1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010

47 439 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010
Người hướng dẫn Th.s Lê Thăng Long
Trường học Khoa Kinh Tế & Quản Lý Môi Trường - Đô Thị
Chuyên ngành Kinh Tế & Quản Lý Môi Trường - Đô Thị
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 290,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010

Trang 1

A MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài.

Cùng với sự CNH-HDH đất nước trong thời kỳ đổi mới Các đô thị lớn

và nhỏ trong cả nước đang vươn lên chứng tỏ vai trò của mình Mục tiêu đếnnăm 2010 nước ta cơ bản sẽ là nước công nghiệp Vì thế để thực hiện đượcmục tiêu này thì quá trình CNH-HĐH ở các đô thị phải được ưu tiên hàng đầu.Nhưng nguồn thu cho sự phát triển đó được lấy ở đâu? Đây đang là bài toánnan giải cho các nhà quản lý đô thị nói chung và cho chính quyền từng thànhphố nói riêng

Nguồn thu trên giác độ kinh tế- xã hội có vai trò rất quan trọng cho sựphát triển ở đô thị Về bản chất hoạt động thu là sự vận động của các nguồntiền tệ gắn với sự hình thành và các quỹ tiền tệ đó

Thành phố Thanh Hoá sau 10 năm phát triển bây giờ là một đô thị loại 2.Trong 10 năm ấy đã thu được nhiều kết quả khả quan, Thành phố đang dầnhoàn chỉnh các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch khu Đông Bắc Ga, khu nhà ởcho những hộ gia đình có thu nhập thấp, nâng cao đời sống cho người dân…Thành phố có 12 phường và 6 xã với số dân là 286.848 người, mật độ dân sốnội thành là 17.188 n/km2 (2003)

Nguồn thu ngân sách năm 2004 là 162.704200 (1000đ) và dự kiến năm

2005 là 210.961 triệu đồng Như vậy nguồn thu ngân sách có vai trò rất quantrọng cho sự phát triển của Thành phố Là sinh viên Khoa Kinh Tế & Quản LýMôi Trường - Đô Thị khoá 43 và là một người dân Thanh Hoá Nên tôi muốntìm hiểu về Thành phố mình ở_ nơi tôi đã lớn lên Tôi mạnh dạn chọn đề tài

“ Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển kinh

tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010”

Tôi rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của Th.s Lê Thăng Long và cácbạn trong lớp để tôi hoàn thành chuyên đề thực tập rất quan trọng này

Trang 2

II Mục đích chọn đề tài.

Tôi muốn tìm hiểu những vấn đề làm được và chưa làm được việc

sử dụng hợp lý nguồn thu cho sự phát triển của Thành phố Thanh Hoá nhữngnăm qua Nguồn thu của Thành phố là vấn đề rộng hay hẹp, mức độ phức tạpkhông? Và việc vận dụng những kiến thức học trong 4 năm để tìm hiểu mộtvấn đề cụ thể Xem mình đã thu được gì trong thực tế trước khi ra trường

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là các nguồn thu từ thuế (thuế môn bài, thuế trước

bạ, thuế nông nghiệp…), các khoản phí, lệ phí (phí ô nhiễm môi trường, phígiao thông…) từ việc cho thuê đất, bán đất… trên địa bàn Thành phố

Được thực tập ở phòng Quản Lý Đô Thị Thành phố là cơ quan hànhchính sự nghiệp nên phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các đơn vị cơ quan hànhchính như chi cục thuế Thành phố, phòng tài chính, phòng kế hoạch… Nộidung đề tài là vấn đề nguồn thu trong phạm vi Thành phố Thanh Hoá

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề án gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về nền tài chính đô thị.

Chương 2: Thực trạng tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển

của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001-2005.

Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả tăng nguồn thu ngân

sách cho sự phát triển của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2005-2010.

Trang 3

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỀN TÀI CHÍNH ĐÔ THỊ

I Hệ thống tài chính quốc gia và nền tài chính đô thị.

1.1 Hệ thống tài chính quốc gia.

a Trên quan điểm hình thành các quỹ tiền tệ:

Các hoạt động tài chính luôn gắn liền với các hoạt động kinh tế xã hội đadạng và phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một hệ thống Hệ thống tài chính quốcgia có thể được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau trong quá trình quản lý Vềmặt bản chất, hoạt động tài chính là sự vận động của các nguồn tiền tệ gắn với

sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định Mỗi quỹ tiền tệ có một chủthể quản lý tương ứng, các quỹ có quan hệ với nhau tạo thành các khâu của hệthống Theo sơ đồ 1, hệ thống tài chính quốc gia bao gồm các khâu: Ngân sách,tài chính doanh nghiệp, tài chính các hộ gia đình, tài chính các tổ chức xã hội,tài chính đối ngoại, tài chính tín dụng, tài chính bảo hiểm, tài chính trung gian(các doanh nghiệp ngân hàng tín dụng)

Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước( chủthể quản lý là nhà nước) được tập trung từ các nguồn khác nhau và được sửdụng để chi tiêu thực hiện các chức năng của nhà nước ở các cấp chính quyềnkhác nhau

Mục tiêu hoạt động của tài chính đô thị là tăng nguồn thu, sử dụng hợp

lý các nguồn thu để chi tiêu duy trì các hoạt động thường xuyên và kích thíchphát triển kinh tế, dịch vụ, văn hoá giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ sứckhoẻ…

Tài chính doanh nghiệp là các nguồn lực tài chính gắn với sản xuất củacác doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức vốn và các quỹ chuyên dùng, chủdoanh nghiệp là chủ thể thực hiện mục đích của doanh nghiệp Tài chính các

Trang 4

hộ gia đình và các tổ chức xã hội là các quỹ được hình thành từ các nguồn thunhập khác nhau được sử dụng cho các mục đích tiêu dùng và tích luỹ.

Sơ đồ 1: Hệ thống tài chính quốc gia

Tài chính đối ngoại là những nguồn tài chính hình thành do quan hệ giữacác cá nhân, tổ chức trong quan hệ trong nước với nước ngoài Tài chính đốingoại hình thành hình thành một cách tương đối độc lập, tồn tại dưới các hìnhthức viện trợ, cho vay, liên doanh… và được xem như một trong số các nguồntài chính khác

Các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, công ty tàichính, các quỹ tiền tệ từ việc huy động vốn nhàn rỗi dưới các hình thức khácnhau Các tổ chức tài chính trung gian đóng vai trò cầu nối giữa người bán vàngười mua quyền sử dụng các nguồn tài chính

Các bộ phận của hệ thống tài chính có mối quan hệ với nhau qua cáchoạt động thu nộp đồng thời có quan hệ gián tiếp với nhau thông qua thị trườngtài chính

Thị trường tài chính là một khái niệm trừu tượng dùng để chỉ nơi tiến

Ngân sách Nhà nước

Tài chính doanh

nghiệp

Thị trường

T i ài chính

Các tổ chức tài chínhTrung gian

Tài chính hộ gia đình

và các tổ chức xã hội Tài chính đối

ngoại

Trang 5

chính không phải là một khâu của hệ thống tài chính mà chỉ là môi trường để

hệ thống tài chính hoạt động

b Trên quan điểm phân cấp quản lý:

Các hoạt động tài chính có thể và cần được nghiên cứu theo các cấpquản lý khác nhau Ta có thể dễ dàng thấy sự tồn tại hai cấp hoạt động tàichính là tài chính Trung ương và tài chính các địa phương Trong hệ thống tàichính các địa phương ta thấy sự phân cấp tài chính của các cấp chính quyền:Tài chính tỉnh, thành phố, tài chính quận, huyện, phường, xã Chủ thể quản lýtài chính của tất cả các cấp là Bộ Tài chính, Sở Tài chính (các tỉnh, thành phố),phòng tài chính các quận huyện, ban tài chính phường, xã Thể hiện tập trungnhất trong khâu ngân sách chính quyền các cấp Các khoản thu chi ngân sáchcủa chính quyền các cấp Các khoản thu chi ngân sách của chính quyền các cấpđược hình thành trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước năm 1998 và kế hoạchphát triển kinh tế- xã hội các địa phương có định hướng của Nhà nước

Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo 3 nguyên tắc sau:

- Ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phươngđược phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi một cách cụ thể

- Thực hiện việc phân bổ hợp lý từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấpdưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương

Số bổ sung này là khoản thu ngân sách của cấp dưới

- Không dùng ngân sách của cấp này để chu cho nhiệm vụ của cấp khác,trừ trường hợp đặc biệt của chính phủ hoặc sự uỷ quyền của cơ quan quản lýNhà nước cấp trên cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụchi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trêncho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chi đó

Trang 6

1.2 Hệ thống tài chính đô thị.

a Khái niệm và nội dung

Hệ thống tài chính của các đô thị là một bộ phận cấu thành của hệ thốngtài chính của cả nước Hiện nay Nhà nước chưa phân định rõ luồng tài chính-ngân sách đô thị và nông thôn do vậy ngân sách và tài chính đô thị chưa có cơchế chính sách, cơ chế quản lý riêng mà vẫn áp dụng cơ chế chính sách tàichính chung trong cả nước

Ngân sách đô thị là một bộ phận của ngân sách địa phương và phụ thuộcvào ngân sách địa phương Để phát triển và quản lý đô thị, tăng cường ngânsách địa phương là cần thiết và tất yếu Trong phân tích kinh tế, có thể coi ngânsách địa phương và ngân sách đô thị là hợp nhất Sự phân cấp ngân sách tạonên tính độc lập tương đối về quyền hạn thu chi của mỗi cấp chính quyền và làđiều kiện để thực hiện tốt công tác quản lý ngân sách

Trong các đô thị, việc hình thành ngân sách của chính quyền có sự khácnhau tùy thuộc vào vai trò, vị trí của đô thị trong nền kinh tế quốc dân Các đôthị còn có 2 tổ chức quản lý thu ngân sách và quản lý kho bạc đước tổ chứctheo ngành dọc từ bộ tài chính xuống gồm:

+ Chi cục thuế tỉnh, Chi cục thuế thành phố, quận, thị xã

+ Chi cục kho bạc, chi nhánh kho bạc thành phố, quận, thị xã

Để hình thành ngân sách của mình, các cấp chính quyền địa phương đều

có ba nguồn thu chủ yếu: Thuế địa phương và các loại phí, nguồn thu từ hànghóa công cộng, trợ cấp của chính phủ Kết quả của hoạt động thu đó tạo nênngân sách chung của địa phương

b Những đặc điểm cơ bản:

Tài chính đô thị là quá trình vận động liên tục phát sinh, phát triển củacác nguồn tài chính làm thay đổi các mối quan hệ tiền tệ có liên quan chặt chẽ

Trang 7

với hệ thống chính sách cơ chế quản lý để duy trì hoạt động thường xuyên vàquá trình đô thị hóa ở đô thị.

Hoạt động tài chính có quan hệ với tất cả các hoạt động của đô thị Mụctiêu của hoạt động tài chính đô thị là tăng nguồn thu, sử dụng nguồn thu để chitiêu duy trì các hoạt động thường xuyên và kích thích phát triển kinh tế, dịch

vụ, văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ sức khỏe, giảm ô nhiễm môitrường, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, chống chi phí không cần thiết,chống lãng phí

Tuy nhiên tài chính đô thị chỉ hoạt động hiệu quả khi quá trình tạo nguồnthông qua quá trình cấp phát thanh toán và hạch toán kinh tế với bộ máy vànhững nhà quản lý xây dựng đô thị giỏi, tác nghiệp quản lý phù hợp, hệ thốngluật lệ và quy chế xây dựng đô thị theo quy hoạch

c Vai trò của chính quyền đô thị trong việc quản lý tài chính đô thị ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam.

Các nước trên thế giới: Các nước phát triển thì nền tài chính đô thị giữ vịtrí quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia Chính quyền đô thị có vai trò tựchủ trong việc quản lý riêng biệt nền tài chính đó Tức là chính quyền thànhphố đó ngoài việc tuân theo những quy định pháp luật của nhà nước thì họ cóquyền đưa ra những quy định riêng của thành phố trong việc tăng nguồn thucho ngân sách Vì thế nền tài chính của họ tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh.Ngoài ra các đô thị đó có chính sách rất thông thoáng trong việc tăng nguồn thu

từ các khoản thuế Họ không đề cao tăng nguồn thu từ thuế mà tăng nguồn thu

từ các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường, văn hóa, dulịch bằng cách cho tư nhân tham gia Các nguồn thu đó mang lại cho phát triển

đô thị của họ đang sống Tạo ấn tượng tốt cho người dân đô thị và người nướcngoài Ví dụ như Trung Quốc- Một nước cùng đi theo con đường XHCN giốngViệt Nam Nhưng họ lại phát triển kinh tế theo hướng đi riêng của họ, tiếp thu

Trang 8

những cái mới, cái tốt của các nước đã phát triển áp dụng cho sự phát triển củamình Các đặc khu kinh tế là một ví dụ điển hình, có nền tài chính rất lớn và cơ

sở hạ tầng hoàn chỉnh, thu hút lượng lớn nguồn đầu tư từ nước ngoài Các đặckhu ấy được ví như một nhà nước riêng biệt

Ở Việt Nam, tài chính đô thị cũng có vai trò quan trọng trong công cuộcCNH- HĐH đất nước Nguồn tài chính này chiếm 60% tổng thu ngân sách Nhànước Tuy nhiên trong hệ thống tài chính quốc gia chưa hình thành hệ thống tàichính đô thị được quản lý riêng biệt Tài chính đô thị là bộ phận quan trọng của

hệ thống tài chính quốc gia Nền tài chính của các thành phố rất nhỏ so với nhucầu của sự phát triển, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng

Những vấn đề đặt ra đối với hệ thống tài chính đô thị Việt Nam đó là:

 Xác định rõ hệ thống, tầm quan trọng của từng khâu trong hệthống, cơ chế hoạt động, những yếu kém trong cơ chế, nguyênnhân, cách khắc phục

 Quản lý cái gì? Quản lý nguồn thu, chi như thế nào

 Quản lý như thế nào? thu đủ, chi đúng, chi có hiệu quả, chốngtham nhũng

 Ai quản lý? Vấn đề cán bộ?

Đội ngũ cán bộ tài chính làm việc trong các cơ quan tài chính của ViệtNam được đào tạo tư sơ cấp đến trình độ đại học ở trong nước, nước ngoài vớinhững chuyên ngành khác nhau: Tài chính, ngân hàng tín dụng, kế toán Nhìnchung về số lượng tương đối đông đủ nhưng về chất lượng còn thiếu nhiều cán

bộ có kinh nghiệm quản lý theo cơ chế mới nhất là đối với lĩnh vực tài chính

đô thị và nghiệp vụ phát triển đô thị

Chưa phân biệt được đặc thù của tài chính đô thị trong chế độ tài chínhdẫn đến các quy định trong quản lý tài chính chi phối cản trở quá trình đô thị

Trang 9

hoá Về hình thức tài chính đô thị có vẻ tập trung cao độ nhưng thực chất lại bịphân tán chia cắt tách biệt với công việc cụ thể về xây dựng đô thị.

Tài chính đô thị thuộc phạm trù kinh tế nhưng lại được tổ chức quản lýkiểu hành chính làm mất năng động của các cấp quản lý đô thị, làm chậm tốc

độ đô thị hoá Cơ chế cấp phát vốn và kinh phí còn mang nặng tính bao cấp.Qúa coi trọng việc chế độ cấp phát vốn Nhà nước, xem nhẹ khả năng tự hoạtđộng và cung cấp các dịch vụ đô thị Một nguyên tắc cơ bản trong hạch toánkinh tế là phải thu hồi vốn bỏ ra để hoạt động thì các nhà quản lý lại bỏ qua, đểrồi đến tình trạng thu tiền thuê nhà không đủ sửa chữa, thu tiền nước sinh hoạtthấp hơn giá thành, cuối cùng là thiếu nước, thiếu nhà, thiếu trường học

Các nguồn tài chính khác để xây dựng đô thị chưa có biện pháp khaithác triệt để Nguồn tài chính của các khu vực dân cư, của khu vực nước ngoàigần như bị thả nổi Nhiều gia đình có tiền muốn xây nhà nhưng không đượcthực hiện được Quản lý Nhà nước ở đô thị bị chia ra thành nhiều ngành dọccản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra tài chính Giữa các cấp các ngànhchưa phối hợp chặt chẽ dẫn đến có những quyết định chồng chéo nhau

Ngoài các thành phố Trung ương như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ ChíMinh, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần Thơ có những nguồn tài chính tương đối vữngmạnh Còn các đô thị loại II, III, IV,V thì ngân sách nhỏ, không tự chủ đượcnguồn tài chính mà chủ yếu vẫn là các nguồn tài chính từ ngân sách Trungương cấp Là nước XHCN nên chúng ta phát triển kinh tế gắn liền với côngbằng xã hội Tức là chúng ta phát triển hài hoà các yếu tố với nhau Vì vậynguồn tài chính các đô thị nói chung ở Việt Nam chưa được quan tâm đúngmức với vai trò của nó Hy vọng trong một tương lai không xa các cấp chínhquyền nhận thức và thực hiện các chính sách để tăng nguồn thu của đô thị.Chú trọng đến việc xây dựng và nuôi dưỡng các nguồn thu Như vậy chínhquyền đô thị mới thể hiện được vai trò rất quan trọng của mình

Trang 10

II Quan hệ của các cấp chính quyền qua hệ thống tài chính

Vai trò và trách nhiệm của các cấp chính quyền đô thị diễn ra trongphạm vi nền tài chính quốc gia và trên địa bàn đô thị họ quản lý Tài chính củamỗi cấp thể hiện sức mạnh quyền hạn, trách nhiệm của cấp đó trong bộ máyquản lý đô thị Những mối quan hệ cơ bản về tài chính nảy sinh trên cơ sở côngviệc và điều kiện tài chính bao gồm:

- Phân chia trách nhiệm: Ai làm gì? ai chi khoản gì? thực chất là sự phânquyền mà các cấp chính quyền luôn đòi hỏi sự công bằng và chính xác

- Phân chia nguồn thu: Ai nhận nguồn vốn nào? Phải làm gì khi thu chikhông cân bằng? Là những điều kiện cơ bản để các cấp chính quyền thực hiệnnhiệm vụ của mình

Bình đẳng trong vay mượn và hỗ trợ cung cấp các dịch vụ của Chínhphủ: Tài chính liên cấp Chính quyền đô thị vừa là người điều tiết vừa là ngườicung cấp các dịch vụ trong phạm vi đô thị của mình;

Những loại dịch vụ cấp thành phố cung cấp bao gồm: Đường sá đô thịduy tu bảo dưỡng đường sá, chiếu sáng đô thị, vệ sinh môi trường, giao thông,bệnh viện, cảnh sát, Trong nền kinh tế thị trường, các chính quyền đô thị chỉnên giới hạn vào cung cấp các dịch vụ cho dân cư đô thị của mình Để sản xuất

có hiệu quả các cấp các ngành cần xác định rõ sản xuất cái gì, cho ai, bao nhiêu

và chất lượng thế nào?

Chính quyền đô thị phải cung cấp các dịch vụ có tính xã hội mà cácdoanh nghiệp tư nhân không muốn cung cấp như y tế cộng động, giáo dụccông, văn hoá xã hội, trật tự an toàn xã hội

III Quan hệ của các cấp chính quyền qua hệ thống tài chính

a Sự tồn tại khách quan của các mối quan hệ

Vai trò và trách nhiệm của các cấp chính quyền đô thị diễn ra trong

Trang 11

mỗi cấp thể hiện sức mạnh quyền hạn, trách nhiệm của cấp đó trong bộ máyquản lý đô thị Những mối quan hệ cơ bản về tài chính nảy sinh trên cơ sở côngviệc và điều kiện tài chính bao gồm:

 Phân chia trách nhiệm: Ai làm gì? ai chi khoản gì? thực chất là sựphân quyền mà các cấp chính quyền luôn đòi hỏi sự công bằng vàchính xác

 Phân chia nguồn thu: Ai nhận nguồn vốn nào? Phải làm gì khi thuchi không cân bằng? Là những điều kiện cơ bản để các cấp chínhquyền thực hiện nhiệm vụ của mình

 Bình đẳng trong vay mượn và hỗ trơ cung cấp các dịch vụ củaChính phủ:Tài chính liên cấp

Chính quyền đô thị vừa là người điều tiết vừa là người cung cấp các dịch

vụ trong phạm vi đô thị của mình

Những loại dịch vụ cấp thành phố cung cấp bao gồm: Đường sá đô thịduy tu bảo dưỡng đường sá, chiếu sáng đô thị, vệ sing môi trường, giao thông,bệnh viện, cảnh sát, Trong nền kinh tế thị trường, các chính quyền đô thị chỉnên giới hạn vào cung cấp các dịch vụ cho dân cư đô thị của mình Để sản xuất

có hiệu quả các cấp các ngành cần xác định rõ sản xuất cái gì, cho ai, bao nhiêu

và chất lượng thế nào?

Chính quyền đô thị phải cung cấp các dịch vụ có tính xã hội mà các doanhnghiệp tư nhân không muốn cung cấp như y tế cộng động, giáo dục công, vănhoá xã hội, trật tự an toàn xã hội

IV Các nội dung thu của ngân sách đô thị từ trong nước

4.1 Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Ngân sách đô thị, hay ngân sách của thành phố, thị xã, thị trấn, đượchình thành theo luật ngân sách Nhà nước năm 1998 Cũng giống như ngân sáchcác địa phương, ngân sách đô thị hình thành dựa vào nhiệm vụ quản lý Nhà

Trang 12

nước về hành chính kinh tế, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trên chế độđịnh mức chi tiêu và chính sách để lại nguồn thu cho các đô thị để thiết lập vàchấp hành ngân sách Các nguồn thu của ngân sách cấp tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương bao gồm:

- Tiền thuê chênh lệch giá đất

- Tền thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước

- Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn quận, huyện không kể

lệ phí trước bạ nhà đất

- Thu tiền từ hoạt động sổ xố kiến thiết

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nướcngoài trực tiếp cho tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật

- Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu nhập khác nộp vàongân sách tỉnh theo quy định của chính phủ

- Các khoản huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xâydựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của chínhphủ(các loại quỹ phát triển nhà ở)

- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh, thành phố

- Thu kết dư ngân sách ngân sách cấp tỉnh, thành phố

- Bổ sung từ ngân sách trung ương (tài trợ của chính phủ)

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

ương và ngân sách cấp tỉnh, thành phố:

- Thuế giá trị gia tăng (VAT) không kể VAT của hàng hoánhập khẩu

Trang 13

- Thuế thu nhập doanh nghiệp không kể thuế thu nhập doanhnghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành

- Thuế thu nhập (đối với người có thu nhập cao)

- Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài

- Thu sử dụng vốn ngân sách

ngân sách quận, phường:

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thực chất là chênh lệch giáđất

4.2 Ngân sách cấp thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận

* Các khoản thu này được giữ lại 100%.

- Thu ngoài quốc doanh: Đó là các khoản thu từ thuế và lệ phí đối với cáccông ty, doanh nghiệp, các tiểu thương, tiểu chủ không thuộc sở hữu Nhà nước

- Thuế môn bài: Không gồm thuế môn bài thu từ các hộ gia đình, các nhàkinh doanh nhỏ ở thị trấn, xã

- Thuế sát sinh: Thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc trên địa bàn

Trang 14

- Lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh quản lý.

- Thu kết dư ngân sách cấp thành phố: Đó là những khoản chi còn dưđược tổng kết vào cuối năm

- Bổ sung từ ngân sách tỉnh: Là những khoản trợ cấp ngân sách tỉnh chothành phố, thị xã, huyện, xã

- Các khoản thu khác theo quy định của nhà nước: Thuế tắc nghẽn giaothông, thuế ô nhiễm môi trường… cũng là những nguồn thu quan trọng, đồngthời góp phần khắc phục các vấn đề về giao thông và cải thiện môi trường

* Các khoản thu phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách tỉnh và ngân sách thành phố thuộc tỉnh.

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất: Là chênh lệch giá của đất trong quátrình chuyển quyền sử dụng Thuế có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng đất,nên người sử dụng phải cân nhắc khi chuyển quyền sử dụng đất

- Thuế đất ở: đất xây dựng các công trình sử dụng vào các mục đích phinông nghiệp Căn cứ để tính thuế là diện tích và khả năng thu nhập của cáccông trình Nếu đất đô thị chỉ để ở thì đất phụ thuộc vào vị trí từng loại phố,tuỳ loại đô thị, thuế đất ở đô thị cao hơn thuế đất nông nghiệp từ 2 đến 32 lần.Đất ven đô, ven trục giao thông chính có mức thuế cao hơn từ 1,5 đến 2,5 lầnthuế đất nông nghiệp vào loại cao nhất trong vùng

- Tiền thuê đất: Là khoản thu điều tiết vào thu nhập do sử dụng đất manglại Tiền thuê đất phải lớn hơn thuế đất một khoản bằng lợi nhuận của người cótài sản cho thuê Các đơn vị không được nhà nước giao đất phải đi thuê đất đểxây dựng nhà xưởng để hoạt động

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp (cho thị trấn, xã tối là 20%): Thực hiệnđiều tiết đối với đất được sử dụng vào sản xuất nông nhiệp Căn cứ để tính thuế

Trang 15

là diện tích và chất lượng kinh tế đất Thuế suất được tính bằng kgthóc/sào/năm Thực tế thường quy đổi thành tiền để đơn giản khâu thu nộp.

- Tiền sử dụng đất: Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sủ dụng

ổn định lâu dài, người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước

- Thuế tài nguyên: Đánh vào các chủ thể sử dụng tài nguyên khoáng sảnhoặc người trực tiếp khai thác

- Lệ phí trước bạ nhà đất: Là khoản tiền mà người mua đất hoăc mua nhàphải nộp thay người bán cho chi cục thuế

- Thuế tiêu thụ đặc biệt kinh doanh hàng mã, vũ trường, karaoke,massage…

- Nguồn thu từ hàng hoá công cộng

Chính quyền địa phương có nhiệm vụ cung cấp một số hàng hoá dịch vụ,dịnh vụ giao thông, bảo vệ của cảnh sát, phòng cháy chữa cháy, công viên vàthoát nước… Tuy nhiên trong một số các điều kiện nhất định thì việc cung cấphàng hoá của chính quyền địa phương đạt hiệu quả cao

Nói chung nguồn thu từ hàng hoá công cộng là rất ít vì nó mang tínhchất phục vụ cho tầng lớp nhân dân Người dân sử dụng các hàng hoá côngcộng đó họ phải trả tiền thông qua các dịch vụ

 Các loại lệ phí:

+ Lệ phí giao thông+ Lệ phí cấp giấy phép xây dựng+ Lệ phí xử phạt hành chính+ Lệ phí lưu trú đô thị

+ Lệ phí khác: Phòng cháy chữa cháy, sử dụng bến bãi,

lề đường, quảng cáo công chứng, vệ sinh môi trường

Trang 16

* Trợ cấp của Chính phủ

Trợ cấp của chính phủ cho các công trình của địa phương như trợ cấpgiáo dục, phúc lợi xã hội, nhà ở và phương tiện công cộng, đường giao thông,bệnh viện, y tế… là những nguồn tài chính quan trọng cho đô thị

* Nguồn thu ngân sách từ trong nhân dân

Nguồn thu từ trong nhân dân có vai trò cũng rất quan trọng cho sự pháttriển đô thị, huy động được lượng tiền nhàn rỗi trong nhân dân sẽ rất tốt cho sựphát triển đô thị Chính quyền đô thị nên tạo ra nhiều dịch vụ mới để thu hútnhân dân tham gia và dựa trên nguyên tắc người được hưởng phải trả tiền

V Nguồn thu từ nước ngoài

Đó là các khoản viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nướcngoài trực tiếp cho tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật Vay nướcngoài như từ nguồn vốn World Bank, IMF…Các nguồn vốn khác như ODA,FDI thì chủ yếu đầu tư vào nông thôn, vùng miền núi kinh tế còn gặp nhiềukhó khăn

Trang 17

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TĂNG NGUỒN THU NGÂN SÁCH CHO SỰ PHÁT

TRIỂN CỦA THÀNH PHỐ THÀNH HÓA TRONG

GIAI ĐOẠN 2001 - 2005

I Giới thiệu về Thành phố Thanh Hoá

Một người pháp tên là Charles Robequin viết lại những quan sát vềthành phố Thanh hoá trong một luận văn tiến sĩ của mình, ông đặc biệt tánthưởng chất lượng các đồ gốm sành màu tím ngắt hoặc màu da lươn vàng ươm

ở Lò Chum Bến Ngự chất đầy trên các con thuyền mành và thuyền đinh, mỗinăm có sản lượng 1.500 tấn và xuất khẩu ít nhất 270 tấn ra thị trường Bắc Bộ

Thành phố Thanh hoá được biết đến với chiến thắng Hàm Rồng vẻ vangthể hiện tinh thần chiến đấu quật cường của quân dân Nam Ngạn trong khángchiến chống Mĩ Bây giờ lại rất nổi tiếng bởi là nơi cung ứng hàng trăm mặthàng đá ốp lát có hàm lượng Silic cao với nhiều màu sắc tuyệt vời

Thành phố nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam

Bộ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vị trí địa

lý trên là một lợi thế quan trọng tạo điều kiện cho phát triển Thành phố mởrộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu vực và trong cả nước cũng như vớinước bạn Lào

Ngày 1/5/1994 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập Thành phốThanh hoá trên cơ sở là Thị xã Thanh hoá, Địa giới bao gồm:

Phía Bắc tới núi Vôi- Xã Đông CươngPhía Đông tới cảng Lễ Môn- Xã Quảng HưngPhía Nam tới Cầu Quán Nam- Xã Đông VệPhía Tây tới cây số Ba- Phường Phú SơnNăm 2003, Thành phố có diện tích tự nhiên là 58,58 km2 riêng đấtxây dựng đô thị là 14.926 km2 Có 12 phường và 6 xã Tính đến 01/01/2003

Trang 18

tổng số dân toàn thành phố là 286.848 người, mật độ dân số nội thành là17.188 người/km2

Khu trung tâm có các phường Ba Đình, Điện Biên, Lam Sơn, NgọcTrạo, Tân Sơn, Trường Thi

Kế cận có phường Đông Sơn, Đông Vệ, Phú Sơn, Đông Thọ, NamNgạn, Hàm Rồng

Ngoại vi thành phố có các xã Đông Cương, Đông Hương, Đông Hải,Quảng Hưng, Quảng Thành, Quảng Thắng

Hướng phát triển của thành phố là Đông- Đông Bắc(xã Đông Cương) vàĐông- Đông Nam(xã Quảng Thành) Các xã Đông Hương, Đông Hải, QuảngHưng và Quảng Thắng là những quỹ đất tiềm năng rộng lớn cho các khu đô thịmới có quy hoạch hiện đại Thành phố có khu công nghiệp có tổng diện tích

180 ha: khu công nghiệp Đình Hương 30 ha, khu công nghiệp vừa và nhỏ TâyBắc ga 50 ha, khu công nghiệp Lễ Môn 100 ha Giá trị Sản xuất chiếm 34,4%tổng GDP của thành phố

II Thực trạng tăng nguồn thu cho sự phát triển của thành phố Thanh hoá trong giai đoạn 2001- 2005

2.2.1 Vấn đề xây dựng nguồn thu:

Đây không phải là hạn chế riêng của Thành phố Thanh hoá mà còn làhạn chế của nhiều đô thị khác Xây dựng nguồn thu là một phạm trù mới trongquản lý thu ngân sách Nhà nước Cho nên vấn đề xây dựng và nuôi dưỡngnguồn thu chưa được các cấp chính quyền Thành phố quan tâm Nguồn thungân sách chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác Cáccán bộ quản lý chưa nhận thấy được tầm quan trọng khi tạo nên các nguồn thumới trên địa bàn Thành phố Ví dụ như thất thu từ việc không áp dụng thu thuếxây dựng nhà ở mà chỉ thu lệ phí cấp giấy phép xây dựng Mà vô tình làm mất

Trang 19

Các nguồn thu thường xuyên hàng năm không thể thay đổi được màchính quyền các cấp thực hiện công tác thu tốt hơn, ngày một có hiệu quả hơn.Chính quyền thực hiện còn nhiều khó khăn như phụ thuộc vào quyết định củalãnh đạo tỉnh, theo đúng pháp luật hiện hành Có một ví dụ về việc tạo thêmnguồn thu ngân sách của thành phố trong năm 2003-2004: Xã Quảng Thànhnăm 2003 lập quy hoạch một khu dân cư 50 lô đất, xã tiến hành đầu tư xâydựng hạ tầng đền bù giải phóng mặt bằng trước khi đấu giá đất Năm 2004thành phố thực hiện việc đấu giá đất, mỗi lô có giá trị gần 200 triệu đồng Nhưvậy tổng thu là 50 tỷ đồng nếu được thực hiện thành công Tài chính thành phốquy định số tiền này nộp vào Kho bạc Nhà nước để thu vào ngân sách thànhphố 100% và yêu cầu xã giải trình để xin lại các chi phí đã bỏ ra Quá trình giảiquyết kéo dài nên quyền lợi của xã không được đảm bảo Xã dừng việc thựchiện khu dân cư thứ hai lại Xã Quảng Hưng bên cạnh biết như thế cũng dừng

hạ tầng khu dân cư của mình lại Như vậy nguồn thu kia đã vô tình bị mất dokhông thực hiện được dự án Việc làm ấu trĩ về hạch toán và phân chi quyềnlợi, chi phí về đất sử dụng nguyên thuỷ, quyền lợi về đất xã được bao nhiêuphần trăm Bởi vậy việc làm của chính quyền thành phố vừa làm mất tiền vừalàm mất lòng tin của nhân dân của chính quyền thành phố

2.2.2 Thực trạng thực hiện thu ngân sách

Năm 2001 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ thànhphố lần thứ 14 nhiệm kỳ 2001-2005 Là năm tạo tiền đề cho xây dựng kế hoạch

5 năm 2001-2005

Trong năm qua UBND thành phố đã tích cực chỉ đạo công tác thu trênđịa bàn và đạt được những kết quả khả quan, cụ thể:

Trang 20

% thực hiện/ dự toán

1 Thuế CTN ngoài quốc doanh 1.7300.000 1.7546.000 101

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2001)

Tổng thu ngân sách năm 2001 đạt 51.644.700 (1000đ) bằng 113 % sovới cùng kỳ Các khoản thu thành phố thực hiện đều đạt và vượt chỉ tiêu là thuếCTN ngoài quốc doanh, thuế trước bạ nhà đất, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền

sử dụng đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, trong đó thuế trước bạ nhà đất làcao nhất 365% Chỉ có thuế nông nghiệp không đạt dự toán tỉnh giao(47%).Nguyên nhân là do thành phố có chính sách giảm, miễn thuế nông nghiệp chocác hộ nông dân có hoàn cảnh khó khăn và hiện tại tỷ trọng lao động trongnông nghiệp đang có xu hướng giảm dần (4%) Tuy nhiên bên cạnh những kếtquả đó còn tồn tại nhiều khó khăn: Thành phố có khoảng 3.000 hộ kinh doanhvừa và nhỏ, 167 doanh nghiệp tư nhân nhưng vẫn còn tình trạng trốn thuế, nợđọng thuế, quản lý các nguồn thu để xác định doanh thu thuế ở một số mặthàng không đúng gây thất thu cho ngân sách Nguồn thu từ đất thấp, một phần

Trang 21

chung cư trên địa bàn phường Đông Thọ, Điện Biên, các khu đô thị trongtương lai ở xã Đông Hải, Quảng Hưng.

Tại kỳ họp thứ 8 Hội Đồng Nhân Dân Thành phố khoá 18 đã có nghịquyết phấn đấu thực hiện dự toán thu ngân sách Nhà nước năm 2002, thànhphố đã tổ chức thực hiện thu ngân sách đạt được những kết quả sau:

% thực hiện/ dự toán

1 Thuế CTN ngoài quốc doanh 19.800.000 20.331.800 103

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2002)

Tổng thu ngân sách đạt 55.336.900(1000đ) bằng 107% so với cùng kỳ.Như vậy nguồn thu năm 2002 đạt chỉ tiêu dự toán tỉnh giao nhưng tổng thutăng không đáng kể (7%) Các chủ tiêu thuế CTN ngoài quốc doanh, thuế sửdụng đất nông nghiệp, thuế trước bạ nhà đất, thuế nhà đất, tiền sử dụng đất,tiền thuê đất đều đạt chỉ tiêu Nguyên nhân là do thành phố duyệt quy hoạchchi tiết các khu chung cư và quy hoạch phát trển thành phố đến năm 2010 Chicục thuế kết hợp tốt với các ban ngành liên quan như chi cục quản lý thịtrường, phòng tài chính thực hiện thu và xử phạt hành chính đối với các đối

Trang 22

tượng trốn thuế,gian lậu thuế, kinh doanh, buôn bán trên các phường trung tâm.Các ngành chức năng ở cấp phường xã đã rà soát hầu hết các đối tượng phảinộp thuế, đưa vào sổ bộ quản lý, đã bước đầu điều chỉnh doanh thu tính thuếsát và đúng Tuy nhiên vẫn còn tình trạng đọng thuế xác định doanh thu các hộkinh doanh vẫn còn sai sót, còn thất thu ở các lĩnh vực kinh doanh anư uốngbuổi sáng, tối, hộ kinh doanh vận tải, hoạt động buôn chuyến, xây dựng cơ bản

tư nhân…

Thuế chuyển quyền sử dụng đất, phí, lệ phí, thu khác ngân sách khôngđạt dự toán ngân sách là do các cấp các ngành liên quan chưa phối kết hợpthường xuyên và có hiệu lực trong việc nắm bắt quản lý và thu thuế đối với các

hộ mua bán nhà ở trên địa bàn Công tác thu phí gặp nhiều khó khăn do, mứcthu của nhà nước quy định giảm Mặt khác trong thời gian qua tỉnh có chínhsách cho các đơn vị kinh doanh nhà đất được nộp chậm tiền cấp quyền sử dụngđất một số dự án lớn như khu công nghiệp Tây Bắc ga, khu Bệnh viện HợpLực

Trang 23

Nguồn thu ngân sách năm 2003 đạt kết quả như sau:

% thực hiện/ dự toán

1 Thuế CTN ngoài quốc doanh 25.700.000 25.650.000 100

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2003)

Tổng thu ngân sách đạt 129.183.900 bằng 233,5% (tăng 126,5%) so vớicùng kỳ So với năm 2002 thì năm 2003 tổng thu ngân sách có sự tăng trưởngvượt bậc Tại sao lại đạt được kết quả cao như vậy? Nhìn vào bảng ta thấy nămnay do có sự tăng trưởng vượt bậc của tiền sử dụng đất là 83.483 triệu đồng đạt334% thành phố thục hiện/ dự toán tỉnh giao Tăng 513,7% so với cùng kỳ.Tiền sử dụng đất cao như vậy là do thành phố thực hiện quy hoạch chi tiết sửdụng đất thành phố các khu chung cư trên địa bàn phường Đông Thọ, ĐiệnBiên, các khu đô thị trong tương lai ở xã Đông Hải, Quảng Hưng Thu tiền đơn

vị kinh doanh nhà đất dự án lớn như khu công nghiệp Tây Bắc ga, khu Bệnhviện Hợp Lực Người dân mua nhiều đất để xây dựng nên đẩy giá đất lên cao

Ngày đăng: 10/04/2013, 14:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Hệ thống tài chính quốc gia - Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010
Sơ đồ 1 Hệ thống tài chính quốc gia (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w