1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÓM TẮT LUẬN ÁN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI

24 386 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 262 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng, Nhà nướcvà nhân dân ta khởi xướng, lãnh đạo và tiến hành, cùng với việc thực hiện cácnhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, v

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn lịch sử của nhân loại đã khẳng định, một xã hội muốn tồn tại vàphát triển bền vững thì xã hội đó phải được phát triển một cách toàn diện và hàihòa tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm đời sống vật chất và đờisống tinh thần Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng, Nhà nướcvà nhân dân ta khởi xướng, lãnh đạo và tiến hành, cùng với việc thực hiện cácnhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, giáodục và đào tạo, an ninh quốc phòng, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, nhằm xây dựng nước ta trở thành một nước “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”1, chúng ta còn có một trong những nhiệm

vụ rất quan trọng, đó chính là việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống dân tộc, tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội Bởi lẽ, văn hóa nóichung và những giá trị tư tưởng của dân tộc nói riêng không chỉ là nền tảng tinhthần mà còn vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, như tổchức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) khẳng định, vànhư Hồ Chí Minh khi bàn đến vấn đề văn hóa cũng đã chỉ rõ: “Văn hóa phải soiđường cho quốc dân đi” 2

Cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước gần 30 năm qua, Đảng,Nhà nước ta luôn chủ trương chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng Quá trình toàncầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, nhưng nó luôn mang tính haimặt; về mặt tích cực, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế giúp chúng tachủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu, kế thừa các tri thức về khoa học côngnghệ tiên tiến; học tập các kinh nghiệm trong tổ chức quản lý và phát triển kinh

tế - xã hội; tiếp thu các giá trị văn hóa phong phú của các quốc gia trên thế giới,

từ đó thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, chính trị ổn định, đời sống vật chấtvà tinh thần của nhân dân ta không ngừng được nâng cao, vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế ngày càng được củng cố Nhưng mặt trái của quá trình toàncầu hóa đã tác động tiêu cực đến sự phát triển xã hội Việt Nam, đó là sự ảnhhưởng của lối sống và văn hóa ngoại lai, thực dụng, có nguy cơ làm phai nhạt lýtưởng, suy thoái đạo đức, làm mất bản sắc văn hóa dân tộc, chệch hướng xã hội

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.

Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 270.

2 Hồ Chí Minh (1987), Về công tác văn hoá, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 64.

Trang 2

chủ nghĩa Do đó, cùng với việc phát triển kinh tế, xã hội, việc bảo tồn, phát huycác giá trị văn hóa truyền thống vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâudài, như Nghị quyết trung ương năm khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đãchỉ rõ: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh

tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”3.Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, với những đặcđiểm nổi bật, đó là một đất nước hình thành quốc gia dân tộc rất sớm (mặc dù lànhà nước phôi thai), luôn phải đối đầu với thiên tai, đồng thời lại phải liên tiếpđấu tranh chống giặc ngoại xâm để xây dựng, bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳngđịnh nền độc lập, tự chủ của dân tộc, dân tộc ta đã tạo dựng nên những trang sử

vẻ vang của dân tộc, hun đúc nên một nền văn hóa rực rỡ, mang đậm bản sắc vàtruyền thống của dân tộc, mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt đó là tinh thần độc lập dântộc và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Cùng với quá trình lịch sử vẻ vang ấy, dântộc ta đã sản sinh ra những anh hùng hào kiệt, những nhà tư tưởng với tầm vóc,tâm hồn và ý chí lớn như Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Thánh Tông, TuệTrung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê ThánhTông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, NguyễnTrường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Quý Cáp,Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Chí Minh

Thời kỳ Lê sơ, với sự biến chuyển lịch sử - xã hội đặc biệt, nhất là yêu cầuđoàn kết toàn dân tộc để xây dựng một nước Đại Việt vững mạnh, chống lại sựxâm lược của giặc Minh bảo vệ nền độc lập dân tộc, đã xuất hiện nhà tư tưởng,nhà chính trị kiệt xuất, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - NguyễnTrãi Bằng tài năng, trí tuệ và nhân cách tuyệt vời, Nguyễn Trãi đã giúp Thái Tổchiến thắng giặc Minh xâm lược, giúp Thái Tông xây dựng đất nước Đại Việt

Tư tưởng của ông, đặc biệt là tư tưởng triết học không chỉ có ý nghĩa đối với thờiđại Lê sơ mà còn có ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiệnnay, nhất là quan điểm về lòng yêu nước, về tinh thần độc lập dân tộc, về nhânnghĩa, an dân, về xây dựng nền thái bình muôn thuở Chính vì thế, tôi đã chọn

vấn đề “Tư tưởng triết học Nguyễn Trãi - đặc điểm và giá trị lịch sử”, làm đề

tài luận án tiến sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương

Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 54 - 55.

Trang 3

Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về triết học của Nguyễn Trãi ởcác chủ đề sau:

Chủ đề thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu liên quan đến những

đặc điểm, điều kiện lịch sử hình thành tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi Tiêu

biểu cho chủ đề nghiên cứu này là các công trình Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1998 Tiếp đến là cuốn Đại Việt sử ký tiền biên.

Đây là bộ quốc sử thứ hai được khắc in trong 3 năm Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, CanhThân và được hoàn thành vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ VIII

(1800 - Triều Tây Sơn) Cũng trong hướng nghiên cứu này, còn có cuốn Lịch

triều hiến chương loại chí (hai tập), Nxb Sử học, Hà Nội, 1962; hay tác phẩm Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập) do Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm,

Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2010

Chủ đề thứ hai nghiên cứu về tư tưởng triết học Nguyễn Trãi, đó là các công trình khảo cứu về cuộc đời và các bản văn liên quan đến tư tưởng của ông

Về chủ đề này nổi bật có các tác phẩm: Ức trai tập, tập thượng và hạ, Phủ Quốc

vụ khanh đặc trách văn hoá, Sài Gòn, xuất bản năm 1971 Về chủ đề này còn phải

kể đến tác phẩm Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976; công trình Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2000; hay cuốn Thơ văn Nguyễn Trãi (Tuyển chọn) của Phan Sĩ Tấn, Trần Thanh Đạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1980; Nguyễn Trãi của Nguyễn Thiên Thụ, Nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn, năm 1973; Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa dân tộc, Viện

Văn học Việt Nam Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1980…

Chủ đề thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về nội dung, đặc điểm tư tưởng triết học Nguyễn Trãi Về chủ đề này, tiêu biểu các tác phẩm như: Giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam của Trần Văn Giàu, Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh, năm 1993 Tiếp đến là tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam gồm 7 tập của

Nguyễn Đăng Thục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tái bản 1991; công trình

Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 do Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1993 Trong hướng nghiên cứu này, tiếp theo còn

có công trình Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam của Võ

Xuân Đàn, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 1996 Đó còn là công trình

Nguyễn Trãi anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới của

Nguyễn Minh Tường, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2003 Đặc biệt

trong hướng nghiên cứu này là tác phẩm Đại cương lịch sử tư tưởng triết học

Việt Nam, tập 1 của Nguyễn Hùng Hậu chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,

Trang 4

xuất bản năm 2002 Tiếp đến, phải kể đến công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam

từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011; tác

phẩm Lịch sử triết học phương Đông, của Doãn Chính, Nxb Chính trị quốc gia,

xuất bản năm 2012… Đánh giá về sự nghiệp, cuộc đời và cả giá trị tư tưởng của

Nguyễn Trãi cũng có nhiều tác phẩm Trước hết, đó là công trình Kỷ niệm 600

năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1962; tiếp

theo là các tác phẩm Kỷ yếu hội thảo khoa học về Nguyễn Trãi, Viện Khoa học

xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1980; Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa

của dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1980; Nguyễn Trãi: Cuộc đời

và sự nghiệp của Trần Huy Liệu, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2000; Nguyễn Trãi về tác giả và tác phẩm (tuyển chọn) của Nguyễn Hữu Sơn, Nxb.

Giáo dục, Hà Nội, 2002; Nguyễn Trãi trên đất Thanh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2003 Đặc biệt trong đó là cuốn Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ

văn Nguyễn Trãi, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 1980 , cũng đã góp phần

vào tìm hiểu nội dung, đặc điểm và giá trị tư tưởng triết học Nguyễn Trãi

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

Mục đích: Thông qua việc lý giải, tìm hiểu nội dung tư tưởng triết học

Nguyễn Trãi, luận án nhằm đánh giá, rút ra những đặc điểm và giá trị lịch sử củanó đối với thực tiễn lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIV - XV cũng như đối vớisự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ: - Một là, trình bày những cơ sở xã hội và tiền đề hình thành tư

tưởng triết học Nguyễn Trãi

- Hai là, trình bày và phân tích những nội dung tư tưởng triết học cơ bản

của Nguyễn Trãi qua các vấn đề về vũ trụ vạn vật, về nhận thức và giáo dục, vềnhân sinh và về chính trị - xã hội

- Ba là, từ những nội dung trên, luận án rút ra những đặc điểm và giá trị

lịch sử trong tư tưởng triết học Nguyễn Trãi đối với tiến trình phát triển của lịch

sử tư tưởng Việt Nam cũng như đối với yêu cầu của thực tiễn lịch sử xã hội ĐạiViệt thời Lê sơ nói riêng và công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước nói chung

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ trên, luận án dựa trên thế giớiquan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử, đồng thời tác giả còn sử dụng tổng hợp các phương pháp logic vàlịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh và đối chiếu , vàluận án được tiếp cận dưới góc độ triết học lịch sử và triết học văn hóa

Trang 5

5 Cái mới của luận án

- Một là, luận án đã trình bày một cách hệ thống tư tưởng triết học Nguyễn

Trãi, góp phần làm rõ tư tưởng của ông qua những vấn đề về vũ trụ, về nhậnthức và giáo dục, về nhân sinh và về chính trị, xã hội;

- Hai là, luận án đã phân tích và làm rõ những đặc điểm cơ bản trong tư

tưởng triết học Nguyễn Trãi Luận án cũng đã rút ra được những giá trị và ýnghĩa lịch sử to lớn về mặt lý luận và về mặt thực tiễn từ tư tưởng triết học củaông đối với quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng như lịch sửdân tộc, đặc biệt là đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

Về ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm rõ những nội dung, đặc điểm

cơ bản và những giá trị lịch sử tư tưởng triết học Nguyễn Trãi, từ đó giúp ngườiđọc có sự hiểu biết một cách hệ thống, sâu sắc hơn tư tưởng triết học của ông

Về ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc trình bày một cách hệ thống nội

dung và đặc điểm trong tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, những giá trị lịch sử

to lớn mà luận án rút ra từ tư tưởng triết học ông, là những bài học bổ ích đối vớisự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

7 Kết cấu cơ bản của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết

Chương 1

CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI

1.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XIV - XV – CƠ SỞ XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI

1.1.1 Sự biến chuyển xã hội Việt Nam thế kỷ XIV - XV và thực tiễn chống quân Minh xâm lược với sự hình thành tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi

Có thể nói tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi hình thành và phát triển,phản ánh và bị chi phối bởi hai yếu tố quan trọng nhất của điều kiện lịch sử xã

hội Đại Việt ở thế kỷ XIV - XV Một là, sự chuyển biến xã hội từ nhà Trần sang nhà Hồ và cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược; và hai là, thực tiễn nhu

cầu củng cố, xây dựng và phát triển nhà nước phong kiến tập quyền Đại Việt thế

Trang 6

kỷ XV - triều đại Lê sơ, đặc biệt là thực tiễn cuộc kháng chiến mười năm chống

giặc Minh của quân dân Đại Việt Trước hết, về sự chuyển biến của xã hội Đại

Việt thế kỷ XIV - XV, như chúng ta đã biết, thế kỷ XIII, nhà Trần thay thế nhà Lý

mở ra một thời kỳ tiếp tục phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt, nhà Trần đã tạo

ra một nền chính trị thống nhất, ổn định và một nền văn hóa độc lập, thoát dầnkhỏi sự ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, và một hệ tư tưởng độc lập làm chỗ dựa

về mặt tinh thần vững chắc cho xã hội Đại Việt Sau ba cuộc chiến thắng oanh liệt

đế chế Nguyên - Mông, những khó khăn về kinh tế, xã hội của đất nước do phảihuy động sức dân chống giặc ngoại xâm, giữ vững nền độc lập dân tộc và chủquyền đất nước dần dần được khắc phục, xã hội Đại Việt trở lại ổn định và pháttriển Tuy nhiên, vào nửa sau thế kỷ XIV, xã hội Đại Việt đã lâm vào một cuộckhủng hoảng trầm trọng Đó là sự suy thoái về kinh tế, sự băng hoại về chính trị

xã hội, sự sa đọa của tầng lớp quý tộc cầm quyền và cuộc sống cực khổ của nhân

dân lao động trong xã hội Về kinh tế, nền sản xuất nông nghiệp sa sút, nhà nước

không còn đủ sức quan tâm đến việc tu bổ và bảo vệ đê điều và các công trìnhthủy lợi, cho nên nông nghiệp đình đốn Ngân quỹ quốc gia trống rỗng, triều

đình đã phải nhiều lần bán quan tước cho nhà giàu để bổ sung ngân quỹ Về

chính trị xã hội, bộ máy chính quyền từ triều đình đến địa phương suy thoái, rệu

rã Việc chia bè kéo cánh trong hàng ngũ quý tộc dẫn đến nội bộ càng rối ren.Bọn gian thần tìm cách lũng đoạn việc triều chính Nhân dịp này tầng lớp quýtộc phong kiến ra sức mở rộng điền trang, thái ấp, đồng thời tăng thêm số lượngtầng lớp nông nô, nô tỳ để củng cố địa vị thống trị ở các địa phương của mình.Cùng với tình trạng đó các cuộc chiến tranh với Chămpa, Ai Lao lại buộc ngườinông dân nghèo phải rời bỏ ruộng đồng của mình Nhà nước phong kiến thì mấtkhả năng quản lý nền kinh tế - xã hội, không còn sức để quan tâm, tu sửa đê điềuvà công trình thủy lợi, phát triển nông nghiệp Trước tình hình kinh tế - xã hộinhư vậy, nhiều cuộc đấu tranh của nông dân nghèo nông nô và nô tỳ đã nổi dậykhắp nơi Xã hội Đại Việt vào những năm cuối thế kỷ XIV đang lâm vào mộtcuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện từ kinh tế đến chính trị, xã hội, kết hợpvới giặc ngoài đe dọa, đó là những tiền đề dẫn đến cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

Tư tưởng triết học Nguyễn Trãi không chỉ phản ánh chi phối bởi điều kiện

lịch sử xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV mà còn phản ánh thực tiễn cuộc kháng

chiến mười năm chống giặc Minh gian khổ và oanh liệt của quân dân Đại Việt.

Năm 1400 Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, lập ra nhà Hồ, lấy tên nước là Đại Ngu

Để củng cố thể chế xã hội và vương quyền, Hồ Quý Ly tiếp tục thực hiện cuộc

Trang 7

cải cách xã hội về mọi mặt Tuy nhiên, cuộc cải cách đó chưa thành công thìnăm 1407 nước ta đã bị giặc Minh xâm lược Hồ Quý Ly đã đứng lên chống lạigiặc Minh, nhưng cuộc khởi nghĩa đã mau chóng thất bại Dân tộc ta, nhân dân

ta lại phải chịu ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh Âm mưu, thủ đoạn của giặcMinh là xâm lược, thống trị và đồng hóa dân tộc ta, cho nên phần lớn các sáchđiển chương, các bộ luật cũng như các sách về lịch sử, văn học, địa lý, quân sự…của xã hội Đại Việt thời kỳ này bị quân giặc cướp đoạt và tiêu hủy nhằm huỷdiệt nên văn hoá Đại Việt Về chính trị, chúng tiến hành lập chính quyền theo môhình “chính quốc” Đứng đầu quận Giao Chỉ là ba ti: Một là Đô chỉ huy sứ ti(hay gọi tắt là Ti đô) phụ trách về quân chính; hai là Thừa tuyên bố chính sứ ti(hay Ti bố chính) có nhiệm vụ trông coi về dân chính và tài chính; ba là Đề hình

án sát ti hay Ti án sát, nắm quyền tư pháp và giám sát Dưới quận nhà Minh phânchia lại các phủ, châu, huyện , thiết lập được hệ thống chính quyền các cấp phủ,châu, huyện ở nước ta Về kinh tế, trong thời gian nhà Minh xâm lược và đô hộnước ta, chúng đã thực thi nhiều chính sách cai trị, vơ vét của cải và bóc lột sứclao động của nhân dân ta một cách tàn bạo Chính vì thế, dưới ngọn cờ đại nghĩacủa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, do Lê Lợi lãnh đạo, nhân dân ta đã đứng lênchống lại ách đô hộ của giặc Minh, giành độc lập cho dân tộc Đó là cuộc khởinghĩa đầy gian khổ nhưng đã giành thắng lợi hết sức vẻ vang Tư tưởng triết họccủa Nguyễn Trãi đã phản ánh sâu sắc và sinh động thực tiễn lịch sử, đặc biệt làcuộc kháng chiến chống Minh của quân dân Đại Việt ở thế kỷ XIV - XV

1.1.2 Nhiệm vụ củng cố, xây dựng và phát triển nhà nước phong kiến

Đại Việt thời hậu Lê với sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi

Tư tưởng triết học Nguyễn Trãi không chỉ phản ánh điều kiện lịch sử xãhội Việt Nam thế kỷ XIV - XV mà còn là sự phản ánh nhu cầu xây dựng nhànước Đại Việt vững mạnh thời hậu Lê trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, đất nước giành được độc lập,nhà nước và nhân dân với lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc đang vươn cao, đãhợp sức cùng nhau khôi phục sản xuất, hàn gắn các vết thương chiến tranh vàđưa nền kinh tế phát triển lên một giai đoạn mới Về tình hình ruộng đất, ruộngđất thời Lê sơ được chia làm 3 bộ phận chính: Một là ruộng đất sở hữu nhà nước;Hai là ruộng đất công làng xã; Ba là ruộng đất tư hữu Sau khi đất nước đượcgiải phóng, nhân dân lần lượt trở về quê hương xây dựng lại làng xóm, phục hồisản xuất nông nghiệp Trong lĩnh vực công thương nghiệp, bên cạnh sự phục hồi

Trang 8

phát triển nông nghiệp, việc xây dựng lại kinh thành, thị tứ, thị trấn cũng đượcquan tâm và phát triển nhanh chóng Các ngành nghề truyền thống như kéo tơ,dệt lụa, đan lát, rèn đúc, dệt chiếu, làm nón, đúc đồng… ngày càng phát triển ởcác làng xã Trên cơ sở của sự phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, việclưu thông buôn bán hàng hóa cũng được phục hồi và ngày càng mở rộng Cácchợ địa phương được hình thành ở các làng và liên làng để trao đổi hàng hoá Đểtiện cho việc giao lưu, buôn bán, nhà Lê quyết định bỏ tiền giấy thời nhà Hồ, đúctiền đồng mới.Về kết cấu giai tầng xã hội, trên cơ sở kinh tế của xã hội Đại Việtthế kỷ XV, cơ cấu giai cấp ít nhiều có sự thay đổi Trong xã hội có hai giai cấpchính: địa chủ phong kiến và nông dân, ngày càng được xác lập Giai cấp địa chủphong kiến được chia làm hai tầng lớp chính: quý tộc, quan chức trung cao cấp

và địa chủ thường Về tình hình chính trị, công việc chủ yếu mà các vua thời Lê

sơ quan tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tậptrung mang tính chất quan liêu, chuyên chế Đến thời Lê Thánh Tông thì đạt đếnđỉnh cao, trở thành một nhà nước toàn trị, cực quyền Trong thiết chế quân chủtuyệt đối thời Lê sơ, vai trò của nhà vua đã được đề cao thành chủ nghĩa “Tônquân” - tức nhà vua được coi là “con trời”, người giữ mệnh trời, thay trời cai trịdân chúng Về mặt hành chính, thời Lê Thái Tổ tại vị ông chia nước thành nămđạo, đến thời Lê Thánh Tông đã cải tổ lại chia thành 13 đạo (sau đổi thành 13Thừa tuyên) Đứng đầu các đạo là các Tuyên phủ sứ Ở mỗi Thừa tuyên có ba tygồm: Đô ty (có nhiệm vụ phụ trách quân đội), Thừa ty (có trách nhiệm phụ trách

hành chính dân sự) và Hiến ty (phụ trách thanh tra giám sát) Về quân đội, thời

Lê sơ là một tổ chức quân đội mạnh, được đào tạo, huấn luyện kỹ, có nhiều kinhnghiệm chiến đấu Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lê Lợi có tổngcộng 35 vạn quân, sau khi cho giải ngũ còn 10 vạn Sau cuộc tổng duyệt thủy bộ,Thái Tổ cho chia các vệ quân thành 5 phiên, thay nhau ở lại canh giữ và về làmruộng ở quê nhà Quân đội được chia làm 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và HảiTây Các vệ quân đều đặt các chức Tổng quản, Đô tổng quản, Đồng tổng quảnđứng đầu Về pháp luật, vua Lê Thái Tổ đã lo ngay đến việc xây dựng chuẩnmực pháp luật Thời Thái Tông và Nhân Tông ban hành, hoàn thiện thêm một sốđiều luật về xét xử kiện tụng, sở hữu tài sản Năm 1483, vua Thánh Tông quyết

định biên soạn một bộ luật chính thức của triều đại mình, gọi là Luật Hồng Đức.

Về giáo dục khoa cử: Giáo dục khoa cử thời kỳ Lê sơ được chú trọng, xuất phát

từ chủ trương “sùng Nho” của các nhà vua thời kỳ này Mặt khác là đáp ứng nhucầu ngày càng tăng về đào tạo nhân tài, nhằm tuyển chọn những người có đủ tiêu

Trang 9

chuẩn vào làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến Về mặt tư tưởng, do sự

biến đổi của đời sống xã hội, Phật giáo bước vào thời kỳ suy tàn, Nho giáo pháttriển và chiếm ưu thế trong sinh hoạt chính trị - xã hội của xã hội Đại Việt thờikỳ này Tuy nhiên, trong Nho giáo đã phân ra thành hai phái, một là phái Nhogiáo bảo thủ kinh viện (còn gọi là Bạch diện thư sinh) Phái này không vượt quađược tư tưởng “Tam cương, ngũ thường” có tính khô cứng, kinh viện của Nhogiáo; và về chính trị - xã hội họ muốn xây dựng một trật tự cương thường xã hộitheo mô hình lễ nghĩa phương Bắc Hai là phái Nho giáo cấp tiến Họ gắn liềnvới đời sống, với nhân dân, với sự tồn vong của dân tộc và vận mệnh của đấtnước, vượt qua khuôn khổ trật tự cương thường chật hẹp của Nho giáo, trong đónổi bật có Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi là những người có tư tưởng cấp tiến, đãgóp phần phát triển tư tưởng thời Lê sơ lên một bước mới Cuộc đời NguyễnTrãi đã gắn liền với một thời kỳ lịch sử nhiều biến động, một bối cảnh xã hộikhắc nghiệt, đặc biệt là sự xâm lược và cai trị của giặc Minh đối với đất nước ta.Và Nguyễn Trãi đã vượt lên tất cả, bởi một tầm nhìn rộng lớn về thời đại và tưduy chính trị sắc sảo

Tìm hiểu những điều kiện, hoàn cảnh xã hội ở cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ

XV là để chỉ ra những cơ sở xã hội hay nguyên nhân khách quan, nguyên nhâncủa thời đại đối với quá trình hình thành tư tưởng triết học Nguyễn Trãi Tưtưởng triết học của ông được thể hiện rõ trong những tác phẩm của mình như

Bình Ngô sách, Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí, Lam Sơn thực lục, Ngọc đường di cảo, Luật thư, Giao tự đại lễ, Thạch khách hồ, Phú núi Chí Linh, Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh và một số bài chiếu, biểu, cáo, dụ mà ông đã thay Lê Thái Tổ viết.

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI

1.2.1 Những giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống Việt Nam với sự hình thành tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi

Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi một mặt phản ánh và bị chi phối bởiđiều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt cũng như thực tiễn của cuộckháng chiến chống quân Minh xâm lược thế kỷ XIV - XV; mặt khác là sự kếthừa và phát triển tư tưởng văn hóa Việt Nam truyền thống Những giá trị bảnsắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam “là những giá trị bền vững,những tinh hoa của cộng động các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng

Trang 10

ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước”4 Đó chính là lòng yêu nước nồngnàn, tinh thần độc lập và ý chí tự cường dân tộc, tình đoàn kết gắn bó keo sơn, ýthức cộng đồng, tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất,lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, thông minh, cần cù sáng tạo…Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, nổi bật nhất đó là ý chí độc lập dân tộc,lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, khoan dung và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc.Nguyễn Trãi đã tiếp thu, kế thừa tinh thần yêu nước và ý chí độc lập dân tộc ấy,phát triển lên trong một nội dung mới, rất phong phú, toàn diện và sâu sắc, qua

tư tưởng nhân nghĩa, quan điểm về quốc gia dân tộc, thể hiện trong các tác phẩm

lớn như Bình Ngô đại cáo, Phú núi Chí Linh, Quân trung từ mệnh tập.

1.2.2 Tư tưởng “Tam giáo” với sự hình thành tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi

Cùng với việc kế thừa và phát triển các giá trị của tư tưởng và văn hóatruyền thống Việt Nam được hun đúc nên trong tiến trình lịch sử đấu tranh dựngnước và giữ nước trải qua hàng ngàn năm, tư tưởng triết học của Nguyễn Trãiđược hình thành, phát triển còn do quá trình ông đã tiếp thu, kế thừa và chắt lọccác quan điểm khác nhau của Nho, Phật, Lão Trước hết, tư tưởng triết học củaông chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, như tư tưởng “Thiên mệnh”,

“trung dung”, “tam cương, ngũ thường”, tư tưởng về “nhân nghĩa”… NhưngNguyễn Trãi đã biết tiếp thu, kế thừa và vượt lên những quan điểm của Nho giáochính thống, không phải Nho giáo có tính chất kinh viện, khô cứng, chật hẹp Nguyễn Trãi còn thấm nhuần triết lý nhân sinh của Phật giáo với đức hiếusinh, lòng khoan dung, từ, bi, hỷ, xả, bác ái, cứu nạn, cứu khổ, đã trở thành mộttrong những triết lý sâu xa của lòng yêu thương con người, yêu người lao động,yêu thương “manh lệ bốn phương”, biết ơn “kẻ cấy cày”, yêu thương cả cỏ cây,muông thú, khoan dung với cả kẻ thù của ông; biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạocao cả vừa mang đậm lòng từ bi của Phật giáo, vừa thể hiện lòng nhân ái sâu sắccủa dân tộc Việt

Dưới sự ảnh hưởng của Đạo giáo, trong tư tưởng triết học của mình,Nguyễn Trãi luôn thể hiện tinh thần, thái độ và triết lý sống “thanh tĩnh vô vi”,nhàn tản, ung dung tự tại, không màng danh lợi, không ham giàu sang phú quý.Những hệ thống tư tưởng tôn giáo này là những luồng tư tưởng bên ngoài, trảiqua nhiều giai đoạn thăng trầm trong tiến trình du nhập lâu dài, để tìm chỗ đứng

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương

Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 56.

Trang 11

nhất định trong đời sống tinh thần của người Việt, đã được dân tộc Việt Namtiếp nhận, biến đổi, phát triển hòa quyện với văn hóa truyền thống bản địa, để trởthành một trong những yếu tố của văn hóa Việt Nam giàu bản sắc và trở thànhnhững tiền đề lý luận cho tư tưởng triết học Nguyễn Trãi.

Kết luận chương 1

Là hình thái ý thức xã hội, tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi không chỉlà sự phản ánh điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thời bấy giờmà còn là kết quả kế thừa những tư tưởng triết học, tôn giáo, văn hóa trước đó.Đó là sự tiếp thu, kế thừa truyền thống văn hóa Việt Nam được thể hiện tập trung

ở ý thức về quốc gia, về tinh thần độc lập tự chủ, tự cường dân tộc, về lòng yêunước nồng nàn và đức tính cần cù sáng tạo, một truyền thống hết sức quý báucủa dân tộc ta được hun đúc nên trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữnước Tư tưởng triết học Nguyễn Trãi còn là sự tiếp thu, kế thừa, chắt lọc và pháttriển những quan điểm về thế giới, những yếu tố tư tưởng triết lý chính trị - đạo đức,triết lý nhân sinh của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Có thể nói, tư tưởng củaNguyễn Trãi nói chung và tư tưởng triết học của ông nói riêng là kết tinh những néttinh tuý nhất giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại;là tiếng nói phản ánh sâu sắc đặc điểm, nhu cầu lịch sử xã hội Đại Việt đương thời

Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI

2.1 QUAN ĐIỂM VỀ THẾ GIỚI VÀ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI

2.1.1 Quan điểm về vũ trụ, trời đất, về “Thiên mệnh” và con người trong tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi

Một trong những bộ phận quan trọng trong tư tưởng triết học Nguyễn Trãiđó là quan niệm của ông về vũ trụ, trời đất, vạn vật và con người Chịu ảnhhưởng và tiếp thu quan niệm về thế giới quan của Nho giáo, trong các tác phẩmcủa mình, Nguyễn Trãi cũng nói nhiều đến vũ trụ, trời đất, vạn vật Quan niệm

về thế giới của Nguyễn Trãi rất đa dạng và phong phú bao gồm nhiều yếu tố Cólúc ông gọi là trời đất, núi cao, sông lớn, biển rộng Theo ông, vũ trụ cũng luônvận động và biến đổi “vũ trụ thiên niên biến cố đa - nghìn năm trong vũ trụ biến

Trang 12

có xảy ra nhiều”5 Trời đất trong tư tưởng của triết học Nguyễn Trãi không phảilà một khái niệm trừu tượng hay có ý nghĩa có tính chất vật lý khô khan như triếthọc phương Tây, mà “trời” là đấng tạo hóa sinh ra muôn vật, yêu thương muônvật, như cha mẹ yêu thương con cái: “Thiên địa đa tình khôi cự tẩm - Trời đất đatình, mở vụng biển lớn”6 Đối với Nguyễn Trãi, trời đất rất linh thiêng, cao cảnhưng cũng rất bao dung và công bằng Vì thế, trời đất với Nguyễn Trãi trở nêngần gũi, thân thiết hơn với con người.

Tiếp thu quan điểm của Nho gia, Nguyễn Trãi đã phát triển và thể hiệnkhái niệm “mệnh trời” trong các khái niệm về “lòng trời”, “ý trời”, “vận trời”,

“số trời”, “đạo trời” Trong nội dung quan điểm về “Thiên mệnh” (mệnh trời),Nguyễn Trãi đã trình bày, thể hiện trong rất nhiều trường hợp khác nhau, nhưtrong vận trời, vận nước, mệnh vua, trong cuộc sống giàu sang, phú quý haynghèo hèn, thành công hay thất bại của một cuộc đời con người… Trước hết,

“Thiên mệnh” trong vận nước, Nguyễn Trãi cho rằng vận nước, mệnh vua cũng

do trời quy định Nói về “vận trời” trong bài Đầu mục nước An Nam là Lê Lợi,

Thư gửi Tổng binh Vương đại nhân, Thái giám Sơn đại nhân, Nguyễn Trãi viết:

“Thời có thịnh có suy, quan hệ ở vận trời; việc có thành có bại, bởi tại ngườilàm”7.Về cuộc đời của mỗi con người, theo Nguyễn Trãi, sự thành bại, giàusang, phú quý, hay nghèo hèn cũng đều do mệnh trời sắp đặt: “Nhân sinh vạn sựtổng quan thiên - Đời người muôn việc thảy do trời”8 Ông còn chỉ rõ: “Sangcùng khó bởi chưng trời, lăn lóc làm chi cho nhọc hơi”9 Vậy nên, “mới biếtdanh hư đà có số, ai mà cải được lòng trời”10 Mặc dù Nguyễn Trãi tin ở sự chiphối bởi mệnh trời, nhưng ông lại tin vào sự vận động, biến đổi tuần hoàn củatrời đất Ông cho rằng tự nhiên, thế sự và cả cuộc đời con người luôn vận động,

5 Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1976), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, tr 283

6 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1976), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, tr 283.

7 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1976), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, tr 173

8 Ủy ban dịch thuật (1971), Ức trai tập, tập thượng, quyển 1, 2, 3, Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách

văn hóa , Sài Gòn, tr 257.

9 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1976), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, tr 389.

10 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1976), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, tr 242.

Ngày đăng: 19/06/2015, 03:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w