1 Giá trị hấp thụ các bon của rừng phòng hộ chắn sóng tại Kiên Giang và Cà Mau Vũ Tấn Phương1 và Nguyễn Viết Xuân2 Tóm tắt Nghiên cứu tiến hành xác định sinh khối, trữ lượng các bon v
Trang 11
Giá trị hấp thụ các bon của rừng phòng hộ chắn sóng
tại Kiên Giang và Cà Mau
Vũ Tấn Phương1 và Nguyễn Viết Xuân2
Tóm tắt
Nghiên cứu tiến hành xác định sinh khối, trữ lượng các bon và giá trị hấp thụ các bon của 3
loại rừng phòng hộ chắn sóng: rừng trồng đước (Rhizophora apiculata), rừng trồng mắm đen
(Avicennia officinalis) và rừng mắm trắng tự nhiên (Avicennia alba) tại huyện An Biên và An
Minh tỉnh Kiên Giang; huyện Ngọc Hiển và Phú Tân tỉnh Cà Mau Phương pháp điều tra ô
tiêu chuẩn điển hình 500 m2 và chặt hạ cây tiêu chuẩn theo các cấp tuổi, cấp kính khác nhau
được sử dụng để đo đếm sinh khối tươi Phân tích sinh khối khô được thực hiện theo phương
pháp tủ sấy ở nhiệt độ 105OC và phân tích hàm lượng các bon trong sinh khối bằng máy
TOC/TN HT 1300 Kết quả cho thấy sinh khối trung bình trên mặt đất của các loại rừng khác
nhau có sự khác biệt đáng kể Rừng trồng đước 16 tuổi là 80,10 tấn/ha, rừng trồng mắm đen là
109,81 tấn/ha và rừng mắm trắng tự nhiên là 232,6 tấn/ha Khả năng hấp thụ các bon trung
bình của rừng trồng đước, mắm đen và mắm trắng tự nhiên lần lượt là 136,6 tấn CO2/ha,
511,6 tấn CO2/ha và 198,7 tấn CO2/ha Giá trị hấp thụ các bon của rừng phụ thuộc vào sinh
trưởng của rừng Giá trị hấp thụ các bon bình quân của rừng trồng đước là 3,3 triệu
đồng/ha/năm; của rừng trồng mắm đen là 10 triệu đồng/ha/năm và rừng mắm trắng tự nhiên là
32,7 triệu đồng/ha Như vậy, so với các giá trị hiện tại khác mà người trồng rừng có thể thu
được thì giá trị hấp thụ các bon của rừng ngập mặn của 3 loại rừng nghiên cứu là khá cao
Đây cũng là giá trị to lớn của rừng trong việc giảm nhẹ khí CO2 trong khí quyển bên cạnh các
giá trị môi trường khác như phòng hộ ven biển và các giá trị sử dụng trực tiếp khác
Từ khoá: rừng ngập mặn; hấp thụ các bon, sinh khối, Kiên Giang, Cà Mau
1 Đặt vấn đề
Trong những năm qua, các nghiên cứu về vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trường, cung
cấp các giá trị sử dụng trực tiếp như gỗ, củi và các lâm sản ngoài gỗ, vv, đã và đang được
thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Trong các giá trị của rừng thì
khả năng hấp thụ các bon của rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc loại bỏ khí nhà
kính và do đó góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu Giá trị hấp thụ các bon của rừng
có thể được thương mại hóa theo các cơ chế khác nhau như chi trả dịch vụ môi trường rừng
(PES) và giảm phát thải do Phá rừng và Suy thoái rừng ở các nước nhiệt đới (REDD)
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về khả năng hấp thụ các bon của rừng trồng một số loài cây như
Thông, Bạch đàn, Keo, vv, và một số trạng thái rừng tự nhiên đã được nghiên cứu và có thể
áp dụng vào các cơ chế nói trên nhằm đạt hai mục tiêu là bảo vệ môi trường và tăng thu nhập
cho người dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng Mặc dù được biết đến rộng rãi nhờ hàng
loạt các dịch vụ sinh thái như cung cấp nguồn lợi thủy sản, phòng hộ ven biển, hạn chế sóng
thần, tuy nhiên một giá trị vô cùng quan trọng khác của rừng ngập mặn là khả năng tích lũy
các bon của rừng ngập mặn vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở Việt Nam Cho đến nay, mới
chỉ có một nghiên cứu về sinh khối và trữ lượng các bon của rừng ngập mặn do Nick Wilson
bước đầu được thực hiện ở Kiên Giang năm 2010) Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy
trữ lượng sinh khối trung bình của rừng ngập mặn ở Kiên Giang vào khoảng 123,8 tấn/ha so
với giá trị trung bình trong nghiên cứu của Alongi (2009) là 247 tấn/ha Tuy nhiên nghiên cứu
của tác giả này chưa xác định được giá trị hấp thụ các bon của rừng ngập mặn
Nghiên cứu này tập trung xác định sinh khối, trữ lượng và giá trị hấp thụ các bon của một số
loại rừng phòng hộ chắn sóng ở hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang Đây là hai tỉnh có diện tích
1 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
2 Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng
Trang 22
rừng ngập mặn khá lớn, khoảng 52.923 ha ở Cà Mau và 3.847 ha ơở Kiên Giang Các kết quả nghiên cứu này cung cấp cơ sở cho việc xây dựng và triển khai các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường như PES và REDD Đây là các xu hướng phù hợp cho việc quản lý và bảo vệ rừng hiện nay nhằm cải thiện sinh kế của cộng động địa phương và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu, góp phần phát triển kinh tế xã hội
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng rừng phòng hộ chắn sóng (hay rừng ngập mặn phòng hộ chắn sóng) ở tỉnh Kiên Giang và Cà Mau Tại huyện An Biên và An Minh tỉnh Kiên Giang, nghiên cứu thực hiện ở rừng trồng mắm đen và tại huỵên Ngọc Hiển và Phú Tân tỉnh
Cà Mau, nghiên cứu được thực hiện với đối tượng rừng trồng đước thuần loài và rừng mắm trắng tự nhiên
Thu thập số liệu tại hiện trường thông qua phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn điển hình Ô tiêu chuẩn điển hình có diện tích 500 m2 (20 x 25 m) được thiết lập để đo đếm toàn bộ đường kính
và chiều cao các cây trong ô Với rừng Mắm đen, số ô tiêu chuẩn đo đếm là 18 ô; rừng Đước,
số ô tiêu chuẩn đo đếm là 24 ô và rừng Mắm trắng số ô đo đếm là 20 ô Trong các ô tiêu chuẩn, tiến hành lựa chọn cây trung bình để chặt hạ và đo đếm sinh khối tươi trên mặt đất Đối với rừng Mắm tự nhiên, việc xác định sinh khối được thực hiện bằng cách chặt hạ 3-5 cây theo cấp kính (2, 4, 6, 8, 10, 12 cm) Với rừng trồng, tiến hành chặt hạ 3-5 cây trung bình theo tuổi (cấp tuổi 3, 7, 13, 16) Sau khi chặt hạ, tách các bộ phận thân, cành, lá và cân để xác định sinh khối tươi Tổng số cây chặt hạ cho rừng Mắm trắng là 24, cho rừng Đước là 38 và cho rừng Mắm đen là 18 Sau khi xác định sinh khối tươi của từng bộ phận thân, cành, lá tiến hành lấy mẫu phân tích sinh khối khô Các mẫu được lấy theo phương pháp lặp 3 lần Mẫu thân và cành có trọng lượng từ 0,5 – 1,0 kg và mẫu lá có trọng lượng từ 0,2 – 0,5 kg Các mẫu được đánh số và gắn ký hiệu
Phân tích sinh khối khô và hàm lượng các bon được tiến hành tại phòng thí nghiệm của Viện nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng Phân tích sinh khối khô được tiến hành theo phương pháp tủ sấy ở nhiệt độ 105OC trong 72 giờ Hàm lượng các bon trong sinh khối được phân tích bằng máy TOC/TN analyzer HT 1300 Tính toán sinh khối khô như sau:
SFW
SDW TFW
Trong đó: TDW là tổng khối lượng khô; TFW là tổng khối lượng tươi; SDW là khối lượng khô tuyệt đối của mẫu và SFW là khối lượng tươi của mẫu phân tích cho từng bộ phận tương
ứng;
Trữ lượng các bon trong từng bể sinh khối sẽ được tính dựa trên sinh khối khô của mỗi bể chứa và hàm lượng các bon Công thức chung tính toán trữ lượng các bon trong sinh khối như sau:
CFi TDWi
Trong đó: CSi là trữ lượng các bon của bộ phận i, tính theo kg; TDWi là tổng khối lượng khô của bộ phận i, tính theo kg; và CFi là hàm lượng các bon trong sinh khối của bộ phận i, tính
theo %
Giá trị hấp thụ các bon của rừng được xác định bằng phương pháp giá thị trường dựa trên giá bán tín chỉ các bon ở thời điểm nghiên cứu trong lâm nghiệp Giá trị hấp thụ các của rừng được xác định bằng công thức:
Pc Mc
Trong đó, Vc là giá trị hấp thụ các bon của rừng, tính bằng đồng/ha hoặc đồng/ha/năm; Mc là
trữ lượng CO2 tương đương của rừng, tính bằng tấn CO2/ha hoặc tấn CO2/ha/năm và Pc là giá
Trang 33
bán tín chỉ các bon ở thời điểm hiện tại, tính bằng đồng/tấn CO2 Giá tín chỉ cacbon trung bình trên thế giới do tổ chức Societe Generale dự báo vào khoảng 8,23 USD/tấn được sử dụng để tính toán giá trị Vc trong nghiên cứu này
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Sinh khối của một số loại rừng rừng phòng hộ chắn sóng
Để xác định sinh khối của rừng, các phân tích về tỷ lệ sinh khối khô so với sinh khối tươi được tiến hành Kết quả phân tích sinh khối cho 270 mẫu của các bộ phận thân, cành, lá, rễ của rừng Đước; 160 mẫu của rừng Mắm trắng và 114 mẫu Kết quả phân tích xác định tỷ lệ sinh khối khô so với sinh khối tươi của 3 loại rừng nghiên cứu nêu tại Bảng 1
Bảng 1 Tỷ lệ sinh khối khô so với sinh khối tươi theo các bộ phận
Bộ phận
(%)
SD (%)
(%)
SD (%)
(%)
SD (%)
Kết quả cho thấy đối với rừng Đước, tỷ lệ sinh khối khô so với sinh khối tươi có sự khác biệt
rõ rệt giữa các bộ phận thân, cành, lá và rễ Tỷ lệ sinh khối khô của thân là 65,01±8,13%; của cành là 49,74±5,87%; của lá là 34,07±6,73%; của rễ là 39,98±6,56% Đối với rừng Mắm trắng tỷ lệ sinh khối khô của các bộ phận thân, cành, lá và rễ lần lượt là 53,92±1,70%, 51,27±2,64%, 31,59±3,69% và 46,12±4,08% Với rừng mắm đen tỷ lệ sinh khối khô của thân
là 50,62±3,24%; của cành là 52,10±1,81% và của lá là 32,59±3,05% Xét tỷ lệ sinh khối khô
so với sinh khối tươi cho cả 3 loại rừng ngập mặn nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh khối khô của thân biến động từ 50,62 – 65,01%, của cành từ 49,74 – 52,10%; của lá từ 31,59- 34,07% và của rễ từ 39,98 – 46,12%
Trên cơ sở xác định tỷ lệ sinh khối khô so với sinh khối tươi và kết quả đo đếm mật độ của rừng theo các cấp kính, sinh khối của các loại rừng nghiên cứu được tính toán và ước tính như
ở Bảng 2
Bảng 2 Sinh khối và tăng trưởng sinh khối trên mặt đất
Loại
rừng Tuổi (cm) D 1.3 (m) H vn (cây/ha) Mật độ Sinh khối khô (tấn/ha) Tăng trưởng sinh khối
(tấn/ha/năm)
Rừng
trồng
Đước
Sinh khối khô trung bình 80,10±14,28 Rừng
Mắm
trắng tự
Trang 44
Sinh khối khô trung bình 109,81±10,71 Rừng
trồng
Mắm
đen
Sinh khối khô trung bình 232,55±63,59 Kết quả ở bảng 2 cho thấy, sinh khối khô trên mặt đất của rừng trồng đước có quan hệ chặt chẽ với sinh trưởng và tuổi của cây Trữ lượng sinh khối tăng dần theo tuổi Tại tuổi 3 sinh khối của rừng trồng Đước mật độ 4.300 cây/ha có sinh khối khô là 6,55 tấn/ha; ở tuổi 16 với mật độ 3.766 cây/ha, rừng Đước có sinh khối là 174,01 tấn/ha Trữ lượng sinh khối trên mặt đất bình quân cho rừng Đước là khoảng 80,10±14,28 tấn khô/ha Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu về sinh khối của rừng đước tại Cà Mau ở tuổi 5-10 của Đặng Trung Tấn (2002)
Với rừng mắm trắng tự nhiên ở huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau, kết quả nghiên cứu cho thấy rừng có mật độ khá đồng nhất, khoảng từ 2.540 - 2.790 cây/ha và trữ lượng sinh khối khô trên mặt đất có sự khác biệt đáng kể theo cấp kính bình quân của rừng Rừng có đường kính ngang ngực trung bình là 7 cm có trữ lượng sinh khối thấp nhất (khoảng 60,38 tấn/ha, trong khí đó rừng có đường kính ngang ngực là 16 cm có trữ lượng sinh khối lớn nhất (khoảng 182,76 tấn/ha Trữ lượng sinh khối trung bình trên mặt đất của rừng Mắm trắng tự nhiên là 109,8±10,7 tấn/ha Kết quả này thấp hơn một chút so với giá trị trữ lượng sinh khối trung bình do Nick Wilson và cộng sự công bố năm 2010 đối với rừng ngập mặn nói chung ở tỉnh Kiên Giang
Đối với rừng trồng mắm đen tại Kiên Giang, sinh khối trên mặt đất của rừng mắm đen ở tuổi
6 và 10 lần lượt là 154,25 và 262,63 tấn/ha Sinh khối trên mặt đất trung bình của rừng mắm đen là 232,55±63,59 tấn/ha Xét về tăng trưởng sinh khối cho thấy đối với rừng trồng đước ở các tuổi non (dưới 7 tuổi) thì tăng trưởng khá chậm Tăng trưởng sinh khối chỉ đạt khoảng 2-3 tấn khô/ha/năm Tuy nhiên trong giai đoạn tuổi 8 – 16, tăng trưởng sinh khối khá nhanh, đạt
từ 8 – 10,8 tấn khô/ha/năm Tuy nhiên với rừng trồng mắm đen, tăng trưởng sinh khối khá cao, từ 25 – 26 tấn/ha/năm Có thể nhận thấy trữ lượng sinh khối và tăng trưởng sinh khối của rừng mắm đen là khá cao so với các loài khác mà đề tài tiến hành nghiên cứu, điều này có thể
do mật độ cây của rừng mắm đen cao và địa hình khu vực điều tra hàng năm được bồi đắp một lượng phù xa lớn So với kết quả nghiên cứu của Nick Wilson và cộng sự (2010) sinh khối trên mặt đất của rừng mắm đen cao hơn khoảng 154 tấn/ha, điều này cho thấy tổ thành loài cây, điều kiện hình thành rừng ảnh hưởng lớn tới trữ lượng sinh khối của rừng ngập mặn Sinh khối của rừng trồng mắm đen thuần loài cao hơn hẳn so với sinh khối trung bình của các loài rừng ngập mặn nói chung và sinh trưởng trong tự nhiên
Tuy nhiên, so với các kết quả nghiên cứu về sinh khối của rừng ngập mặn trên thế giới cho thấy, tại một số nước vùng Đông Nam Á, sinh khối trên mặt đất của một số loại rừng ngập mặn có thể lớn hơn 600 tấn/ha, tuy nhiên sinh khối của rừng ngập mặn thường dao động trong khoảng từ 150 – 350 tấn/ha đối với các rừng ngập mặn nhiệt đới còn tốt (Alongi, 2009)
3.2 Trữ lượng các bon của các loại rừng phòng hộ chắn sóng
Trữ lượng các bon của rừng được xác định dựa trên sinh khối của rừng và hàm lượng các bon trong sinh khối Hàm lượng các bon trong sinh khối các bộ phận dao động trong khoảng 46 – 52,5%, giữa các cấp tuổi khác nhau của các loài khác nhau không có sự khác biệt nhiều về hàm lượng cacbon trong sinh khối Hàm lượng các bon trong sinh khối của các mẫu phân tích đều phù hợp với hàm lượng các bon trong sinh khối do quốc tế công bố (FAO 2010, IPCC 2003) Đối với loài Mắm đen, do không lấy được mẫu sinh khối rễ để phân tích hàm lượng cacbon nên nhóm nghiên cứu đã sử dụng hệ số chuyển đổi sinh khối trên mặt đất sang sinh khối rễ (R = 0.2) Hệ số mặc định 0.5 do IPCC đề xuất được sử dụng để chuyển đổi sinh khối
Trang 55
rễ sang trữ lượng cacbon Kết quả chi tiết về hàm lượng các bon trong sinh khối theo các bộ phận của các loài cây nghiên cứu được trình bày ở bảng 3
Bảng 3 Hàm lượng các bon trong sinh khối của các loài cây ngập mặn
Bộ phận
(%)
SD (%)
(%)
SD (%)
(%)
SD (%)
Dựa trên kết quả xác định sinh khối và hàm lượng các bon trong sinh khối, trữ lượng các bon của các loại rừng nghiên cứu theo tuổi được nêu tại bảng 4
Bảng 4 Trữ lượng các bon và hấp thụ các bon của loại rừng ngập mặn
Loại
rừng Tuổi (cm) D 1.3 (m) H vn (cây/ha) Mật độ Trữ lượng các bon
Tấn CO 2 /ha Tấn CO 2 /ha/năm
Rừng
trồng
Đước
Rừng
Mắm
trắng tự
nhiên
Rừng
trồng
Mắm đen
Trung bình 511,6±28,29 56,95
Kết quả nghiên cứu cho thấy trữ lượng các bon trung bình của rừng trồng đước là 136,63± 23,81tấn CO2/ha; của rừng mắm trắng tự nhiên là 198,66±19,91 tấn CO2/ha và rừng trồng mắm đen là 511,61±118,29 tấn CO2/ha Kết quả cũng cho thấy khả năng hấp thụ CO2 ở các tuổi khác nhau là khác nhau giữa các loại rừng Rừng trồng đước ở tuổi 16 có trữ lượng các bon là 312,86 tấn CO2/ha, ở tuổi 13 là 187,32 tấn CO2/ha, ở tuổi 7 là 47,51 tấn CO2/ha và ở tuổi 3 là 11,18 tấn CO2/ha So với các loài khác, trữ lượng các bon của rừng mắm đen là lớn nhất, trữ lượng các bon ở tuổi 6 và tuổi 10 lần lượt là 335,87 tấn CO2/ha và 579,21 tấn CO2/ha Đối với rừng mắm trắng tự nhiên, với diện tích rừng có đường kính ngang ngực trung bình là 16 cm
có trữ lượng các bon là 335,86 tấn CO2/ha; ở cỡ đường kính 13cm có trữ lượng các bon là 157,63 tấn CO2/ha; rừng có đường kính 7cm có trữ lượng các bon là 109,54 tấn CO2/ha Với các kết quả này thì rừng mắm đen có giá trị hấp thụ các bon tiềm năng lớn nhất trong các loài nghiên cứu
Trang 66
3.3 Giá trị hấp thụ các bon một số loài cây rừng phòng hộ chắn sóng
Giá tín chỉ các bon phụ thuộc vào loại thị trường trao đổi và loại dự án được thực hiện để hấp thụ khí CO2 trong khí quyển Hiện nay, hai thị trường cacbon khá nổi tiếng trong các nỗ lực toàn cầu để giảm phát thải khí nhà kính là thị trường Trao đổi Năng lượng của châu Âu (EEX)
và thị trường Trao đổi Thương mại môi trường Châu Âu (BLUENEXT) đều cho các dự đoán
về giá tín chỉ CO2 sẽ giảm trong thời gian tới Các dự báo của 2 thị trường này cho rằng nguyên nhân của việc giảm giá trị thương mại của cacbon là do suy thoái kinh tế toàn cầu từ khoảng giữa năm 2011 và kéo dài cho tới nay
Theo công bố của EEX và Bluenext thì giá tín chỉ CO2 tương đương chỉ dao động từ 2 – 5 Euro (xem hình 1 và hình 2) Việc xây dựng giá tín chỉ cacbon còn phụ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia đối với việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu Theo nghiên cứu của tổ chức Societe Generale, giá tín chỉ cacbon trung bình trên toàn thế giới năm
2020 sẽ vào khoảng 8,23 USD/tấn, tại thị trường EUAs (đây là thị trường của châu Âu, trong
đó có hạn ngạch giảm phát thải mà các quốc gia nằm trong Cơ chế Thương mại giảm phát thải của cộng đồng chung châu Âu) có giá khoảng 18,50 USD/tấn vào năm 2020 Trong khi đó, chính phủ Úc đã áp đặt thuế cacbon trên toàn lãnh thổ Úc, theo đó giá tín chỉ CO2 sẽ là 23 AUD/tấn kể từ 01/07/2012
Hình 1 Giá tín chỉ CO2 tương đương tại thị trường châu Âu
Hình 2 Giá tín chỉ CO2 tại thị trường Trao đổi Bluenext
Trang 77
Để tính giá trị hấp thụ các bon của rừng phòng hộ chắn sóng cho khu vực nghiên cứu, đề tài
sử dụng kết quả dự báo giá tín chỉ cacbon trung bình của Societe Generale tại thời điểm 2020
Bảng 5 Giá trị hấp thụ các bon của một số loại rừng ngập mặn
Loại
rừng Tuổi (cm) D 1.3 (m) H vn (cây/ha) Mật độ Giá trị hấp thụ
Đồng/ha Đồng/ha/năm
Rừng
trồng
Đước
Trung bình 24.147.375 1.921.730
Rừng
Mắm
trắng tự
nhiên
Rừng
trồng
Mắm
đen
Trung bình 79.076.638 9.842.611
Kết quả tính toán cho thấy, giá trị hấp thụ các bon phụ thuộc vào sinh trưởng của rừng Rừng trồng đước tuổi 16 có giá trị hấp thụ các bon trung bình là khoảng 53,7 triệu đồng/ha, ở tuổi 3
là khoảng 20 triệu đồng/ha Đối với rừng mắm trắng tự nhiên, giá trị hấp thụ các bon tăng dần theo cấp kính Ở cấp kính 16 cm, giá trị hấp thụ các bon trung bình là khoảng 57,6 triệu đồng/ha, và thấp nhất là ở cấp kính 7 cm, khoảng 18,8 triệu đồng/ha Đối với rừng mắm đen, rừng tuổi 6 có giá trị hấp thụ là 58 triệu đồng/ha và rừng tuổi 10 có giá trị hấp thụ các bon là lớn nhất là 100,1 triệu đồng/ha
4 Kết luận và khuyến nghị
Trữ lượng các bon ở các tuổi khác nhau của rừng trồng đước, mắm đen và mắm trắng tự nhiên
có sự khác biệt đáng kể, trữ lượng các bon trung bình của 3 loại rừng này lần lượt là 136,6 tấn
CO2/ha, 511,6 tấn CO2/ha và 198,7 tấn CO2/ha
Giá trị hấp thụ các bon của rừng phụ thuộc vào sinh trưởng và trữ lượng các bon của rừng Với rừng trồng đước, giá trị hấp thụ các bon tăng mạnh từ tuổi 3 đến tuổi 16 Ở tuổi 16, giá trị hấp thụ các bon của rừng là khoảng 54 triệu đồng/ha (3,3 triệu đồng/ha/năm) Với rừng trồng mắm đen, giá trị hấp thụ các bon của rừng 10 tuổi là 100 triệu đồng/ha (10 triệu động/ha/năm)
và giá trị hấp thụ các bon của rừng mắm trắng tự nhiên là 32,7 triệu đồng/ha
Kết quả về sinh khối, trữ lượng các bon và giá trị hấp thụ các bon nên được xem xét trong quá trình hoạch định chính sách về chi trả dịch vụ môi trường và các cơ chế về REDD nhằm góp phần quản lý rừng bền vững và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Trang 88
Tài liệu tham khảo
Alongi, D.M 2002 Present state and future of the world's mangrove forests Environ
Conserv 29(3): 331-49
Đặng Trung Tấn, 2002 Sinh khối rừng trồng Đước ở Cà Mau Trong: Kết quả nghiên cứu
khoa học và công nghệ giai đoạn 1996 – 2000 Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
FAO, 2010 Global forest resources assessment 2010 FAO, Rome
IPCC, 2003 Good practice guidance for land uses, land use change and forestry IPCC
National Greenhouse Gas Inventories Programme
Ngô Đình Quế và cộng sự, 2012 Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát: Khôi phục rừng ngập
mặn vùng ven biển Việt Nam
Wilson, N 2010 Report on Biomass and regeneration of mangrove vegetation in Kien Giang
Province, Vietnam
Carbon sequestration value of coastal mangrove forests
in Kien Giang and Ca Mau provinces
Vu Tan Phuong and Nguyen Viet Xuan
Abstract
The study aimed to measure biomass and carbon stock and estimate carbon sequestration
value of 3 types of coastal protection mangrove forests: plantaions of Rhizophora apiculata
and Avicennia officinalis and natural forests of Avicennia alba in An Bien and An Minh
districts of Kien Giang province and Phu Tan and Ngoc Hien districts of Ca Mau province
Typical sample plots of 500 m2 each were set up and destructive measurement of sample trees
was applied for fresh biomass measurement Oven dried mass was analyzed at 105OC to get
stable weight of samples and carbon content in biomass was anlyzed using TOC/TN HT 1300
The results indicate that mean above ground biomass of studied forests is greatly different
The biomass of Rhizophora apiculata Plantation at 16 years old is 80.10 tons/ha, biomass of
Avicennia officinalis plantation is 109.81 ton/ha and biomass of Avicennia alba forests is
232.6 ton/ha Mean carbon sequestration is 136.6 ton CO2/ha for Rhizophora apiculata; 511.6
ton CO2/ha for Avicennia officinalis and 198.7 ton CO2/ha for Avicennia alba Carbon
sequestration value is dependent on its forest growth The mean carbon sequestration value
for Rhizophora apiculata Plantation is 3.3 million dong/ha/year; for Avicennia officinalis
plantation is 10 million dong/ha/year and Avicennia alba forest is 32.7 million dong/ha
Key words: mangrove forests; carbon sequestration, biomass, Kien Giang, Ca Mau