Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam thực hiện
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập thị trường, nền kinh tế Việt Namcho thấy quá trình tự do hoá không chỉ dừng lại ở các quan hệ giao dịchthương mại, hàng hoá mà còn mở rộng các quan hệ cung cấp dịch vụ Nằmtrong xu thế đó, dịch vụ kiểm toán, kế toán ở nước ta hiện nay ngày càng mởrộng và tự khẳng định mình trong nền kinh tế xã hội
Sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán trong nhiều năm quavừa là xu hướng tất yếu khách quan có tính qui luật của nền kinh tế thịtrường, vừa là bộ phận quan trọng của hệ thống công cụ quản lý vĩ mô nềnkinh tế tài chính đã đóng vai trò tích cực trong việc phát triển nền kinh tế xãhội
Một trong những loại hình dịch vụ chủ yếu mà công ty kiểm toán cungcấp cho khách hàng đó là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính Trong đó,các công ty kiểm toán xem xét, kiểm tra và đưa ra kết luận về các báo cáo tàichính có được lập phù hợp với các qui tắc, chuẩn mực và phương pháp kếtoán, có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệphay không
Với mục đích xây dựng khung pháp lý tạo điều kiện cho hoạt động kiểmtoán hiệu quả, Bộ tài chính đã ban hành các chuẩn mực kế toán và kiểm toán.Trong số các chuẩn mực đó có chuẩn mực số 520 “Qui trình phân tích” đãkhẳng định thủ tục phân tích là nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượngcủa cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
Qua thời gian nghiên cứu tài liệu cùng tìm hiểu thực tế công tác kiểmtoán tại Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam, em đã nhận thức được tầmquan trọng của thủ tục phân tích trong qui trình kiểm toán báo cáo tài chính
Vì vậy, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán
Báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam thực hiện”.
Luận văn của em gồm ba phần:
Trang 2Chương I: Lý luận chung về thủ tục phân tích trong qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính
Chương II: Thực trạng vận dụng thủ tục phân tích trong qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam
Chương III: Bài học kinh nghiệm và giải pháp hoàn thiện thủ tục phântích trong qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam
Để có thể hoàn thiện được Luận văn này, em đã nhận được sự hướngdẫn tận tình của Ths Nguyễn Hồng Thuý, kiểm toán viên Nguyễn Phú Hà vàcác kiểm toán viên tại CPA VIETNAM Do giới hạn về thời gian và nhậnthức, Luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhậnđược sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo và các kiểm toán viên để Luận văncủa em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG QUI TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG TRONG KIỂM TOÁN TÀI BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Tổng quan về kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1.1 Khái niệm Kiểm toán Báo cáo tài chính
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bìnhđẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn nghành nghề, lĩnh vực kinh doanh
Do vậy có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình doanh nghiệp như: các nhàtài trợ, nhà cung cấp, khách hàng, chủ doanh nghiệp , mỗi đối tượng quantâm đến tình hình doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau Trong đó, Báo cáotài chính cũng là đối tượng quan tâm của các tổ chức, cá nhân này Do vậy,công việc kiểm toán các Báo cáo tài chính này cần có một công ty (vănphòng) độc lập thực hiện
Theo Chuẩn mực Kiểm toán về Kiểm toán Tài chính, kiểm toán viênphải kiểm tra và xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của Báo cáo tài chínhcũng như xem xét Báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩnmực kế toán và các yêu cầu pháp luật hay không Kết quả xác minh này đượctrình bày trên Báo cáo kiểm toán, đồng thời, trên cơ sở đó kiểm toán viên cóthể đưa ra các phán quyết hoặc những lời khuyên cho những nhà quản lý bằngthư quản lý
1.1.1.2 Đặc điểm của Kiểm toán Báo cáo tài chính
Kiểm toán tài chính là một hoạt động đặc trưng và một loại hình kiểmtoán phân theo đối tượng kiểm toán Cũng giống như các loại hình kiểm toánkhác, kiểm toán tài chính có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, có đốitượng chung là các hoạt động được kiểm toán và sử dụng những phương pháp
Trang 4kiểm toán cơ bản (phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ) Tuynhiên, với chức năng, đối tượng và mối quan hệ chủ thể - khách thể khác vớicác loại kiểm toán khác nên kiểm toán tài chính có cách thức kết hợp cácphương pháp kiểm toán mang tính đặc thù.
Về chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, có thể thấy, Kiểm toán tài chínhhướng tới công khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác nhau trên cơ sởbằng chứng kiểm toán đáng tin cậy Để có được các bằng chứng này, Kiểmtoán tài chính cần triển khai các phương pháp kiểm toán cơ bản theo hướngtổng hợp hay chi tiết tuỳ vào từng trường hợp cụ thể
Về đối tuợng kiểm toán, Bảng khai tài chính và những thông tin tổng hợpphản ánh nhiều mối quan hệ kinh tế, pháp lý cụ thể là đối tượng trực tiếp củaKiểm toán tài chính Tuy nhiên, các thông tin tài chính này có liên quan trựctiếp đến các nghiệp vụ cũng như tình hình thực hiện văn bản pháp lý khôngphải là đối tượng trực tiếp của Kiểm toán tài chính Vì vậy, việc xem xét cácmặt, các yếu tố này trong thực trạng tài chính chỉ trên góc độ có liên quan trênBảng khai tài chính và được chọn lọc qua điều tra, đối chiếu, phân tích thực tếtại khách thể kiểm toán.1
Về trình tự kiểm toán, do mối quan hệ nội kiểm và ngoại kiểm, do Bảngkhai tài chính mang tính tổng hợp, tính công khai, tính thời điểm nên trình tựmỗi bước kiểm toán cơ bản đều triển khai phù hợp với những đặc điểm củađối tượng, của quan hệ chủ thể, khách thể Trong Kiểm toán tài chính, trình tựphổ biến được thực hiện là tiến hành kiểm toán theo trình tự ngược với trình
Trang 5thành bảng khai tài chính đã hình thành nên ba loại trắc nghiệm cơ bản: Trắcnghiệm công việc, trắc nghiệm trực tiếp số dư và trắc nghiệm phân tích.
Trắc nghiệm công việc (transaction) là cách thức và trình tự rà soátnghiệp vụ hay hoạt động cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và hiệulực của hệ thống kiểm soát nội bộ trước hết là hệ thống kế toán Trắcnghiệm công việc được chia thành hai loại:
Trắc nghiệm đạt yêu cầu công việc (compliance test of transaction) là
trình tự rà soát các thủ tục kế toán hay thủ tục quản lý có liên quan đến đốitượng kiểm toán Trắc nghiệm đạt yêu cầu được thực hiện trong tình huốngsau:
Có để lại dấu vết: Kiểm toán viên cần đối chiếu chữ ký trên các chứng từ
và xem xét chữ ký ký duyệt có đúng của người có thẩm quyền hay không.Không có dấu vết: Kiểm toán viên cần phỏng vấn cán bộ, công nhân viên
có liên quan hoặc quan sát công việc thực tế của họ
Trắc nghiệm độ vững chãi công việc (Substantive test of transaction) là
trình tự rà soát các thông tin về giá trị trong hành tự kế toán
Trắc nghiệm phân tích (analytical test) hay trình tự thẩm tra phân tích(analytical review procedures) hay “quy trình phân tích” là cách thứcxem xét các mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉtiêu kinh tế thông qua việc kết hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếulogic, cân đối giữa các trị số (bằng tiền) của các chỉ tiêu hoặc bộphận cấu thành chỉ tiêu
Trắc nghiệm trực tiếp số dư (direct test of balances) là cách thức kếthợp các phương pháp cân đối, phân tích, đối chiếu trực tiếp với kiểm
kê và điều tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số dư cuối kỳ(hoặc tổng số phát sinh) ở Sổ cái ghi vào Bảng cân đối tài sản hoặcvào Báo cáo Kết quả kinh doanh
Trang 6Từ những trình bày trên, có thể thấy trắc nghiệm công việc, trắc nghiệmtrực tiếp số dư và trắc nghiệm phân tích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cóthể khái quát nội dung và mối quan hệ chủ yếu nhất của ba loại trắc nghiệm
cơ bản qua sơ đồ 1
Sơ đồ 1.1: Các trắc nghiệm kiểm toán
Trắc nghiệm
nghiệmphân tích
Trắc nghiệm
độ vững chãi
Trắc nghiệm độ
vững chãi
Trắc nghiệmđạt yêu cầu
1.1.2 Thủ tục phân tích trong hệ thống phương pháp kiểm toán
1.1.2.1 Bản chất của thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích là một trong những thủ tục kiểm toán quan trọng Để tìm hiểu sâu hơn về thủ tục phân tích trước hết cần làm rõ một số khái niệm
có liên quan
Theo cuốn Từ Điển Tiếng Việt - năm 2000, thủ tục là những bước liên
quan với nhau theo kiểu hệ quả dùng để giải quyết những vấn đề có cấu trúc chặt chẽ (tr 326)
Theo cuốn Từ Điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm từđiển học Hà Nội 1997: Thủ tục là những công việc cụ thể phải làm theo mộttrật tự qui định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức (tr 927)
Bằng chứng đầy đủ, có hiệu lực với
chi phí kiểm toán thấp
Trang 7Thủ tục kiểm toán là các buớc tiến hành để thu thập bằng chứng kiểmtoán và các bước công việc để triển khai các trắc nghiệm cụ thể trong chươngtrình kiểm toán.
Cũng theo cuốn Từ Điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm
Từ điển học Hà Nội 1997: Phân tích là phân chia thật sự hay bằng trí tưởngtượng một đối tượng nhận thức ra thành các yếu tố trái với tổng hợp (tr 764)
Các thủ tục phân tích được định nghĩa theo giáo trình Kiểm toán tàichính (chủ biên: GS TS Nguyễn Quang Quynh): “Thủ tục phân tích là cáchthức xem xét các mối quan hệ và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tếthông qua việc kết hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, cân đối giữacác chỉ tiêu, từ đó giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán vớimức chi phí kiểm toán thấp” (tr 20)
Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 56 (AU 318): “Thủ tục phân tích làquá trình đánh giá thông tin tài chính được thực hiện thông qua việc nghiêncứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính bao gồm cả quá trình so sánh số liệu phản ánh trên sổ sách với số liệu ướctính của kiểm toán viên”
Theo điều 4 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, thủ tục phân tíchđược định nghĩa như sau: “Thủ tục phân tích là việc so sánh các thông tin, các
tỷ lệ bao gồm việc điều tra, xem xét, xu hướng biến động của các thông tin đểphát hiện và giải thích các biến động bất thường” (3, tr111)
Tóm lại, có nhiều khái niệm về thủ tục phân tích nhưng chung qui lạiphân tích là quá trình dự đoán, so sánh, đánh giá các mối quan hệ để xác địnhtính hợp lý của số dư tài khoản trên các khía cạnh khác nhau Bản chất củathủ tục phân tích là phương pháp tổng hợp nhiều yếu tố có mối quan hệ chặtchẽ nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán, đưa ra kết luận chính xác về mức độtrung thực, hợp lý về Báo cáo tài chính Trong đó, các mối quan hệ này gồmmối quan hệ giữa thông tin tài chính với nhau và mối quan hệ giữa thông tin
Trang 8tài chính và thông tin phi tài chính Các khái niệm dự đoán, so sánh, đánh giáđược hiểu như sau:
Dự đoán: Là việc kiểm toán viên ước đoán về số dư tài khoản, xuhướng liên quan đến dữ kiện về tài chính và hoạt động
So sánh: Là việc kiểm toán viên thực hiện so sánh thông tin tương ứng
kỳ này với kỳ trước, so sánh số thực tế với số ước tính của kiểm toánviên, so sánh giữa số thực tế của đơn vị trong nghành có cùng qui môhoạt động
Đánh giá: Bằng trình độ, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kiểm toánviên phân tích đưa ra kết luận về các chênh lệch xảy ra và giải thích cácchênh lệch đó
Như vậy, thủ tục phân tích đóng vai trò quan trọng trong tất cả các cuộckiểm toán đồng thời là công cụ hữu hiệu trong việc thu thập các bằng chứngkiểm toán và mức giảm chi phí tới mức có thể Thủ tục phân tích được ápdụng xuyên suốt trong toàn bộ kiểm toán báo cáo tài chính
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Thủ tục phân tích được nhằmđánh giá tổng quan hoạt động của đơn vị được kiểm toán đặc biệt hoạt độngtài chính ứng với rủi ro dự kiến Từ đó, giúp kiểm toán viên phân tích rủi rotrong lập kế hoạch đối với khoản mục, chu trình, nghiệp vụ kiểm toán
Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán: Thủ tục phân tích chủ yếuđược áp dụng và đóng vai trò quan trọng Trong giai đoạn này, thủ tục phântích không phải đem lại bằng chứng trực tiếp mà giúp kiểm toán viên suyđoán khả năng sai phạm ảnh hưởng tiếp đến trắc nghiệm trực tiếp số dư
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán: Thủ tục phân tích không được sửdụng độc lập Để củng cố thêm kết luận đưa ra thủ tục phân tích phải được kếthợp với các thủ tục khác để xem xét tổng quát lần cuối toàn bộ số liệu đãđược kiểm toán hoặc có thể dự đoán nghiệp vụ bất thường hay phát sinh sauquá trình kiểm toán
Trang 9Mối quan hệ giữa thủ tục phân tích và các thủ tục kiểm toán khác
Khi tiến hành kiểm toán, để đảm bảo hiệu quả, kiểm toán viên phải vậndụng một cách thích hợp các loại hình trắc nghiệm: trắc nghiệm phân tích,trắc nghiệm trực tiếp số dư và trắc nghiệm công việc Ngay từ khi bắt đầu tiếpcận kiểm toán, kiểm toán viên đánh giá về tính hiệu lực, hiệu quả của hệthống kiểm soát của khách hàng Thử nghiệm kiểm soát tỏ ra rất hiệu quảtrong giai đoạn này Tuy nhiên, thủ tục phân tích góp một phần rất quan trọng
để tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện qui chế kinh doanh của khách hàng Từ
đó, giúp kiểm toán viên hiểu được bản chất nghiệp vụ kinh doanh, các khoảnmục
Thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết cũng có mối quan hệ rất chặt chẽvới nhau Kiểm tra chi tiết được sử dụng để kiểm tra các tài khoản, khoảnmục và đưa ra kết luận về độ tin cậy của khoản mục đó Trong khi thủ tụcphân tích đi sâu tìm hiểu về tính hiện hữu, quyền và nghĩa vụ về các khoảnmục được phân tích và cho phép đưa ra kết luận về khoản mục đó xét trên ảnhhưởng của nhiều yếu tố khác nhau Chẳng hạn, theo kết quả kiểm tra chi tiếtcho thấy chi phí tiền lương năm nay tăng lên 5% so với năm trước Tuy nhiênthông tin này sẽ không đầy đủ so với kết quả thu thập đuợc từ việc tiến hànhphân tích, đó là, chi phí tiền lương tăng lên là nhờ có sự tăng lên 3% mức tiềnlương nhân công và tăng 2% số lượng công nhân
Đặc biệt, thủ tục phân tích thực hiện hiệu quả hơn kiểm tra chi tiết đốivới các tài khoản có mức độ rủi ro thấp Ví dụ, khi tiến hành phân tích hoạtđộng bán chịu của khách hàng, kiểm toán viên có thể kiểm tra các khoản dựphòng các khoản phải thu bằng cách so sánh giá trị ghi sổ với giá trị ước tínhđộc lập của kiểm toán viên dựa trên số liệu năm trước, doanh số bán hàng…Trên thực tế, kiểm toán viên đôi khi chỉ sử dụng thủ tục phân tích có thể thuđược bằng chứng rất đầy đủ, thuyết phục Như vậy, việc thực hiện thủ tụcphân tích trong quá trình kiểm toán sẽ giúp giảm bớt công việc kiểm tra chi
Trang 10tiết của kiểm toán viên, nâng cao hiệu quả kiểm toán Để đảm bảo chất lượngkiểm toán, các kiểm toán viên phải vận dụng các thủ tục kiểm toán một cáchlinh hoạt tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.
Lựa chọn loại hình phân tích phù hợp
Khi thực hiện thủ tục phân tích chi tiết, Kiểm toán viên cần xác định cácbiến tài chính hoặc các hoạt động và mối liên hệ giữa chúng Ví dụ: Để tínhtoán chi phí tiền lương có thể dựa vào các biến số là số nhân viên và mức tiềnlương bình quân hoặc số lượng sản phẩm và đơn giá tiền lương Tuỳ thuộcvào nguồn thông tin về các dữ liệu và độ tin cậy của các thông tin này, kiểmtoán viên lựa chọn các biến phù hợp để xác định mô hình Vì vậy, với mỗi thủtục phân tích chi tiết cần xác định rõ việc phát triển mô hình là để dự đoán số
dư tài khoản hiện tại hay để dự toán thay đổi so với năm trước Tuy nhiên,việc dự đoán thay đổi so với năm trước chỉ có hiệu quả khi số dư năm trước
đã được kiểm toán vì khi đó, có thể loại ra khỏi mô hình những biến độc lậpkhông đổi so với năm trước Chẳng hạn, có thể tính doanh thu hiện tại dựatrên doanh thu năm trước và những thay đổi về tỷ lệ thuê phòng trong suốtnăm hiện tại so với năm trước khi giá thuê phòng không thay đổi
Thông thường, để dự đoán chính xác, kiểm toán viên phải xây dựng môhình dựa trên những biến độc lập có liên quan Trái lại, nếu mô hình đơn giảnquá nhiều dẫn đến các phép so sánh và bằng chứng kiểm toán không đượcđảm bảo Tuy nhiên, cũng có thể tăng tính chính xác của các dự đoán bằng
Trang 11cách phát triển các mô hình ước tính theo hướng chi tiết hoá dữ liệu, thậm chíchi tiết hoá thành nhiều mô hình nhỏ hơn Dưới đây là một số loại hình phântích phổ biến mà kiểm toán viên thường sử dụng để kiểm tra các thông tin tàichính của khách hàng.
So sánh giữa số liệu của khách hàng và số liệu chung của nghành
Mục đích của việc so sánh số liệu chung của toàn nghành mà kháchhàng đang hoạt động là nó giúp kiểm toán viên tìm hiểu về lĩnh vực kinhdoanh của khách hàng cũng như xác định khả năng xảy ra các sai phạm vềmặt tài chính Tuy nhiên, việc so sánh này cũng có hạn chế khi có sự khácbiệt giữa bản chất thông tin tài chính của khách hàng so với các doanh nghiệpcùng nghành Chẳng hạn, khi các doanh nghiệp cùng nghành sử dụng phươngpháp kế toán (phương pháp tính giá HTK, phương pháp khấu hao ) thì việc
so sánh không còn hiệu quả Vì vậy, khi thực hiện so sánh này, kiểm toánviên cần thận trọng trong việc đánh giá kết quả
So sánh số liệu năm nay với số liệu cùng kỳ năm trước của khách hàng
Từ kết quả so sánh, kiểm toán viên phát hiện những biến động bấtthường trong hoạt động kinh doanh của khách hàng Chẳng hạn, trong nhữngnăm trở lại đây, tỷ lệ lãi gộp trung bình đạt khoảng từ 25% đến 27% Trongkhi đó, năm nay, tỷ lệ này chỉ đạt 18% Sự sụt giảm này là vấn đề kiểm toánviên cần quan tâm và xem xét nguyên nhân
Thông thường, để so sánh số liệu hiện thời với số liệu năm trước, kiểmtoán viên sử dụng một số thủ tục phân tích sau đây:
So sánh số liệu năm nay với năm trước
Khi so sánh số liệu năm nay với năm trước, kiểm toán viên lập 2 cộtgồm: Cột số dư tài khoản năm trước và số dư tài khoản của năm nay Từ đó,kiểm toán viên xác định sự biến động lớn trên số dư và tập trung kiểm tra,xem xét
So sánh số dư của các tài khoản chi tiết qua các năm
Trang 12Khi tình hình hoạt động của khách hàng không có biến động mạnh trong nămhiện tại thì các số dư của các tài khoản chi tiết trong tài khoản tổng hợp hầunhư không thay đổi Ngược lại, nếu có sự biến động lớn các số dư của các tàikhoản chi tiết năm nay và năm trước, kiểm toán viên có thể khanh vùng xảy
ra rủi ro Việc so sánh này có thể thực hiện giữa các năm hoặc vào cùng thờigian nhất định trong năm Thí dụ, kiểm toán viên có thể so sánh chi phí bánhàng theo các tháng của năm nay so với cùng kỳ năm trước
Tính toán các tỷ suất để so sánh với năm trước
Phương pháp này khắc phục được hai nhược điểm của hai cách so sánhtrên Đó là, nó đánh giá được sự gia tăng hay giảm sút hoạt động kinh doanh
và mối liên hệ giữa doanh thu và giá vốn hàng bán Vì vậy, kiểm toán viênthường sử dụng các tỷ suất này kiểm toán viên có thể so sánh các tỷ suất giữanăm nay với năm trước hoặc so sánh với số liệu chung của toàn nghành
So sánh số liệu thực tế với dự toán do khách hàng xác định
Phần lớn các doanh nghiệp đều thực hiện dự toán trên mọi lĩnh vực hoạtđộng cũng như trong kết quả tài chính Thực hiện so sánh số liệu thực tế với
dự toán của khách hàng có thể giúp kiểm toán viên xác định những sai phạmtiềm tàng Tuy nhiên, nếu không có chênh lệch lớn giữa số liệu thực tế và dựtoán cũng có thể vẫn chứa đựng các sai phạm Thông thường, kỹ thuật này ápdụng trong kiểm toán các cơ quan nhà nước Có hai khía cạnh, kiểm toán viêncần quan tâm khi thực hiện phương pháp so sánh này, đó là:
Độ tin cậy của số liệu dự toán của khách hàng
Các thông tin tài chính hiện tại có bị nhân viên của khách hàng làm sailệch để phù hợp với số kết quả dự toán hay không
Vì vậy, để đảm bảo kết quả so sánh chính xác, kiểm toán viên phải tiếnhành thảo luận với nhân viên khách hàng về thủ tục dự toán đồng thời, đánhgiá rủi ro kiểm soát và áp dụng các loại trắc nghiệm chi tiết
Trang 13 So sánh số liệu của khách hàng với số liệu ước tính dựa trên thông tin phi tài chính
So sánh số liệu của khách hàng với số liệu ước tính dựa trên thôngtin phi tài chính
Phương pháp này có thể hiểu qua ví dụ dưới đây:
Ví dụ: kiểm toán viên thực hiện ước tính doanh thu của một khách sạndựa trên số phòng, số phòng ngày trong tháng Trong trường hợp này, kiểmtoán viên phải chú ý sự chính xác của thông tin sử dụng Bởi vì, doanh thuước tính chỉ có thể trở thành bằng chứng khi kiểm toán viên cảm thấy thoảmãn về tính hợp lý của số phòng và số phòng ngày trong tháng
Lựa chọn số liệu phù hợp
Để việc so sánh đạt hiệu quả, dữ liệu sử dụng trong thủ tục phân tích phảiphù hợp với các mục tiêu đã định Chẳng hạn, khi đánh giá tính hợp lý trongviệc lập dự phòng phải thu khó đòi thì doanh thu mà kiểm toán viên sử dụng
để tính toán là doanh thu bán chịu, chứ không phải là tổng doanh thu
Sự hợp lý được hiểu là mối quan hệ sử dụng trong thủ tục phân tích làhợp lý và có thể dự đoán được Mối liên hệ được xem là hợp lý khi có mốiliên hệ nhân quả một cách rõ rệt Ví dụ: Khi kiểm toán viên kiểm tra chi phíbán hàng (CPBH) thông qua phân tích xu hướng của chúng qua tỷ lệ nhấtđịnh của doanh thu với giả thiết sự thay đổi trong doanh thu sẽ tất yếu dẫn tới
sự thay đổi trong CPBH Tuy nhiên, đôi khi mối liên hệ giữa các số liệu làhợp lý nhưng lại không thể dự đoán được một cách đầy đủ Chẳng hạn, khikiểm tra các khoản phải thu (KPT), kiểm toán viên có thể dự toán được là sẽthay đổi khi doanh thu thay đổi nhưng mức độ thay đổi lại biến động rất khácnhau Do đó, việc sử dụng tỷ suất giữa các KPT và doanh thu để dự toán số
dư KPT có thể không đáng tin cậy Các nhân tố ảnh hưởng tính có thể dựđoán và hợp lý của các mối liên hệ bao gồm:
Trang 14 Mối quan hệ trong một môi trường ổn định thì sẽ dễ dự đoán hơn mốiquan hệ trong một môi trường năng động, luôn biến đổi.
Mối quan hệ liên quan tới các con số trên BCKQHĐKD thường có xuhướng dễ dự đoán hơn mối quan hệ liên quan tới số dư các tài khoản
Mối quan hệ liên quan tới các nghiệp vụ phụ thuộc vào sự định đoạtcủa Ban Giám đốc thì ít khả năng dự đoán hơn
Mối quan hệ trực tiếp dễ dự đoán hơn mối quan hệ gián tiếp
Mối quan hệ được chia nhỏ thì chính xác hơn và cho thấy quan hệ rõràng hơn mối quan hệ tổng hợp
Các nguyên tắc ra quyết định
Mục đích của thủ tục phân tích là xác định sự hiện hữu hay vắng mặt củacác biến động bất thường Để đánh giá các biến động bất thường thu được từthủ tục phân tích có đáng kể hay không, kiểm toán viên có thể xem xét cáccách tiếp cận phổ biến sau đây:
Chênh lệch cao hơn một lượng tiền nhất định
Khi nhận thấy chênh lệch vượt quá mức chênh lệch có thể chấp nhậnđược thì kiểm toán viên phải tìm hiểu nguyên nhân gây ra chênh lệch này Vídụ: Khi tiến hành kiểm toán chi phí hoa hồng cho một khách hàng kiểm toánviên cho rằng một sai phạm vượt quá mức 50 TrVNĐ là trọng yếu Nếu chênhlệch thu được qua thủ tục phân tích vượt qua con số trên thì kiểm toán viên cóthể kết luận rằng số dư tài khoản chưa được trình bày hợp lý
Chênh lệch vượt quá một tỷ lệ % cụ thể
Ngoài việc sử dụng nguyên tắc quyết định cụ thể dưới dạng con số tuyệtđối, kiểm toán viên sử dụng nguyên tắc quyết định qua tỷ lệ % nhất định Vídụ: Nếu chênh lệch giữa số dư tài khoản chi phí chi tiết năm nay so với nămtrước vượt quá 10% hoặc một tỷ lệ phù hợp mà kiểm toán viên đã chọn thìđược coi là biến động bất thường
Trang 151.1.2.3 Các loại thủ tục phân tích trong Kiểm toán báo cáo tài chính
Các loại hình phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính bao gồm:
Kiểm tra tính hợp lý
Kiểm tra tính hợp lý là một thuật ngữ dùng để chỉ một phương pháp tínhtoán nhằm đưa ra những ước tính về một giá trị nào đó như một số dư tàikhoản hay một loại hình nghiệp vụ
Bằng việc so sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, số liệu ước tính,
số liệu bình quân nghành, kiểm toán viên xác định được những chênh lệch
Từ đó, kiểm toán viên tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch nhằm phát hiện ranhững sai sót trong Báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của khách hàng Các so sánh cơ bản trong kiểm trahợp lý bao gồm:
- So sánh giữa chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân nghành
Bằng việc so sánh với các đơn vị trong cùng nghành, kiểm toán viên hiểu
rõ hơn công việc kinh doanh của khách hàng, đánh giá được thế mạnh tàichính của khách hàng và triển vọng trong tương lai Tuy nhiên, việc so sánhnày chỉ mang tính tương đối Bởi vì, tuy hoạt động trong cùng nghành cónhững đặc điểm cơ bản giống nhau, nhưng chúng cũng có những điểm khácnhau về qui mô hoạt động kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, môi trường hoạtđộng, phương pháp tính giá Đặc biệt, ngày nay, khi các doanh nghiệp có xuhướng mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá các sản phẩm của mình thìviệc so sánh chỉ tiêu bình quân nghành trở nên khó khăn hơn Vì vậy, kiểmtoán viên phải thận trọng khi sử dụng phương pháp này
Trang 16Nếu chỉ nhìn vào hai số liệu trong 2 năm của khách hàng cho thấy dườngnhư ổn định và không thấy có dấu hiệu khó khăn Tuy nhiên, so sánh vớinghành tình hình kinh doanh của khách hàng đã trở nên xấu đi Cụ thể là: năm
2004 khách hàng thực hiện tốt hơn so với nghành về cả hai tỉ lệ nhưng vàonăm 2005, khách hàng có vấn đề Công ty có thể bị mất thị trường, có thể cónhững chi phí bất thường hoặc công ty có hàng tồn kho lỗi thời.Trên cơ sởnhững so sánh này, kiểm toán viên sẽ tiếp tục thu thập các bằng chứng đểchứng minh cho những dự đoán trên
- So sánh thông tin tài chính với các thông tin phi tài chính
Các thông tin tài chính được lượng hoá bằng các đơn vị tiền tệ Cácthông tin phi tài chính là các dữ kiện kinh tế kỹ thuật do hệ thống hạch toánnghiệp vụ, thống kê cung cấp Việc so sánh thông tin tài chính với cácthông tin phi tài chính là việc kiểm toán viên xem xét mối quan hệ giữa cácthông tin này Từ đó, giúp kiểm toán viên có thể phát hiện ra sai sót trong Báocáo tài chính Ví dụ: Khi ước tính về doanh thu tiêu thụ hàng hoá bằng đơngiá nhân với lượng hàng xuất bán Để kết quả ước tính có hiệu quả, bên cạnhcác số liệu kế toán, kiểm toán viên cần xem xét đến những thông tin về thịtrường, nhu cầu khách hàng, chính sách bán hàng Trong trường hợp, loại sảnphẩm của đơn vị cung cấp không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng,kiểm toán sẽ tiến hành đi sâu tìm hiểu về chính sách bán hàng và quảng cáosản phẩm của đơn vị
- So sánh số liệu của khách hàng với kết quả dự kiến của kiểm toán viên
Theo hình thức này, kiểm toán viên ước tính số dư của một tài khoản nào
đó bằng cách liên hệ nó với một vài tài khoản khác trên Bảng cân đối hoặcBáo cáo kết quả kinh doanh Nếu có sự khác biệt trọng yếu giữa số liệu ướctính và số liệu thực tế thì kiểm toán viên tiến hành thu thập bằng chứng để xácđịnh nguyên nhân
Trang 17Ví dụ: Để ước tính chi phí lãi vay trên các phiếu nợ dài hạn phải trả bằng cáchnhân số dư chiết khấu hàng tháng trên các phiếu nợ phải trả với lãi suất hàngtháng Từ đó, kiểm toán viên so sánh thực tế chi phí lãi vay phát sinh với lãivay ước tính của kiểm toán viên để xem xét chi phí có hợp lý hay không
- So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán
Bằng việc so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa số liệu thực tế và số liệu kếhoạch hoặc dự toán sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện những chênh lệch lớngiữa số liệu kế hoạch và dự toán Từ đó, kiểm toán viên thấy được những saisót trong báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn về sản xuất kinh doanhcần kiểm tra
Ví dụ: Khi so sánh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chiphí tài chính giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch của khách hàng, kiểmtoán viên nhận thấy:
Phân tích xu hướng
Phân tích xu hướng (phân tích ngang) là sự phân tích những thay đổitheo thời gian của số dư hay nghiệp vụ Phân tích xu hướng thông qua so sánhthông tin tài chính kỳ này với thông tin tài chính kỳ trước hay so sánh thôngtin tài chính giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số dư (số phát sinh) của các
Trang 18tài khoản cần xem xét giữa các kỳ, nhằm phát hiện những biến động bấtthường để tập trung kiểm tra, xem xét.
Với phân tích xu hướng thường có hai cách tiếp cận: Tiếp cận nhân quả
và tiếp cận dự đoán Tiếp cận dự đoán là so sánh số liệu hiện tại và xu hướngbiến động của chúng qua các thời kỳ trước đó để xem xét tính hợp lý củachúng Khi áp dụng tiếp cận dự đoán, kiểm toán viên không phải đưa ra con
số ước tính cụ thể cũng không phải giả định có vấn đề tồn tại nếu như số tàikhoản không có sai lệch so với xu hướng biến động Tuy nhiên, một khoảnmục nào đó có thể phản ánh phù hợp với xu hướng biến động nhưng vẫn cósai sót trọng yếu Vì vậy, trong quá trình thực hiện phân tích, kiểm toán viêncần thận trọng trong việc sử dụng cách tiếp cận này Đối với cách tiếp cậnnhân quả đòi hỏi phải đưa ra một con số dự kiến cụ thể bằng cách xem xét vàphân tích nguyên nhân, các yếu tố gây ra sự thay đổi và căn cứ vào đó đưa ramột con số dự kiến để so sánh với số liệu thực tế Cách tiếp cận nhân quả đòihỏi nhiều công sức nên chi phí thường cao Do đó, kiểm toán viên cần cânnhắc chi phí của mỗi cách tiếp cận để lựa chọn phương pháp sử dụng Tuynhiên, theo Chuẩn mực Kiểm toán Hoa Kỳ SAS số 56, cách tiếp cận của thủtục phân tích là cách tiếp cận nhân quả
Ngoài ra, thủ tục phân tích còn có thể chia thành hai loại: Phân tích xuhướng giản đơn và phân tích xu hướng hồi qui
Phân tích xu hướng giản đơn: Là xác định con số ước tính dựa trên số
dư tài khoản của các kỳ trước
Phân tích hồi qui: Được sử dụng để đánh giá mối quan hệ tương quan
giữa các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp này xác định độ biến thiên của tiêuthức kết quả theo sự biến thiên của tiêu thức ngyên nhân Cụ thể, phươngtrình hồi qui:
Y= ac + a1x1+ a2x2 + + akxk
Trong đó:
Trang 19- a0: Phản ánh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác đến chỉ tiêu phântích các ngoài các nhân tố đã phân tích
- a1 (i=1 k): Các hệ số hồi qui
xu hướng của tỷ suất đó
Nhìn chung, phân tích tỷ suất áp dụng hiệu quả đối với Bảng cân đối kếtoán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, phân tích tỷ suấtgiữa các tài khoản trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn,trong khi đó, các tài khoản trong Bảng cân đối kế toán đưa ra giá trị tại mộtthời điểm, chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố nên dự đoán xu hướng biến động củacác tài khoản trên Bảng cân đối kế toán gặp nhiều khó khăn
Trong cách tiếp cận với phân tích tỷ suất thường có hai loại: Phân tíchtheo chuỗi thời gian và phân tích theo nghành Trong đó, phân tích theo chuỗithời gian là so sánh các tỷ suất của đơn vị qua các thời kỳ khác nhau còn phântích theo ngành là so sánh các tỷ suất giữa các vị trong cùng nghành tại mộtthời điểm xác định
Thông thường, kiểm toán viên sử dụng hai phương pháp: Phân tích tỷsuất tài chính, phân tích theo qui mô
Phân tích tỷ suất tài chính: Được xác định dựa trên mối quan hệ giữa các
số dư trên các khoản mục của báo cáo tài chính, qua đó, đưa ra các nhận xét
về những biến động tỷ suất năm trước và năm nay Các tỷ suất tài chính
Trang 20thường được áp dụng là chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán, khả năng sinhlời, đòn bẩy kinh doanh, chỉ tiêu về năng lực kinh doanh, khả năng hoạt động.Sau đây là một số tỷ suất thường dùng trong kiểm toán
Nhóm tỷ suất khả năng thanh toán
Tỷ suất khả năng thanh
Tổng tài sản ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn
Tỷ suất này đo lường khả năng thanh toán, xem tổng tài sản ngắn hạngấp bao nhiêu lần nợ ngắn hạn phải trả Khi tỷ suất này bằng 1, nghĩa là tàisản ngắn hạn vừa đủ để thanh toán nợ ngắn hạn Để đảm bảo vốn vừa đủthanh toán nợ ngắn hạn, vừa tiếp tục hoạt động bình thường tỷ suất bằng 2được xem là hợp lý Nếu tỷ suất lớn hơn 2 có thể xem là đầu tư thừa tài sảnngắn hạn
Tỷ suất thanh toán hiện thời tăng thể hiện khả năng thanh toán của kháchhàng tốt hơn Tuy nhiên, kiểm toán viên phải xem xét liệu khoản phải thuhoặc hàng tồn kho có bị trình bày tăng lên hay không
Tỷ suất khả năng thanh toán hiện thời giảm xuống phản ánh khả năngthanh toán của doanh nghiệp kém đi Doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạngthiếu vốn kinh doanh hoặc có vấn đề thanh toán trong tương lai Tuy nhiên,kiểm toán viên cần phải xem xét các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dựphòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng đầu tư tài chính, các khoản khấuhao đã được phản ánh đầy đủ hay chưa
Tỷ suất khả năng
thanh toán nhanh =
Vốn bằng tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn + Các KPT
Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ suất này mô tả khả năng thanh toán tức thời với tiền và các phươngtiện có thể chuyển hoá thành tiền
Tỷ suất này bằng 1 là hợp lý, càng lớn hơn 1 càng thể hiện doanh nghiệp
có khả năng thanh toán nhanh Nếu tỷ suất này nhỏ hơn 1 và càng nhỏ thì
Trang 21doanh nghiệp càng khó khăn trong thanh toán nợ ngắn hạn Nhưng nếu lượngtiền mặt dự trữ quá lớn sẽ không tốt vì lượng tiền nhàn rỗi trong két không tạo
ra lợi nhuận thay vì đem chúng giữ tiết kiệm
Tỷ suất khả năngthanh toán dài hạn =
Tổng tài sản ngắn hạnTổng nợ phải trả
Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn không những có ý nghĩa đối với việcđánh giá lại khả năng thanh toán mà còn có tác dụng xem xét khả năng tiếptục hoạt động của doanh nghiệp để có ý kiến nhận xét thích hợp trong báo cáokiểm toán Tỷ suất này càng lớn hơn 1 cho thấy doanh nghiệp càng có khảnăng thanh toán Ngược lại, tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thì nguy cơ phá sảncủa doanh nghiệp càng lớn Khi tỷ suất này bằng 0 thì doanh nghiệp khôngcòn khả năng thanh toán, bị phá sản
365
Số vòng thu hồi nợ
Chỉ tiêu này sử dụng để xem xét số ngày trung bình để chuyển đổi số dưtài khoản phải thu thành tiền Từ đó, kiểm toán viên so sánh kết quả này vớihạn mức tín dụng của đơn vị và của nghành
Để tìm hiểu nguyên nhân của sự biến động, kiểm toán viên tiến hành soátxét số dư khoản phải thu, hàng bán thu tiền ngay, tỉ lệ bán hàng chịu và dựphòng phải thu, hàng bán bị trả lại, các khách hàng có số dư lớn, bất thườnghoặc có thể xem xét trong mối liên hệ với tỷ suất thanh toán nhanh, phân tíchtuổi nợ
Trang 22Số ngày bìnhquân phải trả =
Số dư phải thu bình quân x 365
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân đơn vị phải thanh toán khoảnmua hàng cho nhà cung cấp Qua đó, kiểm toán viên thấy được vấn đề về khảnăng thanh toán hoặc khả năng bỏ sót nghĩa vụ thanh toán công nợ của đơn vịkhách hàng trong kỳ báo cáo
Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Sự biến động giữa số vòng luân chuyển hàng tồn kho năm nay so vớinăm trước có thể không gây ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như: do khókhăn trong sản xuất, sự yếu kém trong quản lý hàng tồn kho như dự trữ hànghoá không phù hợp với sản xuất kinh doanh, giá mua hàng hoá quá cao Các biến động có thể ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như: Việc lập
dự phòng hàng tồn kho không phù hợp, ghi giảm giá trị hàng tồn kho với qui
mô lớn và không ghi nhận nghiệp vụ hàng bán bị trả lại
Để làm sáng tỏ những biến động có thể gây rủi ro đối với cuộc kiểmtoán, kiểm toán viên có thể soát xét sự biến động ở cấp số dư tài khoản (thànhphẩm, nguyên vật liệu, hàng hoá, chi phí sản xuất kinh doanh) và tiến hànhphân tích chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác như số ngàyphải trả, tỷ suất thanh toán nhanh
Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời
Tỷ lệ lãi gộp = (Doanh thu – giá vốn) x 100%Doanh thu
Trang 23Kiểm toán viên sử dụng chỉ tiêu này nhằm mục đích đánh giá khả năngcủa đơn vị trong việc quản lý giá vốn.
Các yếu tố gây sự biến động của tỷ lệ này có thể ảnh hưởng đến kế hoạchkiểm toán như: tăng giá bán hàng, bán nguyên vật liệu, sự yếu kém trongquản lý sản xuất
Sự biến động có ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như doanh thu, giávốn bỏ sót không được ghi nhận hay doanh thu, giá vốn không có thật
Tỷ suất hiệu quả kinh
Lãi kinh doanh trước thuế + Chi phí tiền lãi
Tổng giá trị tài sản bình quân
Từ tỷ suất này, kiểm toán viên so sánh với tỉ lệ lãi gộp để đánh giá ảnhhưởng của chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng đến lợi nhuận củadoanh nghiệp Ngoài ra, kiểm toán viên có thể so sánh tỷ suất này với cácnăm hoặc tỷ suất dự kiến nhằm thấy rõ xu hướng phát triển của doanh nghiệp.Tuy nhiên, để đánh giá tỷ suất này kiểm toán viên còn phải xét đến tính chấtcủa nghành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động
Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính
có của doanh nghiệp
Trang 24Thông thường, tỷ suất đầu tư được coi là hợp lý trong từng nghành nếuđạt được mức cụ thể sau:
Công nghiệp thăm dò khai thác dầu khí: Tỷ suất này khá cao, khoảng 0.9(90% tổng tài sản)
Công nghiệp luyện kim: Khoảng 0.7 (70% tổng số tài sản)
Công nghiệp chế biến thực phẩm: Khoảng 0.1 đến 0.3
Tỷ suất nợ = Tổng số nợ phải trả
Tổng nguồn vốnHoặc có thể dùng tỷ suất tài trợ ngược với tỷ suất nợ để đánh giá
Tỷ suất tài
Nguồn vốn chủ sở hữu
= 1- Tỷ suất nợTổng nguồn vốn
Tỷ suất tài trợ được sử dụng để xem xét khả năng tự đảm bảo về mặt tàichính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với chủ nợ (ngân hàng, chủđầu tư, các đối tượng khác), hoặc những khó khăn tài chính mà doanh nghiệpphải đương đầu Tỷ suất tài trợ càng lớn thể hiện doanh nghiệp có nhiều vốn
tự có và hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu, chủ động trongkinh doanh
Các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như công nợvay phải trả cao, chi phí lãi suất vay không phù hợp
Để tìm hiểu nguyên nhân sự biến động, kiểm toán viên tiến hành soát xétcác biến động trên số dư tài khoản (tài sản, lãi phải trả, công nợ, nguồn vốn),
so sánh trong mối quan hệ với chỉ tiêu khác
Tỷ suất tự tài trợ = Tài sản cố định + Đầu tư dài hạnNguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ được kiểm toán viên sử dụng để xem xét mối quan hệgiữa nguồn vốn chủ sở hữu và giá trị tài sản cố định và khoản đầu tư dài hạn
Trang 25Tỷ suất này cho biết nguồn vốn chủ sở hữu đã dùng vào tài sản cố định và cáckhoản đầu tư dài hạn là bao nhiêu Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chínhtốt thì nguồn vốn chủ sở hữu phải đủ đầu tư TSCĐ và các khoản đầu tư dàihạn để hoạt động.
Tuy nhiên, cũng phải thấy mặt trái ở đây là tài sản cố định chu chuyểnchậm nên đầu tư quá nhiều vốn chủ sở hữu vào mục tài sản cố định thì sẽkhông có lợi vì lợi nhuận kinh doanh thu được chủ yếu do chu chuyển chậmcác tài sản lưu động)
Tỷ suất khả năng
thanh toán lãi vay =
Tổng số lợi tức trước thuế + Chi phí lãi vay
Chi phí lãi vay
Tỷ suất này đo lường khả năng thanh toán lãi vay và phản ánh lợi nhuậnsinh ra từ hoạt động kinh doanh do sử dụng vốn để đảm bảo khả năng thanhtoán lãi vay Có thể so sánh tỷ suất này giữa các kỳ hoặc với tỷ suất trungbình về khả năng thanh toán lãi vay của ngành
Trên đây là một số tỷ suất thường dùng để phân tích, cũng cần phải chú ýrằng kỹ thuật phân tích dọc còn có thể nghiên cứu các mối quan hệ giữa cácthông tin tài chính và các thông tin phi tài chính.Trên cơ sở mối quan hệ hợp
lý giữa chúng, kiểm toán viên có thể phát hiện sai sót và những vấn đề bấtthường
Phân tích theo qui mô
Được thực hiện trên cơ sở số dư của các tài khoản trên báo cáo tài chínhđược tính theo tỉ lệ %
Đối với phân tích theo qui mô, kiểm toán viên có thể tiến hành theo haicách tiếp cận đó là, tiếp cận theo chuỗi thời gian và tiếp cận theo nghành Tuynhiên, phân tích theo chuỗi thời gian được áp dụng phổ biến hơn Phân tích
Trang 26theo qui mô thường được áp dụng với Bảng cân đối kế toán và cũng hữu hiệuđối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Trong ba loại hình phân tích nêu trên, độ tin cậy của bằng chứng thu thậpđược khi kiểm tra tính hợp lý được xem là cao nhất và phân tích xu hướngđược xem là có độ tin cậy thấp nhất Trong thực tế, kiểm toán viên không sửdụng riêng rẽ các loại hình phân tích mà thường sử dụng kết hợp các phươngpháp phân tích đó
Các dạng thủ tục phân tích bao gồm:
- Thủ tục phân tích sơ bộ
- Thủ tục phân tích chi tiết
- Thủ tục phân tích soát xét
Trang 271.1.2.4 Ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích rất quan trọng trong mọi cuộc kiểm toán Để cuộckiểm toán có sự đánh giá chính xác về các Báo cáo tài chính với mức chi phíhợp lý, đòi hỏi các công ty kiểm toán và kiểm toán viên phải nâng cao hiệuquả trong việc áp dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính.Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 520 (AU Section 8520), “Chấtlượng kiểm toán muốn được nâng cao đòi hỏi phải thực hiện các thủ tục phântích” (2, tr111)
Để nói về tầm quan trọng của thủ tục phân tích, Hội đồng Chuẩn mựcKiểm toán Quốc tế đã kết luận: Các thể thức phân tích có tầm rất quan trọngđến nỗi chúng được qui định cho tất cả các cuộc kiểm toán Đối với một sốmục tiêu kiểm toán nhất định hoặc số dư các tài khoản nhỏ, chỉ cần thủ tụcphân tích thôi cũng đủ bằng chứng (2, tr111)
Bắt đầu một cuộc kiểm toán, để lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viêncần thu thập thông tin về hoạt động của khách hàng trong năm hiện hành vànăm trước Bằng việc tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích, kiểm toánviên sẽ xác định được các thông tin chưa được kiểm toán năm trước và cácbiến động về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Từ việc phân tích này,kiểm toán viên có thể tìm ra được những xu hướng quan trọng, có thể ảnhhưởng đến việc lập kế hoạch kiểm toán Ví dụ: Khi tiến hành thực hiện thủtục phân tích, kiểm toán viên nhận thấy khoản chi phí khác tăng lên một cáchđáng kể Để làm rõ sự tăng đó có hợp lý không, kiểm toán viên cần phải xemxét lại chi tiết các yếu tố cấu thành khoản chi phí này
Cũng từ kết quả phân tích, kiểm toán viên có thể đánh giá khả năng tiếptục hoạt động của khách hàng Chẳng hạn, nếu tỷ lệ nợ dài hạn so với Tổnggiá trị tài sản ròng cao hơn bình thường và tỷ lệ lợi nhuận so với Tổng tài sảndưới mức trung bình thì có thể chỉ ra mức rủi ro tương đối cao của sự thiếuhụt tài chính Từ đó, kiểm toán viên cần xem xét lại quá trình đánh giá lại rủi
Trang 28ro kiểm toán và việc quyết định các thủ tục kiểm toán Như vậy, trong giaiđoạn lập kế hoạch kiểm toán, thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên dự kiếnđược thời gian thực hiện thủ tục phân tích và khoanh vùng rủi ro để kiểm tra.Thủ tục phân tích giúp hạn chế tối đa các cuộc khảo sát chi tiết Bởi vì,khi một thể thức phân tích không làm nổi bật lên các giao động bất thường thìkhả năng sai số hoặc sai qui tắc là nhỏ Trong trường hợp này, thủ tục phântích như một thử nghiệm cơ bản cung cấp bằng chứng về sự trình bày trungthực, hợp lý của các khoản mục hay các thông tin tài chính khác Kiểm toánviên sẽ tiến hành tập trung vào các sai sót trọng yếu, những dấu hiệu bấtthường, giảm bớt thời gian, chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả cho cuộc kiểmtoán.
Kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên sử dụng thủ tục phân tích để đánh giátổng quát toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm khẳng định thêm cho kếtluận kiểm toán hoặc quyết định và thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sungnhằm thu thập các bằng chứng củng cố kết luận kiểm toán của mình
1.4 VẬN DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG QUI TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.4.1 Vận dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên cần thực hiện trong mỗicuộc kiểm toán nhằm tạo ra những điều kiện pháp lý cũng như điều kiện cầnthiết cho cuộc kiểm toán Trong giai đoạn này, thủ tục phân tích sơ bộ giúpkiểm toán viên nhận biết được khoản mục bất thường và các mối quan hệ mà
nó chỉ ra các rủi ro đặc trưng của sai sót trọng yếu
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520 - Điểm 9 qui định: “Kiểm toán
viên phải áp dụng qui trình phân tích trong lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu rõ tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể rủi ro.
Trang 29Qui trình phân tích giúp cho kiểm toán viên xác định được nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác” (3, tr111)
Việc sử dụng thủ tục phân tích sơ bộ trong giai đoạn lập kế hoạch kiểmtoán nhằm thực hiện mục đích sau
Kiểm toán viên soát xét các biến động bất thường trong báo cáo tài chínhhoặc những biến động đáng lẽ phải xảy ra theo sự hiểu biết của kiểm toánviên về hoạt động kinh doanh của khách hàng trong báo cáo tài chính, từ đóxác định vùng có rủi ro
Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ làm tăng sự hiểu biết của kiểmtoán viên về khách hàng, thấy được các biến động trọng yếu trong sản xuấtkinh doanh, các thay đổi về chính sách kế toán trong kỳ báo cáo và các vấn đềliên quan đên khả năng tiếp tục hoạt động của khách hàng
Thủ tục phân tích sơ bộ được tiến hành theo năm bước sau:
Bước 1: Thu thập các thông tin chung về khách hàng
Thu thập thông tin tài chính do khách hàng lập cho kỳ kế toán hiện tại vàcác kỳ kế toán trước
Thu thập các tài liệu về giấy phép thành lập và điều lệ công ty, Biên bảnhọp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, các hợp đồng và cam kếtquan trọng
Đối với các khách hàng hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau hoặccác khách hàng có nhiều chi nhánh ở các địa bàn khác nhau, kiểm toán viêncần thu thập các thông tin tài chính đối với mỗi đơn vị hoạt động quan trọng.Kiểm toán viên tiến hành thu thập thông tin phi tài chính như năng lựcsản xuất, số công nhân viên, số lượng mua và bán Các thông tin này chủ yếuđược sử dụng để xác định sự phù hợp của số liệu trên báo cáo tài chính củakhách hàng với hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh củakhách hàng
Trang 30Bước 2: So sánh thông tin
Sau khi đã thu thập được các thông tin cần thiết, kiểm toán viên tiếnhành so sánh, phân tích (thường sử dụng thông tin tài chính sơ bộ năm nay sovới thông tin tài chính năm trước hoặc ngân sách năm nay) nhằm mục đích làxác định các vùng có thể xảy ra rủi ro Khi so sánh, kiểm toán viên cần chú ýnhững vấn đề sau
Các thay đổi bất thường hoặc sự thay đổi dự kiến xảy ra nhưng thực tếlại không xảy ra trong các khoản mục Các thay đổi bất thường này hoặcnhững thay đổi dự kiến xảy ra mà theo hiểu biết của kiểm toán viên phải xảy
ra vì chúng có liên quan tới các chỉ tiêu quan trọng khác trong Báo cáo tàichính
Các mối quan hệ mật thiết giữa thông tin tài chính và thông tin phi tàichính
Thông qua việc tính toán sự thay đổi sử dụng tài khoản và bổ sung các
xu hướng và tỷ lệ, kiểm toán viên xác định được các biến động Thôngthường, kiểm toán viên thực hiện hai cách so sánh sau
- So sánh sự biến động về số tuyệt đối
- So sánh về số tương đối
Tuy nhiên, việc xác định các chỉ tiêu để thực hiện phân tích mang tínhchuyên nghiệp, phụ thuộc vào từng hoàn cảnh và xét đoán của kiểm toán viên.Kiểm toán viên thực hiện so sánh đơn giản giữa khoản mục năm nay vànăm trước có thể phát hiện những tài khoản mới sử dụng, tài khoản khôngđược sử dụng hoặc tài khoản không còn được sử dụng nữa hoặc tài khoản có
số dư tăng, giảm một lượng lớn Từ đó, kiểm toán viên hướng tới tìm hiểunguyên nhân sự biến động này
Ngoài ra, kiểm toán viên so sánh các khoản mục của kỳ hiện tại vớikhoản mục nhiều kỳ trước đó Thông qua việc so sánh này, kiểm toán viênxác định xu hướng phát triển của khách hàng qua một số năm
Trang 31Cuối cùng, kiểm toán viên sử dụng kết quả so sánh kết hợp với nhữnghiểu biết của mình về khách hàng Những hiểu biết đó là.
Lĩnh vực kinh doanh và môi trường kinh doanh của khách hàng
Các thông tin cập nhật và ước tính sự thay đổi trong hoạt động sảnxuất kinh doanh năm nay so với năm trước
Chính sách kế toán của khách hàng
Bước 3: Phân tích kết quả so sánh ban đầu
Sau khi phân tích sơ bộ, kiểm toán viên cần đánh giá kết quả so sánh banđầu để xem xét sự biến động của số dư tài khoản có phù hợp với nhận định vàhiểu biết của kiểm toán viên hay không Nếu có sự biến động lớn so với dựđoán, kiểm toán viên sẽ thảo luận kết quả đó với nhà quản lý của khách hàng
và xem xét tính hợp lý của lời giải thích về sự biến động đó Trong trườnghợp, kiểm toán viên vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn với những giải thích đã thuđược thì tiến hành thêm các thủ tục phân tích ở cấp độ cao hơn nhằm mụcđích làm sáng tỏ các biến động trên một tài khoản cụ thể
Bước 4: Phân tích ở cấp độ cao hơn
Kiểm toán viên thực hiện thủ tục phân tích bổ sung để làm sáng tỏ cácbiến động trên một tài khoản cụ thể hoặc một nhóm các tài khoản Công việcgiúp kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm toán, rủi ro cụ thể ở cấp độ số dư tàikhoản, rủi ro tiềm tàng và xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp Thủ tụcphân tích bổ sung bao gồm:
Tính toán các chỉ tiêu đó là: Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán, khảnăng hoạt động, khả năng sinh lời, năng suất lao động Việc xác định các chỉtiêu này mang tính nghề nghiệp và phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Cácchỉ tiêu đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của kháchhàng
So sánh các thông tin được ghi chép của năm hiện tại với các thông tinđộc lập hoặc thông tin chuẩn
Trang 32Bước 5: Các thay đổi không thể giải thích
Sau khi tiến hành phân tích ở cấp độ cao hơn mà vẫn còn những biếnđộng chưa giải thích được, kiểm toán viên phải chú ý vấn đề này trong quátrình lập chương trình kiểm toán và nhận định sai sót tiềm tàng có thể ảnhhưởng đến số dư tài khoản
Cách trình bày giấy tờ làm việc
Trong khi thực hiện phân tích sơ bộ, kiểm toán viên cần lưu lại tất cả cácbước công việc đã làm trên giấy tờ làm việc với các thông tin chính sau đây:
Tính toán các chỉ tiêu số tuyệt đối, tương đối, các tỷ suất, tỷ lệ
Tổng hợp kết quả phân tích
o Các biến động bất thường
o Các vấn đề quan trọng đã được thảo luận với các nhà quản lý
o Giải thích các biến động bất thường
o Các rủi ro cụ thể phát hiện được
1.4.2 Vận dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
Thủ tục phân tích chi tiết được sử dụng trong giai đoạn này nhằm cácmục đích sau:
Hiểu biết thêm về hoạt động kinh doanh của khách hàng và chínhsách quản lý của khách hàng
Thu thập bằng chứng kiểm toán có chất lượng cao với chi phíkiểm toán thấp, giảm thiểu việc kiểm tra chi tiết
Kiểm tra đồng thời tính đầy đủ, tính hiện hữu, tính đúng kỳ, sựđánh giá các khoản mục trên báo cáo tài chính xem có sai sót nàophát sinh gây ảnh hưởng trọng yếu đến số dư tài khoản hay nhómnghiệp vụ hay không
Sử dụng thủ tục phân tích trong quá trình thực hiện thử nghiệm cơ bảnphụ thuộc vào xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên Để đạt được mục
Trang 33đích của cuộc kiểm toán Nếu không dựa vào thủ tục phân tích thì kiểm toánviên sẽ gặp khó khăn Nhưng nếu chỉ dựa vào thủ tục phân tích thì kiểm toánviên cũng không thể đạt được mục đích của cuộc kiểm toán Trong thực tế, đểkiểm toán hiệu quả, kiểm toán viên sử dụng kết hợp giữa thủ tục phân tích vàkiểm tra chi tiết số dư trong thử nghiệm cơ bản.
Thủ tục phân tích chi tiết được thực hiện qua các bước sau:
Xác định số dư tài khoản và khả năng sai sót đuợc kiểm tra
Tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần kiểm tra
Xác định số chênh lệch có thể chấp nhận được (Threshold)
Xác định chênh lệch cần kiểm tra
Đánh giá lại kết quả kiểm tra
Bước 1: Xác định số dư tài khoản và khả năng sai sót được kiểm tra
Xác định số dư tài khoản
Có thể hiểu, số dư tài khoản cần kiểm tra là số dư của một tài khoản (mộttài khoản có số dư trọng yếu) hoặc một nhóm tài khoản trên báo cáo tài chính.Việc xác định số dư tài khoản đơn lẻ hay một nhóm tài khoản để áp dụng thủtục phân tích chi tiết là tuỳ thuộc vào mục đích và phạm vi kiểm tra của kiểmtoán viên
Dựa vào tỷ số tin cậy (R), kiểm toán viên xác định được phương pháp ápdụng: sử dụng thủ tục phân tích hay kiểm tra chi tiết nghiệp vụ hoặc cả hai.Trong trường hợp chỉ cần một mức độ đảm bảo cơ bản (basic level), kiểmtoán viên chỉ thực hiện thủ tục phân tích Ngược lại, nếu yêu cầu một mức tincậy cao hơn (R = 2,3 ) thì kiểm toán viên có thể phải kết hợp thủ tục phântích với kiểm tra chi tiết
Xác định sai sót tiềm tàng của tài khoản cần kiểm tra
Sai sót tiềm tàng là khả năng xảy ra sai sót làm ảnh hưởng đến tính chínhxác về số dư của một tài khoản Trong kiểm toán báo cáo tài chính đề cập đếncác loại sai sót tiềm tàng sau:
Trang 34Sai sót liên quan đến quá trình xử lý nghiệp vụ và lập báo cáo tài chính
Phân loại và trình bày
Kiểm toán viên cần xác định sai sót tiềm tàng liên quan đến tài khoảncần kiểm tra để định lượng cách thức kiểm tra và đảm bảo không tồn tại saisót trọng yếu trong tài khoản đó
Bước 2: Tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần kiểm tra
Giá trị ước tính kiểm tra là số đo kiểm toán viên xác định dựa vào cácthông tin thu thập được ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán đối với tài khoảncần kiểm tra Giá trị ước tính này có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp kiểmtoán viên đưa ra kết luận đúng với số kiểm toán
Để tính toán giá trị ước tính, kiểm toán viên cần xác định mô hình ướctính Mô hình ước tính là cơ chế mà kiểm toán viên áp dụng để xác định giátrị ước tính cho số dư tài khoản cần kiểm tra Khi tính toán giá trị ước tính,kiểm toán viên cần quan tâm tới nguồn thông tin sử dụng có đủ độ tin cậy,hợp lý và khả năng dự đoán của nguồn thông tin như thế nào
Các nguồn thông tin sử dụng trong mô hình ước tính
Các thông tin trong nội bộ khách hàng bao gồm:
Số liệu năm trước (báo cáo tài chính và các báo cáo có liên quan)
Số liệu năm nay (báo cáo tài chính và các báo cáo có liên quan)
Các thông tin phi tài chính từ phía khách hàng
Kế hoạch tài chính
Các thông tin cung cấp từ bên ngoài
Trang 35 Các qui định tài chính của Nhà nước: Tỷ giá ngoại tệ, lãi suấttiền gửi ngân hàng, lãi suất cho vay, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệkhấu hao, tỷ lệ thuế
Các qui định nội bộ nghành
Các thông tin từ chứng khoán
Mức độ hợp lý của mô hình ước tính
Mức độ hợp lý của mô hình ước tính liên quan đến tính đáng tin cậy vàtính có thể dự đoán được mối quan hệ giữa số liệu sử dụng để tính toán giá trịước tính và số dư thực tế của tài khoản cần kiểm tra
Mối quan hệ của các tài khoản trong Báo cáo kết quả kinh doanh có xuhướng có thể ước tính hiệu quả hơn các tài khoản phản ánh trên Bảng cân đối
kế toán Bởi các tài khoản phản ánh trên Báo cáo kết quả kinh doanh đượctrình bày luỹ kế qua các tháng, các kỳ, trong khi số dư của các tài khoản phảnánh trên Bảng cân đối kế toán là số dư của các dạng nghiệp vụ bù trừ nhau,phụ thuộc vào quyết định kinh doanh của nhà quản lý
Tính giá trị ước tính
Để tính toán giá trị ước tính, kiểm toán viên phải trao đổi với khách hàng
để xác định các yếu tố kinh doanh cơ bản ảnh hưởng tới sự biến động của số
dư tài khoản Trên cơ sở đó, kiểm toán viên sẽ tập hợp số liệu có liên quanhợp lý và xác định khả năng ước tính của các mối quan hệ đó Mối quan hệgiữa các số liệu để tính toán giá trị ước tính bao gồm:
Số dư năm trước biến động hợp lý dẫn đến số dư năm nay
Sự biến động giữa số kế hoạch và số thực tế
Mối quan hệ với số liệu tài chính khác
Mối quan hệ giữa các số liệu phi tài chính khác
Phân tách số dư tài khoản cần kiểm tra
Phân tách số dư tài khoản cần kiểm tra là việc chia nhỏ nó theo một tiêuthức nhất định để áp dụng so sánh các giá trị ước tính khác nhau Khi số dư
Trang 36giá trị lớn khó xây dựng một giá trị ước tính tương đối chính xác Do đó, kiểmtoán viên cần chia nhỏ số dư cần kiểm tra và tính toán số ước tính cho các tiểu
số dư đó thì độ chính xác và độ tin cậy của số dư ban đầu được tổng hợp lập
từ tiểu số dư sẽ đảm bảo hợp lý hơn, không còn tồn tại các sai sót trọng yếu.Kiểm toán viên có thể thực hiện phân chia theo tiêu thức như: Chia nhỏ tổngthể theo thời gian, theo từng sản phẩm, theo từng chi nhánh hoặc công ty con,chia thành các giá trị của các giao dịch đã được phân biệt theo đặc tính hoặckết hợp các cách phân chia với nhau
Tuy nhiên, kiểm toán viên chỉ nên chia nhỏ tổng thể tới một mức độ cầnthiết để có thể phát hiện ra các sai sót mà tổng hợp chúng sẽ là trọng yếu Nếuchia tổng thể thành nhiều nhóm nhỏ sẽ làm giảm tính hiệu quả trong kiểm toán
do kiểm toán viên tiến hành nhiều bước công việc như xây dựng các ước tính,xác định sự khác biệt có liên quan và đánh giá các phát hiện về từng phần chianhỏ Do đó, để tiết kiệm thời gian và chi phí, kiểm toán viên cần xác định mứcphân tách số dư hợp lý, đó là, nhóm các khoản mục đơn lẻ trên báo cáo tàichính, nhóm các tài khoản có cùng bản chất, số dư tài khoản riêng lẻ
Khi thực hiện phân tách số dư tài khoản, kiểm toán viên cần xem xét cácyếu tố sau:
Độ chính xác của ước tính
Độ dễ hiểu (đơn giản) của những giải thích cho sự khác biệt
Tính đáng tin cậy của dữ liệu tại mức độ của sự phân chia
Bản chất của các nghiệp vụ trong tổng thể
Tổ chức ghi chép khách hàng
Bước 3: Xác định chênh lệch có thể chấp nhận được (Threshold)
Bản chất chênh lệch có thể chấp nhận được là số chênh lệch tối đa có thểchấp nhận được giữa số ước tính của kiểm toán viên và giá trị ghi sổ của mộttài khoản hoặc một khoản mục được kiểm tra Kiểm toán viên thực hiện xácđịnh Threshold trước khi xem xét, phân tích số chênh lệch giữa giá trị ước
Trang 37tính và giá trị ghi sổ của số dư khoản mục cần kiểm tra Threshold thường là
đủ nhỏ đảm bảo không còn sai sót trọng yếu với một tiểu số dư hoặc khinhóm các sai sót lại theo mức số dư, khoản mục cần kiểm tra Trong trườnghợp, nếu số chênh lệch giữa giá trị ước tính của kiểm toán viên và giá trị ghi
sổ nhỏ hơn Threshold thì kiểm toán viên không cần phải kiểm tra thêm nữa.Ngược lại, nếu lớn hơn thì kiểm toán viên phải tìm hiểu nguyên nhân gây rachênh lệch để tìm ra các sai sót trọng yếu có thể tồn tại Khi đó, kiểm toánviên cần quan tâm các yếu tố ảnh hưởng sau:
Giá trị trọng yếu chi tiết (MP)
Việc đánh giá trọng yếu MP (planning material) phụ thuộc vào kinhnghiệm, trình độ chuyên môn, óc xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên,
do đó, tại CPA VIETNAM, công việc này thường do chủ nhiệm của nhómkiểm toán thực hiện Bản chất của mức trọng yếu được xác định là tổng mứcsai sót tối đa trên báo cáo tài chính xác định như sau:
Đối với công ty đăng ký trên thị trường chứng khoán:
- 5% - 10% Thu nhập sau thuế
Đối với công ty không đăng ký trên thị trường chứng khoán
- 2% Tổng tài sản lưu động
- 2% Vốn chủ sở hữu
- 10% Lợi nhuận sau thuế
- 0,5% - 3% Tổng doanh thu
Đối với chi nhánh của Công ty xuyên quốc gia
Mức trọng yếu được xây dựng trên cơ sở doanh thu và ở mức độ cao hơn2% với công ty không đăng ký trên thị trường chứng khoán ngang bậc Mức
độ trọng yếu ở Chi nhánh phải thấp hơn ở Công ty mẹ
Ngoài ra, chỉ tiêu doanh thu thường xuyên được sự dụng làm cơ sở đánhgiá trọng yếu vì chỉ tiêu này phản ánh qui mô hoạt động của doanh nghiệp.Căn cứ xác định mức độ trọng yếu theo doanh thu
Trang 38Bảng 2.1: Hướng dẫn đánh giá trọng yếu trên chỉ tiêu doanh thu
Giá trị doanh thu (USD) Tỷ lệ áp dụng (%)
Chỉ số độ tin cậy
Với độ tin cậy kiểm tra chi tiết ở mức độ cơ bản (R = 0.7), kiểm toánviên thực hiện thủ tục phân tích chủ yếu để thu thập bằng chứng trong quátrình kiểm toán báo cáo tài chính Khi độ tin cậy kiểm tra chi tiết đạt ở mứctrung bình (R = 2.0), kết quả kiểm tra chi tiết của kiểm toán viên phải đạt ởmức độ chính xác hơn với mức Threshold nhỏ hơn Trong trường hợp, nếu độtin cậy chi tiết là tối đa (R = 3.0), thì việc thực hiện thủ tục phân tích khôngcòn hiệu quả
Số lượng các tiểu số dư (phần phân tích) trong số dư được kiểm tra
Số lượng các tiểu số dư càng nhiều thì giá trị của Threshold áp dụng chomỗi tiểu số dư càng nhỏ Mục đích của việc phân tách một số dư lớn thànhcác phần nhỏ hơn giúp kiểm toán viên xác định số ước tính chính xác hơn,tăng độ tin cậy với số dư cần kiểm tra
Trang 39Số dư cần kiểm tra là nhỏ
Đối với các trường hợp các số dư cần kiểm tra chỉ lớn hơn giá trị MPkhông nhiều hoặc nhỏ hơn thì Threshold sẽ được tính bằng 15% hoặc 20% giátrị số dư được kiểm tra tuỳ theo chỉ số về độ tin cậy áp dụng
Như vậy, các yếu tố trên được dùng làm cơ sở để tính toán mức có thểchấp nhận được Bảng 2.2 dưới đây thể hiện các hướng dẫn chi tiết giúp kiểmtoán viên xác định Threshold:
Bảng 2.2: Bảng hướng dẫn tính Threshold của CPA VIETNAM
Nếu số dư của khoản mục lớn hơn MP nhân với
Giá trị Treshold (%MP)
Nếu số dư của khoản mục lớn hơn MP nhân với
Nếu độ tin cậy kiểm tra chi tiết R = 0.7 thì:
Threshold = Số dư khoản mục x 20%
Nếu độ tin cậy kiểm tra chi tiết R = 2 thì:
Trang 40Threshold = Số dư khoản mục x 15%
Bước 4: Xác định chênh lệch trọng yếu cần kiểm tra.
Sau khi xác định số chênh lệch có thể chấp nhận được, kiểm toán viêncần thực hiện so sánh giá trị ước tính và giá trị ghi sổ của số dư cần kiểm tra,rồi so sánh số chênh lệch với Threshold Nếu chênh lệch lớn hơn giá trịThreshold đã tính toán thì được coi là chênh lệch trọng yếu Trong trường hợpnày, kiểm toán viên cần xác định và kiểm tra bản chất, nguyên nhân dẫn đến
Dự đoán số chênh lệch do đối chiếu Sổ chi tiết và Sổ cái lên báo cáo
Các nhân tố bất thường trong các chênh lệch
Kiểm toán viên cần thu thập các bằng chứng nhằm giải thích cho toàn bộ
số chênh lệch trọng yếu chứ không chỉ riêng cho phần chênh lệch Threshold.Các bằng chứng này cần được lượng hoá bằng giá trị số liệu cụ thể Trongtrường hợp, kiểm toán viên chỉ tìm được bằng chứng có thể giải thích chophần chênh lệch vượt quá Threshold thì phần còn lại, nếu nhỏ hơn Threshold
và theo xét đoán của kiểm toán viên có thể chấp nhận số chênh lệch này thìkiểm toán viên có thể kết luận về số dư được kiểm tra mà không cần kiểm trathêm nữa
Bước 5: Kiểm tra các chênh lệch trọng yếu.
Xác định các giá trị hợp lý cho các chênh lệch
Sự hợp lý thường gắn liền với các nghiệp vụ, các sự kiện bất thườnghoặc những thay đổi về kinh doanh và công tác kế toán Trong trường hợp đó,