụ chế ngự tham vọng sẽ trở thành công cụ để duy trì bất công"(5) Đây chính là một biểu hiện cụ thể chochủ trương phân quyền của Rousseau

Về hoạt động của con người lập pháp, như đã nói ở trên, Rousseau chorằng con người này chỉ đứng ra vạch đường chỉ lối cho ý chí chung, và ghichép lại ý chí chung ấy thành luật, chứ không có quyền quy định luật một

cách tuỳ tiện Bởi " theo như Công ước cơ

Trang 31

khó nhận ra những điều lợi cho cộng đồng có thể nắm bắt và hiểu được ?Người lập pháp không thể dùng sức mạnh của bạo lực cũng như lý lẽ của sứcthuyết phục được, nên họ phải dùng đến một thứ quyền uy khác, là quyền uycủa Trời Những nhà lập pháp gắn cho Trời ý chí của chính họ, để dân chúngphục tùng luật pháp của nhà nước y như phục tùng các quy luật tự nhiên Vớinhững nhà lập pháp thông thái, luật pháp của họ có thể trở thành những quyluật tự nhiên thực sự; nhưng với những nhà lập pháp dởm thì sự nghiệp bịp

bợm của họ sẽ tiêu tan ngay sau khi họ chết "Mọi thứ uy tín giả tạo chỉ làm nên những mối liên hệ tạm thời; chỉ có trí tuệ uyên bác mới tạo nên những mối liên hệ vững bền"(2)

Quyền hành pháp, Rousseau trao cho chính phủ "Vậy chính phủ là gì ? Chính phủ là một cơ thể trung gian giữa các thần dân với cơ quan quyền lực tối cao, để hai bên tương ứng với nhau, thi hành các luật, giữ gìn quyền tự do dân sự cũng như tự do chính trị"(3)

Về tổ chức của chính phủ, theo Rouseau " quyền hành pháp không thể thuộc về cái chung như quyền lập pháp hoặc quyền lực tối cao, bởi lẽ quyền hành pháp chỉ liên quan đến những điều khoản cụ thể, không thuộc về thẩm quyền của luật cơ bản hoặc của cơ quan quyền lực tối cao"(4) Bởi vậy, nókhông thể trao vào tay tập thể công dân như quyền lập pháp, mà phải thuộc

về một cá nhân cụ thể Cá nhân ấy được gọi là pháp quan hoặc là nhà vua,tức là người cai trị ở đây, tư tưởng phân quyền được thể hiện một cách giántiếp khi ông khẳng định quyền hành pháp không thể trao vào tay cơ quan quyềnlực tối cao - tức nhân dân, là cơ quan đã có quyền lập pháp

Một chính phủ dân sự hoàn hảo theo Rousseau phải là một thể trunggian giữa cơ quan quyền lực tối cao và nhân dân; nó chấp hành các đạo luậtcủa cơ quan quyền lực tối cao, và có quyền ra các quyết định để lãnh đạo nhândân Nhưng theo nội dung cơ bản của khế ước xã hội, toàn thể nhân dân chính

là cơ quan quyền lực tối cao, nên có thể coi Rousseau là một trong nhữngngười tiên phong đề cập đến quyền công dân, khi cho rằng: chính phủ lãnhđạo nhân dân, nhưng cũng đồng thời là phục vụ nhân dân Trong một xã hộidân sự hoàn hảo, cá nhân không phải là thần dân của chính phủ, mà chỉ là thầndân của cả cộng đồng xã hội - chính là cơ quan quyền lực tối cao; trong mối

Trang 32

quan hệ với chính phủ, cá nhân là một công dân, tức là có địa vị pháp lýngang bằng với chính phủ, có nghĩa vụ phục tùng chính phủ, nhưng đồng thờicũng có quyền đòi chính phủ phải phục vụ những lợi ích công mà mình xứngđáng được hưởng.

Rousseau còn bàn về việc chính phủ lạm quyền và thoái hoá Theo ông

có hai con đường dẫn chính phủ đến chỗ thoái hoá Thứ nhất là chính phủ tựsiết chặt mình lại, tức là số pháp quan càng ngày càng ít, nghĩa là từ chính phủdân chủ với toàn thể công dân là các pháp quan, tới chính phủ quý tộc với một

số pháp quan là những công dân đặc biệt, và cuối cùng là chính phủ quân chủchỉ với một pháp quan duy nhất là nhà vua Theo Rousseau đó là con đường

sa đoạ tự nhiên của chính phủ, bởi một nguyên nhân tất yếu là : người cầmquyền luôn có xu hướng muốn nắm giữ quyền lực, và muốn lạm dụng quyềnlực trong tay mình Con đường thứ hai dẫn đến sự thoái hoá của chính phủ làkhi chính phủ tự buông lỏng mình, nhưng theo Rousseau việc chính phủ tựthay đổi như thế là không thể có được, nó chỉ có thể là kết quả của một cuộccách mạng

Chính phủ bị giải tán trong hai trường hợp Thứ nhất là khi người cầmđầu chính phủ không cai trị theo luật, mà lấn át cơ quan quyền lực tối cao Khi

ấy, công ước cơ bản của xã hội đã bị xoá bỏ; mọi công dân lại trở lại với trạngthái tự nhiên, họ bị cưỡng bức mà phải phục tùng nhà nước chứ không phải vìnghĩa vụ mà phục tùng Thứ hai là khi các thành viên của chính phủ thoánđoạt quyền hành một cách riêng rẽ, mà kết quả của nó là mỗi pháp quan sẽ làmột thủ tướng, quốc gia bị chia cắt, xé nhỏ, đồng thời với nó là chính phủcũng tiêu vong

Các thành viên của chính phủ - những người được uỷ thác nắm quyềnhành pháp, đơn giản chỉ là những công chức được nhân dân bầu ra, và cũng cóthể bị nhân dân bãi miễn Người công chức khi làm công việc của mình làđang làm nghĩa vụ của mình với quốc gia, với cơ quan quyền lực tối cao, họkhông có quyền đòi hỏi hay đặt điều kiện gì với nhân dân Nhưng sẽ ra saokhi người pháp quan có âm mưu lạm quyền ? Với quyền hạn của mình, ông ta

có thể ra lệnh kéo dài thời gian triệu tập hội nghị toàn dân; và với sức mạnhhành pháp trong tay, ông ta cũng có thể đe doạ hoặc trừng phạt những ngườidám lên tiếng tố cáo, phê phán mình

Để ngăn chặn việc chính phủ chiếm đoạt quyền lực như vậy, biện phápđơn giản nhất và cũng là biện pháp khả thi duy nhất là ban hành một đạo luậtquy định sự nhóm họp của hội nghị công dân một cách định kỳ, không cầnđến thủ tục triệu tập chính thức Có như vậy, vị thủ tướng chính phủ mớikhông thể cấm đoán hội nghị toàn dân, bởi nếu cấm có nghĩa là đã tự thừanhận mình vi phạm luật, và công khai đối nghịch với cả quốc gia Trong cáccuộc hội nghị toàn dân như thế, ngoài việc bàn bạc các vấn đề quan trọng

Trang 33

khác, thì có một việc mà nhân dân không thể không làm, đó là bỏ phiếu xem

có nên tiếp tục giữ nguyên hình thức chính phủ hiện nay hay không, và nhândân có vừa lòng với các nhân viên của chính phủ hay không Cách thức nàyhoàn toàn có thể ngăn ngừa được việc chính phủ lạm dụng quyền hành pháp

mà cướp đoạt quyền lực tối cao

Cơ quan tư pháp được Rousseau nhắc tới trong Bàn về Khế ước xã hội

không giống hoàn toàn như cơ quan tư pháp theo nghĩa hiểu của chúng ta

ngày nay Theo ông, đó là cơ quan "đặt mỗi bộ phận" của nhà nước "vào đúng chỗ của nó, làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa chính phủ với nhân dân, hoặc giữa chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả

ba vế ấy khi cần"(1)

Dù không coi cơ quan tư pháp là một bộ phận cấu thành của nhà nước,nhưng ông lại đặc biệt đề cao vai trò và vị trí của nó Nhiệm vụ của nó là bảotồn luật và quyền lập pháp, bởi vậy mà nó _

sự rệu rã của các cơ quan Một cơ quan tư pháp lạm quyền sẽ dẫn tới sự tan rãcủa nhà nước, như nhà nước Sparta và nhà nước Lamã thời cổ đại, khi cácGiám chế quan ở Sparta và các Hộ dân quan ở Roma ngày càng trở nên lộngquyền, nắm trong tay cả quyền lập pháp lẫn quyền hành pháp thì nền cộng hoàngày càng trở nên suy đồi, và cuối cùng là nhà nước cũng tới chỗ suy vong

Muốn không cho cơ quan có ý nghĩa trọng đại như cơ quan tư pháp trởnên lộng quyền thì chỉ có cách là đừng để cho nó trở thành thường trực mãimãi, phải quy định thời hạn cho nó trong luật, để sự lạm quyền không thểthành thói thành nết của các pháp quan Hết thời hạn ấy, các pháp quan trở lạilàm người dân bình thường, và dân chúng lại tổ chức bầu cử ra các pháp quanmới Cơ chế bầu cử này đảm bảo cho các pháp quan được bầu ra theo luật sẽchỉ dựa

vào luật mà làm việc chứ không bị phụ thuộc vào người khác, nếu theo cơ chếchỉ định Điều này tạo nên sự độc lập trong hoạt động của cơ quan tư pháp

Về bản chất của cơ quan tư pháp, Rousseau cho rằng nó chỉ là cơ quan

nói lên lời phán xét của nhân dân, ông viết: "nó chỉ là người công bố dư luận công cộng mà thôi Xa rời chức năng đó thì mọi quyết định của toà án đều là

vớ vẩn và vô hiệu"(3) Dư luận của công chúng, phán xét của nhân dân là mộtthứ luật, bởi chẳng phải toàn bộ nhân dân chính là cơ quan quyền lực tối cao

Trang 34

đó sao ? Pháp quan tư pháp chỉ đơn giản là người bộ trưởng chấp hành điềuluật đó thôi

Trong trường hợp công chúng vẫn còn đang phân vân, chưa lựa chọnphán xét một cách rõ ràng thì quyết định của pháp quan tư pháp là lời khẳngđịnh cuối cùng, nhằm ổn định dư luận nhân dân Nhưng quyết định ấy chỉthực sự có hiệu lực khi nó không trái với pháp luật, với phong tục tập quánquốc gia, và nhất là phải được công chúng chấp nhận, nếu không thì nó hoàntoàn chỉ là một lời nói vô nghĩa, do dư luận là không thể bị khuất phục vàcưỡng chế

Theo ông, không phải lúc nào cơ quan quyền lực tối cao cũng có thểnhìn thấy trước để ban hành những đạo luật, đưa ra những quyết nghị mộtcách kịp thời Mà trong những cơn khủng hoảng như thiên tai hay chiến tranhthì việc chờ cơ quan quyền lực tối cao họp bàn là điều không thể Bởi vậy nêntrong nhưng hoàn cảnh mà sự tồn vong của quốc gia đang bị đe doạ, thì cầnphải có một nhà độc tài

Nhà độc tài tựa hồ như đứng trên luật pháp mà điều hành quốc gia,nhưng thực ra không phải như thế Mệnh lệnh của nhà độc tài mãi mãi chỉ làchỉ thị hay quyết định, chứ không thể là luật Nhà độc tài không thể xoá bỏluật pháp, hay bắt luật pháp phải nói lên ý chí của riêng mình, nhà độc tài chỉ

có thể tạm thời bắt luật pháp phải im tiếng mà thôi

Trong chế độ độc tài, khi cơ quan quyền lực tối cao đã tạm thời bị gácsang một bên, thì ý chí chung của nhân dân vẫn tồn tại, hơn thế, ý chí chungnày lại còn là cơ sở duy nhất và cao nhất để giữ vững chế độ độc tài: đó lànguyện vọng nhà nước không bị tiêu diệt

Trong một nhà nước mà tập quán đã có từ lâu đời thì người ta không sợnhà độc tài sẽ lạm dụng quyền uy hoặc mưu toan kéo dài chế độ độc tài quáhạn định, trái lại, dường như ông ta chỉ cố làm cho xong nhiệm vụ của mình

để hất bỏ chức vụ ấy đi, vì quyền lực được trao vào tay ông ta quá lớn, sứmạng ông ta phải đảm nhiệm là quá nặng nề, và thật là nguy hiểm khi ông taphải đứng vào vị trí của chính pháp luật

Nói tóm lại, qua tác phẩm Bàn về Khế ước xã hội hay là các nguyên tắc của quyền chính trị của Rousseau, ta nhận thấy một quan điểm hết sức mới lạ

về tư tưởng phân chia quyền lực cũng như sự áp dụng của tư tưởng này trong

Trang 35

bộ máy nhà nước Rousseau chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cảquyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể côngdân trong xã hội Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nướcthành quyền lập pháp và hành pháp, giao chúng vào tay của cơ quan quyềnlực tối cao và chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động

có hiệu quả của nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền của

cơ quan hành pháp Ngoài ra ông còn nêu lên vai trò quan trọng của cơ quan

tư pháp trong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định của nhà nước, cũng nhưcho sự cân bằng giữa các vế cơ quan quyền lực tối cao, chính phủ và nhândân

3 Học thuyết phân chia quyền lực trong giai đoạn hiện nay

Trên nền tảng tiếp thu những lý luận của các học giả đi trước, cũng như

từ kinh nghiệm và nhu cầu thực tiễn trong công cuộc xây dựng bộ máy nhànước, nội dung của tư tưởng phân chia quyền lực ngày nay đã có nhiều thayđổi

Ngày nay, khi nhắc đến phân chia quyền lực, người ta không còn chỉnghĩ đến việc phân lập theo chiều ngang thành các nhánh quyền lực, mà còn là

sự phân chia quyền lực theo chiều dọc giữa chính quyền trung ương và chính

quyền địa phương trong một quốc gia Báo cáo về tình hình phát triển thế giới năm 1997 của Ngân hàng Thế giới khẳng định "cơ chế lập hiến kinh điển" của ngày nay " là việc phân lập theo chiều ngang và chiều dọc các quyền lực "(1)

Như đã nói ở trên, ngày nay, tư tưởng phân chia quyền lực không cònđược chú trọng nghiên cứu trên phương diện lý luận đơn thuần như dưới thờicách mạng tư sản nữa, mà đã được biểu hiện cụ thể trong cách thức tổ chức bộmáy nhà nước, được ghi nhận cụ thể trong hiến pháp của nhiều nhà nước Bởivậy, khi nghiên cứu về tư tưởng phân chia quyền lực trong giai đoạn hiện nay,

ta phải xem xét qua cách thức tổ chức bộ máy nhà nước ở các nước

Phân quyền ngang:

Phân quyền ngang là cách thức phân quyền cổ điển đã có từ thời củaAristote, và được hoàn thiện bởi Locke, bởi Montesquieu, và Rousseau Do đãtrình bày về tư tưởng của các nhà học giả này ở phần trên, và do nội dung chủyếu của cách thức phân quyền này không có nhiều thay đổi trong thời đạingày nay, nên chúng em sẽ

_

(1) Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo về tình hình phát triển thế giới

năm 1997 của Ngân hàng Thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1998, tr.125

Trang 36

không trình bày nhiều về cách thức phân quyền này, mà chỉ xin

nhấn mạnh vào hai vấn đề:

Thứ nhất, nội dung chủ yếu của phân quyền ngang là:

- Quyền lực nhà nước được phân chia thành các nhánh khác nhau, docác cơ quan khác nhau nắm giữ, để không một cá nhân

hay tổ chức nào nắm được trọn vẹn quyền lực nhà nước Cụ thể: Nghịviện nắm quyền lập pháp, chính phủ nắm quyền hành pháp, và toà án nắmquyền tư pháp

- Có sự chuyên môn hoá trong hoạt động của các cơ quan quyền lựccông, mỗi cơ quan chỉ hoạt động nhằm thực hiện chức năng riêng của mình,không ảnh hưởng tới công việc của các cơ quan khác

- Giữa các cơ quan quyền lực tồn tại thế cân bằng, các cơ quan có thểgiám sát, kiểm tra, đối trọng và chế ước lẫn nhau, để không cho một cơ quannào có khả năng lạm quyền

Thứ hai, ở nhiều nhà nước hiện nay, tư tưởng phân quyền ngang có một

số thay đổi, mà chủ yếu là ở số nhánh quyền lực được phân chia ra từ quyền

lực nhà nước "Thuyết "Tam quyền phân lập" và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại" của Viện thông tin khoa học xã hội - Viện khoa học xã hội Việt Nam đã

trình bày khá kĩ về vấn đề này, chúng em chỉ xin nhắc lại một số dẫn chứng cụthể

ở một số nước Mỹ Latinh, quyền lực nhà nước không phải chỉ đượcchia thành 3 quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà ngoài ra còn cóquyền lực thứ tư, là quyền bầu cử Quyền này thuộc về tổ chức bầu cử (gồmtoàn bộ các công dân đạt đến độ tuổi luật định, và đáp ứng các yêu cầu nhấtđịnh) Về tổ chức, quyền này thuộc về Hội đồng bầu cử (ở cấp độ toàn quốc).Hội đồng này giải quyết tranh chấp giữa các ứng cử viên, tuyên bố về cáccuộc bầu cử Việc lập thêm quyền này và sự biểu thị về mặt tổ chức - pháp lýcủa nó gắn với đặc điểm của nhóm nước thường xảy ra các cuộc đảo chính,hay các vị tổng thống thất bại trong cuộc bầu cử ít khi tự nguyện rời bỏ vị trícủa mình

Trong Dự thảo Hiến pháp Nicaragoa năm 1986 do Đảng Xã hội - Thiênchúa giáo đối lập đưa ra còn nhắc tới năm thứ quyền lực, ngoài bốn quyền nóitrên còn có quyền kiểm tra do Tổng thanh tra nhà nước và bộ máy dưới quyềnông ta thực hiện

Hiến pháp năm 1976 của Angiêri quy định tới 6 loại quyền lực, đó là:quyền chính trị thuộc về Đảng cầm quyền; quyền lập pháp thuộc về Nghịviện; quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và Chính phủ; quyền tư phápthuộc về Toà án; quyền kiểm tra thuộc về các cơ quan khác nhau của nhànước ( không có một hệ thống thống nhất ); và quyền tổ chức thuộc về cơquan có chức năng xây dựng và sửa đổi Hiến pháp

Trang 37

ở một số nước khác, tuy vẫn có sự phân công hoạt động của các cơquan nhà nước, nhưng đứng trên tất cả lại là một cá nhân hay một cơ quan đặcthù Như Hiến pháp Iran năm 1979 quy định toàn bộ quyền lực của nhà nướcthực tế thuộc về người đứng đầu giáo hội Hiến pháp Zair năm 1980 quy địnhquyền lực nhà nước về mặt tổ chức là thống nhất, do đảng cầm quyền có têngọi Phong trào nhân dân cách mạng nắm giữ Mọi công dân trong nước đều làđảng viên của Đảng Các cơ quan trong nước - Hội đồng lập pháp ( Nghịviện ), Hội đồng hành pháp ( Chính phủ ), Hội đồng Tư pháp ( hệ thống Toà

án ) được coi là các cơ quan của Đảng(1)

Cách thức phân quyền ngang được áp dụng trong tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước các nước hiện đại một cách rộng rãi, và được biểu hiệndưới nhiều mức độ khác nhau, mà rõ ràng nhất là qua hình thức chính thể củacác nhà nước

Có ba mức độ biểu hiện của cách thức phân quyền ngang trong bộ máynhà nước tư sản hiện nay là:

- Phân quyền cứng rắn được áp dụng trong chính thể Cộng hoà Tổngthống, như ở các nước Hoa Kỳ, Phillipine, và đặc biệt phổ biến ở các nước

Mỹ Latinh Đặc điểm của chính thể này là Tổng thống nắm toàn quyền hànhpháp, mà các biểu hiện cụ thể là Tổng thống được bầu ra do nhân dân trực tiếp

bỏ phiếu chứ không phải do Nghị viện bầu chọn; Tổng thống có quyền thànhlập Chính phủ, và các thành viên Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trướcTổng thống chứ không chịu trách nhiệm trước Nghị viện Tổng thống

có quyền phủ quyết các dự luật do Nghị viện thông qua Khi dự luật bị phủquyết, Nghị viện phải thảo luận lại và dự luật chỉ được thông qua khi có đủ từ2/3 số nghị sĩ trở lên bỏ phiếu thuận Sự phân quyền một cách cứng rắn, rạchròi trong hình thức chính thể này được thể hiện qua việc Nghị viện không cóquyền giải tán Chính phủ, cũng như Tổng thống không có quyền giải tán Nghịviện; các Thẩm phán được cơ quan hành pháp bổ nhiệm với nhiệm kỳ suốt đời, _

(1) Viện thông tin khoa học xã hội - Viện khoa học xã hội Việt Nam: Thuyết " Tam quyền phân lập " và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại, Hà Nội, năm 1992 và hoạt độngxét xử mang tính độc lập cao Tổng thống có thể bị xét xử theo thủ tục đànhạch nếu vi phạm pháp luật ( Hạ viện là cơ quan công tố, còn Thượng viện là

cơ quan xét xử )

- Phân quyền mềm dẻo được áp dụng trong chính thể đại nghị, như ởcác nhà nước quân chủ Anh, Nhật , và các nhà nước cộng hoà Đức, Italia Đặc điểm của chính thể này là Nguyên thủ chỉ mang tính hình thức, không cóbất cứ thực quyền nào, mà các biểu hiện cụ thể là Nguyên thủ do được thừa kế( ở các nước quân chủ ) hoặc do được Nghị viện bầu ra ( ở các nước cộnghoà ); Nguyên thủ thành lập Chính phủ với sự tín nhiệm của Nghị viện Thủ

Trang 38

tướng Chính phủ là thủ lĩnh đảng chiếm ưu thế trong Nghị viện Chính phủvừa chịu trách nhiệm trước Nguyên thủ vừa chịu trách nhiệm trước Nghị viện;Nghị viện có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và buộc Chính phủ phảigiải tán Nguyên thủ quốc gia có quyền giải tán Hạ nghị viện Hệ thống Toà

án hoạt động xét xử trên nguyên tắc độc lập cao, chỉ tuân theo pháp luật; cácThẩm phán được chỉ định với sụ tham gia từ cả hai phía lập pháp và hànhpháp

- Phân quyền trong chính thể cộng hoà hỗn hợp, như ở các nước Pháp,Nga, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, Singapore Đặc điểm của chính thể này là sựtham gia hạn chế của Tổng thống vào công việc hành pháp, mà các biểu hiện

cụ thể là Tổng thống do nhân dân bầu ra; Tổng thống chỉ đứng đầu Nhà nướcchứ không đứng đầu Chính phủ, nhưng vẫn có quyền chủ toạ các phiên họpcủa Chính phủ (như ở Nga) hay của Hội đồng Bộ trưởng (như ở Pháp) Tổngthống có quyền bổ nhiệm Thủ tướng nhưng phải được sự phê chuẩn của Nghịviện; Chính phủ vừa chịu trách nhiệm trước Tổng thống vừa chịu trách nhiệmtrước Nghị viện; Nghị viện có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ, và buộcChính phủ phải giải tán Tổng thống có quyền giải tán Hạ nghị viện Toà ánxét xử theo nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật; các Thẩm phán do cơquan hành pháp chỉ định

Phân quyền dọc:

Như đã nói, phân quyền dọc là cách thức phân quyền mới, nói mới là sovới việc áp dụng nó trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản,chứ thực ra lịch sử của tư tưởng phân quyền dọc không hề thua kém so vớicách thức phân quyền ngang Nhìn lại dòng lịch sử, ta có thể nhận ra chínhPolybe và Cicéron, những học giả đưa ra tư tưởng về sự cai trị hỗn hợp giữacác dạng chính quyền của vua, của quý tộc và của nhân dân, chính là nhữngngười đầu tiên đề ra tư tưởng phân quyền dọc

Về nội dung, tư tưởng phân quyền dọc bao hàm các ý chính như sau:

- Tồn tại hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước do dân bầu ở cáccấp địa phương, song song với bộ máy nhà nước trung ương

- Có sự phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cụ thể giữachính quyền trung ương và chính quyền địa phương trong những lĩnh vực cụthể; mà chủ yếu là chính quyền trung ương sẽ giải quyết các vấn đề công, vìlợi ích của cả cộng đồng xã hội, như vấn đề về an ninh - quốc phòng, về chủquyền quốc gia, về dịch vụ công ; còn chính quyền địa phương sẽ phụ tráchcác vấn đề định hướng phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá ở địa phương, ngoài

ra còn có thể chủ động tiến hành hợp tác, giao lưu với các địa phương kháchoặc các tổ chức quốc tế trong khuôn khổ quyền hạn của mình

Trang 39

- Tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền trong nhiệm vụ vàquyền hạn của mình là tương đối độc lập với nhau Chính quyền trung ươngkhông có quyền điều hành, chỉ đạo chính quyền địa phương, mà chỉ có quyềnxây dựng chủ trương, chính sách, tạo dựng khuôn khổ pháp lý, và kiểm tra,giám sát hoạt động của các chính quyền cấp dưới, mọi vi phạm của chínhquyền địa phương sẽ do Toà án Hành chính xét xử độc lập.

Với nội dung chủ yếu nêu trên, cách thức phân quyền dọc còn được gọi

bằng những cái tên khác như phi tập trung hoá hay tản quyền.

Không giống với cách thức phân quyền ngang là có sự ảnh hưởng qualại với hình thức chính thể của nhà nước, cách thức phân quyền dọc có thể tồntại ở gần như hầu khắp các chính thể nhà nước hiện đại, như Philipine với chế

độ Cộng hoà tổng thống, Đức với chế độ Cộng hoà đại nghị, Pháp với chế độCộng hoà hỗn hợp, và New Zealand với chế độ Quân chủ đại nghị ( mànguyên thủ nhà nước hiện nay chính là nữ hoàng Anh ) đều thực hiện nguyên

tắc phi tập trung hoá này.

Phân quyền dọc có thể thực hiện theo hai phương pháp:

Thứ nhất là phân quyền theo lãnh thổ: là cách phân quyền của chính

quyền trung ương cho chính quyền địa phương theo địa giới hành chính - lãnhthổ, mà có các biểu hiện chính là:

- Chính quyền trung ương giao quyền tự quyết, tự quản lý cho chínhquyền địa phương Trong phạm quyền hạn được giao, chính quyền địa phương

có thể tự mình ra nghị quyết mà không cần xin ý kiến từ cấp trên, chỉ tuântheo đúng pháp luật và quy định của trung ương Chính quyền trung ương chỉthực hiện sự kiểm tra, giám sát với các nghị quyết của địa phương, và nếu xétthấy chúng có sai phạm thì có quyền đình chỉ, bãi bỏ, và tiến hành kỷ luậthành chính

- Chính quyền địa phương có ngân sách độc lập, được tự quản lý việcthu chi theo khuôn khổ pháp luật; địa phương có quyền vay tiền, phát hànhcông trái địa phương

- Cơ cấu tự trị yêu cầu chính quyền địa phương phải có một cơ quan ranghị quyết và một cơ quan thi hành các nghị quyết đó, giống như mô hìnhNghị viện và Chính phủ ở địa phương

Thứ hai là phân quyền theo ngành chuyên môn: là cách phân quyền

giữa các bộ chuyên môn với chính quyền địa phương

Ví dụ:(1)

Việc quản lý đất đai ở Malaysia được giao hoàn toàn cho chính quyềncác tỉnh Chính quyền trung ương chỉ ban hành các quy định về thể chế màkhông quyết định việc việc phân phối đất đai Các cơ quan trung ương muốn

sử dụng đất phải được chính quyền tỉnh phân phối và phải trả tiền thuê đất chochính quyền tỉnh

Ngày đăng: 10/04/2013, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w