Xét từ khía cạnh văn hóa đại chúng VHĐC, mặc dù thái độ của côngchúng đối với truyền hình có thể là tán thưởng hay phê phán, nhưng nhìn chung đểtác động hay thụ hưởng truyền hình, dù đứn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG VĂN MINH
VÕ THỊ THU THỦY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62.31.70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Trang 3Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN HIỆU
TS HUỲNH VĂN THÔNG
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư việnTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh
Thư viện Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Trang 4DẪN NHẬP 0.1 Lý do chọn đề tài
Từ khi ra đời đến nay, truyền hình đã cho thấy vị trí và tầm quan trọngcủa nó trong lĩnh vực truyền thông, trong đó có việc đáp ứng ngày càng cao nhucầu hưởng thụ văn hóa của đại đa số quần chúng Ở Việt Nam, bước vào giai đoạnđổi mới từ năm 1986 cho đến nay, truyền hình có những bước phát triển mạnh mẽgắn với những chuyển biến sâu sắc trong đời sống văn hóa cộng đồng dân cư, nhất
là tại các thành phố lớn
Xét từ khía cạnh văn hóa đại chúng (VHĐC), mặc dù thái độ của côngchúng đối với truyền hình có thể là tán thưởng hay phê phán, nhưng nhìn chung đểtác động hay thụ hưởng truyền hình, dù đứng ở vị trí chủ thể nào (nhà quản lý, nhàsản xuất, khán giả), quan điểm đối với truyền hình thường theo hai hướng chính:phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực Việc quản lý truyền hình vì vậy đòihỏi sự công bằng, khách quan và khoa học, hướng tới việc dung hòa những mụctiêu mang tính đối lập, mâu thuẫn từ những góc nhìn khác nhau Qua Luận án
“Quản lý hoạt động truyền hình từ góc nhìn Văn hóa đại chúng (Nghiên cứu trường hợp Đài Truyền hình TP HCM)”, người viết mong nhận diện được tính đại
chúng của truyền hình qua các thông điệp đa dạng được chuyển tới khán giả, từ đógóp phần vào việc quản lý các hoạt động truyền hình một cách có hiệu quả, để chotruyền hình Việt Nam vừa đáp ứng được yêu cầu xây dựng đất nước trong bốicảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa thỏa mãn nhu cầu thông tin, học tập vàgiải trí lành mạnh của đại đa số quần chúng khán giả
0.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhận thấy có hai hướng tiếpcận chính Thứ nhất là nghiên cứu truyền hình trong bối cảnh VHĐC phổ biến tạicác nước phương Tây và một số nước châu Á có hoạt động truyền hình phát triển;thứ hai là nghiên cứu truyền thông tại Việt Nam có đề cập tới truyền hình
Ở hướng thứ nhất, giới nghiên cứu đã cho ra đời nhiều lý thuyết vàphương pháp tiếp cận nghiên cứu vai trò của truyền hình trong đời sống văn hóa,
xã hội các nước phương Tây (nơi truyền hình mặc nhiên đã được coi là một hìnhthức của VHĐC), trong khi đó việc nghiên cứu truyền hình nói chung và quản lýtruyền hình theo hướng tiếp cận VHĐC còn rất hạn chế ở châu Á về mặt lý thuyết
Theo hướng thứ hai tại Việt Nam, mặc dù truyền hình đã có gần nửa thế
kỷ hình thành và phát triển, nhưng lĩnh vực nghiên cứu truyền hình ở nước ta vẫnchưa có hệ thống lý luận cụ thể Bên cạnh đó, VHĐC chỉ mới được đặt vấn đềnghiên cứu gần đây, cho nên các công trình khoa học có liên quan đến truyền hình
và quản lý truyền hình (xã hội học, khảo sát thực nghiệm, báo chí học…) thườngđược đặt chung trong các nghiên cứu về truyền thông đại chúng mà hướng nghiên
Trang 5cứu chính cho tới nay chỉ tập trung vào công chúng - người tiếp nhận từ góc nhìn
xã hội học và và báo chí học
Các công trình ở hai hướng tiếp cận nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môncủa truyền hình có liên hệ với nhiều bộ môn khoa học khác nhau, nhưng nhìnchung vẫn còn rất ít và hạn chế ở lĩnh vực văn hóa Hơn nữa, việc nghiên cứu cáchoạt động truyền hình từ góc nhìn VHĐC ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ và chưa cómột công trình độc lập phân tích một cách có hệ thống về truyền hình với vai tròvừa là phương tiện vừa là một hợp phần của VHĐC Khoảng trống này là mộtthực tế đầy khó khăn nhưng cũng là một trong những động lực thúc đẩy nghiêncứu của tác giả đối với đề tài
0.3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án đặt ra ba vấn đề cần quan tâm và làm rõ:
-Một là, bổ sung một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu về quản lýhoạt động của ngành truyền hình gắn liền với thái độ và nhu cầu của khán giả dướitác động của VHĐC
-Hai là, tìm ra những thành công và hạn chế trong hoạt động quản lýtruyền hình ở Việt Nam hiện nay, qua đó cho thấy tầm quan trọng của mối quan hệgiữa quản lý truyền hình và VHĐC
-Ba là, dự báo được xu hướng phát triển của môi trường truyền thông ảnhhưởng đến VHĐC và tác động làm thay đổi thái độ, nhu cầu của khán giả đối vớitruyền hình, từ đó khuyến nghị những giải pháp nhằm cải tiến và đổi mới phươngthức quản lý truyền hình cho phù hợp với sự phát triển
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác quản lý hoạt đông truyềnhình ở Việt Nam từ góc nhìn VHĐC Chúng tôi giới hạn đối tượng nghiên cứutrường hợp là “Đài truyền hình TP HCM” (HTV) với sự thể hiện của hai kênhquảng bá (dịch vụ công) có nhiều ảnh hưởng nhất đối với công chúng là HTV9 vàHTV7; không gian nghiên cứu là địa bàn TP HCM và vùng lân cận; thời giannghiên cứu là trong vòng mười năm trở lại đây, từ lúc VHĐC bắt đầu có tác động
rõ nét đối với đời sống kinh tế - xã hội của các đô thị lớn và ảnh hưởng đến nhữnghoạt động của truyền hình qua việc phổ biến các nội dung thu hút đông đảo khángiả
0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
-Phương pháp lịch sử: Làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa đại chúng và phương
thức quản lý truyền hình trong quá trình phát triển của truyền hình Việt Nam, cụthể là ở HTV
-Phương pháp so sánh: Phân tích đặc điểm và cách tiếp nhận truyền hình của
khán giả TP HCM qua các thời kỳ so với các địa phương, các đài truyền hình
Trang 6khác tại Việt Nam và cấp độ xuyên văn hóa với một số quốc gia theo lịch đại vàđồng đại.
-Phương pháp quan sát tham dự: Khảo sát định tính trong quá trình tiếp xúc,
làm việc với nhiều người thuộc giới quản lý, sản xuất, phân phối sản phẩm truyềnhình và khán giả
-Phương pháp hệ thống: Phân tích các vấn đề đồng đại và lịch đại của truyền
hình Việt Nam, cụ thể là HTV trong mối quan hệ với VHĐC
-Phương pháp phân tích và tổng hợp : Dựa vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của
HTV và khả năng nghiên cứu của tác giả để phân tích từng yếu tố bộ phận củacông tác quản lý HTV và sau đó khái quát lại toàn bộ các hoạt động đó để tìm rabản chất và quy luật hoạt động của HTV từ góc nhìn VHĐC
-Phương pháp liên ngành: Áp dụng phương pháp liên ngành ở hai cấp độ cơ bản
là sử dụng một số khái niệm và lý thuyết trong khoa học truyền thông và cácphương pháp nghiên cứu trong xã hội học để soi rọi và tìm hiểu những lĩnh vực cótính giáp ranh giữa truyền thông đại chúng và VHĐC
-Phương pháp điều tra xã hội học: Phục vụ cho quá trình từng bước chứng
minh sự quan hệ hữu cơ giữa các đối tượng nghiên cứu, thể hiện mức độ và thái
độ quan tâm cũng như nhu cầu của khán giả đối với các chương trình của HTV, từ
đó đánh giả mức độ quản lý hiệu quả của HTV từ góc nhìn VHĐC
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên các nguồn tư liệu và tài liệu chính:-Tư liệu bao gồm các nguồn: Tư liệu khảo sát, điều tra xã hội học; Tư liệulưu trữ và hiện hành của HTV có liên quan đến đề tài
-Tài liệu bao gồm các nguồn: Lý luận văn hóa và VHĐC; Lý luận về vănhóa quản lý và quản lý văn hóa; Nghiên cứu truyền hình, nghiên cứu quản lý hoạtđộng truyền hình từ góc nhìn VHĐC; tài liệu liên quan đến Đài truyền hìnhTP.HCM; Văn bản pháp quy về quản lý nhà nước ngành truyền hình ở Việt Nam
0.5 Bố cục luận án
Chương một (31 trang) bao gồm hai nội dung chủ yếu là cơ sở lý luận vớicác khái niệm công cụ và lý thuyết tiếp cận được vận dụng để phân tích xuyênsuốt luận án và cơ sở thực tiễn của quá trình phát triển của truyền hình Việt Namtrong đó có HTV
Chương hai (50 trang) phân tích những vấn đề thực tiễn đang diễn ratrong hoạt động sản xuất nội dung HTV trên cơ sở lý luận và thực tiễn của truyềnhình thế giới và Việt Nam từ góc nhìn VHĐC
Chương ba (30 trang) bổ sung các hoạt động quản lý HTV ở các lĩnh vựchoạt động liên kết sản xuất nội dung, kỹ thuật, dịch vụ và đào tạo nguồn nhân lực
để phục vụ công tác sản xuất nội dung của HTV đáp ứng nhu cầu hưởng thụ vănhóa của công chúng
Trang 7Từ thực tiễn quản lý HTV nhìn từ góc độ VHĐC, chương bốn (36 trang)
và là chương cuối cùng nêu lên hướng vận động của truyền hình Việt Nam, cótham khảo, so sánh một số kinh nghiệm của truyền hình thế giới để khuyến nghịcác giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý truyền hình tại Việt Nam nóichung và HTV nói riêng, hướng đến đại chúng khán giả trong bối cảnh toàn cầuhóa
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Văn hóa đại chúng và góc nhìn văn hóa đại chúng
Khái niệm văn hóa đại chúng (VHĐC) được sử dụng trong luận án này
là một hình thức văn hóa trong các xã hội hiện đại, có thuật ngữ tiếng Anh là
“Popular Culture”, không phải là các dạng thức văn hóa thuộc về dân chúng, sốđông quần chúng hoặc hướng tới quần chúng
Vào giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, “Popular Culture” được hình thànhtheo đúng nghĩa của nó (mặc dầu vẫn chưa có tên gọi chính thức) do đã hội đủ cáccác tiền đề quan trọng Tiền đề thứ nhất là nền sản xuất đại công nghiệp mang tínhhàng hóa có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng loạt của khối công chúngthuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau trên không gian địa lý rộng lớn và xuyên quốcgia Tiền đề thứ hai hay còn được gọi là tiền đề dựa trên sự phát triển và xuất hiệnmới các phương tiện truyền thông đại chúng (báo in, phát thanh, truyền hình vàmới nhất là Internet) Tiền đề thứ ba, cũng là tiền đề quan trọng nhất là sự nhậnthức về con người đã thay đổi theo hướng nhìn nhận tích cực vai trò của các cánhân và nhóm người trong việc hình thành các xu hướng văn hóa và có khả năngtập hợp thành một khối công chúng văn hóa tác động trực tiếp lên các quá trìnhhoạt động sản xuất vật chất và sáng tạo các giá trị tinh thần Từ ba tiền đề trên, cóthể định nghĩa “Popular Culture” theo hai khía cạnh sản xuất và tiêu thụ hay sángtạo và hưởng thụ
1.Định nghĩa theo khía cạnh sản xuất (sáng tạo): “Popular Culture” là tất cảnhững gì mà nhân dân thực hiện hoặc tạo ra cho chính mình bao gồm tất cả cáchoạt động của cuộc sống hàng ngày từ ăn uống, giải trí tới giao tiếp, ứng xử vớimôi trường tự nhiên và xã hội
2 Định nghĩa theo khía cạnh tiêu thụ (hưởng thụ): “Popular Culture” là hìnhthức giải trí được sản xuất thông qua và bằng truyền thông thương mại (truyềnhình, điện ảnh, kỹ nghệ âm nhạc…) có đủ năng lực kinh tế và kỹ thuật để có thểđạt đến một lượng khán, thính, độc giả phủ rộng về mặt địa lý, đa dạng về thànhphần và nặc danh
Trang 8Định nghĩa thứ hai được sử dụng tương đối rộng rãi hơn và do đó
“Popular Culture” cũng bị phê phán nhiều hơn, bởi vì nhiều người cho rằng kiểuvăn hóa được sản sinh từ truyền thông thương mại sẽ đe dọa văn hóa đích thựcbằng cách thủ tiêu khát vọng sáng tạo của người dân – khát vọng chỉ được thỏamãn thông qua lao động – và hình thành nên những thói quen hưởng thụ bị động
Góc nhìn VHĐC hay nói cách khác là hướng tiếp cận nghiên cứu một
vấn đề dựa trên tham chiếu về những đặc điểm và tính chất của VHĐC Góc nhìnVHĐC mang tính chủ quan của người nghiên cứu, qua đó mối quan hệ giữa đốitượng nghiên cứu và VHĐC được làm rõ, cho thấy VHĐC đã tạo ra những dấu ấntrên đối tượng nghiên cứu
Văn hóa của thế giới hiện đại là VHĐC được các phương tiện truyềnthông, mà truyền hình là một phương tiện chủ yếu, “nuôi sống” hàng ngày Gócnhìn VHĐC vì vậy cần được xem là một hướng tiếp cận quan trọng khi nghiêncứu sự vận hành của các thiết chế truyền thông đại chúng mà việc quản lý truyềnhình trong bối cảnh hiện nay cũng không thể nằm ngoài ảnh hưởng của VHĐC
1.1.2 Khung lý thuyết cho quản lý truyền hình trong mối quan hệ với văn hóa đại chúng
Lối tiếp cận“Sử dụng và Hài lòng” (Uses and Gratifications)
Lối tiếp cận này là một nhánh nghiên cứu thuộc nhóm có quan điểm chứcnăng luận để nghiên cứu các hiện tượng VHĐC còn được gọi là tiếp cận “Côngchúng năng động” (Active Audience) hay “Sử dụng và Hài lòng” (Uses andGratifications, gọi tắt là U&G), giải thích việc hưởng thụ truyền thông trong mốiquan hệ với việc thỏa mãn các nhu cầu xã hội hoặc tâm lý của cá nhân Trongcông trình nghiên cứu khán, thính giả truyền hình và phát thanh ở Anh vào năm
1972 theo mô hình “Sử dụng và Hài lòng”, Denis McQuail đã hệ thống các nhucầu về truyền thông của khán giả thành 4 nhóm chính: Nhu cầu thông tin; Nhu cầukhẳng định bản thân; Nhu cầu giao tiếp và gắn kết xã hội; Nhu cầu tiêu khiển (giảitrí) Căn cứ vào 4 nhóm nhu cầu chính của khán giả (thực ra là 3 nhóm đều mangtính giải trí), truyền hình có nhiệm vụ sản xuất ra những chương trình và nhómchương trình để thực hiện một trong các chức năng hoặc tổng hợp các chức năng:thông tin, giáo dục, liên kết xã hội và mang tính giải trí
Trang 9Trong công trình nêu trên, Morley đã chia các cách tiếp nhận hay cách
“đọc” nội dung chương trình thành 3 nhóm chính: những người tiếp nhận tư tưởng
“chủ đạo” (Dominant/Hegemony Readings) giải mã gần như nguyên vẹn nội dung thông điệp; những người tiếp nhận có thương lượng (Negotiated Readings) phần
nào giải mã được thông điệp nhưng có thay đổi ý nghĩa, thậm chí phản đối một sốnội dung để thích ứng với hoàn cảnh của mình; những người tiếp nhận đối lập
(Oppositional Readings) tuy vẫn hiểu nội dung thông điệp nhưng không chấp nhận
nội dung này mà cho rằng thông điệp còn chuyển tải một nội dung hoàn toàn khác
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh đổi mới toàn diện của đất nước
Trong vòng gần 30 năm đổi mới, ngành truyền hình Việt Nam đã cónhững bước phát triển vượt bậc cả về cơ sở hạ tầng và nội dung chương trình phục
vụ phát sóng Hiện nay, cả nước có 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương vàđịa phương, 47 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền phục vụ cho trên 2,5triệu thuê bao với nội dung đa dạng và phong phú, đủ mọi thể loại trong và ngoàinước, phát sóng hầu như 24/24 giờ trong ngày, phủ sóng mặt đất hầu hết các khuvực địa hình trong cả nước Các phương thức truyền dẫn phát sóng của truyềnhình Việt Nam ngày càng đa dạng và theo sát các công nghệ hiện đại nhất trên thếgiới
Từ năm 1986 đến nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện củaViệt Nam đã tạo điều kiện cho các sản phẩm văn hóa, truyền thông quốc tế thâmnhập thị trường Việt Nam và các hoạt động văn hóa trở nên đa dạng, phong phú,bắt kịp với xu hướng thế giới và khu vực
1.2.2 Chủ trương “xã hội hóa” của Đảng và Nhà nước trong sản xuất chương trình truyền hình
Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, khái niệm “xã hội hóa” đãxuất hiện để chỉ sự tham gia hoạt động của các thành phần kinh tế tập thể và tưnhân vào các lĩnh vực trước đây chỉ có Nhà nước quản lý toàn bộ các hoạt độngnhư báo chí, trong đó có truyền hình
Truyền hình ở thời kỳ đổi mới và hội nhập với nhiều thành phần kinh tếcùng tham gia sản xuất chương trình đã góp phần định hình VHĐC ở Việt Nam vàcũng đang bị tác động của VHĐC nhằm tồn tại và phát triển trong môi trườngtruyền thông hiện đại, để có thể thực hiện những chức năng cơ bản của mình
1.2.3 Quản lý nhà nước ngành truyền hình Việt Nam hiện nay
Trang 10Tại Việt Nam từ khi bắt đầu đổi mới đến nay, truyền hình đã có nhữngnhững biến đổi đáng kể về mô hình để phù hợp với bối cảnh chung của đất nước
và hội nhập quốc tế Từ một mô hình theo kiểu Nhà nước quản lý (State Model),truyền hình Việt Nam đã từng bước vận dụng những ưu điểm của các mô hình trênthế giới để hình thành một mô hình riêng cho phép vừa sử dụng ngân sách củaNhà nước (đa số các đài hiện nay, trừ một số ít đài như VTV, HTV…) vừa tậndụng nguồn thu quảng cáo và tài trợ của các doanh nghiệp để phát triển sự nghiệp,trong khi đó vẫn giữ vững vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc định hướng vàkiểm soát nội dung chương trình
Trước những yêu cầu phát triển trong thời đại mới, việc điều chỉnh môhình quản lý hướng về khán giả, lấy khán giả làm trung tâm phải được coi trọng và
hỗ trợ bằng các biện pháp về chính sách cũng như cơ chế, để có thể tận dụng đượctrí tuệ, nguồn lực từ xã hội cho sự nghiệp phát triển văn hóa nhưng cũng luôn đảmbảo tính định hướng của công tác tuyên truyền, vì suy cho cùng truyền hình đượcsinh ra để phục vụ công chúng và phát triển được cũng nhờ vào công chúng
1.2.4 Vai trò và vị trí của Đài Truyền hình TP.HCM (HTV) trong ngành truyền hình Việt Nam hiện nay
Đài Truyền hình TP HCM, tiền thân là Đài Truyền hình Sài Gòn đượcthành lập năm 1965 dưới chế độ cũ Từ ngày 01/5/1975, đài đã thuộc về chínhquyền cách mạng và sau này trở thành một trong những đài truyền hình lớn trong
cả nước Hiện nay, với hơn một ngàn cán bộ, viên chức có trình độ về chuyên mônnghiệp vụ, với trang thiết bị máy móc hiện đại, HTV phát sóng quảng bá hai kênhHTV9 và HTV7 24/24 giờ với các chương trình phong phú và đa dạng cùng 16kênh kỹ thuật số và cáp, phục vụ khán giả xem đài trong khu vực TP.HCM và một
số khu vực khác trên toàn quốc
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng nhưvận dụng linh hoạt các quy luật trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hộichủ nghĩa, HTV đã từng bước hoàn thiện mô hình quản lý hoạt động của cơ quanbáo chí cách mạng và cũng đồng thời là một đơn vị kinh tế trong lĩnh vực dịch vụtruyền thông hướng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa mang tính đại chúnglớn nhất cả nước là khu vực TP.HCM
Tuy nhiên mức độ phản hồi đa chiều từ khán giả đối với HTV vẫn cònyếu, trong khi các phương triện truyền thông mới như Internet và điện thoại thôngminh đã thu hút khá nhiều người sử dụng vốn đã từng là khán giả truyền hìnhtruyền thống Một điểm cũng cần lưu ý là độ trễ của chính sách so với thực tiễnphát triển nhanh và thay đổi thường xuyên của môi trường truyền thông Nhữngđiểm hạn chế này tạo không ít khó khăn cho công tác quản lý hoạt động của HTV
ở khía cạnh đáp ứng nhu cầu văn hóa của công chúng số đông
Chương 2
Trang 11THỰC TIỄN QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ PHÁT SÓNG
NỘI DUNG CỦA HTV TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG 2.1 Nhu cầu tiếp nhận của khán giả trên địa bàn TP HCM
2.1.1 Vai trò chủ thể của khán giả trong tiếp nhận nội dung truyền hình
Hành động xem truyền hình của khán giả ngày nay không giống như 15năm về trước, càng không giống như 30 năm trước đây Nếu cách đây 30 năm,khán giả TP.HCM chỉ có thể xem duy nhất kênh 9 của Đài Truyền hình TP.HCM(HTV) vào buổi tối với chọn lựa lúc đó hoặc là xem hoặc là không xem, thì cáchđây 15 năm, chọn lựa xem truyền hình cho buổi tối là trên dưới 5 kênh của VTV
và HTV Còn bây giờ, khán giả có 24 giờ trong ngày để chọn lựa chương trình từhơn 200 kênh trong và ngoài nước (nếu có điều kiện thuê bao nhiều mạng, nhưngthông thường vào khoảng 80 kênh) Với sự lựa chọn phong phú như vậy, khán giảtruyền hình không còn bị đánh đồng giống nhau trước những thông điệp truyềnthông, mà là một khối liên kết mang nhiều nét dị biệt Những nét dị biệt đó đượcthể hiện qua nhu cầu xem một thể loại hay một chương trình truyền hình cụ thểdựa trên nền tảng văn hóa của từng cá nhân
2.1.2 Các nhóm nhu cầu của khán giả trên địa bàn TP HCM
Nhu cầu giải trí bao trùm các nhu cầu xem truyền hình
Tại khu vực TP.HCM, gần 94% khán giả được hỏi cho biết họ xem truyềnhình hàng ngày vì mục đích giải trí và thư giãn Giải trí là nhu cầu chủ yếu củakhán giả truyền hình, bao trùm lên các nhóm nhu cầu khác từ nhu cầu thông tin,nhu cầu giao tiếp đến nhu cầu tự khẳng định bản thân Trong các phân tích tiếptheo, tác giả luận án sẽ không nhắc lại nhu cầu giải trí nói chung mà nhấn mạnhrằng nhu cầu này được đan xen trong các nhu cầu khác của khán giả truyền hình
Nhu cầu thông tin
Cho tới đầu thế kỷ XXI, nhu cầu thông tin từ truyền hình luôn là chỉ sốthuộc hàng đứng đầu trong các bảng điều tra nhu cầu của khán giả Đối với khángiả TP.HCM, xếp sau nhu cầu giải trí, thư giãn là nhu cầu thông tin với 87% khángiả được hỏi đã trả lời rằng họ sử dụng truyền hình vào mục đích được thông tin
về tình hình thời sự đang diễn ra ở môi trường xã hội chung quanh
Nhu cầu khẳng định bản thân của giới trẻ qua truyền hình thực tế
Đa số các chương trình truyền hình thực tế (THTT) dành cho giới trẻ hiệnnay đều sử dụng biện pháp nhắn tin bình chọn của khán giả làm cơ sở để xếp hạngcác thí sinh và chọn ra “quán quân” của các cuộc thi Một số chương trình lại cócách tuyển chọn thí sinh từ khán giả, tạo cơ hội để “một người bình thường có thểtrở thành quan trọng, thu hút hàng triệu người chú ý” Tâm lý được khẳng địnhbản thân của khán giả, nhất là khán giả trẻ chưa bao giờ được khích lệ như vậytrong lịch sử truyền hình đã thu hút sự quan tâm của người xem đối với thể loạinày trên khắp thế giới trong đó có Việt Nam
Trang 12 Nhu cầu giao tiếp và mối quan tâm của khán giả nữ đối với phim truyền hình nhiều tập
Các nghiên cứu để tìm hiểu tại sao khán giả xem truyền hình và xem nhưthế nào đã cho thấy nhu cầu giao tiếp cá nhân và giao tiếp xã hội của khán giảđược thể hiện qua sở thích xem một số thể loại trong đó nổi bật là phim truyệntruyền hình Nữ giới ở độ tuổi từ 18 đến 45 là khán giả mục tiêu (target audiences)của thể loại phim truyền hình nhiều tập cũng chính là đối tượng có nhu cầu giaotiếp và chia sẻ bằng nhiều hình thức khác nhau từ điện thoại, gặp gỡ trực tiếp nơilàm việc, trao đổi qua các mạng xã hội
2.2 Sản xuất và phát sóng các nội dung đáp ứng nhu cầu thông tin
So sánh các kênh truyền hình hàng đầu ở địa bàn TP.HCM vào các khunggiờ trong ngày, HTV9 là kênh có rating cao nhất vào khung giờ tin tức, thời sựquốc gia và thời sự địa phương từ 18g30 đến 20g30 trong đó “Chương trình 60giây” phát sóng nối tiếp 30 phút trước bản tin thời sự quốc gia 19g00 được xemnhư một dạng biến thể của “bản tin chiều muộn” rất ăn khách từ năm 2012 Ngoài
ra HTV cũng khai thác tốt thế mạnh bản sắc vùng, miền và địa phương về thôngtin để dẫn đầu rating ở thị trường TP.HCM vào khung giờ 6g00 đến 7g00 với haichương trình “Thành phố hôm nay” trên HTV9 và “Chào ngày mới” trên HTV7
Trải qua hơn hai năm lên sóng, “Chương trình 60 giây” đã thu hút khángiả ngày càng nhiều, thể hiện qua chỉ số rating% trung bình trên hai kênh HTV7
và HTV9 tăng liên tục từ 2,0 cho đến 10,4 (5,0 trên HTV7 và 5,4 trên HTV9) vàotháng 5-2014 Có một số nhận định cho rằng “Chương trình 60 giây” là một dạng
“Tabloid TV” (truyền hình “lá cải”) dựa vào mức độ phổ biến và cách thức khángiả theo dõi chương trình Nhưng theo tác giả luận án, để cho một chương trìnhthông tin thật sự phát huy tác dụng, cách thể hiện thông tin và kết hợp thông tincàng thiên về tính giải trí thì độ lan rộng càng nhiều Và chính cũng từ sự lan rộngnày, các chiều kích khác của định hướng, tuyên truyền và giáo dục mới có đốitượng để phát huy vai trò
Hiện tại, HTV cũng đang sản xuất và phát sóng khá nhiều chương trìnhđáp ứng nhu cầu thông tin của khán giả theo phong cách giải trí tích cực Mộttrong những chương trình thu hút khán giả, mặc dù giờ phát không phải “giờvàng”, là chương trình “Phút giây cảnh giác” Đây là một hình thức
“Infotainment” được áp dụng vào một tiểu thể loại của THTT nhằm cung cấp chokhán giả những thông tin hữu ích về phòng, chống tội phạm qua các câu chuyện
“người thực, việc thực”, đã đem lại những thông tin bổ ích cho người xem, nhất làphụ nữ và giới trẻ
Trang 13Từ những phân tích về nhu cầu giải trí và nhu cầu thông tin cũng như thực
tế việc sản xuất và phát sóng thể loại Infotainment của HTV, điều rút ra cho nhữngnhà sản xuất và phát sóng truyền hình là tâm lý xem truyền hình của khán giảtrong giờ rảnh rỗi luôn luôn ở trạng thái từ tích cực đến thư giãn với hai “cực” nộidung là thời sự-chính luận và giải trí thuần túy Các kênh tổng hợp của truyền hìnhhiện đại luôn có giải pháp để tạo nên “phổ” nội dung thích hợp cho nhiều đốitượng khán giả, sao cho một tiểu thương có thể xem chương trình thông tin và mộtchính khách có thể xem một chương trình truyền hình thực tế một cách thoải máigiống nhau với “tầm đón nhận” của riêng mình
2.3 Sản xuất và phát sóng các nội dung đáp ứng nhu cầu tự khẳng định bản thân – truyền hình thực tế
Điều tra của chúng tôi cho thấy trong số những người trả lời câu hỏi “Yếu
tố nào của chương trình THTT khiến ông/bà/anh/chị yêu thích?”, đa số đều thuộclứa tuổi thanh niên và các lý do tập trung vào sự gần gũi, hợp lứa tuổi và đơn giản,
dễ hiểu Theo kết quả thăm dò của McQuail, giới trẻ thể hiện nhu cầu xem truyềnhình ở cả bốn nhóm Tuy nhiên, do đặc điểm tâm sinh lý độ tuổi, khán giả trẻthường có nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần ở nhóm “tự khẳng địnhbản thân”, vì vậy các thể loại truyền hình nào đáp ứng được nhu cầu này sẽ thu hútđược khán giả trẻ
Để có thể đem đến sự hài lòng cho khán giả, HTV đã thực hiện một sốbiện pháp đối với các chương trình THTT mà “bản địa hóa” là đặc điểm rõ nétnhất Biện pháp này có thể nói là điểm mạnh của HTV trong thị trường truyềnthông hiện nay vốn còn nhiều bất cập trong việc khai thác các chương trình THTT
từ nước ngoài
Ngay khi mùa thứ nhất của chương trình “So you think you can dance –Thử thách cùng bước nhảy” lên sóng HTV7 vào năm 2012, công luận hầu nhưhoàn toàn đồng tình với cách làm của HTV và đánh giá đó là chương trình THTThiếm hoi tại Việt Nam được “bản địa hóa” một cách thành công So với định dạnggốc, HTV đã yêu cầu nhà sản xuất đưa thêm vào chương trình những chi tiếtchuyên môn để làm nổi bật bốn vấn đề: Một là các giám khảo chuyên môn sẽnhiều lần nhắc tới tính nghệ thuật và sự lao động sáng tạo trong nghệ thuật múa,hai là các thí sinh sẽ tập trung trình bày quan điểm của mình theo hướng khẳngđịnh con đường nghề nghiệp mình đã chọn và phấn đấu đạt đỉnh cao trong nghềnghiệp bằng đam mê nghệ thuật và lao động nghệ thuật chân chính; ba là nóikhông với bất cứ “chiêu trò” thu hút dư luận và bốn là thống nhất quan điểmkhông cay cú ăn thua trong thí sinh, loại bỏ tính từ “tài năng” ra khỏi danh hiệuquán quân và thay bằng tình từ “được yêu thích nhất”
Mới đây, trong nỗ lực tìm kiếm những định dạng THTT trung tính có thểbản địa hóa để phù hợp với văn hóa Việt Nam, HTV đã đưa vào sản xuất và phát
Trang 14sóng chương trình “Người bí ẩn” và đã đạt rating% cao nhất từ trước đến nay đốivới thể loại này là 14,4 ngày 15-6-2014 và trung bình 11,1 ở thị trường TP.HCM.
2.4 Sản xuất và phát sóng các nội dung đáp ứng nhu cầu giao tiếp và gắn kết
xã hội – phim truyện truyền hình
Sản xuất và phát sóng phim truyện truyền hình (PTTH) là một trongnhững mảng nội dung của HTV có vai trò quan trọng trong việc định hướngVHĐC cũng như chịu tác động từ VHĐC qua sự điều chỉnh về giờ phát sóng, nộidung kịch bản, thể loại và tiểu thể loại phục vụ các nhóm khán giả khác nhau
Trong thời gian từ năm 1997 đến đầu thập niên 2000, phim truyện truyềnhình Hàn Quốc (PTTHHQ) đến với khán giả Việt Nam thông qua các chươngtrình trao đổi hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước Trong giai đoạn thâmnhập, PTTHHQ đến với khán giả trung niên nói chung và chiếm được tình cảmcủa họ qua cách nhận hiểu mang tính “chủ đạo” (Hegemony readings) dựa theo sựtương đồng về nền tảng văn hóa giữa hai dân tộc Điều này cho thấy khán giả mụctiêu của loại phim này giới hạn trong nhóm khán giả lớn tuổi, có căn bản giáo dụctheo tư tưởng Nho giáo, sống và làm việc trong môi trường đô thị có nhiều điểmtương đồng với bối cảnh phim Tính riêng tại nơi có cơ cấu dân số trẻ nhưTP.HCM, mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng nhóm khán giả lớn tuổi vẫn là nhân tốquyết định ngân sách chi tiêu của gia đình nên PTTHHQ vẫn thu hút nhiều quảngcáo, thúc đẩy các chu kỳ thương mại trong truyền thông
Ở giai đoạn thịnh hành (2000 – 2005), nhìn từ mô hình “Mã” của Hall,những “thông điệp” của PTTHHQ khá phong phú về số lượng đã bị phân hóanhằm hướng tới đối tượng khán giả trẻ Đặc tính nhiều thế hệ cùng xem truyềnhình của người Việt Nam cũng bị tác động do sự phân hóa này Từ việc nhận hiểucác bộ phim ở thời kỳ đầu với quan điểm “chủ đạo” (Hegemony) và gần như bịchinh phục hoàn toàn bởi nội dung câu chuyện, lớp khán giả trung niên đã trở nên
“nghi ngờ” trước các thông điệp dành cho giới trẻ theo quan điểm “thương lượng”(Negotiated) thậm chí “đối lập” (Oppositional) Trong khi đó các cháu nhỏ trướckia vốn vẫn hồn nhiên xem phim cùng ông, bà, cha, mẹ với quan điểm còn mơ hồmang tính “thương lượng” (Negotiated) đã kịp lớn lên để tiếp nhận một số lượnglớn thông điệp “chủ đạo” dành cho lứa tuổi của mình
Kể từ sau giai đoạn thịnh hành của PTTHHQ tạo nhiều ảnh hưởng đếnVHĐC Việt Nam, việc sản xuất và phát sóng PTTH trên hai kênh quảng bá HTV7
và HTV9 được quản lý theo chiều hướng tăng tỷ lệ phim truyện truyền hình ViệtNam (PTTHVN)và đa dạng hóa “quốc tịch” phim nước ngoài Trong 24 giờ phátsóng hàng ngày trên HTV7 và HTV9, khung giờ PTTH được xem là khá ổn địnhtrong vòng 5 năm qua vì tính đồng dạng khá cao của thể loại này (khác với các thểloại khác có rất nhiều các tiểu thể loại nhằm đến nhiều nhóm đối tượng khán giảkhác nhau) Với cấu trúc thời lượng chuẩn 45 phút/tập phim, PTTH được phân bốkhá dày trên hai kênh: kênh HTV7 có tám khung giờ với tỷ lệ PTTHVN/ PTTH là