Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam (CPA VIETNAM) thực hiện
Trang 1DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Bảng 1: mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với số lượng bằng
Bảng 2: thủ tục kiểm tra chi tiết đối với nợ phải trả người bán 31
Bảng 13: bảng tổng hợp tài khoản nợ phải trả người bán tại khách hàng X 66
Bảng 18: bảng tổng hợp thư xác nhận nợ phải trả người bán tại khách
Bảng 20: tổng hợp số liệu trên tài khoản nợ phải trả người bán tại
Bảng 21: tổng hợp số liệu chi tiết theo từng đối tượng nhà cung
Bảng 22: tổng hợp thư xác nhận nợ phải trả người bán tại khách hàng Y 73
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, kiểm toán được xem là một công cụquản lý kinh tế ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống cáccông cụ quản lý của nền kinh tế quốc dân Kiểm toán là một trong nhữngbiện pháp kinh tế nhất và hiệu lực nhất để khắc phục các rủi ro thông tintrong các báo cáo tài chính do kế toán cung cấp
Đối với doanh nghiệp, việc huy động và sử dụng vốn hiệu quả là mộtvấn đề quan trọng để có được một kết quả kinh doanh tốt Nhìn vào cơ cấuvốn của doanh nghiệp, người ta có thể đánh giá được tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp đó là tốt hay không Nợ phải trả là một yếu tố tạo nên cơcấu vốn trong doanh nghiệp nên sự phản ánh trung thực và hợp lý cáckhoản nợ phải trả là một nhu cầu tất yếu
Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam (CPA VIETNAM) tuy chỉmới thành lập nhưng đã và đang ngày càng khẳng định vị trí và tạo được uytín trên thị trường kiểm toán CPA VIETNAM luôn chú trọng đến nâng caohiệu quả cuộc kiểm toán, góp phần lành mạnh hoá các thông tin tài chínhtrong doanh nghiệp
Trong quá trình thực tập tại Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam(CPA VIETNAM), em thấy Kiểm toán các khoản nợ phải trả là một phầnkhông thể tách rời trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty thực hiện.Đứng trước những đòi hỏi phải kiểm toán các khoản nợ phải trả vàthực tế kiểm toán tại CPA VIETNAM, em đã quyết định chọn đề tài:
"Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do
Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam (CPA VIETNAM) thực hiện" để
hoàn thành luận văn tốt nghiệp Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văngồm 3 phần chính:
- Phần I - Cơ sở lí luận về các khoản nợ phải trả và Kiểm toán cáckhoản nợ phải trả trong Kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 3- Phần II - Thực trạng Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong Kiểmtoán báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam (CPAVIETNAM) thực hiện.
- Phần III - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán các khoản nợphải trả trong Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Hợp danh Kiểm toánViệt Nam (CPA VIETNAM)
Em xin chân thành cám ơn Cô giáo, TS Nguyễn Phương Hoa, Bangiám đốc và nhân viên trong Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam đãgiúp đỡ em rất nhiệt tình trong quá trình thực tập và hoàn thiện luận văn.Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do năng lực và thời gian còn hạn chếnên luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mongnhận được sự góp ý của các Thầy, Cô và Công ty để giúp em có thể hoànthiện tốt hơn đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4PHẦN I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ VÀ KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ
1 Khái niệm nợ phải trả và rủi ro tiềm tàng đối với nợ phải trả
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệpcũng như giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với các đơn
vị, các tổ chức xã hội phát sinh các quan hệ kinh tế rất đa dạng, phong phú.Các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế
xã hội chính là nguồn hình thành nên một bộ phận tài sản của doanh nghiệp
Nợ phải trả là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinhdoanh mà doanh nghiệp phải trả cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế xã hộihoặc cá nhân như nợ tiền vay, nợ phải trả cho người bán, các khoản phảinộp cho Nhà nước, phải trả công nhân viên, phải trả nội bộ và các khoảnphải trả khác
*Khi kiểm toán nợ phải trả, kiểm toán viên cần phải chú ý tới các rủi
ro tiềm tàng sau:
Nợ phải trả là một khoản mục quan trọng trên báo cáo tài chính đốivới những đơn vị sử dụng nguồn tài trợ ngoài vốn chủ sở hữu Những sailệch về nợ phải trả có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính
về các mặt:
Tình hình tài chính: các tỷ số quan trọng trong việc đánh giá tìnhhình tài chính thường liên quan đến nợ phải trả, ví dụ như hệ số nợ Do đó,các sai lệch trong việc ghi chép hoặc trình bày nợ phải trả trên báo cáo tàichính có thể làm người sử dụng hiểu sai về tình hình tài chính của đơn vị
Kết quả hoạt động kinh doanh: nợ phải trả có mối quan hệ mật thiếtvới chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Do đó, những sai
Trang 5lệch trong việc ghi chép và trình bày nợ phải trả có thể tương ứng với cácsai lệch trọng yếu trong kết quả hoạt động kinh doanh.
Xuất phát từ những rủi ro tiềm tàng nêu trên, khi kiểm toán nợ phảitrả, kiểm toán viên cần quan tâm đến những vấn đề sau:
Kiểm toán viên phải chú ý về khả năng nợ phải trả bị khai thấphoặc không được ghi chép đầy đủ Việc khai thiếu nợ phải trả có thể dẫnđến kết quả làm cho tình hình tài chính phản ánh trên báo cáo tài chính tốthơn thực tế, trong một số trường hợp có thể dẫn đến khai báo chi phí khôngđầy đủ và lợi nhuận tăng giả tạo
Các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện các khoản nợ phải trả khôngđược ghi chép khác với thủ tục phát hiện sự khai khống tài sản:
Sự khai khống nợ phải trả thường dựa trên việc ghi chép không đúngtrên sổ sách kế toán, chẳng hạn ghi chép các nghiệp vụ không thực sự xảy
ra Những nghiệp vụ ghi sai này có thể phát hiện được thông qua việc kiểmtra từng số dư chi tiết hoặc nghiệp vụ được ghi chép liên quan đến số dư tàikhoản Việc xác định trách nhiệm cá nhân trong trường hợp này tương đốidễ dàng
Việc khai thiếu nợ phải trả thường chỉ là sự bỏ sót nghiệp vụ hìnhthành nợ phải trả nên thường khó phát hiện hơn khai khống Mặt khác nếu
bị phát hiện thì cũng khó xác định đây là lỗi do cố ý hay chỉ là vô tình bỏsót Vì vậy, một trong những loại sai phạm khó phát hiện nhất là gian lậnbằng cách không ghi chép các nghiệp vụ
Đối với các khoản vay dài hạn cần chú ý để có thể vay được nhữngkhoản này, đơn vị thường phải chấp nhận một số giới hạn về việc sử dụngtiền vay do đã cam kết với chủ nợ Nếu những cam kết bị vi phạm, chủ nợcó quyền yêu cầu phải thanh toán ngay toàn bộ số nợ Do đó kiểm toánviên cần chú ý nghiên cứu hợp đồng vay và kiểm tra việc chấp hành nhữnggiới hạn cam kết
Trang 62 Phân loại nợ phải trả
Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả được chiathành 3 loại sau:
2.1 Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là các khoản tiền nợ mà doanh nghiệp phải trả cho cácchủ nợ trong một thời gian ngắn (không quá một năm)
Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản như: vay ngắn hạn, nợ dài hạn đếnhạn trả, phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoảncòn phải nộp Nhà nước, lương và phụ cấp phải trả cho công nhân viên, cáckhoản phải trả nội bộ, các khoản phải trả, phải nộp khác
2.2 Nợ dài hạn
Nợ dài hạn là khoản tiền mà doanh nghiệp nợ các đơn vị, cá nhân, các
tổ chức kinh tế xã hội trên một năm mới phải hoàn trả
Nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm các khoản như: vay dài hạncho đầu tư phát triển, nợ thuê mua TSCĐ (thuê tài chính), doanh nghiệpphát hành trái phiếu
2.3 Nợ khác
Là các khoản phải trả như nhận ký quỹ, ký cược dài hạn, tài sản thừachờ xử lý và các khoản chi phí phải trả
3 Nhiệm vụ kế toán các khoản nợ phải trả
Do tính chất, phạm vi và thời hạn huy động các khoản nợ phải trảkhác nhau, mặt khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp các khoản nợ phải trả luôn luôn biến động, do đó cần phảiđược quản lý một cách chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả vàtheo dõi chi tiết riêng cho từng khoản
Nợ phải trả được đánh giá là khoản mục quan trọng trong báo cáo tàichính, hơn nữa rất hay xảy ra sai sót ở khoản mục này gây ảnh hưởng tới
Trang 7tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính Do đó, khi hạch toán cáckhoản nợ phải trả cần phải tôn trọng một số nguyên tắc kế toán sau:
Mọi khoản nợ phải trả của doanh nghiệp cần phải được theo dõi chitiết theo từng đối tượng công nợ
Các khoản nợ cần phải được chi tiết thành nợ ngắn hạn và nợ dàihạn căn cứ vào thời hạn phải thanh toán các khoản nợ để từ đó có kế hoạchthanh toán nợ cụ thể
Cần phải đối chiếu, kiểm tra định kì hoặc cuối tháng các khoản nợphải trả, đặc biệt là các khoản nợ phát sinh lớn, bất thường
Cuối năm tài chính phải đánh giá lại chênh lệch tỷ giá đối với cáckhoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng doNgân hàng Nhà nước Việt Nam công bố
Không được phép bù trừ công nợ giữa các đối tượng khác nhau
II KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1 Vai trò của kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính
Nợ phải trả là một yếu tố cấu thành nên nguồn vốn và phản ánh cơcấu vốn của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tỷ lệ Nợ phải trả trênTổng nguồn vốn cao thể hiện khả năng tự tài trợ yếu, tuy nhiên khi tỷ lệnày quá thấp thì doanh nghiệp lại bị đánh giá là khả năng huy động haychiếm dụng vốn chưa tốt Việc phản ánh sai nợ phải trả sẽ ảnh hưởng đếnbáo cáo tài chính, làm phản ánh sai lệch khả năng thanh toán của doanhnghiệp
Nợ phải trả là khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính của doanhnghiệp vì nợ phải trả được coi là nguồn tài trợ cho hoạt động và có ảnhhưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp Nợ phải trả đòihỏi phải được quản lý và theo dõi một cách chặt chẽ Điều này sẽ giúp cho
Trang 8doanh nghiệp có thể có được một cơ cấu vốn hợp lý, không bị mất cân đối
về tài chính và sai lệch khả năng thanh toán
Nợ phải trả còn có liên quan đến rất nhiều tài khoản trên báo cáo tàichính như hàng hóa, dịch vụ mua vào, vốn vay, lương…̣cần nhiều thời giankiểm tra chi tiết trong một cuộc kiểm toán Như vậy, có thể nói Kiểm toáncác khoản nợ phải trả là một bộ phận không thể tách rời trong kiểm toánbáo cáo tài chính
2 Mục tiêu kiểm toán nợ phải trả
Việc xác định hệ thống mục tiêu kiểm toán khoa học trên cơ sở cácmối quan hệ vốn có của đối tượng và của khách thể kiểm toán sẽ giúp kiểmtoán viên thực hiện đúng hướng và có hiệu quả hoạt động kiểm toán Ngoài
ra, mục tiêu kiểm toán còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ nhữngtồn tại, sai sót để khắc phục, nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chínhcủa đơn vị
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) - Mục tiêu
và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính: mục tiêu của
kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểmtoán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sởchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủpháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chínhtrên các khía cạnh trọng yếu hay không
Với kiểm toán viên, việc xác minh không chỉ dừng ở các mục tiêuchung mà phải cụ thể vào từng khoản mục hay phần hành kiểm toán (gọi làmục tiêu đặc thù) Các mục tiêu chung lại được chia thành mục tiêu hợp lýchung và các mục tiêu khác Các mục tiêu chung khác được đặt ra tươngứng với cam kết của nhà quản lý là tính hiệu lực, tính trọn vẹn, quyền vànghĩa vụ, chính xác cơ học, phân loại và trình bày, định giá
Mục tiêu hiệu lực là hướng xác minh vào tính có thật của số tiền trên
các khoản mục, là hướng xác minh bổ sung vào cam kết về sự tồn tại của
Trang 9các nghiệp vụ của nhà quản lý Mục tiêu hiệu lực có quan hệ đến khả năngghi khống số tiền bởi những nghiệp vụ, tài sản hoặc vốn không có thực.Kiểm toán viên có trách nhiệm thu thập bằng chứng kiểm toán về sự hiệnhữu của các tài sản và nợ phải trả bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Mục tiêu trọn vẹn là hướng xác minh vào sự đầy đủ về thành phần
(nội dung) cấu thành số tiền ghi trên các khoản mục Mục tiêu trọn vẹnquan hệ với những bộ phận thực tế phát sinh nhưng không ghi sổ Kiểmtoán viên cần thu thập bằng chứng để chứng minh là mọi nghiệp vụ, tài sản,
nợ phải trả đều được ghi chép và phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính.Công việc này đòi hỏi kiểm toán viên phải sử dụng rất nhiều kỹ thuật kiểmtra như kiểm tra gián tiếp ở những khoản mục có liên quan, dựa vào sựquan sát và kết quả kiểm kê để phát hiện những tài sản nằm ngoài sổ sách…
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ bổ sung cho cam kết về quyền và nghĩa
vụ với ý nghĩa xác minh lại quyền sở hữu của tài sản và nghĩa vụ pháp lýcủa các khoản nợ và vốn Kiểm toán viên cần phải kiểm tra chủ quyền thựcsự của đơn vị đối với tài sản như xem xét hợp đồng mua bán, chứng từ…̣vàcác khoản nợ phải trả có thực sự là nghĩa vụ của doanh nghiệp hay không
Mục tiêu định giá là hướng xác minh vào cách thức và kết quả biểu
hiện tài sản, vốn và các hoạt động thành tiền Kiểm toán viên cần thu thậpbằng chứng để xem tài sản, nợ phải trả và nghiệp vụ có được đánh giá theonhững chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không
Mục tiêu phân loại là hướng xem xét lại việc xác định các bộ phận,
nghiệp vụ được đưa vào tài khoản, cùng việc sắp xếp các tài khoản trongcác báo cáo tài chính theo bản chất kinh tế của chúng được thể hiện bằngcác văn bản pháp lý cụ thể đang có hiệu lực
Mục tiêu chính xác cơ học là hướng xác minh về sự đúng đắn tuyệt
đối qua các con số cộng sổ và chuyển sổ Trước khi kiểm tra từng đốitượng chi tiết, kiểm toán viên cần rà soát lại quá trình tính toán, tổng cộng,
Trang 10lũy kế, đối chiếu giữa số liệu trên sổ chi tiết và sổ cái, giữa số liệu trên sổsách với số liệu trên báo cáo tài chính.
Mục tiêu trình bày hướng xác minh vào cách ghi và thuyết trình các số
dư (hoặc tổng số phát sinh của tài khoản) vào các báo cáo tài chính Kiểmtoán viên phải áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp để đảm bảo chomục tiêu trình bày này
Tương ứng với các mục tiêu chung trên, Kiểm toán các khoản nợ phảitrả bao gồm các mục tiêu đặc thù sau:
Các khoản phải trả được ghi chép thì hiện hữu và là nghĩa vụ củađơn vị (Hiện hữu, Nghĩa vụ)
Các khoản nợ phải trả thực tế đã xảy ra đều được ghi trong danh sáchcác khoản phải trả (Tính đầy đủ)
Các khoản nợ phải trả được cộng dồn chính xác và thống nhất với sổcái và các sổ chi tiết (Ghi chép chính xác)
Các khoản nợ phải trả trong danh sách được đánh giá đúng đắn(Đánh giá)
Các khoản nợ phải trả được trình bày đúng đắn và khai báo đầy đủ(Trình bày và công bố)
3 Quy trình Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộckiểm toán, cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trịlàm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của
số liệu trên báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theoquy trình gồm ba giai đoạn như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phươngpháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán
và công bố báo cáo kiểm toán
Trang 113.1 Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viêncần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lýcũng như các điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán Có ba lý do chínhkhiến kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán một cách đúng đắn: đểgiúp cho kiểm toán viên có thể thu được bằng chứng có giá trị và đầy đủcho các tình huống; để giúp giữ các chi phí kiểm toán ở mức hợp lý; và đểtránh những bất đồng với khách hàng
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA 300) - Lập kế
hoạch kiểm toán nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế
hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán được tiếnhành một cách có hiệu quả Việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuấtphát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện
cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc
cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòihỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành côngtác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng
Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được bằng chứngkiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng vềcác báo cáo tài chính
Kế hoạch kiểm toán giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả vớinhau, cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểmtoán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài…
Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránhxảy ra những bất đồng đối với khách hàng
Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toánviên có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã vàđang thực hiện
Trang 12Có thể nói việc kế hoạch kiểm toán được lập một cách khoa học, đầy
đủ là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của cuộckiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các công ty kiểm toán.Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kếhoạch kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc và được thể hiện theo sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1 : Các bước công việc trong lập kế hoạch kiểm toán
3.1.1 Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán là quá trình tiếp cận để thu thậpnhững thông tin về khách hàng nhằm giúp kiểm toán viên tìm hiểu về cácnhu cầu của họ, đánh giá về khả năng phục vụ và các vấn đề khác như thờigian thực hiện, phí kiểm toán…
Một cuộc kiểm toán bao giờ cũng bắt đầu từ việc kiểm toán viên vàcông ty kiểm toán thu nhận một khách hàng Trên cơ sở đã xác định được
Chuẩn bị kế hoạch
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và thiết kế chương trình
kiểm toán
Trang 13đối tượng khách hàng có thể phục vụ trong tương lai, công ty kiểm toán sẽtiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán.
* Sự chấp nhận khách hàng mới và tiếp tục với khách hàng cũ
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) - Kiểm soát
chất lượng hoạt động kiểm toán, trong quá trình duy trì khách hàng hiện có
và đánh giá khách hàng tiềm năng, công ty kiểm toán phải cân nhắc đếntính độc lập, năng lực phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán và tínhchính trực của ban quản lý của khách hàng
Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàngmới hay tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro chohoạt động của kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của công ty kiểm toánhay không
Quá trình điều tra về khách hàng mới:
Trước khi chấp nhận một khách hàng mới, hầu hết các công ty kiểmtoán đều tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng, điều tra công tykhách hàng để xác định khả năng chấp nhận kiểm toán Kiểm toán viên cầnphải tăng lượng thông tin cần thu thập khi báo cáo tài chính của khách hàngđược sử dụng rộng rãi
Đối với một khách hàng tương lai mà trước đây đã được kiểm toán bởimột công ty khác, kiểm toán viên mới phải liên lạc với kiểm toán viên tiềnnhiệm, việc tiếp xúc này rất hữu ích, giúp cho kiểm toán viên kế tục cóđược những thông tin về tính chính trực của ban quản lý, các bất đồng giữahai bên (nếu có)…qua đó đánh giá khả năng có chấp nhận kiểm toán haykhông Sự liên lạc này cần thiết phải có sự đồng ý của khách hàng Kiểmtoán viên kế tục phải xem xét một cách nghiêm túc khả năng thỏa đáng củaviệc chấp nhận một hợp đồng sắp tới mà không cần việc điều tra đáng kểtới nếu khách hàng không cho phép sự liên lạc hoặc kiểm toán viên tiềnnhiệm không đáp ứng toàn diện
Trang 14Khi một khách hàng tương lai chưa được kiểm toán bởi một công tykiểm toán khác thì cần có các cuộc điều tra khác như thông qua việc nghiêncứu sách báo, thẩm tra các bên có liên quan, thậm chí có thể thuê các nhàđiều tra chuyên nghiệp để điều tra các vấn đề cần thiết.
Kiểm toán viên không nên nhận lời kiểm toán khi tính độc lập khôngđược bảo đảm hoặc xét thấy không đủ năng lực phục vụ khách hàng
Sự tiếp tục đối với khách hàng cũ:
Công ty kiểm toán đánh giá số khách hàng hiện có hàng năm để xácđịnh liệu có những lý do nào để không tiếp tục thực hiện kiểm toán haykhông, như những mâu thuẫn giữa công ty kiểm toán và khách hàng có thểkhiến cho kiểm toán viên phải đình chỉ hợp tác
Kiểm toán viên cũng có thể đánh giá tính liêm chính của Ban giámđốc khách hàng để đánh giá khả năng tiếp tục kiểm toán Những nghi ngại
về tính liêm chính của Ban giám đốc có thể nghiêm trọng đến mức kiểmtoán viên kết luận cuộc kiểm toán không thể thực hiện được
* Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty kháchhàng là việc xác định người sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụngcủa họ Việc xác định người sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sửdụng của họ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng phảithu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà kiểm toán viên đưa ratrong báo cáo kiểm toán
Công ty kiểm toán cần phải xác định lý do kiểm toán của khách hàngcăn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như dựa trên khảnăng của công ty để đưa ra quyết định hợp lý trong việc kí kết hợp đồngkiểm toán, cũng như thiết kế phương pháp kiểm toán
* Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán
Phân bố đội ngũ nhân viên thích hợp cho hợp đồng là điều quan trọng
để thỏa mãn các chuẩn mực kiểm toán đã được thừa nhận và để tăng tính
Trang 15hiệu quả của cuộc kiểm toán Chuẩn mực chung đầu tiên đã nêu rõ: Quátrình kiểm tra sẽ được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạonghiệp vụ đầy đủ và thành thạo như một kiểm toán viên.
Việc lựa chọn này được tiến hành trên yêu cầu về số người, trình độ,khả năng và yêu cầu chuyên môn kỹ thuật và thường do Ban giám đốccông ty kiểm toán trực tiếp chỉ đạo Lựa chọn được đội ngũ nhân viên thíchhợp sẽ góp phần giúp công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán có chấtlượng và hiệu quả
Đối với khách hàng lâu năm, một mặt công ty kiểm toán nên duy trìmột đội ngũ nhân viên nhất định để giúp cho họ nắm được những nét đặcthù trong kinh doanh của khách hàng, tăng cường mối liên hệ với kháchhàng…Mặt khác phải có chính sách luân chuyển kiểm toán viên giữa cáckhách hàng để tránh việc kiểm tra theo lối mòn hoặc ảnh hưởng đến tínhkhách quan, độc lập
* Thỏa thuận sơ bộ với khách hàng
Khi đã chấp nhận khách hàng, kiểm toán viên sẽ trao đổi và thỏathuận sơ bộ với khách hàng về một số vấn đề như mục đích và phạm vikiểm toán, việc cung cấp tài liệu kế toán và các phương tiện cần thiết chocuộc kiểm toán của khách hàng…
Trong quá trình này, kiểm toán viên cần chú ý trình bày rõ về nhữngnét đặc thù của kiểm toán báo cáo tài chính để tạo sự thống nhất về nhậnthức giữa hai bên Trên cơ sở những thỏa thuận, hai bên sẽ xúc tiến việc kýhợp đồng kiểm toán
* Hợp đồng kiểm toán
Bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán màcông ty kiểm toán phải thực hiện là ký kết hợp đồng kiểm toán Đây là sựthỏa thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và khách hàng về việc thựchiện kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác
Trang 16Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 210 (VSA 210) - hợp đồng
kiểm toán, hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi
tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng vàcủa công ty kiểm toán Hợp đồng kiểm toán bao gồm mục đích và phạm vikiểm toán, trách nhiệm Ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toánviên, hình thức thông báo kết quả kiểm toán, thời gian tiến hành cuộc kiểmtoán, căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán
Trong hợp đồng, kiểm toán viên cần nêu rõ loại báo cáo kiểm toánđược phát hành sẽ tùy theo mức độ trung thực và hợp lý, phù hợp với cácchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Đồng thời, cần khẳng định vớikhách hàng là kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện mọi gian lận
và sai sót
Trong quá trình thực hiện kiểm toán theo hợp đồng, trường hợp kháchhàng có yêu cầu sửa đổi một số điều khoản của hợp đồng làm cho mức độđảm bảo của kiểm toán giảm đi thì công ty kiểm toán phải xem xét có chấpnhận yêu cầu này của khách hàng hay không Mọi trường hợp có sửa đổi cáđiều khoản của hợp đồng, công ty kiểm toán và khách hàng đều phải thốngnhất bằng văn bản về những điều khoản mới này
Hợp đồng kiểm toán là cơ sở pháp lý để kiểm toán viên thực hiện cácbước tiếp theo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh hưởng đến trách nhiệmpháp lý của kiểm toán viên đối với khách hàng Sau khi hợp đồng kiểmtoán được ký kết, công ty kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thứccủa công ty khách hàng
3.1.2 Thu thập thông tin cơ sở
Sự am hiểu về công việc kinh doanh, ngành kinh doanh của kháchhàng và kiến thức về các mặt hoạt động của công ty khách hàng là cần thiếtcho việc thực hiện kiểm toán đầy đủ Những hiểu biết này sẽ giúp kiểmtoán viên hoạch định các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm hoạt động
Trang 17của khách hàng, nhất là giúp kiểm toán viên xác định được các khu vực córủi ro cao để có những biện pháp kiểm toán thích hợp.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA 300) - Lập kế
hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết về ngành nghề, công
việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soátnội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán.Những hiểu biết trên sẽ được kiểm toán viên thu thập, tích lũy và sửdụng trong suốt tiến trình kiểm toán báo cáo tài chính
* Thu thập hiểu biết về ngành nghề kinh doanh và công việc kinh doanh của khách hàng
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310 (VSA 310) - Hiểu biết
về tình hình kinh doanh, để thực hiện được kiểm toán báo cáo tài chính,
kiểm toán viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức
và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị đượckiểm toán mà theo đánh giá của kiểm toán viên chúng có thể ảnh hưởngtrọng yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên.Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh bao gồm các phương diện sau:
- Hiểu biết chung về nền kinh tế như thực trạng nền kinh tế, mức độlạm phát…
- Hiểu biết về môi trường và lĩnh vực hoạt động của khách hàng nhưtình hình thị trường và cạnh tranh, các đặc điểm của ngành nghề kinh doanh…
- Hiểu biết về những yếu tố nội tại của khách hàng như đặc điểm về sởhữu, tình hình kinh doanh…
Kiểm toán viên có thể có được hiểu biết này bằng nhiều cách như traođổi với các kiểm toán viên tiền nhiệm, trao đổi trực tiếp với nhân viên, Bangiám đốc công ty khách hàng, qua các sách báo, tạp chí chuyên ngành…Những hiểu biết về tình hình kinh doanh là cơ sở quan trọng để kiểmtoán viên đưa ra các xét đoán chuyên môn Mức độ hiểu biết tình hình kinhdoanh và việc sử dụng các hiểu biết này một cách hợp lý sẽ trợ giúp kiểm
Trang 18toán viên trong các công việc: đánh giá rủi ro và xác định các vấn đề đánglưu ý, lập kế hoạch và thực hiện công việc kiểm toán một cách hiệu quả,đánh giá bằng chứng kiểm toán, cung cấp dịch vụ tốt hơn cho đơn vị đượckiểm toán.
* Tham quan nhà xưởng
Để tận mắt quan sát về mọi hoạt động của khách hàng, kiểm toán viêncần phải tham quan nhà xưởng, kho tàng…của đơn vị
Đây là công việc tiếp xúc trực tiếp với các hoạt động của công tykhách hàng, qua đó có thể giúp kiểm toán viên có được cái nhìn kháchquan về nhiều mặt hoạt động của khách hàng, tạo điều kiện cho việc thuyếtminh số liệu kế toán Ngoài ra cũng giúp kiểm toán viên đánh giá ban đầu
về phong cách quản lý của Ban giám đốc công ty khách hàng, cách thức tổchức, bố trí sắp đặt công việc…từ đó giúp kiểm toán viên phân tích và xácđịnh các trọng tâm kiểm toán
* Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung
Các hồ sơ kiểm toán năm trước thường chứa đựng rất nhiều thông tin
về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểmhoạt động khác Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích
về tình hình kinh doanh của khách hàng
Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của khách hàng là rất cần thiết,qua đó giúp kiểm toán viên đánh giá được sự tuân thủ luật pháp, chính sáchhiện hành của các quyết định quản lý Ngoài ra còn giúp kiểm toán viênhiểu biết được bản chất của các số liệu, cũng như sự biến động của chúngtrên các báo cáo tài chính được kiểm toán
* Nhận diện các bên hữu quan
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 550 (VSA 550) - Các bên
hữu quan, các bên hữu quan được hiểu là các bộ phận trực thuộc, các chủ
sở hữu chính thức của công ty khách hàng hay bất kỳ công ty chi nhánh,
Trang 19một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty khách hàng có quan hệ, và các cánhân, tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng
kể tới các chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công ty khách hàng.Kiểm toán viên phải xác định các bên hữu quan và nhận định sơ bộ vềmối quan hệ này ngay trong giai đoạn lập kế hoạch thông qua phỏng vấnBan giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi khách hàng…Từ đóbước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên hữu quan để cóthể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp
* Đánh giá nhu cầu chuyên gia bên ngoài
Khi một kiểm toán viên đứng trước các tình huống đòi hỏi kiến thứcchuyên môn ngoài lĩnh vực kế toán, kiểm toán thì lúc đó cần có sự thamvấn của chuyên gia bên ngoài
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 620 (VSA 620) - Sử dụng
tư liệu của chuyên gia, chuyên gia là một cá nhân hoặc một tổ chức có
năng lực, kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn cao trong lĩnh vực riêngbiệt ngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần phải xác định xem các tưliệu của chuyên gia có đảm bảo là một bằng chứng kiểm toán thích hợp liênquan đến cơ sở dữ liệu đang được xem xét của báo cáo tài chính hay không.Kiểm toán viên phải có một sự hiểu biết đầy đủ về công việc kinhdoanh của khách hàng để thừa nhận nhu cầu chuyên gia Lập kế hoạchđúng đắn là điều cần thiết để đảm bảo rằng chuyên gia đã có sẵn khi cần,vừa có năng lực, và nếu cần, độc lập với công ty khách hàng
3.1.3 Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Việc thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúpcho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh Những thông tin này bao gồm:
Giấy phép thành lập và Điều lệ công ty:
Trang 20Điều lệ công ty giúp kiểm toán viên hiểu về cơ cấu tổ chức, thể lệ họp
cổ đông, thủ tục phát hành cổ phần…
Giấy phép hay quyết định thành lập là tài liệu pháp lý chứng minh về
tư cách pháp nhân của khách hàng, đồng thời giúp kiểm toán viên hiểu vềmục tiêu hoạt động, các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của khách hàng
Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tracủa năm hiện hành hay trong vài năm trước:
Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng nhất trong một cuộc kiểm toán
mà kiểm toán viên cần thu thập vì nó cung cấp những dữ kiện về tình hìnhtài chính, kết quả kinh doanḥ…giúp kiểm toán viên nhận thức tổng quát,phân tích và đánh giá xu hướng phát triển của khách hàng
Ngoài ra, việc thu thập các tài liệu khác giúp kiểm toán viên nhận thứcrõ hơn về thực trạng hoạt động của khách hàng và dự kiến phương hướngkiểm tra
Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc:Đây là các tài liệu tóm tắt về những vấn đề quan trọng đã được thảoluận và quyết định trong những cuộc họp Biên bản thường gồm các thôngtin quan trọng như quyết định về cổ tức, chuẩn y việc hợp nhất, giải thể cácđơn vị trực thuộc…
Qua việc nghiên cứu các biên bản này, kiểm toán viên sẽ xác địnhđược những dữ kiện có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành và trìnhbày trung thực các thông tin trên Báo cáo tài chính
Trang 213.1.4 Thực hiện các thủ tục phân tích
Phân tích là một thủ tục quan trọng trong kiểm toán, đó là sự so sánhgiữa những thông tin khác nhau nhằm đánh giá về các mối quan hệ và xuhướng phát triển Do rất hiệu quả nên thủ tục này được kiểm toán viên thựchiện trong suốt cuộc kiểm toán
Thủ tục phân tích được sử dụng được sử dụng cho các mục đích:
- Giúp kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của cácthủ tục kiểm toán khác
- Quy trình phân tích được thực hiện như là một thử nghiệm cơ bảnkhi việc sử dụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trongviệc giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính
- Quy trình phân tích để kiểm tra toàn bộ báo cáo tài chính trong khâusoát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán
Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, sau khi đã thu thập được cácthông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toánviên tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thuthập để từ đó có được cái nhìn tổng quan nhất về khách hàng, từ đó lựachọn các thủ tục kiểm toán thích hợp sẽ được sử dụng để thu thập bằngchứng kiểm toán
Ngoài ra, thông qua phân tích sơ bộ tình hình tài chính, kiểm toán viêncòn đánh giá liệu giả định hoạt động liên tục có thể bị vi phạm hay không.Đánh giá ban đầu về giả định này là cơ sở để kiểm toán viên quyết định cóthực hiện các thủ tục xác minh cần thiết hay không
Các thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:
- Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ
sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính
- Phân tích dọc/ Phân tích chéo (phân tích tỷ suất): là việc phân tíchdựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mụckhác nhau trên báo cáo tài chính
Trang 22Thủ tục phân tích được thực hiện đối với kiểm toán các khoản nợ phảitrả như sau:
Thủ tục phân tích đối với nợ phải trả người bán:
Để đảm bảo tính hợp lý chung của nợ phải trả người bán, kiểm toánviên có thể tính một số chỉ tiêu dưới đây và so sánh với năm trước để nhậndạng các biến động bất thường và tìm hiểu nguyên nhân:
- Tỷ lệ nợ phải trả người bán trên tổng giá trị hàng mua trong kỳ
- Tỷ lệ nợ phải trả người bán trên tổng nợ ngắn hạn
Một thủ tục phân tích khác là kiểm toán viên xem xét chi tiết nợ phảitrả theo từng người bán để phát hiện những bất thường như là so sánh với
số liệu năm trước, so sánh với số liệu mua vào…
Thủ tục phân tích đối với các khoản vay:
Để đánh giá tính hợp lý chung của chi phí lãi vay và số dư nợ vay,kiểm toán viên có thể tiến hành các thủ tục phân tích sau:
- So sánh chi phí lãi vay với số ước tính, số ước tính căn cứ số dư nợvay bình quân và lãi suất bình quân
- So sánh chi phí lãi vay năm nay với các năm trước
- So sánh số dư nợ vay cuối năm với đầu năm
Nếu phát hiện được những biến động bất thường, kiểm toán viên đềuphải tìm hiểu và giải thích nguyên nhân của những biến động bất thường đó
3.1.5 Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tính trọng yếu và rủi ro rất quan trọng đối với việc lập kế hoạch kiểmtoán, đây là quá trình kiểm toán viên đánh giá, nhận xét dựa trên các thôngtin mang tính khách quan đã thu thập được về khách hàng
* Đánh giá tính trọng yếu
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 (VSA 320) - Tính
trọng yếu trong kiểm toán, thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu
thiếu thông tin đó hay thông tin không chính xác sẽ ảnh hưởng đến cácquyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu tùy
Trang 23thuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay của sai sót được đánh giá tronghoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu phải được xem xét trên cả tiêu chuẩn địnhlượng và định tính.
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải đánh giá mức độtrọng yếu để ước tính mức độ sai sót của báo cáo tài chính có thể chấp nhậnđược, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của cácsai sót lên báo cáo tài chính để từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm
vi thực hiện các khảo sát (thử nghiệm) kiểm soát Kiểm toán viên cần phảiđánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính và phân bổ mứctrọng yếu đó cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính
Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
Sự ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toánviên tin rằng ở mức đó các báo cáo có thể bị sai nhưng vẫn chưa ảnh hưởngđến các quyết định của những người sử dụng hợp lý Xây dựng ước lượngban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch thu thậpđầy đủ bằng chứng thích hợp
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:+ Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một đối tượngtuyệt đối, gắn liền với quy mô của công ty khách hàng
+ Yếu tố định lượng của tính trọng yếu: quy mô sai phạm là một yếu
tố quan trọng để xem xét liệu các sai phạm có trọng yếu hay không
+ Yếu tố định tính của trọng yếu: một hành vi gian lận luôn được coi
là trọng yếu bất kể quy mô của nó là bao nhiêu
Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục:Đối với từng khoản mục, mức trọng yếu chính là sai lệch tối đa đượcphép của khoản mục Số tiền này được tính dựa trên cơ sở phân bổ mứctrọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính
Việc phân bổ này giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằngchứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi
Trang 24phí thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên báo cáo tàichính không vượt quá mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu.
* Đánh giá rủi ro
Bất kỳ cuộc kiểm toán nào cũng chứa đựng những rủi ro nhất định docác nguyên nhân như kiểm toán viên thường chỉ lấy mẫu kiểm tra, nhiềuđánh giá dựa trên sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên…̣Do đó,ngay trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro kiểmtoán để điều chỉnh các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp sao cho rủi ronày có thể giảm xuống thấp đến mức chấp nhận được
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) - Đánh giá
rủi ro và kiểm soát nội bộ, rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và
công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tàichính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải xác định rủi rokiểm toán mong muốn Mức rủi ro kiểm toán mong muốn được xác địnhphụ thuộc vào các nhân tố như mức độ mà theo đó người sử dụng bênngoài tin tưởng vào báo cáo tài chính, khả năng khách hàng sẽ gặp khókhăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán công bố
Ngoải ra, kiểm toán viên cần phải đánh giá các loại rủi ro kiểm toán sau:
- Rủi ro tiềm tàng là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trongbáo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tínhgộp, mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ
Rủi ro tiềm tàng là khả năng có thể có những sai lệch trọng yếu trongbáo cáo tài chính bắt nguồn từ hoạt động hay môi trường kinh doanh, hoặc
do bản chất của khoản mục, trước khi xem xét đến tính hữu hiệu của hệthống kiểm soát nội bộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng bao gồm: bản chất kinhdoanh của khách hàng, tính trung thực của Ban giám đốc, kết quả các lầnkiểm toán trước, hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài
Trang 25hạn, các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên, các ước tính kế toán, quy
mô của các số dư tài khoản
- Rủi ro kiểm soát: là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệthống kiểm soát nội bộ của khách hàng không hoạt động hoặc hoạt độngkhông hiệu quả đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này
Dựa trên sự hiểu biết hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ,kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro kiểmsoát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụkinh tế chủ yếu
Kiểm toán viên cần chú ý xem xét môi trường kiểm soát vì nó biểuhiện quan điểm, nhận thức, cũng như hành động của các nhà quản lý đơn vịkhi họ xác định phương thức tổ chức đơn vị, phân định trách nhiệm, quyềnhạn của ban giám đốc và của các bộ phận…
- Rủi ro phát hiện: là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trênbáo cáo tài chính mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thốngkiểm soát nội bộ và cũng không được kiểm toán viên phát hiện trong quátrình kiểm toán Rủi ro phát hiện có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ nộidung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản do kiểm toán viênthực hiện Rủi ro phát hiện có thể kiểm soát được bởi các kiểm toán viênthông qua việc điều chỉnh nội dung, thời gian và phạm vi của các thửnghiệm cơ bản
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên cần đánh giárủi ro kiểm toán, bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nhằm xácđịnh mức rủi ro phát hiện phù hợp, trên cơ sở đó thiết kế các thử nghiệm cơbản thích hợp để rủi ro kiểm toán sau cùng sẽ nằm trong một giới hạn cho phép.Rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định theo mô hình sau:
AR = IR * DR * CRTrong đó:
AR: mức rủi ro kiểm toán mong muốn
Trang 26IR: rủi ro tiềm tàng
CR: rủi ro kiểm soát
DR: rủi ro phát hiện
Mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ vàngược chiều nhau, nghĩa là nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toáncàng thấp và ngược lại
Qua việc đánh giá rủi ro, kiểm toán viên lập kế hoạch thu thập bằngchứng kiểm toán thích hợp Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với số lượngbằng chứng kiểm toán cần thu thập được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập
Trường
hợp
Rủi ro kiểm toán
Rủi ro
cố hữu
Rủi ro kiểm soát
Rủi ro phát hiện
Số lượng bằng chứng cần thu thập
3.1.6 Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) - Đánh giá
rủi ro và kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên phải có một sự hiểu biết đầy đủ
về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và để xác định bảnchất, thời gian và phạm vi của các cuộc khảo sát phải thực hiện Hệ thốngkiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và cácthủ tục kiểm soát
Thông thường mức rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp đối với nợphải trả khi kiểm toán viên nhận thấy rằng các phiếu nhập kho được đánh
số một cách liên tục và được lập tức thời cho mọi hàng hóa nhập kho, cácchứng từ thanh toán được lập và ghi chép kịp thời vào nhật ký, các khoản
Trang 27thanh toán được thực hiện đúng hạn và ghi chép kịp thời vào nhật ký và các
sổ chi tiết…Trong trường hợp này kiểm toán viên sẽ giảm thiểu các thửnghiệm cơ bản
Mức rủi ro kiểm soát là cao khi kiểm toán viên phát hiện rằng sổ chitiết không thống nhất với sổ cái, phiếu nhập kho và chứng từ thanh toánkhông được đánh số liên tục và được sử dụng một cách tùy tiện, các nghiệp
vụ mua hàng không được ghi chép mà để đến khi trả tiền mới ghi…Trongtrường hợp này kiểm toán viên phải mở rộng các thử ngiệm cơ bản để cóthể xác định xem báo cáo tài chính có phản ánh trung thực mọi khoản phảitrả của đơn vị vào thời điểm khóa sổ hay không
Trong bước tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vàocác yếu tố xác định trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽthiết kế các thủ tục kiểm toán chi tiết và soạn thảo chương trình kiểm toán
3.1.7 Thiết kế chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việckiểm toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao độnggiữa các kiểm toán viên cũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liênquan cần sử dụng và thu thập Thiết lập được một chương trình kiểm toánthích hợp sẽ giúp kiểm toán viên thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toánthích hợp với chi phí và thời gian kiểm toán hợp lý
Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kếthành 3 phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích, và trắc nghiệmtrực tiếp các số dư
Chương trình kiểm toán thường được thiết kế cho từng chu trình hoặctừng tài khoản nhằm đáp ứng mục tiêu kiểm toán của từng khoản mục.Chương trình kiểm toán được thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của cuộckiểm toán và có thể cần phải sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi
Chương trình kiểm toán các khoản nợ phải trả thường bao gồm cácnội dung sau:
Trang 28 Danh mục các tài khoản nợ phải trả được kiểm toán.
Các tài liệu về vay, nợ yêu cầu khách hàng chuẩn bị như các hợpđồng vay, nợ, giấy phép kinh doanh…
Phân công nhân viên kiểm toán cho từng tài khoản trong quy trìnhkiểm toán này
Trình tự kiểm toán bao gồm việc thực hiện các thủ tục sau:
- Thực hiện hay yêu cầu cung cấp một bảng số dư chi tiết các khoảnphải trả:
+ Kiểm tra tổng số và đối chiếu với sổ cái
+ Đối chiếu với sổ chi tiết của từng đối tượng
+ Thảo luận với khách hàng về các khoản phải trả kéo dài hoặc đangtranh chấp
+ Điều tra các số dư Nợ, xác nhận xem có phù hợp không và xem xétviệc sắp xếp lại khoản mục
+ Xem xét các hợp đồng về các tài sản đã thế chấp
- Xem xét thủ tục xác nhận đối với các khoản phải trả lớn
- Tìm kiếm các công nợ chưa được ghi chép:
Trang 29+ Kiểm tra hồ sơ các báo cáo nhận hàng, những hóa đơn của ngườibán chưa nhận hàng, bảng kê hàng hóa đã nhận nhưng chưa có hóa đơn+ Phỏng vấn về khả năng có thể có các khoản nợ không được ghi chép…
- Phỏng vấn về các cam kết mua hàng mà trong đó có những điềukhoản có thể gây thiệt hại hoặc cần khai báo…
- Kết luận về mức độ trung thực và hợp lý khi trình bày về số dư củacác khoản phải trả vào ngày kết thúc niên độ kế toán
3.2 Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương phápkỹ thuật kiểm toán thích hợp với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thậpbằng chứng kiểm toán Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tíchcực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xácthực về mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính trên cơ sở nhữngbằng chứng đầy đủ và tin cậy
3.2.1 Nghiên cứu và đánh giá kiểm soát nội bộ
* Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện nhằm đánh giá sự tồn tại vàhiện hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ Thử nghiệm kiểm soát chỉ đượcthực hiện khi hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng được đánh giá làcó tồn tại và có hiệu lực
Một số thử nghiệm kiểm soát có thể áp dụng khi kiểm toán các khoản
nợ phải trả như sau:
Căn cứ các nhật ký liên quan để kiểm tra việc ghi chép trên sổ cái
Trang 30* Đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản
Sau khi hoàn thành các thủ tục trên, kiểm toán viên sẽ đánh giá lại rủi
ro kiểm soát cho các cơ sở dẫn liệu chủ yếu của nợ phải trả Sự đánh giánày là cơ sở để kiểm toán viên chọn lựa các thử nghiệm cơ bản cần thiết đểkiểm tra các khoản phải trả vào thời điểm khóa sổ
3.2.2 Thử nghiệm cơ bản
Thử nghiệm cơ bản là việc kiểm tra được thực hiện để thu thập bằngchứng kiểm toán liên quan tới báo cáo tài chính nhằm phát hiện ra nhữngsai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính Thử nghiệm cơ bản được tiến hànhthông qua các thủ tục phân tích và các thủ tục kiểm tra chi tiết
* Thực hiện thủ tục phân tích
Đối với nợ phải trả người bán:
Đối chiếu chi phí mua hàng của kỳ này với các kỳ trước để đánh giátính hợp lý và phát hiện những biến động bất thường cần phải xem xét Phân tích xu hướng và kiểm tra tính hợp lý của các yếu tố chi phí giữacác kỳ kế toán
Phân tích tỷ lệ chi phí mua hàng với nợ phải trả hoặc với các khoảnthanh toán thực tế đã trả trong tháng
Kiểm toán viên cũng có thể tính một số chỉ tiêu như tỷ lệ nợ phảitrả trên tổng số hàng mua trong kỳ, tỷ lệ nợ phải trả quá hạn…Từ đó sosánh với năm trước để phát hiện những biến động bất thường và tìmhiểu nguyên nhân
Đối với các khoản nợ vay:
So sánh chi phí lãi vay năm nay với các năm trước trên cơ sở lãi suấttrung bình của các khoản vay và các khoản phải trả hàng tháng
So sánh dư nợ vay cuối năm với đầu năm
Trên cơ sở lãi vay phải trả và số dư các khoản vay, so sánh tỷ lệ giữalãi vay với số dư các khoản vay của năm nay so với năm trước
* Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
Tương ứng với các mục tiêu kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tiến hànhcác thủ tục kiểm tra chi tiết cụ thể như sau:
Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với nợ phải trả người bán:
Trang 31Bảng 2: Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với nợ phải trả người bán
Mục tiêu kiểm toán Kiểm tra chi tiết sô dư nợ phải trả người bán
- Tính hợp lý chung:
Số dư tài khoản nợ phải trả
người bán, các số dư chi tiết
trong sổ hạch toán chi tiết
các khoản phải trả, các tài
khoản phản ánh tài sản và
chi phí liên quan đều hợp lý.
- So sánh với tổng chi phí mua hàng năm trước
- Xem xét các khoản phải trả nhằm phát hiện những khoản bất hợp lý như không có bên bán
và các khoản phải trả có chịu lãi
- Đối chiếu các khoản phải trả trong sổ hạch toán chi tiết với các năm trước (theo từng khách hàng) để phát hiện các biến động.
- Các mục tiêu đặc thù:
Các khoản phải trả trong
- Đối chiếu số tổng cộng với sổ cái tổng hợp
- Đối chiếu các hóa đơn của từng người bán với
sổ hạch toán chi tiết nhằm kiểm tra tên người bán và số tiền.
Các khoản phải trả trong sổ
hạch toán chi tiết phải có căn
cứ hợp lý.
- Đối chiếu danh sách các khoản phải trả với các hóa đơn và các bảng kê (nếu có) của người bán
- Lấy xác nhận các khoản phải trả, chú trọng các khoản phải trả lớn và bất thường.
Các khoản phải trả hiện có
đều ở trong danh sách (bảng
kê) các khoản phải trả (tính
đầy đủ).
- Kiểm tra chi tiết các khoản nợ quá hạn
Các khoản phải trả trong
danh sách (bảng kê) được
đánh giá đúng đắn.
- Thực hiện các thủ tục tương tự như đối với các khoản nợ quá hạn và đối với tính có căn cứ hợp lý.
Các khoản phải trả trong
danh sách được phân loại
đúng đắn.
- Kiểm tra sổ hạc toán chi tiết các khoản phải trả.
Việc phản ánh nợ phải trả
người bán trong chu kỳ mua
hàng và thanh toán được vào
sổ đúng kỳ.
- Thực hiện việc kiểm tra công nợ quá hạn
- Đối chiếu với số liệu kiểm toán chu trình hàng tồn kho, xem xét hồ sơ mua hàng đi đường.
Tài khoản nợ phải trả người bán
trong chu trình mua hàng và
thanh toán được trình bày đúng
đắn.
- Kiểm tra các khoản phải trả để đảm bảo nợ phải trả người bán, nợ ngắn hạn và dài hạn được tách riêng.
Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản vay:
Bảng 3: Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản vay
Trang 32Mục tiêu kiểm toán Kiểm tra chi tiết sô dư các khoản vay
- Tính lại phí tổn lãi vay dựa trên lãi suất trung bình
và số tiền vay phải trả hàng tháng
- So sánh tổng số dư các khoản vay, lãi tính dồn phải trả và phí tổn lãi vay để thấy tính hợp lý của chúng Các mục tiêu đặc thù:
- Các khoản vốn vay
phải trả hiện có đều
được phản ánh đầy đủ
trên bảng kê tiền vay.
- Kiểm tra các khoản tiền vay đã thanh toán và chưa thanh toán tính đến ngày lập bảng khai tài chính để xác định có chứng từ nào chưa được ghi sổ kế toán hoặc ghi không đúng, nhằm phát hiện những trường hợp
bỏ sót hoặc ghi trùng
- Thu thập các bảng xác nhận của ngân hàng và các chủ vốn vay, đối chiếu cụ thể từng khoản vay với bảng xác nhận đó để xác định sự tồn tại thực tế của các khoản vay
- Thu thập các bảng xác nhận của ngân hàng và của các chủ vốn vay đối với các khoản vay trước đây và hiện nay đã thanh toán hoặc không được liệt kê vào bảng liệt kê tiền vay Đây cũng là việc xác nhận số dư bằng 0 trong tài khoản tiền vay
- Phân tích phí tổn tiền vay để phát hiện những khoản thanh toán các khoản tiền vay hoặc lãi vay cho các chủ vốn vay không có thực
- Kiểm tra việc hủy bỏ các chứng từ nợ đã thanh toán
để bảo đảm là chúng không còn lưu hành Chúng phải được lưu giữ trong hồ sơ của doanh nghiệp
- Xem xét lại các biên bản họp của Giám đốc, Hội đồng quản trị về các khoản vay đã được phê chuẩn nhưng chưa được vào sổ
- Tính hiệu lực của số
liệu hạch toán trên
khoản mục vốn vay.
- Tổng cộng các khoản tiền vay, lãi tính dồn phải trả trên sổ kế toán tiền vay, đối chiếu với số lượng tương ứng trên bảng liệt kê tiền vay và lãi tính dồn phải trả
- Đối chiếu các số tổng cộng trên các sổ chi tiết tiền vay với sổ cái tổng hợp tài khoản tiền vay, đối chiếu
số liệu trên sổ cái với khoản mục tiền vay trên bảng cân đối kế toán.
- Đối chiếu chứng từ của các khoản vay phải trả với các sổ chi tiết tiền vay của từng đối tượng cho vay.
Trang 33- Tính lại tiền lãi tính dồn và so sánh với tiền lãi tính dồn đã hạch toán và ghi trên bảng liệt kê tiền vay.
- Các khoản vốn vay
trên bảng liệt kê đều
có căn cứ hợp lý.
- Xác nhận các khoản vay phải trả
- Kiểm tra sự phê duyệt các thủ tục xin vay và các khế ước vay.
- Các khoản vốn vay
trên bảng liệt kê đều
được phân loại đúng
đắn
- Kiểm tra thời hạn vay, ngày đến hạn trả của từng khoản để xác định tính đúng đắn của việc hạch toán các khoản vay đó vào tài khoản vay ngắn hạn, tài khoản nợ dài hạn đến hạn trả, tài khoản vay dài hạn
- Kiểm tra việc sử dụng tiền vay theo mục đích đã cam kết, bằng cách xem xét thực tế sử dụng tiền vay đối chiếu với cam kết trên hợp đồng hoậc khế ước vay.
3.3 Kết thúc kiểm toán
Kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên phát hành báo cáo kiểm toán đểđưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính Nhưng trước khi phát hànhbáo cáo kiểm toán, kiểm toán viên cần tổng hợp các kết quả thu thập được
và thực hiện một số thử nghiệm bổ sung có tính chất tổng quát như xem xétcác khoản công nợ ngoài dự kiến, xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày khóa
sổ kế toán lập báo cáo tài chính, xem xét về giả định hoạt động liên tục vàđánh giá tổng quát kết quả
Sau khi đã hoàn thành tất cả các thử nghiệm bổ sung trên, báo cáo
kiểm toán sẽ được phát hành Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
700 (VSA 700) - Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính, báo cáo kiểm
toán phải nêu rõ ý kiến của kiểm toán viên và công ty kiểm toán về các báocáo tài chính trên phương diện phản ánh (hoặc trình bày) trung thực và hợp
lý trên các khía cạnh trọng yếu, trên phương diện tuân thủ các chuẩn mực
Trang 34và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), và việc tuân thủ cácquy định pháp lý có liên quan.
Ý kiến của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán gồm 4 loại:
Ý kiến chấp nhận toàn phần: được đưa ra khi báo cáo tài chính
được đánh giá là phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọngyếu, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành Ý kiếnnày cũng được đưa ra trong trường hợp báo cáo tài chính tuy có sai sótnhưng đã được điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên, và cho cả trườnghợp báo cáo kiểm toán có một đoạn nhận xét để làm sáng tỏ một số yếu tốảnh hưởng không trọng yếu đến báo cáo tài chính và không có ảnh hưởngđến báo cáo kiểm toán
Ý kiến chấp nhận từng phần: được đưa ra khi báo cáo tài chính chỉ
phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu nếu không bịảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại trừ hoặc yếu tố tùy thuộc mà kiểm toánviên đã nêu trong báo cáo kiểm toán Loại ý kiến này thường giới hạn tráchnhiệm của kiểm toán viên về sự trình bày trung thực và hợp lý đối với một
số nội dung của báo cáo tài chính
Trường hợp có yếu tố ngoại trừ: là khi kiểm toán viên bị giới hạn vềphạm vi kiểm toán hoặc bất đồng ý kiến với người quản lý về việc áp dụngchuẩn mực và chế độ kế toán
Trường hợp có yếu tố tùy thuộc: tùy thuộc là yếu tố không chắc chắn
vì phụ thuộc vào các sự kiện trong tương lai, nghĩa là nằm ngoài khả năngkiểm soát của khách hàng và kiểm toán viên
Ý kiến từ chối: được đưa ra khi kiểm toán viên bị giới hạn phạm vi
kiểm toán tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ các bằngchứng kiểm toán thích hợp để có thể cho ý kiến Các giới hạn nghiêm trọng
về phạm vi kiểm toán là những giới hạn mà mức độ trọng yếu của nó khiếncho một báo cáo chấp nhận có loại trừ là không thích hợp
Ý kiến không chấp nhận: được đưa ra khi kiểm toán viên cho rằng
ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ saisót trọng yếu của báo cáo tài chính Ý kiến này được đưa ra khi có sự bất
Trang 35đồng nghiêm trọng với giám đốc khách hàng về việc lựa chọn và áp dụngchuẩn mực và chế độ kế toán, hoặc sự không phù hợp của các thông tintrong báo cáo tài chính, hoặc thuyết minh báo cáo tài chính.
Khi đưa ra ý kiến không chấp nhận, kiểm toán viên phải thu thập đủcác bằng chứng để làm cơ sở cho ý kiến của mình Trong báo cáo này,kiểm toán viên phải giải thích về lý do không chấp nhận và nêu những ảnhhưởng chính của nó đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của khách hàng.Mỗi khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phải là ý kiến chấp nhậntoàn phần thì phải mô tả rõ ràng trong báo cáo kiểm toán tất cả những lý dochủ yếu dẫn đến ý kiến đó và định lượng (nếu được) những ảnh hưởng đếnbáo cáo tài chính Những tình huống sau đây dẫn đến ý kiến không phải là
ý kiến chấp nhận toàn phần:
- Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn
- Không nhất trí với giám đốc đơn vị được kiểm toán về việc lựa chọn
và áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán, hoặc sự không phù hợp của cácthông tin ghi trong báo cáo tài chính hoặc phần thuyết minh báo cáo tài chính
3.4 Công việc sau kiểm toán
Sau khi phát hành báo cáo kiểm toán và đưa ra ý kiến về sự trình bàytrung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của các thông tin trên báocáo tài chính của đơn vị khách hàng, công ty kiểm toán cần phải soát xétcác giấy tờ làm việc, đánh giá kết quả các công việc đã thực hiện, để từ đócó những điều chỉnh kịp thời
Đồng thời với việc soát xét chất lượng kiểm toán, công ty kiểm toáncòn cần phải quan tâm đến các sự kiện xảy ra sau ngày phát hành báo cáokiểm toán Các sự kiện này có thể ảnh hưởng lớn tới sự trình bày các thôngtin trên báo cáo tài chính đòi hỏi phải có sự xem xét của kiểm toán viên đểđưa ra những điều chỉnh phù hợp với tình hình tài chính của khách hàng,nhằm đảm bảo độ tin cậy của ý kiến kiểm toán đưa ra
Trang 36PHẦN II - THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
DO CÔNG TY HỢP DANH KIỂM TOÁN VIỆT NAM
(CPA VIETNAM) THỰC HIỆN
NAM (CPA VIETNAM) ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ
1 Một vài nét khái quát về CPA VIETNAM
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của CPA VIETNAM
Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam - CPA VIETNAM là công tyhợp danh đầu tiên về kiểm toán được thành lập và thực hiện hoạt độngkiểm toán độc lập tại Việt Nam theo Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày30/3/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập tại Việt Nam Theo đó,Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam là công ty chịu trách nhiệm vô hạnđối với các khách hàng về kết quả của các cuộc kiểm toán
Mục tiêu hoạt động của Công ty là " CPA VIETNAM đi cùng sự phát triển của doanh nghiệp" Công ty hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách
quan, chịu trách nhiệm vật chất và giữ bí mật cho khách hàng Công ty luôncoi trọng chất lượng dịch vụ, hiệu quả tài chính và uy tín nghề nghiệp Đặcbiệt quan tâm tới đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ nhân viên trongCông ty
Phương châm hoạt động của CPA VIETNAM là phấn đấu trở thànhmột trong những Công ty kiểm toán hàng đầu ở Việt Nam và trong khuvực, với chất lượng cao vượt trên sự mong đợi của khách hàng và nhânviên trong Công ty
Bên cạnh đó, Công ty còn có đội ngũ nhân viên có trình độ, năng động
và sáng tạo Đây là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công củaCông ty trong gần hai năm qua và trong các năm hoạt động tiếp theo
Trang 371.2 Lĩnh vực kinh doanh của CPA VIETNAM
Với mong muốn tạo thế đứng ngày càng vững chắc trong thị trườngkiểm toán, CPA VIETNAM không ngừng mở rộng các lĩnh vực kinhdoanh, cung cấp các dịch vụ có chất lượng ngày càng cao cho khách hàng.Hiện nay, các loại dịch vụ do CPA VIETNAM cung cấp cho khách hàng gồm:
*Kiểm toán báo cáo tài chính: gồm Kiểm toán báo cáo tài chính vì
mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế, Kiểm toán báo cáo quyết toánvốn đầu tư hoàn thành (kể cả Kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm), Kiểmtoán báo cáo quyết toán dự án, Kiểm toán thông tin tài chính, kiểm trathông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏa thuận trước
*Tư vấn tài chính: tư vấn xác định giá trị tài sản doanh nghiệp phục
vụ cho việc chuyển đổi hình thức sở hữu công ty, tham gia thị trườngchứng khoán, góp vốn liên doanh, hợp danh, hợp đồng hợp tác kinh doanh
*Tư vấn thuế: tư vấn phương pháp tính thuế có hiệu quả cho doanh
nghiệp và phù hợp với pháp luật thuế hiện hành
*Tư vấn nguồn nhân lực: tư vấn cho doanh nghiệp về quản lý nguồn
nhân lực, quản lý quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương
*Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin: công ty có một đội ngũ nhân
viên nhiều năng lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt là việc ápdụng công nghệ thông tin trong hoạt động kế toán
*Tư vấn quản lý: tư vấn thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả,
xây dựng quy chế tài chính cho doanh nghiệp, xác định cơ cấu và chiếnlược kinh doanh, tư vấn quản lý tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, tư vấnlập dự án khả thi cho các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu, tư vấn đầu tưlựa chọn phương án kinh doanh cho doanh nghiệp
*Dịch vụ kế toán: cung cấp cho khách hàng các thông tin về chính
sách kế toán, tư vấn các phương pháp kế toán phù hợp với từng loại hìnhdoanh nghiệp
Trang 38*Dịch vụ định giá tài sản: đề xuất các biện pháp và cơ sở pháp lý xử
lý về tài chính, công nợ, lao động và các vấn đề liên quan đến việc xác địnhgiá trị doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp
*Dịch vụ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức tài chính, kế toán, kiểm
toán và cấp chứng chỉ đào tạo: trung tâm đào tạo CPA VIETNAM thường
xuyên tổ chức các chương trình đào tạo về kế toán, tài chính, kiểm toánquốc tế, quản trị kinh doanh, thuế…̣tại các doanh nghiệp hoặc tại các địaphương nhằm cập nhật kiến thức cũng như cung cấp các thông tin hữu íchcho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Kết thúc khóa học,CPA VIETNAM cấp chứng chỉ đào tạo cho người tham dự khóa học
*Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính: soát xét các chỉ tiêu trên báo cáo
tài chính, từ đó đưa ra những nhận xét khái quát về khách hàng nhằm tưvấn giúp doanh nghiệp có được những điều chỉnh đúng đắn, kịp thời
1.3 Thị trường khách hàng của CPA VIETNAM
Với các lĩnh vực kinh doanh rộng lớn như trên và với phương châm
hoạt động " CPA VIETNAM luôn đi cùng sự phát triển của doanh nghiệp",
thị trường khách hàng của CPA VIETNAM rất rộng lớn với nhiều loại hìnhkinh doanh khác nhau
Khách hàng của CPA VIETNAM là các doanh nghiệp thuộc tất cả cácthành phần kinh tế bao gồm các Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhànước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong đó có các công ty đaquốc gia, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và các doanhnghiệp khác…
Với sự am hiểu đặc thù kinh tế ngành, CPA VIETNAM đã thực hiệnkiểm toán và cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ cho các doanh nghiệpthuộc các ngành sản xuất, khai thác mỏ, bưu chính viễn thông, dầu lửa,điện lực, ngân hàng, bảo hiểm, khách sạn, hàng không, dệt may, thuốc lá,lương thực, hóa chất, xây dựng, cơ khí, nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản…Qua đó giúp các doanh nghiệp được kiểm toán nâng cao công tác quản lý
Trang 39tài chính kế toán, cũng như hoàn thiện tốt hơn hệ thống kế toán, hệ thốngkiểm soát nội bộ.
Các khách hàng được kiểm toán, tư vấn đã liên tục sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, đời sống của cán bộ công nhân viên liên tục được cảithiện và nâng cao
Qua thị trường khách hàng rộng lớn của CPA VIETNAM có thể thấyrõ được vị trí của Công ty trong toàn ngành Kiểm toán
1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của CPA VIETNAM
Đứng đầu Công ty là Hội đồng thành viên hợp danh (đồng thời là Bangiám đốc) bao gồm 4 thành viên có trình độ chuyên môn và uy tín nghềnghiệp và đều có chứng chỉ CPA VIETNAM do Bộ Tài chính cấp và chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty Hội đồng thành viên hợp danh là cơ quan quyết định cao nhất củaCông ty Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp danh phân côngnhau đảm nhiệm các chức trách quản lý và kiểm soát hoạt động của Công
ty và cử một người trong số họ đảm nhiệm chức trách Giám đốc công ty.Quy chế hoạt động của Hội đồng thành viên hợp danh (Ban Giám đốc) doHội đồng (ban) quyết định
Hội đồng khoa học bao gồm nhiều nhà chuyên môn, thạc sỹ giàu kinhnghiệm và có uy tín nghề nghiệp để quyết định các vấn đề nghiệp vụ cònđang tranh luận trong Ban giám đốc, các ủy viên Hội đồng cố vấn do Công
ty mời tham gia
Các phòng và chức năng chuyên môn:
Phòng hành chính tổng hợp có nhiệm vụ quản lý nhân sự, hồ sơ cá
nhân; quản trị văn phòng, nội vụ, văn thư, lưu trữ; giải quyết các công việchành chính, đối ngoại; kế toán, thủ quỹ
Phòng nghiệp vụ 1 có nhiệm vụ kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm
toán xây dựng cơ bản (báo cáo quyết toán vốn đầu tư…̣)
Trang 40 Phòng nghiệp vụ 2 có nhiệm vụ kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm
toán các đơn vị sản xuất
Phòng nghiệp vụ 3 có nhiệm vụ soát xét báo cáo, thông tin tài
chính; kiểm toán dự án nước ngoài tài trợ
Phòng nghiệp vụ 4 (phòng tư vấn) có nhiệm vụ tư vấn thuế, tài
chính, kế toán; dịch vụ đào tạo, cập nhật kiến thức, tuyển dụng nhân viên;kiểm toán các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; dịch vụ định giá tàisản, cổ phần hóa
Phòng nghiệp vụ 5 có nhiệm vụ kiểm toán báo cáo tài chính; kiểm
toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động; kiểm toán ứng dụng công nghệ thông tin.Các phòng này do thành viên Ban giám đốc trực tiếp quản lý
Có thể khái quát bộ máy tổ chức quản lý tại CPA VIETNAM qua sơ
đồ sau:
Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty CPA VIETNAM
Hội đồng thành viên (Ban giám đốc)
Các phòng ban
Hội đồng Khoa học
vụ 1
Phòng nghiệp
vụ 2
Phòng nghiệp
vụ 3
Phòng nghiệp
vụ 4
Phòng nghiệp
vụ 5