Qua phân tích tác giả đã đưa ra được một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định như: chú trọng mở rộng thị trường, hoàn thiện quá trình mua sắm, lựa chọn nguồn vốn tài tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ MINH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
LƯU ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ MINH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC
Chuyên ngành : Tài chính và Ngân hàng
Mã số : 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Những tài liệu trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực Các kết quả nghiên cứu
do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Thị Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sác tới giáo viên hướng dẫn –TS Nguyễn Thị Minh Huệ đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà nội đã nhiệt tình giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC cùng toàn thể các anh chị em đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình tôi làm luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 11
1.1 Khái quát chung về tài sản lưu động của doanh nghiệp 11
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp 11
1.1.2 Khái niệm tài sản lưu động của doanh nghiệp 13
1.1.3 Vai trò của tài sản lưu động đối với các doanh nghiệp 14
1.1.4 Phân loại tài sản lưu động 14
1.1.5 Nguồn tài trợ tài sản lưu động của doanh nghiệp 15
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp 17
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp 17
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động 18
1.3 Các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản lưu động 22
1.3.1 Các nhân tố chủ quan 23
1.3.2 Các nhân tố khách quan 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC 28
2.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC 28
Trang 62.1.1 Quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của
Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC 30
2.1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC 34
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC 37
2.2.1 Cơ cấu tài sản lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC 38
2.2.2 Thực trạng sử dụng tài sản lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC 40
2.3 Đánh giá thực trang hiệu quả sử dụng Tài sản lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC 60
2.3.1 Kết quả đạt được 60
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC 67
3.1 Định hướng phát triển của Tổng công ty 67
3.2 Các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC 69
3.2.1 Nâng cao hiệu quả quản lý các khoản phải thu 69
3.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng hàng dự trữ tồn kho tại Tổng công ty 71 3.2.4 Một số giải pháp khác 73
3.3 Kiến nghị 78
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Báo cáo kết quả SXKD Tổng công ty từ năm
6 Bảng 2.6 Hệ số đảm nhiệm và chỉ tiêu sinh lời của
TSLĐ tại Tổng công ty UDIC (2011 – 2013)
48
7 Bảng 2.7 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng
hàng tồn kho tại Tổng công ty UDIC (2011 – 2013)
50
8 Bảng 2.8 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng
9 Bảng 2.9 Hệ số khả năng thanh toán của các doanh
10 Bảng 2.10 Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng quản lý các
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 2.1 Cơ cấu tài sản lưu động của TCT 2011-2013 42
2 Hình 2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng
3 Hình 2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý ngân
4 Hình 2.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý các
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói riêng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức không chỉ đến từ các doanh nghiệp trong nước mà còn từ các doanh nghiệp nước ngoài với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến với tiềm lực kinh tế hùng mạnh Các doanh nghiệp nhà nước cần có những giải pháp và tăng cường quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý tài sản, tự mình phát huy sức mạnh nội lực, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng quy mô sản xuất nhằm khẳng định chỗ đứng và vị thế của mình trong thị trường trong nước và cả quốc tế
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau và mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu
Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, vấn đề sử dụng tài sản nói chung và tài sản lưu động nói riêng trở thành một trong những nội dung quan trọng trong quản trị tài chính Sử dụng tài sản lưu động một cách hiệu quả giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và làm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu
Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC là Công ty TNHH Một thành viên trực thuộc UBND Thành phố Hà Nội, là một trong những doanh nghiệp thành công trong ngành xây dựng và kinh doanh bất động sản Trong những năm gần đâyTổng công ty đã đầu tư mở rộng thêm nhiều dự án, công trình lớn như: Tiếp tục triển khai giai đoạn 2 khu đô thị Ciputra Hà Nội;
Tổ hợp chung cư cao tầng Trung yên Plaza, NO4; chung cư cao tầng 122 Vĩnh Tuy, Khu đô thị Phú Gia – Phú Quốc,…
Trang 11Trong những năm qua, Tổng công ty đã quan tâm đến vấn đề hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động và đã đạt được những thành công nhất định Nhờ đó, khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của Tổng Công ty ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động vẫn còn thấp so với mục tiêu Thực tế đó ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của Tổng Công ty
Trước yêu cầu đổi mới, để có thể đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động là một trong những vấn đề hết sức cấp thiết đối với Tổng công ty
Từ thực tế đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản lưu động tại Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC” làm
đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng là nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, do vậy
mà việc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là kinh doanh đạt tỷ suất
Từ thực tế đó đã có rất nhiều các tác giả, đề tài nghiên cứu, các cuộc hội thảo liên quan đến việc phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản đối với các doanh nghiệp như các bài báo đăng tạp chí trong nước, luận văn, chuyên đề… với nội dung hệ thống hóa các lý luận cơ bản về tài sản của doanh nghiệp, phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp
đã ra đời; có thể kể đến như Nhóm tác giả trường Đại học kinh tế quốc dân (2013), Đỗ Thu Hồng (2003) , Bùi Phương Hà (2008), Ninh Anh Tuấn (2009)… Điểm mạnh của những nghiên cứu này là đã tiếp tục hoàn thiện khung lý thuyết về Tài sản của doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Trang 12qua các giai đoạn phát triển khác nhau; bước đầu đưa ra một số đề xuất giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
Nhóm tác giả Trường đại học kinh tế quốc dân đã đưa ra các vấn đề
về tổng quan lý thuyết về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, các nguyên nhân khách quan, chủ quan tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản Luận văn của tác giả Đỗ Thu Hồng (2003) đi sâu phân tích hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động tại Xí nghiệp kinh doanh các sản phẩm khí miền bắc Qua phân tích tác giả đã đưa ra được một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động như: giải pháp sử dụng hàng dự trữ, tồn kho hay việc sử dụng ngân quỹ, quản lý các khoản phải thu của xí nghiệp
Chuyên đề của tác giả Bùi Phương Hà (2008) đi sâu phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty CP vận tải và thương mại Hải Phòng Qua phân tích tác giả đã đưa ra được một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định như: chú trọng mở rộng thị trường, hoàn thiện quá trình mua sắm, lựa chọn nguồn vốn tài trợ dài hạn hợp lý, đa xdnajg hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên
Luận văn của tác giả Ninh Anh Tuấn (2009) phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty CPBT & XD Vinaconex Xuân Mai Qua phân tích tác giả đã đưa ra giải pháp chung về hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty như: tăng cường huy động vốn, thực hiện quản lý và sử dụng các khoản phí một cáh tiết kiệm có hiệu quả, nâng cao trình độ của cán bộ quản lý và công nhân, đẩy nhanh tiến độ xử lý các tài sản, vật tư không cần dùng Ngoài ra tác giả còn đưa ra có giải pháp cụ thể cho việc sử dụng tài sản lưu động như quản lý
và sử dụng hiệu quả tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho Giải pháp cho việc sử dụng tài sản cố định như thực hiện công tác lập kế hoạch đầu tư
Trang 13vào tài sản cố định, tăng cường hoạt động sữa chữa, bảo dưỡng, nâng cấp tài sản cố định
Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của nhóm nghiên cứu trong đại học Nuffield- Úc Trong nghiên cứu tác giả đã chỉ ra được hoạt động luân chuyển nguồn vốn trong một chuỗi cung ứng hậu cần của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của Úc, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn trong tổ chức đầu tư Palestine Exchange (PEX) của Ibrahim M Awad and Abdel-Rahman Al-Ewesat đưa ra được cách tính hiệu quả kinh doanh vốn của các tổ chức chứng khoán Palestine, mục đích của nghiên cứu đề xuất này là để cung cấp cho việc ra quyết định và khuyến nghị trong việc quản lý vốn nhà nước Nó cũng điều tra và phát hiện ra tầm quan trọng của việc quản lý vốn lưu động hữu ích của vốn lưu động trong việc hỗ trợ hoạt động kinh doanh và liên quan đến thị trường cổ phiếu
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về Hiệu quả sử dụng tài sản hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế như các giải pháp đưa ra vẫn mang tính lý thuyết, chưa đi sâu nhấn mạnh vào các điểm cụ thể theo đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp
Có thể nói đây là một đề tài không mới, tuy nhiên mỗi một đơn vị, doanh nghiệp lại có những đặc trưng, loại hình hoạt động khác nhau, trong không gian và thời gian khác nhau nên việc đưa ra các giải pháp sử dụng hiệu quả tài sản cũng là không giống nhau Vì vậy qua luận văn nghiên cứu này tôi
hi vọng sẽ đưa ra được các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Tổng Công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tài sản lưu động, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
- Thông qua quá trình phân tích và đánh giá các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, ta có cơ sở để đưa ra nhận xét 1 cách tổng quát về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC
- Từ phân tích thực trạng tại Tổng Công ty ta có những kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng tài sản lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC từ năm 2011 đến 2013 và các chỉ tiêu về doanh thu, các chỉ tiêu về lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính khác Đây là các chỉ tiêu phản ánh rõ nét hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được xây dựng dựa trên số liệu thực tế thu thập qua các báo cáo tài chính từ năm 2011 đến 2013 của Tổng công ty Đầu
tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đặt ra, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
* Trước hết luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu quá trình hình thành và sử dụng tài sản lưu động tại các doanh nghiệp nói chung
Trang 15* Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải quy nạp được sử dụng nhằm nêu rõ thực trạng sử dụng tài sản lưu động tại Tổng công
ty như:
+ Phương pháp phân tích số liệu chi tiết theo thời gian: Các kết quả kinh doanh bao giờ cũng là một quá trình diễn ra trong từng khoảng thời gian nhất định Mỗi khoảng thời gian khác nhau sẽ có những nguyên nhân tác động khác nhau Việc phân tích số liệu theo thời gian sẽ giúp ta đánh giá được nhịp
độ, tốc độ phát triển của các chỉ tiêu qua từng thời kỳ khác nhau
+ Phân tích số liệu chi tiết theo bộ phân cấu thành của chỉ tiêu: Phân tích Dupont các chỉ tiêu kinh tế thường được chi tiết thành nhiều yếu tố khác nhau Nghiên cứu chi tiết giúp ta đánh giá chính xác các yếu tố cấu thành của chỉ tiêu phân tích thông qua sự thay đổi của từng bộ phận cấu thành nên chỉ tiêu đó
* Ngoài việc quan sát, thu thập, thống kê số liệu, tài liệu liên quan thì
để phân tích và đánh giá được hiệu quả sử dụng TSLĐ có nhiều phương pháp trong đó có thể sử dụng hai phương pháp là phương pháp so sánh và phương pháp tỷ số
- Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh Khi sử dụng phương pháp này thì chúng ta phải lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh Tuỳ theo mục đích của nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp Các gốc so sánh có thể là:
+ Tài liệu của năm trước (kỳ trước) nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu
Trang 16+ Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức
+ Các chỉ tiêu trung bình ngành, khu vực kinh doanh, nhu cầu đơn đặt hàng,…nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu,… Các chỉ tiêu của kỳ được so sánh với kỳ gốc lựa chọn được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện và là kết quả mà doanh nghiệp đã đạt được
Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất Trong thực tế thường điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế cần được quan tâm cả về mặt thời gian và không gian Về mặt thời gian thì các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán phải thống nhất trên ba mặt: phải cùng phản ánh nội dung kinh tế, phải cùng một phương pháp tính toán và phải cùng một đơn
vị đo lường Về mặt không gian thì các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau
Thông thường, người ta sử dụng các kỹ thuật so sánh sau:
+ So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu tài chính, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô của các chỉ tiêu tài chính
+ So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu tài chính, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các chỉ tiêu tài chính + So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện của tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tính chất Tuỳ theo mục đích và yêu cầu của phân tích,
Trang 17tính chất và nội dung của các chỉ tiêu tài chính mà người ta sử dụng kỹ thuật
+ So sánh theo chiều ngang: là quá trình so sánh nhằm xác định các tỷ
lệ và chiều hướng biến động giữa các kỳ trên báo cáo kế toán tài chính
+ So sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu: các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét nhiều kỳ để cho ta thấy rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu
Các hình thức sử dụng kỹ thuật so sánh trên thường được phân tích trong các báo cáo kế toán tài chính, nhất là bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán và bảng lưu chuyển tiền tệ là các báo cáo tài chính định kỳ quan trọng của doanh nghiệp
Trong luận văn này, việc sử dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu được áp dụng cả sử dụng cả so sánh bằng số tuyệt đối, tương đối với số liệu được thu thập trong các năm 2011, 2012 và 2013; hình thức so sánh là so sánh theo chiều ngang, so sánh kết quả năm sau so với năm trước để thấy được tình hình hoạt động của doanh nghiệp 1 cũng như xu hướng phát triển của nó và so sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng, kết cấu của các thành phần trong TSLĐ
- Phương pháp tỷ số: Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng
để phân tích Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu
Trang 18khác Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán - tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn làm cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp, việc áp dụng công nghệ tin học ngày càng rộng rãi với nhiều chức năng và công dụng mới cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số; đồng thời phương pháp này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục theo từng giai đoạn
- Đồng thời phương pháp thống kê được sử dụng như là một công cụ phân tích số liệu để minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu Ở đây ta có thể dùng phương pháp phân tích bằng biểu đồ: Khi phân tích ta sử dụng các biểu
đồ để minh họa cụ thể cho mức độ và tình hình biến động của từng chỉ tiêu tài chính qua từng giai đoạn khác nhau
6 Những đóng góp của luận văn
- Thứ nhất, luận văn sáng tỏ những lý luận cơ bản liên quan đến tài sản
lưu động, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp;
- Thứ hai, luận văn nghiên cứu những bài học kinh nghiệm trong việc
quản lý và nâng cao hiệu quả tài sản lưu động tại Tổng Công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC;
- Thứ ba, qua việc phân tích thực trạng quản lý tài sản lưu động tại Tổng
Công ty, luận văn đã đề xuất được những giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại UDIC trong thời gian tới
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về tài sản lưu động của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu Theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam thì doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh, tức là thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh sau: kinh doanh cá thể, kinh doanh góp vốn, công ty Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp
tư nhân
Điều quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là hoạt động quản lý tài chính Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước, với thị trường tài chính và các thị trường khác, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp Một trong những nội dung quan trọng của quản lý tài chính là các doanh nghiệp phải biết xác định một cơ cấu vốn và tài sản một cách phù hợp, từ đó có thể tiếp tục hoạt động để sử dụng tài sản của mình nhằm bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất trên cơ sở phân tích về doanh thu và
Trang 21chi phí Quản lý tài chính tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường và đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp và lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế
Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục tiêu là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu Tuy nhiên để đạt được mục đích này thì không phải là dễ, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay Mỗi doanh nghiệp đều phải chịu sự tác động của hàng loạt các yếu tố như: sự phát triển của công nghệ tạo ra các phương thức sản xuất, phương thức quản lý mới; chịu sự ràng buộc của hệ thống pháp luật bao gồm luật, các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế quản lý tài chính để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp; chịu sức ép của thị trường cạnh tranh Quá trình hoạt động cũng như phương thức quản lý của mỗi doanh nghiệp khác nhau là khác nhau Vì vậy mỗi doanh nghiệp phải tự điều chỉnh hướng đi của riêng mình, đặc biệt muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Có như vậy thì mới có thể ra được những quyết định quản lý đúng đắn, kịp thời và đạt được mục tiêu của doanh nghiệp mình Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải trả lời ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực của sự cạnh tranh gay gắt, cùng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đều nhằm tìm ra lời giải đáp trên với mục đích thu được lợi ích tối đa Để làm được điều này trước hết doanh nghiệp phải có vốn Nó là yếu tố không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất kinh doanh Vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ Tài sản và vốn là hai mặt hiện vật và giá trị của một bộ phận nguồn
Trang 22lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh
Do vậy quản lý vốn và tài sản trở thành một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính Mục tiêu quan trọng nhất của quản lý vốn và tài sản là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất
1.1.2 Khái niệm tài sản lưu động của doanh nghiệp
Tài sản trong doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động, trong đó giá trị các tài sản lưu động của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng
Đối với tài sản lưu động (TSLĐ) chúng ta có thể hiểu đó là những tài
sản sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Tài sản
lưu động liên tục vận động, chu chuyển trong chu kỳ kinh doanh nên nó tồn tại ở tất cả các khâu, các lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất của một doanh nghiệp Quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động (TSLĐ) có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp đó
Các doanh nghiệp cần phải quản lý tốt và có hiệu quả TSLĐ vì:
- TSLĐ có thời gian luân chuyển ngắn, thường xuyên biến đổi, nhạy cảm với những biến đổi của thị trường, của doanh nghiệp
- Hiệu quả sử dụng TSLĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Quản lý tốt TSLĐ sẽ góp phần giảm chi phí giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
- Xác định nhu cầu tài sản lưu động hợp lý trong mối tương quan với nhu cầu tài sản cố định, từ đó tránh được tình trạng dư thừa hay thiếu hụt TSLĐ;
sử dụng TSLĐ một cách hợp lý, tiết kiệm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được bình thường và liên tục
Trang 23- Việc quản lý TSLĐ giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình về việc
sử dụng TSLĐ tại doanh nghiệp, từ đó dự báo và đề ra các kế hoạch về TSLĐ cũng như việc xác định nguồn tài trợ hợp lý cho TSLĐ của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh
1.1.3 Vai trò của tài sản lưu động đối với các doanh nghiệp
TSLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất Trong cùng một lúc, TSLĐ của doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục doanh nghiệp cần phải đảm bảo đủ về nhu cầu TSLĐ Nếu không quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn, gặp nhiều trở ngại, tăng chi phí hoạt động và dẫn tới kết quả kinh doanh không tối ưu
Trong quá trình theo dõi sự vận động của TSLĐ, doanh nghiệp quản lý gần như được toàn bộ các hoạt động diễn ra trong chu kỳ sản xuất kinh doanh
Vì vậy mà TSLĐ có ảnh hưởng lớn đến việc thiết lập chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Quy mô TSLĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất Với một quy mô TSLĐ hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí, tăng hiệu quả hoạt động, từ đó tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Ngoài ra cơ cấu TSLĐ còn thể hiện phần nào tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp Cụ thể: khả năng sinh lời của các khoản đầu tư ngắn hạn, tính
an toàn cao hay thấp của các khoản phải thu, mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp đối với sự biến động của thị trường (nguyên, nhiên vật liệu, hàng hoá,…)
1.1.4 Phân loại tài sản lưu động
* Theo lĩnh vực tham gia luân chuyển:
- TSLĐ sản xuất: gồm tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất (nguyên, nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ,…đang dự trữ trong kho) và tài sản trong sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang)
Trang 24- TSLĐ lưu thông: gồm tài sản dự trữ cho quá trình lưu thông (thành phẩm, hàng hóa dự trữ trong kho hay đang gửi bán) và tài sản trong quá trình lưu thông (tiền, các khoản phải thu)
- TSLĐ tài chính: là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với các mục đích kiếm lời (đầu tư liên doanh, đầu tư chứng khoán,…)
* Theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán:
- Ngân quỹ: bao gồm tiền mặt tại két, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển
- Đầu tư ngắn hạn: đầu tư chứng khoán ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác
- Các khoản phải thu: phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, tạm ứng, chi phí trả trước
- Dự trữ, tồn kho: gồm nguyên, nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm
- TSLĐ khác: bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoản thế chấp,
ký cược, ký quỹ ngắn hạn
1.1.5 Nguồn tài trợ tài sản lưu động của doanh nghiệp
Để tài trợ cho TSLĐ người ta có thể sử dụng nhiều nguồn khác nhau
Điều quan trọng là xác định hợp lý từng nguồn để có thể kiểm soát và sử dụng một cách có hiệu quả Sự hiệu quả được thể hiện ở việc giảm chi phí tài trợ, tạo sự phù hợp giữa chu kỳ của TSLĐ và kỳ hạn nguồn tài trợ Có hai nguồn tài trợ chính cho TSLĐ của một doanh nghiệp là:
Nguồn tài trợ ngắn hạn: bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng, tạo vốn
bằng cách bán nợ, chiết khấu thương phiếu và các khoản vốn chiếm dụng của các đối tượng khác như các khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp, các khoản phải trả cán bộ công nhân viên nhưng chưa đến hạn trả, các khoản đặt cọc của khách hàng, mua chịu hàng hoá
Trang 25Nguồn tài trợ dài hạn: bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp ban
đầu, vốn huy động thêm bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, lợi nhuận giữ lại) và vay dài hạn
Nguồn tài trợ dài hạn được dùng để đầu tư hình thành tài sản cố định của Doanh nghiệp, phần dư của nguồn tài trợ dài hài sẽ tài trợ hình thành tải sản lưu động Mức độ an toàn của TSLĐ phụ thuộc vào độ lớn của vốn lưu động thường xuyên
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn tài trợ dài hạn – TSCĐ
(VLĐ thường xuyên) = TSLĐ – Nguồn tài trợ ngắn hạn
Khi đó, có 3 trường hợp như sau:
- VLĐ thường xuyên >0, khi đó nguồn tài trợ dài hạn ngoài việc được đầu tư hình thành lên TSCĐ, một phần được tài trợ để hình thành lên TSLĐ Khi đó, khả năng thanh toán của Doanh nghiệp là khá tốt, tình hình tài chính của công
ty lành mạnh Đây là cơ cấu tài trợ lý tưởng mà các doanh nghiệp luôn cố gắng duy trì Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn tài trợ dài hạn, doanh nghiệp phải chịu phí tổn cao vì chi phí huy động của nguồn dài hạn thường cao hơn nguồn ngắn hạn
- VLĐ thường xuyên =0, khi đó toàn bộ nguồn tài trợ dài hạn được đầu tư hình thành TSCĐ và TSLĐ được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn tài trợ ngắn hạn
- VLĐ thường xuyên <0, khi đó nguồn tài trợ dài hạn không đủ để đầu tư hình thành lên TSCĐ trong doanh nghiệp, do đó, một phần TSCĐ đã được đầu tư bằng nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp Khi đó, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị giảm sút, cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp bị mất cân đối Bên cạnh đó, việc sử dụng cơ cấu nguồn vốn như ở trường hợp này, doanh nghiệp phải đối mặt với những rủi ro về thnah khoản, rủi ro về biến động lãi suất
Trang 26Do vậy, các doanh nghiệp thường sử dụng kết hợp cả nguồn tài trợ ngắn hạn và dài hạn (trường hợp VLĐ thường xuyên >0 ) để tài trợ cho nhu cầu tài sản lưu động Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng thông thường các doanh nghiệp không chọn duy nhất một mô hình nào mà tùy từng thời kỳ doanh nghiệp sẽ
có sự lựa chọn phù hợp
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp
Hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả
đó trong điều kiện nhất định Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng TSLĐ là một phạm trù kinh tế phản ánh tình
hình sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất Hiệu quả TSLĐ được biểu
hiện tập trung ở các mặt sau:
Khả năng sử dụng tiết kiệm, hợp lý TSLĐ của doanh nghiệp càng cao
và càng tăng so với mức sử dụng chung của ngành và so với kỳ trước đó Việc
sử dụng tiết kiệm TSLĐ chỉ là một chỉ tiêu cần được xem xét khi tính hiệu quả sử dụng TSLĐ Bởi nó giúp doanh nghiệp giảm chi phí, không phải tài trợ thêm cho TSLĐ khi mở rộng quy mô, từ đó tăng lợi nhuận và đáp ứng đầy
đủ, thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh
Tốc độ luân chuyển cao của TSLĐ trong quá trình sản xuất Đây cũng
là biểu hiện của hiệu quả sử dụng TSLĐ vì khi TSLĐ có tốc độ luân chuyển cao thì khả năng thu hồi vốn cao và nhanh, tiếp tục tái đầu tư cho kỳ sản xuất tiếp theo, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh mới và tăng khả năng cạnh tranh
Trang 27Mặt biểu hiện nữa là khả năng sinh lời và khả năng sản xuất của TSLĐ phải cao, không ngừng tăng so với ngành và giữa các thời kỳ Điều này có nghĩa
là một đồng giá trị TSLĐ phải đem lại một khoản doanh thu cao (thể hiện khả năng sản xuất) và một khoản lợi nhuận cao (thể hiện khả năng sinh lời)
Ngoài ra hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp còn là việc doanh nghiệp có một kết cấu tài sản hợp lý cùng với một kết cấu tối ưu của TSLĐ
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động không thể được đánh giá đúng nếu chỉ dựa vào một vài chỉ tiêu đơn lẻ, nó là quá trình xem xét, đánh giá, phân tích một cách tổng hợp và toàn diện trên nhiều góc độ, khía cạnh của riêng doanh nghiệp, và của doanh nghiệp trong mối tương quan với chỉ tiêu chung của toàn ngành
1.2.2.1 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng chung của TSLĐ
- Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động
Hệ số đảm nhiệm TSLĐ =
Hệ số này cho biết: để thu được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu đơn vị tài sản lưu động Hệ số này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao Thông qua chỉ tiêu này, các nhà quản trị tài chính xây dựng kế hoạch về đầu tư tài sản lưu động một cách hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Vòng quay tài sản lưu động trong kỳ
Vòng quay TSLĐ=
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
TSLĐBQ
Trang 28Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trên mối quan hệ
so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu thuần) và số tài sản lưu động bình quân bỏ ra trong kỳ Số vòng tài sản lưu động trong kỳ càng cao thì càng tốt
- Thời gian luân chuyển tài sản lưu động
tỏ tài sản lưu động được sử dụng có hiệu quả
TSLĐđầu kỳ + TSLĐcuối kỳ
2
Tổng mức luân chuyển TSLĐ trong kỳ
Thời gian của kỳ phân tích
Vòng quay TSLĐ trong kỳ
Trang 29Tài sản lưu động bình quân trong kỳ
- Khả năng sinh lợi của TSLĐ
Khả năng sinh lợi của TSLĐ =
Hệ số này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản lưu động Dựa vào tỷ
số này ta biết được một đồng lợi nhuận sau thuế có sự đóng góp bao nhiêu đồng từ việc đầu tư tài sản lưu động
Khi phân tích người ta so sánh các tỷ số này giữa các năm với nhau để thấy được xu hướng và tình hình sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp Ngoài ra, nếu có thể còn so sánh với chỉ số chung của ngành để thấy được vị thế của doanh nghiệp trong ngành Từ đó đưa ra các chính sách sử dụng và quản lý tài sản lưu động phù hợp với doanh nghiệp, đảm bảo cho tài sản lưu động được sử dụng hiệu quả nhất
1.2.2.2 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng hàng tồn kho
- Số vòng quay của hàng tồn kho
Số vòng quay HTK =
Chỉ tiêu này cho biết, mối quan hệ giữa giá trị hàng tồn kho và giá vốn hàng bán Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn đầu tư hàng tồn kho vận động không ngừng đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Số ngày tồn kho bình quân
Số ngày tồn kho bình quân =
Lợi nhuận sau thuế
Giá vốn hàng bán
HTK bình quân
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay của hàng tồn kho
Trang 30Chỉ tiêu này cho biết một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu
ngày, hay chính là số ngày tồn kho bình quân để từ hàng tồn kho chuyển
thành doanh thu Chỉ tiêu này cang thấp, chứng tỏ hàng tồn kho vận động
càng nhanh
- Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho
Hệ số đảm nhiệm HTK =
Chỉ tiêu này cho biết, doanh nghiệp muốn có được một đồng doanh thu
thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư vào hàng tồn kho Chỉ tiêu này càng
thấp, chứng tỏ hiệu quả vốn đầu tư sử dụng cho hàng tồn kho càng cao
1.2.2.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các khoản phải thu
- Vòng quay các khoản phải thu =
Trong đó:
Các khoản phải thu bình quân =
Chỉ tiêu này để xem xét tốc độ thanh toán các khoản nợ của khách hàng
cho doanh nghiệp Nó càng cao chứng tỏ doanh nghiệp quản lý các khoản
phải thu tốt và ngược lại
- Kỳ thu tiền bình quân =
Kỳ thu tiền được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán
trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Các khoản
HTK bình quân
Tổng doanh thu thuần
Doanh thu thuần Các khoản phải thu bình quân
Các khoản phải thuđầu kỳ + Các khoản phải thucuối kỳ
2
Tổng số ngày trong kỳ(360 ngày)
Vòng quay các khoản phải thu trong kỳ
Trang 31phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước Chỉ tiêu này càng thấp, cho thấy, doanh nghiệp quản lý khoản phải thu tốt, nhanh chóng thu được tiền Tuy nhiên nếu
tỷ số này cao thì không tốt cho doanh nghiệp Nó chứng tỏ vốn của doanh nghiệp có nhiều khoản nợ khó đòi, và sẽ gặp rủi ro cao trong thanh toán
1.2.2.4 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng ngân quỹ
- Vòng quay tiền:
Vòng quay tiền = Doanh thu
Tiền + chứng khoán dễ chuyển nhượng
Tỷ số này được xác định bằng cách chia doanh thu trong năm cho tổng
số tiền và các loại tài sản tương đương tiền bình quân (chứng khoán ngắn hạn
dễ chuyển nhượng) Tỷ số này cho biết số vòng quay của tiền trong một năm Nếu tỷ số này càng lớn chứng tỏ trong một năm TSLĐ của doanh nghiệp quay được nhiều vòng hơn và doanh nghiệp sử dụng TSLĐ có hiệu quả hơn
- Thời gian vòng quay tiền:
Thời gian vòng quay tiền = Số ngày trong kỳ
Số vòng quay tiền Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để tiền chu chuyển được một vòng Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao và ngược lại
1.3 Các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, ngoài việc tính toán
và phân tích các chỉ tiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và tài sản lưu động nói riêng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản lưu
Trang 32động một cách tối đa giúp cho doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã
đề ra
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân
Trước hết, về trình độ cán bộ quản lý: Trình độ cán bộ quản lý thể hiện
ở trình độ chuyên môn nhất định, khả năng tổ chức, quản lý và ra quyết định Nếu cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, khả năng
tổ chức, quản lý tốt đồng thời đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp và tình hình thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cao, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Do đó, việc quan tâm bồi dưỡng về nghiệp vụ và đạo đức cũng như tạo cơ chế công khai, minh bạch
và công bằng trong cơ chế bổ nhiệm cán bộ quản lý là yếu tố hết sức quan trọng Từ đó, tạo động lực mạnh mẽ để
Thứ hai, về trình độ tay nghề của công nhân: bộ phận công nhân là bộ phận trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên
là nhân tố trực tiếp sử dụng tài sản của doanh nghiệp Đối với công nhân sản xuất có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo, tự chủ trong công việc, có ý thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vận hành thì tài sản sẽ được sử dụng hiệu quả hơn đồng thời sẽ tạo
ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, hạ giá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
Để nâng cao trình độ của cán bộ quản lý cũng như tay nghề của công nhân, chính bản thân các doanh nghiệp phải chủ động và có những giải pháp
cụ thể, có những chính sách riêng để thu hút người lao động có trình độ chuyên môn cao, tay nghề vững về làm việc trong đơn vị mình Nâng cao trình độ người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và
Trang 33thường xuyên chăm lo đời sống vật chất tinh thần của đội ngũ CBCNV là yếu
tố cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động nói riêng
1.3.1.2 Tổ chức sản xuất – kinh doanh
Một quy trình sản xuất – kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Với mỗi doanh nghiệp, xây dựng một cơ cấu tổ chức hợp lý, khoa học phù hợp với đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần quyết định yếu tố thành công trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau Do đó,
1.3.1.3 Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh Vốn là nguồn hình thành nên tài sản Vì vậy, khả năng huy động vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn
sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh, đa dạng hoá các hoạt động đầu tư làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp và từ đó làm tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Trang 34Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm, góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận và do
đó hệ số sinh lợi tổng tài sản sẽ tăng Trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, cơ cấu vốn của doanh nghiệp được nhìn nhận dưới 2 góc độ:
Một là, cơ cấu giữa nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn; Hai là, sự cân
đối giữa cơ cấu giữa nguồn vốn và cấu trúc tài sản của doanh nghiệp Cơ cấu nguồn vốn cũng như sự cân đối giữa nguồn vốn và cấu trúc tài sản có sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và tài sản lưu động nói riêng của mỗi doanh nghiệp
Xem xét sự cân đối giữa nguồn tài trợ (nguồn vốn) và cấu trúc tài sản của doanh nghiệp chính là sự xem xét mối quan hệ giữa nguồn vốn với tài sản trên bảng cân đối kế toán Mối quan hệ này liên quan đến thời gian sử dụng nguồn vốn và thời gian quay vòng tài sản của doanh nghiệp Sự cân đối giữa hai mục này thể hiện ở việc doanh nghiệp duy trì được mối quan hệ giữa nguồn vốn và sử dụng vốn một cách hiệu quả vừa đảm bảo khả năng sinh lời vừa đảm bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp Về mặt lý thuyết, việc sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho TSCĐ và một phần cho TSLĐ
sẽ đảm bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp ở một mức độ nhất định Tuy nhiên, chi phí vốn của nguồn vốn này cao hơn so với nguồn vốn ngắn hạn Nên trong thực tế quản lý tài chính hiện nay, hiếm có doanh nghiệp sử dụng nguồn dài hạn để tài trợ cho TSLĐ Đa phần các doanh nghiệp có cơ cấu tài trợ này là những doanh nghiệp mới đi vào hoạt động và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thông thường
1.3.2 Các nhân tố khách quan
- Cơ chế chính sách kinh tế:
Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều không thể thiếu Điều này được quy định trong các Nghị quyết TW Đảng Các
Trang 35cơ chế, chính sách này có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Ví dụ như từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi các chính sách thuế ( thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu ), chính sách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhập khẩu công nghệ đều ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ
đó ảnh hưởng tới tình hình tài chính
- Trạng thái nền kinh tế:
Trạng thái nền kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong kinh doanh như: huy động vốn, đầu tư vào các dự án lớn, có cơ hội lựa chọn bạn hàng
Khi nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tăng theo Bởi lẽ khi khoa học công nghệ phát triển mạnh thì nó sẽ đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt Nếu như doanh nghiệp không thích ứng được môi trường này chắc chắn sẽ không tồn tại được Vì vậy, các doanh nghiệp luôn chú trọng việc đầu tư vào công nghệ Với những máy móc hiện đại không những tiết kiệm được sức lao động của con người mà còn tạo ra được khối lượng sản phẩm cao với giá thành thấp thoả mãn nhu cầu của khách hàng
Do đó nó sẽ làm tăng doanh thu của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanh nghiệp tích cực sản xuất, tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện ngày càng tốt hơn Ngựơc lại, nếu trạng thái nền kinh tế đang ở mức suy thoái thì việc doanh nghiệp muốn cải thiện tình hình tài chính là rất khó khăn
- Sự tác động của thị trường
Trang 36Tuỳ theo loại thị trường mà doanh nghiệp tham gia sẽ có những tác động riêng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nếu thị trường mà doanh nghiệp tham gia là thị trường tự do cạnh tranh, sản phẩm của doanh nghiệp đã có uy tín với người tiêu dùng thì đó sẽ là tác nhân tích cực thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường và tăng doanh thu cho doanh nghiệp Còn đối với thị trường không ổn định thì hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng không ổn định do kết quả kinh doanh thất thường nên vốn không được bổ sung kịp thời
Hiện nay ở nước ta thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh, các chính sách công cụ nợ trung và dài hạn còn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự biến động theo giá thị trường mà chủ yếu là giá áp đặt Đây là điều hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện chính sách đầu tư trong trường hợp có vốn nhàn rỗi Điều này cho thấy, để đạt được mục đích sử dụng vốn có hiệu quả là hoàn toàn không dễ dàng Đây là yếu tố mà doanh nghiệp không có khả năng tự khắc phục song lại có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động kinh doanh, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC
2.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC
Xây dựng là một trong những ngành kinh tế then chốt, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân với những đặc điểm riêng biệt như: là ngành duy nhất tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân dưới dạng công trình xây dựng, thông qua hoạt động đầu tư và xây dựng cho phép giải quyết một cách hài hòa các mối quan hệ trong xã hội, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
là những hoạt động trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp tạo nên tổ ng sản phẩm quốc dân, tham gia đóng góp vào ngân sách quốc gia thông qua các loại thuế và nó có thể gây ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế nếu quản lý kém hiệu quả
Sản phẩm được tạo ra bởi các doanh nghiệp xây dựng rất phong phú và
đa dạng chủ yếu là các sản phẩm dưới dạng hữu hình bao gồm:
- Sản phẩm đầu tư xây dựng:
+ Là các công trình, hạng mục công trình xây dựng đã hoàn thành, được bàn giao, nghiệm thu và đưa vào sử dụng
+ Là thành quả của phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, tổ chức sản xuất ở một thời kỳ nhất định
+ Sản phẩm đầu tư xây dựng có tính liên ngành, những lực lượng tham gia vào chế tạo sản phẩm chủ yếu là: Chủ đầu tư, doanh nghiệp nhận thầu xây lắp, doanh nghiệp tư vấn, doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp cung ứng tổ chức dịch vụ tài chính, ngân hàng…
- Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng
Trang 38+ Chỉ bao gồm kiến trúc, kết cấu làm chức năng nâng đỡ, bao che, lắp đặt máy móc thiết bị
+ Đơn vị đo sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp xây dựng:
Tính theo hiện vật: m2 hay m3 khối tích xây dựng đã hoàn thành bàn giao
Tính theo giá trị: giá trị dự toán đã hoàn thành bàn giao
- Sản phẩm xây dựng trung gian: các gói công việc, các giai đoạn hay đợt xây dựng đã hoàn thành bàn giao thanh toán
- Sản phẩm xây dựng cuối cùng: là công trình hay hạng mục công trình xây dựng đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng
* Đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng:
Một là: Xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn Sản phẩm của
ngành xây dựng thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng kéo dài Những nguyên vật liệu ban đầu của nó là những tài sản nặng vốn và chi phí cố định của nó khá cao, chính vì thế vốn đầu tư vào đó là rất lớn trong khi thời gian hoàn thành sản phẩm để đưa vào
sử dụng kéo dài, việc thu hồi vốn không thể diễn ra nhanh chóng trong một thời gian ngắn, điều này lý giải số vốn bị thâm dụng vào các sản phẩm dở dang của ngành là rất lớn
Hai là: Ngành xây dựng rất nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền
kinh tế quốc dân Có thể thấy rất rõ việc tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế được phản chiếu rất rõ nét qua hoạt động của ngành xây dựng Khi nền kinh tế tăng trưởng doanh số và lợi nhuận của ngành sẽ tăng cao do nhu cầu xây dựng được mở rộng, ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng sẽ bị đình trệ do thiếu vốn đầu tư bởi người dân sẽ giảm nhu cầu xây dựng và mua bán nhà cửa,
Trang 39Ba là: Tài sản cố định trong doanh nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng
khá lớn Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp xây dựng cần phải đầu tư máy móc trang thiết bị ban đầu rất lớn, thời gian sử dụng của các trang thiết bị này thường kéo dài trong nhiều năm, chi phí được phân bổ dưới dạng chi phí khấu hao tài sản, vòng quay khấu hao chậm do đó việc thu hồi vốn cũng sẽ kéo dài trong nhiều năm Vốn của doanh nghiệp xây dựng bị ứ đọng trong các tài sản đầu tư đó cũng vì thế mà rất lớn
Bốn là: Hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng có mối tương quan rõ
rệt với thị trường bất động sản do thị trường bất động sản phản ánh nhu cầu về ngành xây dựng Khi thị trường bất động sản khởi sắc đồng nghĩa với việc nhu cầu
về nhà ở tăng cao, các doanh nghiệp xây dựng sẽ có thêm nhiều đơn đặt hàng và điều tất yếu là doanh số của doanh nghiệp sẽ tăng Ngược lại khi thị trường bất động sản bị đóng băng, nhu cầu về nhà ở bị thu hẹp nhu cầu về xây dựng cũng sẽ giảm sút kéo theo sự giảm sút về doanh thu cua ngành xây dựng
Năm là: Một doanh nghiệp xây dựng được đặt trong mối quan hệ
tương quan với nhiều đối tượng khác nhau Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp xây dựng được đặt trong nhiều mối quan
hệ tương quan như chính quyền địa phương, chủ đầu tư, các nhà thầu phụ, nhà cung cấp vật tư và khách hàng sử dụng sản phẩm xây dựng cuối cùng…
2.1.1 Quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC
Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị là doanh nghiệp Nhà nước được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng
đô thị trực thuộc Sở Xây dựng thành phố Hà Nội
Trụ sở của Tổng công ty được đặt tại số: 27 Huỳnh Thúc Kháng,
Quận Đống Đa, Hà Nội
Trang 40UDIC có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại
kho bạc nhà nước và các ngân hàng thương mại, trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện quyền,nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với phần vốn Nhà nước đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết
UDIC có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Công
ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
UDIC chịu sự quản lý Nhà nước của UBND Thành phố Hà Nội và các
cơ quan quản lý khác theo quy định của pháp luật
+ Chức năng của UDIC:
- Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước của Tổng công ty và chịu trách nhiệm trước ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc bảo toàn và phát triển
số vốn được giao
- Giữ vai trò chủ đạo tập trung, chi phối và liên kết các hoạt động của các công ty con, công ty liên kết nhằm đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh của UDIC và các công ty thành viên
- Kiểm tra, giám sát việc quản lý sử dụng vốn , tài sản , chế độ chính sách điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên theo quy định của pháp luật, Điều lệ tổ chức hoạt động của các công ty con và đơn vị phụ thuộc
- Tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh đa ngành nghề, trong đó ngành nghề chính là đầu tư phát triển đô thị, xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng đô thị
* Nhiệm vụ chủ yếu của UDIC :
- Tham gia với các cơ quan chức năng để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển hạ tầng đô thị theo định hướng phát triển chung của Thành phố