Đề tài : Phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hóa ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên (giai đoạn 2001 – 2010)
Trang 1THƯ MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế diễn ra mạnh mẽ và trên quy mô lớn Toàn cầu hóa tạo ra cơ hội phát triển
Trang 2nhưng cũng chứa đựng nhiều khó khăn thách thức lớn cho các quốc gia, nhất
là các nước đang phát triển Sự ảnh hưởng này không chỉ về phương diện kinh
tế mà nó cũng có những tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa của các nước.Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hìnhthế giới và khu vực, Đảng ta luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủtrương, chính sách đổi mới đúng đắn trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vựcvăn hóa, chỉ đạo hoạch định các chính sách văn hóa nhằm thực hiện thắng lợimục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc Ngay từ đại hội VI những nhận thức mới của Đảng về văn hóa đã
có bước chuyển quan trọng Nền văn hóa mà Đảng ta xác định phải xây dựng
là nền văn hóa với đặc trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn Tháng 7 năm 1998,Hội nghị Trung Ương 5 (khóa VIII) ra nghị quyết về xây dựng nền văn hóa
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Xuất phát từ quan điểm, định hướng: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 – 2010
Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vị trí của văn hóa trong lịch sử phát triển dân tộc,đồng thời phát triển sâu rộng, nâng cao hơn nữa chất lượng nền văn hóa dân tộc,làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người
Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng đã chủ trương phát động phong trào
“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” Phong trào đã lôi cuốn sự tham giacủa mọi tầng lớp nhân dân trong mọi miền cả nước thi đua trở thành người tốtviệc tốt, các điển hình tiên tiến; xây dựng gia đình văn hóa; các công sở,doanh nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang xây dựng nếp sống văn hóa; cácđịa phương trong cả nước tích cực xây dựng đời sống văn hóa mới… Phongtrào đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần nâng cao đời sống văn hóatinh thần cho nhân dân Trong đó phong trào xây dựng Làng, Khu dân cư vănhóa đạt được những kết quả đáng kể Đến năm 2009, theo báo cáo của Bộ vănhóa thông tin, cả nước đã có 53321 làng (ấp, bản), khu dân cư văn hóa [41]
Đó là một con số quan trọng nói nên ý nghĩa của phong trào
Trang 3Thực hiện theo chủ trương của Đảng, Đảng bộ huyện Phú Bình đã phát
động phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Sau 10 năm thực hiện 2001 - 2010 phong trào đã phát triển sâu rộng trên toàndiện trên khắp 21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện, toàn huyện đã có 687 lượtxóm tổ dân phố được công nhận đạt danh hiêu làng, khu dân cư văn hóa Nó
đã góp phần vào việc thúc đẩy và ổn định tình hình kinh tế xã hội của huyện:Kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, thu hút nhiều nguồn đầu tư của nước ngoài, đờisống của nhân dân được cải thiện, tệ nạn xã hội giảm đáng kể…Tuy nhiên,khi đi sâu vào tìm hiểu thì phong trào cũng còn nhiều hạn chế cần có hướnggiải quyết để phong trào đạt kết quả cao hơn trong những năm tiếp theo
Từ những cơ sở trên tôi đã quyết định chọn vấn đề “phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hóa ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên (giai đoạn 2001 – 2010)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Mục tiêu của đề tài
nhằm tìm hiểu rõ hơn về hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở vànhững tác động của nó tới sự phát triển của địa phương
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn hóa là một bộ phận quan
trọng và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Tuy nhiên cũng chưa có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề này mà chủ yếu được nêu trong các báo cáo tổng kết của cácđịa phương hay được đề cập rất hạn chế trong các công trình nghiên cứu vềđịa phương như:
Cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình (1930 – 2005) đã dựng lại
quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ huyện, ghi lại những thànhtựu to lớn mà Đảng bộ đã lãnh đạo cán bộ và nhân dân trong huyện giànhđược trong 75 năm qua Trong đó đã nói lên chủ trương và sự chỉ đạo củaĐảng bộ và UBND huyện Phú Bình và kết quả của việc thực hiện phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội hàng năm của UBND huyện Phú Bình đã tổng kết những những thành tựu về kinh tế, văn hóa - xã hội, trong đó
Trang 4có phần tổng kết những kết quả đạt được của phong trào xây dựng Làng, Khudân cư văn hóa Trên cơ sở đó đánh giá chung tình hình thực hiện nhiệm vụxây dựng đời sống văn hóa của những năm trước, đề ra những mục tiêu vànhiệm vụ chủ yếu cho năm sau.
Báo cáo tổng kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và phương hướng nhiệm vụ hàng năm của Ban chỉ đạo phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” huyện Phú Bình đã đánh giá
kết quả của phong trào từng năm và đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải phápxây dựng phong trào của năm sau
Báo cáo tổng kết 10 năm phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từ 2000 – 2010 đã tổng kết những thành tựu trong công tác
xây dựng đời sống văn hóa về mọi mặt: giáo dục, y tế, dân số, gia đình và trẻ
em, làng xã văn hóa… Trên cơ sở đó đánh giá chung tình hình thực hiệnnhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa của những năm trước, đề ra những mụctiêu và nhiệm vụ chủ yếu cho năm sau
Tổng kết 20 năm phong trào xây dựng Làng văn hóa (giai đoạn 1989 2009) của UBND tỉnh Thái Nguyên đã nói lên quá trình thực hiện, kết quả đạt
-được và những tồn tại yếu kém khi thực hiện, đưa ra phương hướng, nhiệm
vụ, giải pháp và những kiến nghị đề xuất lên cấp trên
Báo cáo tổng kết 20 năm phong trào xây dựng Làng văn hóa (1989 – 2009) và tuyên dương làng văn hóa tiêu biểu năm 2009 của UBND huyện Phú Bình cũng đã tổng kết những kết quả đã đạt được và những tồn tại yếu
kém khi thực hiện phong trào trong 20 năm qua Từ đó, rút ra những bài họckinh nghiệm và đưa ra phương hướng, nhiệm vụ và những giải pháp cụ thể đẩymạnh phong trào trong những năm tiếp theo
Như vậy, qua quá trình tìm hiểu tôi nhận thấy chưa có một công trình
nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện về “phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hóa của huyện Phú Bình giai đoạn 2001– 2010” mà
chỉ dừng lại ở việc tổng kết một cách khái quát những thành tựu, hạn chế, từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra chỉ tiêu cho năm sau Tuy
Trang 5nhiên đây là nguồn tài liệu quý giá, cung cấp những tư liệu cần thiết giúp tôithực hiệnđề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các làng, khu dân cư văn hóa ở huyện Phú Bình – Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi không gian: Huyện Phú Bình – Thái Nguyên
Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 đến 2010
3.3 Nhiệm vụ của đề tài.
Làm rõ chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình về việc xây dựnglàng, khu dân cư văn hóa;
Những kết quả đạt được của phong trào xây dựng làng, khu dân cư vănhóa ở huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010;
Chỉ ra hiệu quả của phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn hóa vềkinh tế, xã hội ở Phú Bình
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tài liệu.
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Tư liệu thành văn:
+ Tư liệu gốc: Các văn kiện, nghị quyết của Đảng trong thời kỳ đổi mới
từ Đại hội VII đến Đại hội X;
+ Các nguồn tư liệu thành văn khác: các sách nghiên cứu, sách thamkhảo, các công trình nghiên cứu về văn hóa, về xã hội học,… có liên quan
- Tư liệu lưu trữ: các tài liệu, báo cáo lưu trữ tại phòng thống kê huyện
ủy huyện Phú Bình, phòng văn hóa thông tin huyện Phú Bình
- Tư liệu điền dã thực tế tại các xóm, xã trong huyện
Trang 64.2 Phương pháp nghiên cứu.
Trong đề tài này tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để thấy được việcthực hiện chủ trương của Đảng về vấn đề xây dựng làng, khu dân cư văn hóa
- Phương pháp thống kê so sánh để thấy được kết quả của phong trào
- Phương pháp phân tích tổng hợp để thấy được những tác động của nóđến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xâydựng đời sống văn hóa mới trong giai đoạn sau
Góp phần vào việc tìm hiểu lịch sử địa phương
6 Cấu trúc của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung chính củakhóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hóa ở huyện PhúBình – tỉnh Thái Nguyên (giai đoạn 2001 – 2010)
Chương 3: Những hạn chế, biện pháp và một số bài học kinh nghiệm
Trang 7Chương 1.
KHÁI QUÁT HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Phú Bình là một huyện trung du, địa đầu phía Đông Nam của tỉnh TháiNguyên, huyện lị đặt tại thị trấn Hương Sơn cách thành phố Thái Nguyên 28 kmtheo quốc lộ 37 Thời Lý vùng đất huyện Phú Bình ngày nay có tên gọi làhuyện Tư Nông, thuộc châu Thái Nguyên; thời Minh thuộc phủ Thái Nguyên.Thời Lê thuộc Thái Nguyên thừa tuyên; Ninh Sóc thừa tuyên Đầu thế kỷ XXToàn quyền Đông Dương đổi huyện Tư Nông thành phủ Phú Bình Hơn 5 thế
kỷ tồn tại và phát triển, cương vực huyện Phú Bình ngày nay căn bản như đất
Tư Nông xưa, không có biến đổi gì nhiều Phía Đông giáp huyện Yên Thế vàTân Yên; Phía Nam giáp huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang); phía Bắc và Tây Bắcgiáp huyện Đồng Hỷ, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Phổ Yên, có tọa độđịa lý từ 210 23’ 33” đến 210 35’ 22” vĩ bắc, giữa 1050 51’ đến 1060 02’ kinhđông.[1, 5]
Huyện Phú Bình có diện tích tự nhiên là 249,36 km2 Sự kiến tạo địa chất
và con sông Cầu, sông Máng, kênh Đông (thuộc hệ thống đại thủy nông) chia cắtPhú Bình thành 3 vùng: vùng phía Bắc và Đông Bắc nằm trên tả ngạn sông Máng,
là vùng bán sơn địa (vùng số I) gồm 8 xã (Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Kim,Tân Thành, Bảo Lý, Tân Hòa, Tân Khánh), trong đó có 7 xã miền núi, có diện tíchđất tự nhiên là 13.883,84 ha Vùng trung tâm huyện (vùng II) có địa hình trungbình, gồm 6 xã và thị trấn (Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh,Lương Phú, Tân Đức và thị trấn Hương Sơn) có diện tích tự nhiên là 583,88 ha.Đây là vùng có dân số đông, lao động dồi dào, trình độ dân trí khá Vùng phía Tây
và Tây Nam (vùng III) gồm 6 xã (Hà Châu, Điềm Thụy, Nga My, Thượng Đình,
Nhã Lộng và Úc Kỳ), có diện tích tự nhiên là 4518,39 ha.[17, 943]
Phú Bình là huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình, có cả miền núi,trung du và đồng bằng, độ cao so với mặt nước biển trung bình là 14m, nơithấp nhất là 10m, đỉnh cao nhất là 250m Ở Phú Bình, tuy đồi núi thấp chiếm
Trang 8một diện tích lớn nhưng lại có ưu thế về giao thông cả đường bộ lẫn đườngsông Phú Bình được ví như chiếc cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ - nơi
có những đô thị buôn bán sầm uất với miền núi non hiểm trở phía Bắc – nơingã ba con đường giao lưu của các tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Bắc Giang,Bắc Ninh, Hà Nội Vị thế này rất thuận tiện cho Phú Bình giao lưu với cáchuyện xung quanh, với thành phố Thái Nguyên và một số địa phương khác
Nhìn chung toàn huyện Phú Bình địa hình tương đối bằng phẳng Vùng đồinúi chủ yếu là đồi núi bát úp thoải và thấp, có độ cao dưới 100m Diện tích có độdốc nhỏ hơn 80 chiếm 67,56% tổng diện tích tự nhiên của huyện Địa hình mangđặc điểm của vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù sa sông Cầu là điều kiệnthuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lương thực.[1, 8]
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Phú Bình rất ít sông, suối Trên địa bàn huyện chỉ có hai con sông chính làsông Cầu và sông Đào (hay còn gọi sông Máng) Sông Cầu thuộc hệ thống sôngThái Bình, đoạn chảy qua Phú Bình dài 29km từ đập Thác Huống (xã ĐồngLiên) qua 9 xã rồi đổ Chã (huyện Phổ Yên), lòng sông rộng khoảng 120m, cólưu lượng nước trung bình vào mùa mưa từ 280 đến 610m3/s, vào mùa khô từ6,3 đến 6,5m3/s Sông Đào (còn gọi là sông Máng) bắt nguồn từ đập ThácHuống (xã Đồng Liên), chảy qua 9 xã của huyện và đổ về sông Thương (BắcGiang) với chiều dài 31km Đây là con sông thuộc hệ thống đại thủy nông đượckhởi công xây dựng năm 1922 và hoàn thành năm 1929, hàng năm cung cấpnước tưới cho hơn 1.800 ha ruộng đất của huyện Phú Bình và hàng ngàn haruộng của các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên (Bắc Giang) Bên cạnh đó là
hệ thống đại thủy nông hồ núi Cốc và 119 hồ chứa nước lớn, nhỏ và hàng trămngàn ao, đầm cùng với một số suối nhỏ cung cấp nước cho hơn 1000 ha đất canhtác thuộc ở các xã Tây Bắc huyện Do vậy, những năm gặp thời tiết thất thường,diện tích gieo trồng bị khô cạn của huyện Phú Bình cũng ít hơn so với các huyệnkhác trong tỉnh Huyện Phú Bình có trữ lượng nước ngầm khá lớn và ở độ sâu
vừa phải (trung bình dưới mặt đất 4m là thấy mạch nước ngầm) [1, 8]
Trang 9Khí hậu của Phú Bình mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi, trung duBắc Bộ, có nhiệt độ trung bình năm từ 23,10c đến 24,40c Nhiệt độ cao nhất trungbình 28,90c, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 2000 mm đến 2500 mm.Tháng 8 có lượng mưa cao nhất và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất Tổng số giờnắng trong năm dao động từ 1206 giờ đến 1570 giờ và phân phối đều trong năm [43]
So với các huyện khác trong tỉnh, huyện Phú Bình có độ ẩm cao, trungbình từ 81,9% đến 82%, độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vàotháng 11, 12 Do địa hình tương đối bằng phẳng nên huyện Phú Bình có tầnsuất lặng gió thấp, khoảng từ 15 đến 20% và tốc độ gió cũng lớn hơn cáchuyện miền núi, hướng gió thay đổi theo hệ thống hoàn lưu, mùa hè thường
có gió Đông Nam, mát mẻ; mùa đông có gió Đông Bắc, thời tiết lạnh.[21, 20]
Hệ thống đường bộ của Phú Bình qua nhiều năm xây dựng, đặc biệt từnăm 1990 đến nay đã tương đối hoàn chỉnh, gồm nhiều đường giao thôngngang, dọc nối liền các thôn, xã trong huyện với nhiều vùng trong tỉnh và nhiềumiền của đất nước
Trục giao thông quan trọng nhất trên địa bàn huyện là Quốc lộ 37 TừPhú Bình ta có thể theo Quốc lộ 37 xuôi xuống Bắc Giang gặp Quốc lộ 1A,rồi theo Quốc lộ 1A có thể ngược lên thành phố Lạng Sơn, hoặc xuôi về thủ
đô Hà Nội Từ huyện Phú Bình ta cũng có thể theo Quốc lộ 3A ngược lên cáctỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng hoặc xuôi về thủ đô Hà Nội
Tiếp theo là tỉnh lộ 262 bắt đầu từ bến đò Hà Châu, qua các xã HàChâu, Nga My, Úc Kì lên xã Điềm Thụy chia làm hai nhánh, một nhánh nốivới Quốc lộ 37 tại xã Điềm Thụy, một nhánh sang huyện Phổ Yên, lên huyệnĐại Từ, nối với đọan Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu Ngoài ra, trên địa bànhuyện còn có hai bờ đê sông Đào cũng là trục đường bộ khá quan trọng, nhất
là bờ đê phía hữu ngạn, xe ôtô có trọng tải tương đối lớn có thể đi lại dễ dàng
Về giao thông đường thủy, từ tháng 7/1954 trở về trước, sông Cầu vàsông Đào không chỉ là tuyến vận tải quan trọng của huyện mà của cả tỉnhThái Nguyên Trên sông Đào, các đoàn thuyền và xà lan chở than đá và nôngsản từ bến Tượng (Thị xã Thái Nguyên) có thể đến tận Hải Phòng và có thể
Trang 10lấy hàng từ Hải Phòng về Thái Nguyên Năm 1966, đế quốc Mỹ cho máy bayném bom bắn phá làm hỏng nhiều âu thuyền nên tuyến vận tải này ngừng hoạtđộng Tuy nhiên nhân dân địa phương vẫn sử dụng vận tải nội hạt.[21,21]
Điều kiện tự nhiên của huyện Phú Bình rất thuận lợi cho phát triển sản xuấtnông – lâm nghiệp Do vị trí địa lý, giao thông thuận tiện cho việc giao lưu hànghóa, đặc biệt thuận tiện trong cung cấp lương thực, thực phẩm cho thị trường TháiNguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội, nên buôn bán ở Phú Bình có vị trí đáng
kể Huyện Phú Bình có một số chợ lớn nằm sát đường giao thông ví dụ như ChợĐồn, Chợ Cầu, Chợ Cầu, Chợ Tân Đức, Chợ Hanh đó chính là những cầu giaolưu hàng hóa, cung cấp lương thực thực phẩm cho các vùng xung quanh
1.2 Đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa - xã hội
1.2.1 Dân cư
Dân cư là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế Thái Nguyên làmột tỉnh đông dân so với các tỉnh miền núi phía Bắc, với mật độ dân cư trungbình là 297 người/km2 So sánh với các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, tỉnhThái Nguyên có mật độ dân cư trung bình cao hơn gấp 2 lần tỉnh TuyênQuang, gấp 3 lần tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, và gấp 7 lần tỉnh Lai
Châu [Dẫn theo 21,24]
Phú Bình là một huyện có nhiều dân tộc cùng nhau sinh sống, trong đó đa
số là người Kinh chiếm 91,56%, các dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở các
xã Tân Thành, Tân Hòa, Bàn Đạt và Tân Kim; Dân tộc Tày chiếm 1,86%, dân tộcNùng chiếm 3,86, dân tộc Sán Dìu chiếm 2,44%, còn các dân tộc khác chỉ chiếm0,10% Tỷ lệ nhân khẩu theo thành phần dân tộc được cụ thể như bảng 1.1:
Trang 11(Nguồn: phòng dân tộc huyện Phú Bình năm 2010)
Dân cư huyện Phú Bình do nhiều bộ phận hợp thành Bên cạnh một bộphận lớn là dân cư bản địa định cư lâu đời là bộ phận dân cư do bọn điền chủngười Pháp và người Việt mộ vào làm thuê cho chúng ở các đồn điền Một bộphận khác là đồng bào các tỉnh vùng địch tạm chiếm tản cư kháng chiến rồiđịnh cư lâu đời và một bộ phận là đồng bào các địa phương khác di cư đến địabàn huyện sinh cơ, lập nghiệp
Dân số trung bình của huyện năm 2010 là 134.679 người trong đó dân
số nông thôn là 126.730 chiếm 94,5%, dân số thị trấn là 7474 chiếm gần5,6% Mật độ dân số trung bình là 586 người/km2 nhưng phân bố không đềugiữa các xã trong huyện, các xã có mật độ cao trên 1000 người/km2 là NhãLộng, Thanh Ninh, Hà Châu Các xã có mật độ dân số thấp dưới 400 người /kmgồm Bàn Đạt, Tân Khánh, Tân Kim và Tân Thành.[38]
Dân cư đông đúc làm cho địa phương có nguồn lao động dồi dào, có thịtrường tiêu thụ rộng Tuy nhiên, trong điều kiện huyện Phú Bình nói riêng vàtỉnh Thái Nguyên nói chung còn nghèo thì dân số đông tất yếu sẽ dẫn đến thunhập bình quân theo đầu người hạn chế
1.2.2 Về kinh tế
Hàng trăm năm nay, ngành sản xuất chủ yếu của Phú Bình là nông lâm nghiệp, trong đó sản xuất lương thực thực phẩm đảm bảo cho tiêu dùngtại chỗ là chính Đất đai Phú Bình thích hợp với các loại cây lương thực, cây
Trang 12-công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, thuốc lá…), cây ăn quả có giá trị kinh
tế cao Phú Bình là huyện có diện tích trồng cây lương thực lớn, được mệnhdanh là vựa lúa lớn của tỉnh Thái Nguyên
Sản xuất nông nghiệp của huyện Phú Bình còn phụ thuộc vào thiên nhiênsong nhân dân trong huyện cần cù lao động và có kinh nghiệm thâm canh nên sảnlượng lương thực của huyện năm sau tăng hơn năm trước Năm 2009 sản lượnglương thực là 71.544 tấn đến năm 2010 tăng lên là 72.004 tấn [38]
Phú Bình có nhiều nghề thủ công Đáng chú ý là nghề làm đồ gốm Lương
Tạ, nghề đan nát mây tre, mộc gia dụng Tuy nhiên, sản phẩm thủ công nghiệpcủa Phú Bình còn nhỏ bé, đơn điệu và tiêu thụ ở địa phương là chính
Thắng lợi của đường lối đổi mới sau 15 năm thực hiện ở Phú Bình đã mở
ra bước phát triển mới trong huyện Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tíchcực Năm 2001, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng là 71,79%, côngnghiệp và xây dựng 10,57% Đến năm 2010 công nghiệp xây dựng tăng lên 19,7%;nông, lâm nghiêp, thủy sản giảm còn 52,3%; dịch vụ tăng lên 28% Tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm đạt 7,0% (tính trong giai đoạn 2005 - 2010)[16, 22 - 23]
Nét nổi bật trong nông thôn Phú Bình những năm gần đây là cơ cấukinh tế gia đình phát triển khá vững chắc, đa dạng: trồng cây, nuôi cá, chănnuôi gia súc gia cầm và làm thủ công nghiệp gia đình Đàn lợn của huyện PhúBình tăng từ 88.008 con năm 2001 lên 133.000 con năm 2010; đàn bò cũngtăng từ 9.699 con năm 2001 lên 19.000 con năm 2010… chủ yếu là nhờ chănnuôi gia đình [38] Một số xã như Kha Sơn, Lương Phú, Thượng Đình, NhãLộng có nghề thủ công phát triển, thu nhập gia đình cao hơn so với các xãthuần nông
Phú Bình những năm gần đây chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất theohướng phát triển kinh tế hàng hóa gắn liền với thị trường, giữ vững diện tíchtrồng lúa, đẩy mạnh thâm canh, thực hiện chương trình cao sản, đưa năng suấtlúa từ 39,4 tạ/ha năm 2001 lên 48,54 tạ/ha năm 2010, diện tích cây ngô đông
từ 1.463 ha với sản lượng 4.358 tấn năm 2001 lên 2.986 ha với sản lượng11.761 tấn năm 2010 Kinh tế vườn phát triển nhanh [38]
Trang 131.2.3 Về văn hóa - xã hội
Về Giáo dục - Đào tạo: Sự nghiệp giáo dục đào tạo của Phú Bình 60 năm qua
được quan tâm, phát triển toàn diện Năm học 1944 – 1945, cả huyện mới chỉ có 1trường sơ học toàn cấp (từ lớp 1 đến lớp 3) và một trường sơ học bán cấp (từ lớp 1đến lớp 2) với khoảng 50 học sinh, 95% dân số trong huyện mù chữ Từ năm 1956trở về trước huyện chưa có trường cấp II Năm 1966, huyện mới mở trường cấp III(trung học phổ thông) nhưng cũng chỉ có một lớp đầu cấp (lớp 10) [17, 950]
Năm học 2009 – 2010 cả huyện có 66 trường, trong đó có 21 trườngmẫu giáo, 21 trường tiểu học, 21 trường trung học cơ sở và 3 trường trung họcphổ thông Đội ngũ giáo viên hầu hết đã tốt nghiệp các trường cao đẳng và đạihọc sư phạm, một số có trình độ trên đại học Số học sinh phổ thông toànhuyện năm học 2009 – 2010 là 22.972 em 100% số xã, thị trấn trong huyện
đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở, 70% số trườngtrong huyện đạt chuẩn quốc gia Số người chưa biết chữ trong độ tuổi chỉchiếm khoảng 1% tổng số dân trong huyện[38]
Về y tế: Huyện có 26 cơ sở y tế, trong đó có một bệnh viện đa khoa, 4
phòng khám khu vực với 115 giường bệnh và 21 trạm y tế xã và thị trấn với
105 giường bệnh Đội ngũ thầy thuốc gồm 194 người, trong đó bác sĩ và trênđại học 55 người, trung học y dược 102 người và hơn 100 cán bộ y tế thôn,bản Đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất của ngành y tế huyện những năm qua
đã đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và ngăn chặn các ổdịch bệnh; các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt trên địa bàn.[38]
Về văn hóa: Đến năm 2010, huyện Phú Bình có 13 di tích được xếp
hạng quốc gia: cụm di tích lịch sử xã Kha Sơn (gồm chùa Mai Sơn, RừngRác, nền nhà ông Cao Nhật, đình Kha Sơn Hạ, đình Kha Sơn Thượng, ChùaLàng Ca, rừng Mẫn) và các di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật: đình Phương
Độ (xã Xuân Phương), đình Hộ Lệnh (xã Điềm Thụy), đình Xuân La (xãXuân Phương), chùa Úc Kỳ (xã Úc Kỳ), chùa Ha (xã Nhã Lộng), đình Đông(xã Tân Đức) Đình đền Cầu Muối (xã Tân Thành) [37]
Trang 14Những làn điệu dân ca như hát ví, hát chèo, hát trống quân…., biểudiễn trong các dịp lễ hội được nhân dân ưa thích Đặc biệt là kho tàng ca dao,tục ngữ ở đây rất phong phú, đa dạng phản ánh kinh nghiệm sản xuất, chếgiễu thói hư tật xấu trong xã hội
Ngày nay các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được pháttriển mạnh mẽ từ huyện đến các cấp cơ sở, góp phần nâng cao đời sống tinhthần cho nhân dân các dân tộc trong huyện, tạo môi trường văn hóa lànhmạnh, đậm đà bản sắc dân tộc cho nhân dân nhất là thế hệ trẻ
1.2.4 Truyền thống lịch sử của huyện Phú Bình
Bên cạnh truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, nhân dân huyện PhúBình còn có truyền thống yêu nước, một lòng đoàn kết chống giặc ngoại xâm.Vào thế kỷ XI nhà Tống cho 30 vạn quân vào xâm lược nước ta, nhân dânPhú Bình đã sát cánh cùng đồng bào cả nước dưới sự chỉ huy tài giỏi của Thái
uý quốc công Lý Thường Kiệt chặn đứng quân Tống trên phòng tuyến sôngNhư Nguyệt (Sông Cầu ngày nay), sau đó quét sạch bọn cướp nước ra khỏidân tộc
Sang thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam càng lún sâu vào giaiđoạn khủng hoảng, suy vong trầm trọng Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nôngdân nổ ra trên phạm vi cả nước Vùng Việt Bắc trong đó có Phú Bình, nôngdân chống phong kiến diễn ra rất gay gắt, quyết liệt Năm 1833, nhân dân PhúBình cùng đồng bào trong tỉnh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa rộng lớn do NôngVăn Vân chỉ huy Đầu năm 1884 đội quân cờ Đen do Lý A Sinh cầm đầu kéođến đánh chiếm thành lũy Phương Độ và cướp bóc hầu khắp các tổng trong phủPhú Bình Một lần nữa, nhân dân Phú Bình lại đứng lên cầm vũ khí sát cánhcùng với quân của triều đình nhà Nguyễn đánh đuổi bọn cướp lên phía Bắc
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cũng như quân và dân cả nước,quân và dân Phú Bình đã đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược rất quyết liệt.Trận đánh quân Pháp ngày 17/3/1884 khi chúng vừa đặt chân đến Đức Lân,Phương Độ; sự hưởng ứng và tham gia tích cực vào các cuộc khởi nghĩa doHoàng Hoa Thám (năm 1887), của Trịnh Văn Cấn 1917 lãnh đạo chống thực
Trang 15dân Pháp là những trang sử chống xâm lược vẻ vang của nhân dân huyện PhúBình Những năm 1938 – 1940, cũng trên mảnh đất mà nhân dân có truyềnthống đấu tranh kiên cường ấy, những thanh niên yêu nước ở xã Kha Sơn Hạ
đã tìm đến với chủ nghĩa cộng sản, với cách mạng Từ nhóm thanh niên yêunước này, năm 1941, Hội Nông dân phản đế, Hội Phụ nữ phản đế đầu tiên củahuyện được thành lập ở Kha Sơn Hạ, sau đó lan rộng ra các làng Kha SơnThượng, Mai Sơn.… Cuối năm 1941, các tổ chức phản đế của Phú Bình đượcđổi thành các hội cứu quốc quân trong Mặt trận Việt Minh Đến giữa năm 1943,Mặt trận Việt Minh đã mở rộng cơ sở của mình ra khắp các tổng trong huyện
Năm 1943, Phú Bình cùng Phổ Yên, Hiệp Hòa (Bắc Giang) đượcTrung Ương chọn làm An toàn khu II (gọi tắt là ATKII) Các cơ quan Trung
Ương, Xứ ủy Bắc Kỳ như binh vận tuyên truyền cổ động, cơ sở in báo Cờ giải phóng, trạm giao liên, nơi tổ chức huấn luyện chính trị, quân sự, nơi đứng
chân của cán bộ đã lấy Phú Bình làm nơi bí mật để hoạt động và liên lạc vớiTrung Ương, Xứ ủy chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước cho đến Tổng Khởinghĩa Tháng Tám 1945
Tháng 7/1943, cơ sở Đảng đầu tiên của huyện Phú Bình được thành lập
ở Kha Sơn Hạ, bảy tháng sau, tháng 2/1944 chi bộ Kha Sơn Thượng ra đời vàđến tháng 7/1945, Ban cán sự Đảng bộ huyện Phú Bình được thành lập
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp Nắm thời cơ đó, ngày 14/3, chi
bộ Kha Sơn Hạ, Kha Sơn Thượng đã phát động nhân dân trong xã đứng lêngiành chính quyền thắng lợi Từ thắng lợi ở Kha Sơn, liên tiếp các xã tronghuyện lần lượt nổi dậy giành chính quyền thành công Đến cuối tháng 4/1945,chính quyền các xã trong huyện cơ bản đã về tay nhân dân
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Phú Bình đã
góp công lớn đập tan chiến dịch “Hải cẩu” tấn công lên Việt Bắc của 3000
quân Pháp tháng 10/1950 Trong chiến dịch này quân và dân Phú Bình đã tiêudiệt và làm bị thương hơn 1000 tên địch, bắn cháy 4 ca nô trên sông Cầu, songquan trọng hơn cả là làm chậm kế hoạch tấn công của chúng lên thị xã TháiNguyên Đồng thời, âm mưu hỗ trợ đồng bọn ở Biên giới tháo chạy của chúng
Trang 16cũng không còn cơ hội thực hiện Trong 9 năm kháng chiến Phú Bình đã độngviên được 2.716 thanh niên tòng quân, 6.244 người tham gia dân quân du kích,72.500 lượt người đi dân công, 230 người hi sinh ngoài mặt trận.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phú Bình đã có gần 9.500nam, nữ xung phong vào bộ đội, hơn 500 đoàn viên gia nhập thanh niên xungphong, có mặt khắp các chiến trường Đông Dương Nhiều người đã lập côngxuất sắc như anh hùng Phạm Thanh Ngân bắn rơi 8 máy bay của đế quốc Mỹ,được bầu vào Bộ chính trị ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII, đượcphong hàm Thượng Tướng Riêng trong kháng chiến chống Mỹ đã có hơn
1200 người hi sinh ngoài mặt trận Cùng với sức người, nhân dân Phú Bìnhcòn đóng góp hơn 20.000 tấn thóc, hàng nghìn tấn đỗ, lạc và thực phẩm chokháng chiến
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Phú Bình đã có11.816 người trực tiếp cầm súng đánh giặc, 1.340 người đã anh dũng hi sinh,
813 người bị thương, trong đó có nhiều thương binh nặng, 125 gia đình cócông với nước, 36 lão thành cách mạng, 6 cán bộ hoạt động tiền khởi nghĩa đãđược nhà nước khen thưởng, 15.339 Huân huy chương các loại; huyện PhúBình, hai xã Kha Sơn, Lương Phú và đồng chí Phạm Thanh Ngân được nhànước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, 24 bà
mẹ được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.[17, 948]
Tiểu kết
Phú Bình là một huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình có cả miền núi,trung du và đồng bằng, thuận tiện cho phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp.Địa hình có nhiều đồi núi thấp tạo khả năng, tiềm năng cung cấp đất cho xâydựng cơ sở hạ tầng như giao thông, công trình thủy lợi, khu công nghiệp Sựphát triển của mạng lưới đường giao thông quốc gia và nội tỉnh, nhất là QL37
và những trục đường được xây dựng và nâng cấp nối liến huyện với các địaphương giáp ranh và thủ đô, Phú Bình sẽ có những vận hội mới phát triểnkinh tế theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Đây là huyện cótruyền thống lịch sử lâu đời, nhân dân cần cù lao động, đoàn kết cùng nhau
Trang 17xây dựng quê hương nên Phú Bình là địa phương luôn giữ vững ổn định chínhtrị, xã hội Tuy nhiên Phú Bình cũng có không ít những khó khăn như: xuấtphát điểm để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất thấp sovới mặt bằng chung toàn quốc; là huyện sản xuất nông nghiệp là chủ yếu;chất lượng đất xấu nên năng suất thực tế không cao và tiềm năng tăng năngsuất cây trồng hạn chế Vì vậy, thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sốngnhân dân gặp nhiều khó khăn Dân cư đa dạng do nhiều bộ phận hợp thành vàđông đúc làm cho huyện có nguồn lao động dồi dào nhưng trình độ lao độngthấp sẽ tạo ra cho Phú Bình những khó khăn trong phát triển kinh tế, đặc biệt
là trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đạihóa… Những khó khăn thách thức này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sựphát triển của phong trào xây dựng Làng văn hóa của huyện
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm và đầu tư của Đảng vàNhà nước, tình hình kinh tế - xã hội của huyện có sự thay đổi rõ rệt, đời sốngvật chất cũng như tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao
Trang 18Chương 2.
PHONG TRÀO XÂY DỰNG LÀNG, KHU DÂN CƯ VĂN HÓA Ở HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN (GIAI ĐOẠN 2001 - 2010) 2.1 Những chủ trương về xây dựng Làng văn hóa.
2.1.1 Chủ trương của Đảng
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn hóatrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Hàng loạt các văn kiện của Đảng vềlĩnh vực văn hóa được ra đời đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công cuộc đổi mới vàyêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới Đặc biệt quan trọng
là tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã thông qua “cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (1991) Trong cươnglĩnh này, Đảng ta đã xác định nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là mộttrong sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng [20,166] Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng vàphát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống vănhóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Vận độngtoàn dân thực hiện lối sống cần kiệm, văn minh, lịch sự; phổ biến rộng rãitrong nhân dân những kiến thức văn hóa cần thiết cho sản xuất và đờisống ”[Dẫn theo 18, 171]
Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã
ban hành Nghị quyết về vấn đề “xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Trên cơ sở tổng kết những thành tựu cũng như
những hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở thời kỳ pháttriển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,trên tầm cao của sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã xác định phương hướngchung để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam: “phương hướng chungcủa sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyềnthống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường xây dựng và bảo
Trang 19vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Namtiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,….”[2, 15]
Trong nghị quyết này, Đảng ta đã khái quát hóa năm quan điểm chỉ đạo
cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
1 Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
2 Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc
3 Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam
4 Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảnglãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
5 Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệpcách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
Năm quan điểm này thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng vềvăn hóa ở bình diện khái quát cao, bao quát được toàn bộ những vấn đề cốt lõicủa việc xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới Sự sáng tạo củaĐảng không chỉ dừng lại ở việc nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn vai trò củavăn hóa trong sự nghiệp đổi mới mà còn thể hiện ở việc xác định rõ phươnghướng, đặc trưng, tính chất, động lực và đặc thù của hoạt động xây dựng và pháttriển văn hóa
Để thực hiện phương hướng về quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triểnvăn hóa, Đảng ta đã đề ra 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn, trong đó có: Phátđộng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động mọilực lượng nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơquan Nhà nước, các đoàn thể và toàn xã hội tích cực tham gia, thực hiện phongtrào, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vàotừng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vàomọi lĩnh vực sinh hoạt, vào quan hệ con người; tạo ra trên đất nước ta đời sốngtinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự
Trang 20nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộidân chủ, công bằng, văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội [6, 38]
Để thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngày 23 tháng 12 năm 1999, Thủtướng Chính phủ đã ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận độngphong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cấp Trung ươngnhằm chỉ đạo, định hướng phối hợp hoạt động, phát huy nội lực của toàn xãhội thực hiện thắng lợi phong trào to lớn này
Từ ngày 12 tháng 4 năm 2000 và những năm sau đó, Ban chỉ đạo đãban hành kế hoạch triển khai phong trào trào Toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hóa trên phạm vi cả nước Nội dung chủ yếu của Kế hoạch là:
1 Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo
2 Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh
3 Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việctheo pháp luật
4 Xây dựng môi trường văn hóa, sạch - đẹp – an toàn;
5 Xây dựng các thiết chế văn hóa – thể thao và nâng cao chất lượngcác hoạt động văn hóa – thể thao cơ sở
Để thực hiện các nội dung chủ yếu trên, kế hoạch đề ra các phongtrào cụ thể sau:
1 Xây dựng người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến;
2 Xây dựng gia đình văn hóa;
3 Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư;
4 Xây dựng làng, bản, ấp, khu phố văn hóa;
5 Xây dựng công sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang … cónếp sống văn hóa;
6 Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại;
Trang 217 Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động sáng tạo.[25, 193 - 204]Như vậy, nghị quyết hội nghị trung ương 5 khóa VIII đã bao quátđược tổng thể những nội dung cơ bản và chủ yếu để xây dựng và phát triển
văn hóa trong thời kỳ đổi mới, là “Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược về văn hóa của cách mạng nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [Dẫn theo 18, 182] Vì vậy, nó đã nhanh chóng có sức lan tỏa sâu rộng
trong cuộc sống, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống xã hội,hình thành nhiều phong trào văn hóa ở các vùng miền, thu hút đông đảoquần chúng tham gia, góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự
xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế phát triển
Sự hình thành của phong trào xây dựng làng văn hoá là nhu cầu đòihỏi tất yếu trong sự chuyển mình đi lên của khu vực nông thôn nói chung
và của các địa bàn dân cư như xóm, tổ, khối phố dân cư nói riêng Năm
2001, Bộ Văn hoá Thông tin đã ban hành Quy chế công nhận danh hiệu giađình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá Tới năm 2003, các danh hiệu
“làng văn hoá, tổ dân phố văn hoá, gia đình văn hoá” được đưa vào trongLuật thi đua khen thưởng Theo đó, việc công nhận gia đình văn hoá đượcđịnh kỳ tiến hành 1 năm ở cấp cơ sở, danh hiệu làng văn hoá được định kỳbình xét 3 năm/lần Đây thực sự là những cơ sở pháp lý quan trọng để địnhhướng nội dung, hình thức, nhiệm vụ mục tiêu cụ thể và các giải pháp xâydựng làng văn hoá ở nước ta
2.1.2 Chủ trương của tỉnh Thái Nguyên.
Thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng,
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã đề ra chủ trương về việc phát triển đời sống vănhóa của nhân dân: “Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa và đời sốngvăn hóa của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàndân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phát triển xây dựng làng, bản, khuphố văn hóa, tạo môi trường văn hóa lành mạnh để bài trừ các hủ tục, đẩy lùicác hiện tượng tiêu cực các tệ nạn xã hội… Tiếp tục đưa các hoạt động văn
Trang 22hóa thông tin về cơ sở vùng cao, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc…” [14, 39].Ban Thường vụ tỉnh ủy đã ban hành chỉ thị số 05/CT – TU ngày 14/10/1998
về việc thực hiện nếp sống văn hóa thực hành tiết kiệm trong việc cưới việctang và lễ hội Tiếp đó UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số2530/1998/ QĐ-UB về việc thực hiện nếp sống văn minh thực hành tiết kiệmtrong việc cưới việc tang và lễ hội Ngày 3/7/1999, Ban thường vụ tỉnh ủy đãban hành quyết định số 339 - QĐ/TU thành lập ban chỉ đạo phong trào Toàndân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Thái Nguyên và đề ra chươngtrình thực hiện phong trào
Mục tiêu tổng quát của phong trào là:
Tiếp tục thực hiện đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào Toàndân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, làm cho phong trào phát triển ngàycàng sâu rộng, đồng đều, thực chất và bền vững; thực sự được các cấp cácngành quan tâm lãnh đạo chỉ đạo; được đông đảo các cán bộ và các tầng lớpnhân dân tham gia hưởng ứng mạnh mẽ
Tăng cường sự phối hợp với các ngành, các tổ chức thành viên lồngghép giữa việc thực hiện các chương trình, các cuộc vận động, các phong tràothi đua yêu nước với cuộc vận động Phối hợp chặt chẽ với ngành Văn hóa thểthao và du lịch trong việc chỉ đạo nâng cao chất lượng cuộc vận động, nhất làtrong việc công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu dân cư tiên tiến”,tạo tiền đề xây dựng thôn, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa
Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa văn hóa truyền thống, bảo tồn
có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, loại bỏ dần các hủtục lạc hậu, từng bước hình thành các phong tục tập quán mới văn minh, sống
và làm việc theo pháp luật, phù hợp với các yêu cầu chung của xã hội
Tiếp tục tổng kết nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, đổi mớicông tác thi đua khen thưởng, cần ghi nhận và giải quyết một cách tích cựcnhất những kiến nghị về kinh phí của cuộc vận động ở khu dân cư và đội ngũcán bộ Mặt trận để có các cơ chế, điều kiện đảm bảo cho cuộc vận độngkhông ngừng được mở rộng và nâng cao chất lượng
Trang 23Xây dựng và phấn dấu theo các chỉ tiêu, quy chế, quy tắc về nếp sốngvăn hóa Huy động nguồn nhân lực của toàn xã hội tham gia các hoạt độngsáng tạo và xây dựng đời sống văn hóa, tạo điều kiện cho các hoạt động vănhóa phát triển, từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, gópphần thúc đẩy kinh tế xã hội của huyện phát triển.
Những nội dung chủ yếu của phong trào là:
1 Triển khai thực hiện phong trào sâu rộng, đồng đều ở các vùng trongtoàn huyện
2 Tiếp tục thực hiện những nội dung chủ yếu của phong trào toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
3 Nâng cao chất lượng các phong trào cụ thể: phong trào người tốt việctốt, xây dựng gia đình văn hóa
4 Gắn kết phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa vớiđời sống kinh tế chính trị văn hóa
Để thực hiện được những mục tiêu và nội dung nêu trên, các văn bảncủa Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã chỉ rõ những biện pháp cụ thể như sau:
- Củng cố và nâng cao nhận thức
- Tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo
- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và phối hợp giữa cácngành đoàn thể
- Đẩy mạnh phong trào xã hội hóa, đẩy mạnh việc xây dựng lực lượngphong trào
- Đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng
Xác định rõ xây dựng gia đình văn hóa, Làng/Khu dân cư văn hóa lànội dung quan trọng và thiết yếu của cuộc vận động, “góp phần làm cho vănhóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, và từng người, từnggia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư ” [3, 15 - 16] Ủyban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) tỉnh đã chủ động phối hợp với ngành văn hóa
- thông tin cụ thể hóa chương trình hành động của MTTQ Việt Nam thực hiệnNghị quyết Trung Ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn
Trang 24hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Căn cứ Quyết định số01/2002/QĐ/-BVHTT ngày 2/1/2001 của Bộ trưởng bộ văn hóa thông tin vềviệc ban hành quy chế công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, làng, bản, xóm,phố, cơ quan văn hóa Ngày18/03/2004 UBND tỉnh ban hành quy định tiêuchuẩn công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, làng văn hóa, tổ dân phố vănhóa, cơ quan văn hóa Trong đó có những quy định chung là:
Danh hiệu Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơ quan văn hóa có haicấp công nhận:
Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơ quan văn hóa cấp huyện do chủtịch UBND huyện (Thành phố, Thị xã) công nhận
Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơ quan văn hóa cấp tỉnh do chủtịch UBND tỉnh công nhận
Việc công nhận Gia đình văn hóa, Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơquan văn hóa phải đảm bảo nguyên tắc công khai dân chủ đúng tiêu chuẩn
Những quy định cụ thể về công nhận làng văn hóa:
1 Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển
2 Có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú
3 Có môi trường cảnh quan sạch đẹp
4 Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước [31]
2.1.3 Chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình
Thực hiện theo chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình trong các kỳ
Đại hội Đảng lần thứ XXIII (11/2000), XXIV (10/2005), XXV (8/2010) “Tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo chỉ đạo và quản lý của Nhà nước trong các hoạt động văn hóa, quản lý khai thác, phát huy những giá trị về văn hóa, du lịch trên địa bàn huyện Thực hiện tốt phong trào: Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa…”[16, 25], Ban chấp hành Đảng bộ và Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình đã đề
ra chương trình, kế hoạch phát triển đời sống văn hóa cơ sở huyện
Thứ nhất, về mục đích yêu cầu, Huyện uỷ và UBND huyện khẳng địnhphong trào cần đạt những mục đích sau:
Trang 25- Tạo sự chuyển biến về nhận thức trong các cấp ủy Đảng, Chính quyền,ban ngành, đoàn thể, từ trong các cơ quan nhà nước đến ngoài xã hội, trong cán
bộ, đảng viên,các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của văn hóa và con ngườitrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và của huyện
- Tăng cường công tác chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sựphối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể để tạo nên sức mạnh đồng bộ, đẩymạnh các phong trào đang triển khai như: phong trào xây dựng gia đình vănhóa, xây dựng phong trào “Người tốt việc tốt”, phong trào “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng “cơ quan, đơn vị,doanh nghiệp…đạt chuẩn văn hóa”, phong trào “Toàn dân rèn luyện theogương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “Học tập, lao động sáng tạo”…
- Đẩy mạnh phong trào xã hội hóa văn hóa, xây dựng và từng bướcnâng cao chất lượng các thiết chế văn hóa thể thao cơ sở đồng bộ cả về cơ sởvật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ, nội dung, phương thức hoạt động vàthu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia
- Phối hợp và đẩy mạnh các phong trào quần chúng hiện có trong phongtrào chung TDĐKXDĐSVH, đồng thời lồng ghép bổ sung nội dung văn hóavào các phong trào hiện có của các ban ngành, đoàn thể ở các địa phươngtrong huyện
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của phong trào TDĐKXDĐSVH, tạochuyển biến cơ bản trong việc: thực hiện nếp sống văn minh; xây dựng môitrường văn hóa, tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh, giữ gìn, phát huy cácgiá trị văn hóa truyền thống lành mạnh của dân tộc; xây dựng các thiết chếvăn hóa thông tin – thể dục thể thao, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần chonhân dân, nhất là những nhân dân ở vùng núi, vùng khó khăn của huyện.Đồng thời thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế chính trị của huyện
Thứ hai, về mục tiêu và những nội dung chủ yếu, bao gồm những mụctiêu chung và mục tiêu cụ thể Đó là:
Trang 26Đối với mục tiêu chung, trong thời gian tới cần huy động sức mạnh củatoàn đảng, toàn dân mọi nguồn lực xã hội tập trung vào hai lĩnh vực cụ thểnhư sau:
1 Đoàn kết xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và nếp sống lành mạnh,tốt đẹp
2 Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở mỗi người, mỗi nhà, mỗi tổ chức
xã hội phong phú, lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội
Nội dung cơ bản của phong trào “Toàn dân kết đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa” được thể hiện ở 05 nội dung sau:
1 Đoàn kết giúp đỡ nhau Phát triển kinh tế, phát huy các thành phần kinh
tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế huy động được nhiều nguồn nhân lực, tạo nhiềuviệc làm để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng;
2 Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh;
3 Xây dựng nếp sống văn minh;
4 Xây dựng môi trường văn hóa sạch - đẹp - an toàn;
5 Xây dựng các thiết chế văn hóa - thể thao và nâng cao chất lượng cáchoạt động văn hóa - thể thao cơ sở
Trên cơ sở những mục tiêu, yêu cầu và nội dung như trên, Huyện PhúBình đã xác định các phong trào cụ thể để phát triển, theo đó phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cần được xác định là phongtrào quần chúng rộng lớn, mọi cá nhân tập thể trong xã hội đều có tráchnhiệm tham gia:
- Xây dựng người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến;
- Xây dựng gia đình văn hóa;
- Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư;
- Xây dựng nếp sống văn hóa tại các công sở, doanh nghiệp, các đơn vị lựclượng vũ trang;
- Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại
- Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động, sáng tạo
Trang 27Trong đó cũng đề ra những tiêu chuẩn chung để được công nhận làng, khudân cư văn hóa của huyện và tỉnh gồm 4 tiêu chuẩn sau:
- Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển;
- Có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú;
- Có môi trường cảnh quan sạch đẹp;
- Thực hiện tốt pháp luật, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc xâydựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, thôn, khu dân cư.[4]
Huyện ủy và UBND huyện xác định tầm quan trọng của cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là một cuộc cách mạng trongthời kì đổi mới đất nước, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo mọi tầnglớp nhân dân, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ mới về phát triển kinh tế-xã hội,
an ninh quốc phòng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện
và đất nước Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh Thái Nguyên và sự hướngdẫn của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch về công tác xây dựng Làng văn hóa,Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”huyện Phú Bình đã xây dựng kế hoạch triển khai nhiệm vụ xây dựng làng vănhóa theo từng năm, chỉ đạo Phòng văn hóa thông tin phối hợp với Phòng tưpháp huyện hướng dẫn Ban văn hóa, Ban tư pháp các xã, thị trấn tham mưukịp thời cho ban chỉ đạo, đồng thời trực tiếp hướng dẫn các làng xây dựnghương ước và tổ chức phát động xây dựng làng văn hóa
Phong trào đã phối hợp đồng bộ với các phong trào khác như: xây dựngđời sống văn hóa ở khu dân cư, phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảmnghèo, xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hóa, xóa nhà tranh, chươngtrình dân số kế hoạch hóa gia đình, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nôngnghiệp, dồn điền đổi thửa…đã nhận được sự đồng tình ủng hộ cao trong nhân dân
2.2 Kết quả thực hiện phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hóa của huyện Phú Bình (giai đoạn 2001 – 2010)
Ngay từ đầu năm 1980, dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chínhquyền địa phương, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa” đã được triển khai và phát triển tại một số xã thuộc vùng sông Máng
Trang 28phía Nam huyện như Thanh Ninh, Lương Phú, Tân Đức, Dương Thành, KhaSơn, Xuân Phương, Thị trấn Hương Sơn Tuy nhiên phong trào này còn nhỏ
lẻ ở một số chòm xóm, khu dân cư nhất là mới tập trung nhiều ở xây dựng giađình văn hóa
Từ năm 1989 đến 1995, chủ yếu là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kếtxây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” do UBMTTQ Việt Nam các cấp chủtrì xây dựng, phát động và triển khai Từ đây xây dựng được các mô hình,điểm sáng về khu dân cư tiên tiến, khu dân cư văn hóa như xóm Chiềng, xómViệt Ninh (Lương Phú), xóm Quán, xóm Nam Hương, xóm Phú Thanh(Thanh Ninh), xóm Vàng (Tân Đức), xóm Phú Lâm (Kha Sơn), xóm HòaBình (Thị trấn Hương Sơn)… Các khu dân cư này sớm phát triển kinh tế bướcđầu xây dựng thiết chế văn hóa và đời sống văn hóa tinh thần vui tươi, lànhmạnh hơn
Đến năm 1995, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa” trên cơ sở cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ởkhu dân cư” mới thực sự được coi trọng và phát triển Cũng từ năm 1995,phong trào xây dựng Làng văn hóa, Gia đình văn hóa, Khu dân cư tiên tiếnmới chính thức được phát động ở các xã phía Nam do cấp ủy và chính quyềncùng với Ủy ban mặt trận Tổ quốc chủ trì triển khai Năm 1997, xóm Chiềng(xã Lương Phú) đạt danh hiệu làng văn hóa cấp huyện, đồng thời cũng là xómđầu tiên của huyện được công nhận danh hiệu chính thức của UBND huyện,UBND tỉnh
Tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được của phong trào “toàndân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đặc biệt là sau khi có Nghịquyết Trung ương 5 (khóa VIII), kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX)
về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc, công tác chỉ đạo phong trào xây dựng Làng văn hóa, Gia đình văn hóa ởhuyện Phú Bình được các cấp ủy Đảng và Chính quyền xác định là một trongcác mục tiêu, chỉ tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địaphương Do đó huyện đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên đánh
Trang 29giá, rút kinh nghiệm và được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng Từ đó, phongtrào phát triển mạnh ở khắp các xóm, xã, thị trấn trong huyện
Việc quán triệt triển khai thực hiện các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn củaBan chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” củaTrung Ương và Tỉnh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh TháiNguyên, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, UBND huyệnPhú Bình, Phòng Văn hóa Thông tin huyện, các ban ngành thành viên của banchỉ đạo phong trào… nghiêm túc và có hiệu quả Từ đó nâng cao nhận thứccho cấp ủy và chính quyền các cấp thấy rõ hơn tầmquan trọng của đời sốngvăn hóa đối với đời sống xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳngđịnh: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêuvừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Mọi hoạt động văn hóanhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị tưtưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòngnhân ái khoan dung coi trọng nghĩa tình lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòatrong gia đình, cộng đồng xã hội Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy conngười tự hoàn thiện nhân cách kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc,phát huy tinh thần yêu nước, ý trí tự lực, tự cường, xây dựng bảo vệ tổ quốc”[11, 480]
Công tác tuyên truyền vận động mọi tầng lớp nhân dân luôn được coitrọng, thường xuyên và ngày càng có hiệu quả từ huyện đến xã, thị trấn, xóm
tổ dân phố, bằng nhiều hình thức tuyên truyền vận động phong phú đa dạngnhư hội họp, tuyên truyền thông qua các hoạt động sinh hoạt văn hóa của cácđoàn thể quần chúng ở địa phương Có thể nói thông qua công tác tuyêntruyền đã động viên khích lệ được các tầng lớp nhân hăng say lao động sảnxuất và tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động của phong trào Trong 5năm (2005 -2010) huyện đã vận động được 1910 hộ dân tự nguyện hiến trên220.000m2 đất để xây dựng 22 tuyến đường với tổng chiều dài 79,74 km tiêubiểu như xã Bàn Đạt, Đồng Liên, Dương Thành, Tân Đức, …[18, 4]
Trang 30Sự phối hợp của các ngành, các cấp ngày càng chặt chẽ và có quy chếhoạt động và chương trình phối hợp hoạt động Các ban, ngành, đoàn thể đãchủ động xây dựng các phong trào theo đặc thù của từng đơn vị như: Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc chỉ đạo cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục phát động sâu rộng phong trào “xóa đói giảm nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”; Ngành giáo dục - Đào tạo tiếp tục thực hiện phong trào “Dạy tốt, học tốt”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử, khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục”, xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”; Ngành Văn hóa Thông tin chủ trì phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “ xây dựng gia đình văn hóa”, “Làng, Tổ dân phố văn hóa”; Liên đoàn Lao động phát động phong trào “Xây dựng Cơ quan đạt chuẩn văn hóa”, “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo”; Hội Cựu Chiến binh đẩy mạnh phong trào “Phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội cụ Hồ”, “Xây dựng tổ chức Hội trong sạch vững mạnh, hội viên cựu chiến binh gương mẫu, Gia đình Cựu Chiến binh văn hóa”; Hội phụ nữ phát động phong trào thi đua
“Giỏi việc nước đảm việc nhà”, “Phụ nữ tích cực học tập lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; Hội nông dân với phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoa đói giảm nghèo và làm giàu”, “Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới” …; Ngành công an đẩy mạnh phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”, tuyên truyền
vận động mọi tầng lớp nhân dân xây dựng điểm sáng văn hóa, xây dựng môhình địa phương không mắc tệ nạn xã hội, không có người vi phạm pháp luật
Với sự phối hợp tham gia, đồng thuận của các ban ngành các hoạt động
của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi
vào nề nếp, góp phần tích cực vào việc đảm bảo an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội, kìm hãm và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xóa đói giảm nghèo, nângcao đời sống nâng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo thành độnglực lớn động lực lớn động viên nhân dân tham gia thực hiện phong trào xâydựng Làng văn hóa
Trang 31Từ năm 2000, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa” nói chung và phong trào xây dựng Làng văn hóa nói riêng ngày càng đượcđông đảo nhân dân hưởng ứng và tham gia nhiệt tình, tiêu biểu nhất là phongtrào xây dựng Gia đình văn hóa và phong trào xây dựng khu dân cư tiên tiến.Đây là hai phong trào nòng cốt của phong trào xây dựng Làng văn hóa.
Phong trào xây dựng Gia đình văn hóa: Gia đình là tế bào của xã hội, nơi
duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáodục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp,chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: nhiều gia đình cộnglại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hộimới tốt, hạt nhân của xã hội là gia đình (Tại Hội nghị cán bộ thảo luận dựthảo Luật Hôn nhân và gia đình vào ngày 10/10/1959) Xây dựng gia đình đạtchuẩn văn hóa chính là nền tảng vững chắc cho phát triển xã hội Với sự triểnkhai đồng bộ, tích cực của ban chỉ đạo các cấp, các ban ngành, đoàn thể cùng
sự hưởng ứng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, ý thức tự giác xây dựngvăn hóa từ mỗi thành viên, mỗi gia đình và cả cộng đồng xã hội, phong tràoxây dựng gia đình văn hóa năm 2010 đã phát triển mạnh về số lượng và chấtlượng Các gia đình đã gương mẫu chấp hành các chủ trương chính sách củaĐảng, chính sách pháp luật của nhà nước cũng như các quy định chung củađịa phương; tự giác, tích cực tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vậnđộng do Ban chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóaphát động như: nuôi con khỏe dạy con ngoan; gia đình hòa thuận hạnh phúc,tiến bộ; gia đình hiếu học; gia đình làm kinh tế giỏi… Tính đến năm 2010toàn huyện đã có 25.134 hộ gia đình được công nhận Gia đình văn hóa [39].Qua đó tinh thần đoàn kết trong nhân dân được phát huy, các giá trị văn hóatruyền thống của gia đình, dòng họ và làng xã được bảo tồn, góp phần quantrọng vào việc thực hiện quy ước xây dựng Làng văn hóa
Phong trào xây dựng Khu dân cư tiên tiến là cơ sở của cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Ủy ban Mặt
Trang 32trận Tổ quốc chỉ đạo thực hiện Cuộc vận động có nội dung rộng lớn mangtính toàn dân, toàn diện có tính kế thừa và phát huy những kinh nghiệm vậnđộng quần chúng của Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân Cuộc vận động đã quy tụ và thúc đẩy các phong trào thi đua yêunước, góp phần to lớn cho phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng caodân trí, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, thực hiện các chính sách xã hội gópphần quan trọng vào việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế xã hội của huyện.Công tác tuyên truyền và thực hiện 6 nội dung 8 mục tiêu của cuộc vận độngngày càng mở rộng, có chiều sâu và đạt được những kết quả đáng khích lệ.Nhiều nội dung của phong trào có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng vàchất lượng như khu dân cư không có người vi phạm pháp luật năm 2008 là
196 xóm năm 2009 là 205 xóm; khu dân cư không có đường lầy lội, nhà ranhvách đất năm 2008 là 134 năm 2009 là 176 xóm [39]
Mười năm qua (2000 - 2010), từ chỗ phong trào mới xây dựng đến nayphong trào đã phát triển rộng khắp trên địa bàn 21 xã, thị trấn và 315 khu dân
cư, xóm tổ dân phố trong toàn huyện Nhất là khi Trung ương có cơ chế sátnhập 2 cuộc vận động: cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sốngmới ở khu dân cư do UBMTTQ chủ trì và cuộc vận động xây dựng làng vănhóa, gia đình văn hóa do bộ văn hóa thông tin chủ trì thành phong trào rộnglớn hơn là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nhưhiện nay
Xây dựng Làng văn hóa chính là bảo tồn và phát huy các giá trị vănhóa Làng truyền thống, đồng thời tiếp thu những yếu tố văn hóa tiến bộ củathời đại nó phù hợp với những phong tục tập quán của địa phương Chính vìvậy mà phong trào xây dựng Làng, khu dân cư văn hóa, Gia đình văn hóa đãđược nhân dân đông đảo hưởng ứng vì nó đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng
tạo văn hóa của quần chúng nhân dân Tính đến cuối năm 2010 trên toàn
huyện có 687 lượt làng văn hóa được công nhận đạt danh hiệu Làng văn hóa,trong đó đạt danh hiệu 1 năm là 288 làng, 2 năm là 175 làng, 3 năm là 105làng, 4 năm là 54 làng, 5 năm là 3 làng, 6 năm là 19 làng, 7 năm là 11 làng, 8năm là 4 làng, 9 năm là 7 làng, 10 năm là 1 làng, 11 năm là 1 Số làng văn hóa
từ năm 2000 – 2010 được cụ thể bằng bảng số liệu sau:
Trang 33Bảng 2.1: Thống kê số làng văn hoá ở Phú Bình (2000 – 2010)
có chiều hướng tăng lên nhanh năm 2000 mới có 10 xóm đạt Làng Văn hóa đến
Trang 34năm 2007 đã có 66 Làng Nhưng cũng có thể thấy rằng trong 3 năm gần đây (2008,
2009, 2010) số lượng các làng văn hóa lại có xu hướng giảm dần 2009 giảm 6 xóm
so với 2008, năm 2010 giảm 5 xóm Nguyên nhân là do các xóm khi đạt danh hiệuLàng văn hóa không chú trọng quan tâm đẩy mạnh việc thực hiện phong trào, banchỉ đạo phong trào không đi sâu sát vào nhân dân Vì vậy mà những chỉ tiêu xâydựng Làng văn hóa bị vi phạm như có hộ gia đình sinh con thứ 3, hay có thành viêncủa xóm mắc tệ nạn xã hội…
Hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”,Phòng văn hóa thông tin huyện đã phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể tổchức triển khai tuyên truyền sâu rộng tới quần chúng nhân dân, phát động cácphong trào xây dựng làng văn hóa, phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao.Các cấp chính quyền đã vận động nhân dân tích cực tham gia đăng ký xây dựng giađình văn hóa, khu dân cư tiên tiến để được công nhận làng văn hóa Làm tốt côngtác vận động nhân dân tham gia đóng góp tiền vật liệu công sức để xây dựng cơ sở
hạ tầng như nhà văn hóa, mua sắm các thiết chế văn hóa để phục vụ các hoạt độngcủa phong trào, xây dựng đường điện, cứng hóa kênh mương thủy lợi, huy độnghàng chục vạn ngày công làm đường liên xóm, hỗ trợ nhau xóa nhà dột nát, xóa hộnghèo…trong đó nhân dân đóng góp hàng chục tỉ đồng Tích cực tham gia các lớpbồi dưỡng, tập huấn về làm kinh tế, các phong trào văn hóa để triền khai thực hiệntại cơ sở Chăm lo công tác giáo dục của con em tại cộng đồng, không để tình trạngtrẻ em đến tuổi không được đến trường Phong trào xây dựng Làng văn hóa đã huyđộng được nhiều nguồn nhân lực từ trong nhân dân, các tổ chức xây dựng đượcnhiều thiết chế văn hóa như: nhà văn hóa, phòng đọc sách, tủ sách báo, đài truyềnthanh… góp phần nâng cao mức hưởng thụ, sinh hoạt văn hóa cho nhân dân, làmcho cảnh quan của các khu vực trong huyện ngày càng khang trang, nề nếp hơn.Bảng số liệu dưới đây sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quát hơn:
Trang 35Bảng 2.2: Thống kê cơ sở hạ tầng và thiết chế văn hoá 10 năm
Đã xây nhà văn hóa
Thư viện xóm, xã
Sân nhà văn hóa
Sân thể thao
Số xóm có đường
bê tông
Quy ước đã được phê duyệt
Số xóm chưa có đất xây nhà văn hóa
Số xóm dùng điện hạ thế
(Nguồn: Báo cáo tổng kết phong trào xây dựng đời sống văn hóa của
ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH”)
Nhờ có các thiết chế văn hoá mà phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thểthao ngày càng được đẩy mạnh Thông qua các hoạt động văn hoá, thể thao, nhândân được vui chơi, giải trí, sống lành mạnh, làm chủ cuộc sống của mình và cảithiện sức khỏe, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Trang 36Qua bảng 2.2 chúng ta cũng có thể thấy rằng ở những xóm đạt danhhiệu “Làng văn hóa” những thiết chế văn hóa càng được quan tâm xây dựngnhư ở Dương Thành là một trong những xã có nhiều xóm đạt danh hiệu làngvăn hóa (năm 2010 có 8 xóm được công nhận làng văn hóa), 100% xóm đã cóquy ước văn hóa được phê duyệt, 100% xóm đã xây nhà văn hóa, 100% số xãtrong huyện đã có điện thắp sáng Bên cạnh đó ở một số xã vẫn chưa đượcquan tâm đến xây dựng những thiết chế văn hóa như xây dựng nhà văn hóa,làm đường bê tông, xây dựng thư viện của xóm xã, sân vận động của xómkhông còn được rộng rãi như trước mà đã bị đem bán hoặc sử dụng vàonhững mục đích khác chỉ còn sân vận động của xóm Lân xã Lương Phú làcòn sân vận động của xóm, nhiều xã không có xóm nào có đường bê tông nhưTân Hòa, Bàn Đạt, Tân Đức Những thiết chế này cũng là một trong nhữngtiêu chí để xét công nhận Làng văn hóa
Song song với việc xây dựng thiết văn hóa như nhà văn hóa, thư việnxóm xã, sân vận động, bê tông hóa đường làng…, các Làng/ Khu dân cư còntích cực xây dựng, chỉnh sửa hương ước, quy ước để áp dụng thực hiện mộtcách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế cơ sở Hiện nay, toàn huyện đã
có 227/315 xóm có Quy ước, Hương ước văn hóa được các cấp thẩm quyềnphê duyệt Tiêu biểu là Thanh Ninh 100% xóm có quy ước văn hóa được cáccấp phê duyệt Thông qua quy ước đã góp phần quan trọng vào định hướngmọi người dân trong cộng đồng dân cư thực hiện pháp luật, điều chỉnh cácmối quan hệ mang tính tự giác, tự quản, góp phần giữ gìn và phát huy thuầnphong mỹ tục và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đề caođược các chuẩn mực đạo đức xã hội, đồng thời là công cụ duy trì an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển sảnxuất, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường
Phong trào xây dựng làng văn hoá đã tập trung được trí tuệ, tinh thần,tâm huyết và sức dân trong việc khai thác và phát huy mọi tiềm năng, thếmạnh để bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của các làngquê Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được giữ gìn, phát huy tốt; hạn chế
Trang 37loại bỏ dần những hủ tục; từng bước xây dựng nếp sống văn minh đối với cánhân, gia đình, cộng đồng dân cư, các giá trị văn hóa ngày càng thể hiện rõhơn vai trò tích cực, tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Sựtham gia rộng khắp, tự giác của đông đảo nhân dân tạo nên những nét đẹp mớitrong chuẩn mực văn hóa và trong nhân cách con người Việt Nam như: Gia đìnhvăn hóa, Xóm văn hóa, Khu phố văn hóa, Đường phố văn hóa, Chợ văn minh,Gương người tốt việc tốt….
Thông qua các phong trào xây dựng làng văn hóa, xây dựng môi trườngvăn hóa, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn, tính năng độngsáng tạo tham gia xây dựng, hoạt động văn hóa được phát huy mạnh hơn,nhiều nét đẹp đạo đức văn hóa đươc hình thành, góp phần hạn chế, đẩy lùi cáctiêu cực, tệ nạn xã hội, giữ vững sự nghiệp phát triển xã hội
2.3 Tác động của phong trào về kinh tế, văn hóa – xã hội.
Qua 10 năm thực hiện, phong trào đã tạo sự chuyển biến toàn diệntrong đời sống xã hội, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống, thuần phong mỹ tục của địa phương, xây dựng môi trường sống trongsạch, lành mạnh, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
2.3.1 Về văn hóa xã hội
Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa là một nội dung quan trọngtrong quá trình xây dựng làng văn hóa Được sự chỉ đạo của Ban chỉ đạophong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” các xã thị trấn,Ban vận động xây dựng làng văn hóa đã làm tốt công tác vận động các tầnglớp nhân dân thực hiện tốt các nội dung của hương ước, quy ước làng văn hóa
Thông qua tuyên truyền, vận động nhân dân triển khai thực hiện phongtrào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng làng văn hóa,khu dân cư tiên tiến, Gia đình văn hóa đã tạo nên sự chuyển biến sâu sắctrong cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cùng toàn thể các tầng lớp nhân dân
về vai trò, vị trí của công tác xây dựng làng văn hóa, khu dân cư tiên tiến, giađình văn hóa; trong việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiếnbộ; khu dân cư trong sạch, không tệ nạn xã hội, ổn định kinh tế, đoàn kết, dân
Trang 38chủ; xây dựng làng văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Phong trào thể dục thể thao có những bước chuyển biến tích cực: cácCLB thể dục thể thao hoạt động thường xuyên theo từng tháng hay từng quý.Toàn huyện đã có 22% dân số tham gia tập luyện thể dục thể thao thườngxuyên, 20% gia đình đạt gia đình thể thao; tổ chức thành công Đại hội thể dụcthể thao huyện lần thứ VI (năm 2009).[16,6]
Hiệu quả to lớn nhất của phong trào đó là trình độ dân trí nâng lên, chấtlượng cuộc sống không ngừng được cải thiện, đạo đức nhân cách con người đượcvăn minh hơn, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn đã tạo cho mỗi người mỗikhu dân cư có ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tạo mốiliên kết giữa các tầng lớp nhân dân Từ kết quả phong trào các giá trị truyền thốngtốt đẹp của mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng dân cư, mỗi làng được giữgìn, phát huy theo những mục đích thiết thực, hòa thuận đoàn kết xóm làng, giúpnhau vượt nghèo làm giàu chính đáng; 100% gia đình liệt sĩ thương binh đượchưởng đầy đủ các chế độ chính sách của nhà nước
Công tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm: mạng lưới y
tế từ huyện đến các xã, thị trấn được tăng cường đầu tư; chất lượng khámchữa bệnh được nâng lên cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khẻo củanhân dân; thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ emdưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội;100% số trạm y tế có bác sĩ nữ
hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 100% thôn, xóm, tổ dân phố đều có y tá thôn bản…
Sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo của huyện được quan tâm hơn, cơ sở vậtchất trang thiết bị được tăng cường đầu tư, công tác khuyến học, khuyến tàiphát triển mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành và các tầnglớp nhân dân trên địa bàn Ở những Làng/Khu dân cư văn hóa công táckhuyến học được đẩy mạnh, hàng năm Ban khuyến học xóm đã trao quà chonhững em có đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi của huyện, tỉnh và những
em thi đỗ vào các trường đại học
Trang 39Các câu lạc bộ trên toàn huyện được thành lập và duy trì hoạt độngthường xuyên, có hiệu quả như: CLB thơ ca với 210 hội viên; chi nhánh CLBthơ ca Việt Nam tại Phú Bình với 47 hội viên; CLB xe đạp với 58 hội viên;CLB bóng chuyền với 24 hội viên; CLB cầu lông với 32 hội viên; CLB thểdục dưỡng sinh với 47 hộ viên Ngoài ra ở cấp xã thị trấn có 16/21 xã, thị trấn
có CLB thơ ca, có 15/21 xã, thị trấn có CLB thể dục dưỡng sinh, cùng nhiềuCLB khác như: CLB cờ tướng, CLB không sinh con thứ 3, CLB mẹ hiền dâuthảo, CLB khuyến nông… Văn minh tiết kiệm trong việc cưới, việc tang và
lễ hội nhiều xóm xã nay đã thực hiện không ăn trong việc tang như Nga My,Thanh Ninh, Kha Sơn, Thị trấn Hương Sơn Những hoạt động này đã gópphần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tăng tính đoàn kết giữa cácthành viên trong xóm, xã
2.3.2 Thực hiện kỷ cương pháp luật
Quá trình xây dựng làng văn hóa đã khơi dậy và phát huy tính tự giácchấp hành các quy định của pháp luật, các quy định của địa phương trongđông đảo các tầng lớp nhân dân
Việc tuyên truyền nhân dân thực hiện các chủ trương đường lối củaĐảng, pháp luật của nhà nước được cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoànthể và ban vận động các làng bản, quan tâm triển khai tổ chức thực hiệnnghiêm với khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật” Nhân dân thực hiệncác quyết định của chính quyền địa phương và đặc biệt thực hiện tốt các quyước, hương ước ở cơ sở Thông qua xây dựng Làng văn hóa, Khu dân cư tiêntiến, Gia đình văn hóa, thực hiện quy ước làng văn hóa, việc triển khai thựchiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã phát huyquyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong việc tham gia và quản lý xã hội.Tình hình an ninh chính trị được giữ vững và ổn định tạo điều kiện cho việc pháttriển kinh tế ngày càng tốt hơn
Từ phong trào xây dựng Làng/ Khu dân cư văn hóa ở mỗi địa phương
cơ sở, ở các Làng văn hóa người dân đã tự giác xây dựng phong trào bảo vệ
an ninh tổ quốc, củng cố an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Việc thực