Chúng ta có thể đi đến định nghĩa chứng khoán phái sinh như sau : Chứng khoán phái sinh là một công cụ tài chính được thể hiện dưới dạng hợp đồng giữa hai bên mua và bán, có giá trị đượ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN QUANG VIỆT
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI
SINH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN QUANG VIỆT
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI
SINH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số : 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐÀO LÊ MINH
Hà Nội – 2014
Trang 3Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn trong lớp cao học K19 TCNH2 đã giúp đỡ và động viên để tác giả hoàn thành luận văn này
Hà Nội, năm 2014
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 3
1.1 Chứng khoán phái sinh 3
1.1.1 Khái niệm chứng khoán phái sinh 3
1.1.2 Đặc điểm của chứng khoán phái sinh 5
1.1.3 Phân loại chứng khoán phái sinh 6
1.1.4 Vai trò của chứng khoán phái sinh 17
1.2 Thị trường chứng khoán phái sinh 21
1.2.1 Khái niệm 22
1.2.2 Hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh 26
1.2.3 Điều kiện xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAM 36
2.1 Thực trạng sử dụng chứng khoán phái sinh ở Việt Nam 36
2.1.1 Giao dịch quyền chọn 36
2.1.2 Hợp đồng tương lai trên chỉ số chứng khoán 41
2.1.3 Quyền mua trước (Rights) 43
2.1.4 Các sản phẩm giao dịch có tính chất như CKPS 44
2.2 Đánh giá các điều kiện, tiền đề phát triển thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam………58
2.2.1 Những điều kiện, tiền đề đã có………58
2.2.2 Những hạn chế………62
Trang 5CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAM 56 3.1 Sự cần thiết phải phát triển thị trường chứng khoán phái sinh 56 3.1.1 Giúp tăng khả năng huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán 56 3.1.2 Giúp thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn trong việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước 58 3.1.3 Giúp cho thị trường chứng khoán đa dạng về hàng hóa và trở nên sôi động hơn 59 3.1.4 Công cụ quản lý rủi ro hữu hiệu thông qua việc hoán chuyển rủi ro 59 3.1.5 Cung cấp thông tin về tỷ giá, giá hàng hóa, lãi suất hiện tại và tương lai giúp doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh 61 3.1.6 Tạo ra hiệu ứng đòn bẩy lớn 62 3.2 Định hướng xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam 74 3.2.1 Tổ chức thị trường 75 3.2.2 Các thành viên tham gia 78 3.3 Đề xuất mô hình và cơ chế giao dịch chứng khoán phái sinh tại thị trường Việt Nam 82 3.3.1 Đề xuất mô hình và cơ chế giao dịch HĐTL, HĐQC trên chỉ số chứng khoán tại Việt Nam 83 3.3.2 Giải pháp nhằm đưa mô hình và cơ chế giao dịch HĐTL, HĐQC trên chỉ số chứng khoán tại Việt Nam theo đề xuất vào thực tiễn 90 KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 ACB Ngân hàng Á Châu
2 ANZ Australia and New Zealand Banking Group Limited
3 BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
4 CCP Trung tâm thanh toán bù trừ
5 CKPS Chứng khoán phái sinh
6 CNTT Công nghệ thông tin
16 NHTM Ngân hàng thương mại
17 SCB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
18 TTCKPS Thị trường chứng khoán phái sinh
19 VCB Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
20 VIB Ngân hàng Quốc tế
21 VSD Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam
22 VSD-CCP Trung tâm thanh toán bù trừ CKPS
Trang 7ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 1.2 So sánh một số điểm khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai 13
5 Bảng 2.3 Danh sách cổ phiếu NĐT có thể vay của một CTCK 58
9 Bảng 3.1
So sánh cơ chế giao dịch cổ phiếu và HĐTL/HĐQC trên chỉ số chứng khoán
85
Trang 8iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Các sản phẩm trên thị trường phái sinh 7
2 Hình 2.1 Sự hiểu biết về CKPS của nhà đầu tư 63
Trang 91
LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Khi Việt Nam đã gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước
những khó khăn, những cạnh tranh trên thị trường quốc tế Bên cạnh đó, những biến động bất thường về nền kinh tế toàn cầu, những tăng giảm đột ngột của giá xăng dầu thế giới, những bấp bênh của tỷ giá đồng USD… đang là những vấn đề đáng lo lắng cho những nhà đầu tư, những doanh nghiệp xuất nhập khẩu Vậy phải làm gì để giảm bớt rủi ro? Để tối thiểu tổn thất và tối đa hoá lợi nhuận? Có một vấn đề khi nhắc đến có lẽ ai cũng biết : Điều kiện tiên quyết của mọi giải pháp luôn
là vốn, đáp án của vấn đề huy động vốn trung và dài hạn lại nằm ở trị trường chứng
khoán
Thị trường chứng khoán là một thuật ngữ không xa lạ gì trên thế giới từ hơn năm thế kỷ qua, nhưng mới chỉ được người dân Việt Nam biết đến và tìm hiểu khoảng hơn mười năm trở lại đây dù đã tồn tại cách đây hơn nửa thế kỷ ở nước ta Thị trường chứng khoán là sản phẩm khách quan trong quá trình phát triển của nền kinh tế, nó là hàn thử biểu của nền kinh tế Một thị trường chứng khoán sôi động, hiệu quả thì sẽ phát huy tốt vai trò huy động vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, không thể có một thị trường chứng khoán sôi động nếu ít người tham gia và ít hàng hóa
để giao dịch Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở giai đoạn này Làm sao để thị trường chứng khoán trở nên sôi động thông qua việc bơm thêm hàng vào lưu thông ? Đây chính là lý do em chọn đề tài „„Phát triển thị trường chứng khoán phái
sinh ở Việt Nam‟‟
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, ở một số trường Đại học đã đưa chứng khoán phái sinh vào giảng dạy ở mức độ chi tiết khác nhau như Học viện Ngân hàng, Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân Trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây đã có một số đề tài nghiên cứu về công cụ phái sinh ở Việt Nam Tuy nhiên, một số đề tài chỉ dừng lại ở mức hết sức sơ lược, một số đề tài thì phạm vi nghiên cứu lại rất rộng, nghiên cứu công cụ phái sinh trên cả thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán Đề tài của em tập trung nghiên cứu chi tiết về công cụ phái sinh trên
thị trường chứng khoán
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam, tìm những tồn tại và hạn chế của thị trường, từ đó đưa ra những giải pháp định hướng
cho sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh trong tương lai
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 102
Đề tài nghiên cứu thị trường chứng khoán phái sinh trong đó đi sâu phân tích
mức độ áp dụng chứng khoán phái sinh tại thị trường Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Theo dõi và thu thập thông tin về thực trạng hoạt động của thị trường chứng
khoán phái sinh Việt Nam
Tổng hợp, phân tích và đánh giá trên cơ sở những lý thuyết tài chính, chứng khoán phái sinh Các thông tin được phân tích không đặt riêng biệt mà được nhận định trong bối cảnh chung của nền kinh tế đã gia nhập WTO và điều kiện phát triển
của thị trường chứng khoán phái sinh trong nước
6 Đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam Dựa trên những tồn tại, hạn chế của thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam để rút ra những định hướng, kiến nghị và những giải pháp để phát triển sản
phẩm chứng khoán phái sinh tại Việt Nam
Trang 113
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1.1 Chứng khoán phái sinh
1.1.1 Khái niệm chứng khoán phái sinh
Công cụ phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở
những công cụ đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất, chè, cà phê… Công cụ phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại
bỏ hoàn toàn rủi ro Mặc dù xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là một công cụ
phòng chống rủi ro nhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trường tài chính, các công cụ phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm kiến lợi nhuận
và thực hiện các hoạt động đầu cơ Chính vì những biến thái như trên nên không phải lúc nào sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro cũng có hiệu quả Các công cụ phái sinh ngày càng tinh vi và mang theo một số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường Sự sụp đổ của thị trường tài chính Mỹ năm 1987 được đẩy nhanh nhờ sử dụng rộng rãi kỹ thuật tự bảo hiểm Delta, được mua bán các hợp đồng bảo hiểm danh mục đầu tư Những người bảo hiểm này đã đầu tư mạnh vào thị trường mà nếu như không có kỹ thuật này thì có thể họ đã không làm như vậy Hay như Great Britain‟s Bearing, một trong những ngân hàng lâu đời nhất thế giới
đã phá sản năm 1995 khi đầu cơ các hợp đồng tương lai trong một thương vụ ở Singapore Tuy vậy, các công phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ và được sử dụng
rộng rãi tại các thị trường tài chính lớn của thế giới
Chúng ta hiểu công cụ phái sinh là công cụ xuất phát từ một công cụ gốc nào
đó, các công cụ phái sinh có thể được tổng kết trong bảng sau:
Bảng 1.1: Các công cụ phái sinh
Hợp đồng quyền chọn (Options)
Hợp đồng hoán đổi (Swaps)
Hợp đồng
kỳ hạn (Forwards)
Sản phẩm tổng hợp (Synthetic Product) Hợp đồng Mũ, sàn và Hoán đổi Kỳ hạn lãi Quyền chọn
Trang 12lãi suất suất về hợp
đồng tương lai lãi suất, hợp đồng hoán đổi
Trái phiếu
Hợp đồng tương lai trái phiếu
Quyền chọn trái phiếu
Quyền chọn về hợp đồng tương lai trái phiếu
Ngoại tệ
Hợp đồng tương lai tiền tệ
Quyền chọn tiền tệ
Hoán đổi tiền tệ
Kỳ hạn trao đổi ngoại tệ
Quyền chọn
về hợp đồng tương lai tiền tệ, hợp đồng hoán đổi tiền tệ
Vốn, cổ
phiếu
Hợp đồng tương lai chỉ số vốn, hợp đồng tương lai về
cổ phiếu khác
Quyền chọn vốn
Hoán đổi vốn
Quyền chọn
về hợp đồng tương lai chỉ số vốn Hợp đồng tương lai mua bán
cổ phiếu
Trang 135
Hàng hóa
Hợp đồng tương lai hàng hóa
Hoán đổi hàng hóa
Quyền chọn
về hợp đồng tương lai hàng hóa
Qua một số tính chất về chứng khoán, công cụ phái sinh như trên Chúng ta có
thể đi đến định nghĩa chứng khoán phái sinh như sau : Chứng khoán phái sinh là
một công cụ tài chính được thể hiện dưới dạng hợp đồng giữa hai bên mua và bán, có giá trị được xác định dựa trên giá trị của tài sản cơ sở và được thanh toán tại một thời điểm nhất định trong tương lai
1.1.2 Đặc điểm của chứng khoán phái sinh
Thứ nhất, Giá trị của CKPS thay đổi theo sự thay đổi về giá của tài sản cơ sở
CKPS bản thân nó không có giá trị nội tại mà giá trị của nó bắt nguồn từ giá trị của của tài sản gốc, biến thiên theo sự thay đổi giá trị tài sản gốc
Thứ hai, CKPS không yêu cầu đầu tư ban đầu hoặc yêu cầu đầu tư ban đầu
thấp hơn so với các loại họp đồng khác Đặc biệt, đối với các CKPS được niêm yết trên thị trường tập trung, để giao dịch nhà đầu tư chỉ cần ký quỹ một phần giá trị của CKPS dự kiến giao dịch
Thứ ba, việc mua/bán CKPS được thanh toán vào một ngày trong tương lai được
quy định trong hợp đồng phái sinh Việc thanh toán này có thể được thực hiện hoặc bằng vật chất (PhysicalDelivery) hoặc bằng tiền (CashSettlemen)
HĐHĐ Swap
HĐKH forward
Trang 146
(Nguồn: Do tác giả tổng hợp)
1.1.3 Phân loại chứng khoán phái sinh
1.1.3.1 Hợp đồng kỳ hạn
Khái niệm : Hợp đồng kỳ hạn (Forward) là hợp đồng thỏa thuận trước để mua
hoặc bán một lượng tài sản, chứng khoán tại một thời điểm nhất định trong tương
lai với một mức giá xác định trước
Hợp đồng kỳ hạn là một loại công cụ phái sinh đặc biệt đơn giản Đây là thoả thuận mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với một mức giá xác định Công cụ này khác với loại hợp đồng giao ngay, là sự thoả thuận bán hoặc mua một tài sản vào ngày hiện tại Ví dụ, một hợp đồng kỳ hạn 3 tháng
đối với trái phiếu có kỳ hạn 10 năm và lãi suất coupon 12% bao gồm:
- Người mua và người bán thỏa thuận tại thời điểm t = 0 về giá và khối lượng trái phiếu
- Việc thanh toán và giao nhận trái phiếu chỉ được tiến hành tại thời điểm sau 3 tháng
Trang 157
Nếu mức lãi suất kỳ hạn được thỏa thuận là 12,5428%/ năm thì cứ 100 USD
mệnh giá sẽ có giá là 97 USD và sau thời hạn 3 tháng người mua sẽ thanh toán cho người bán 97 USD để nhận từ người bán trái phiếu có mệnh giá là 100 USD Đây
là giá mà người mua phải thanh toán cho người bán và người bán phải giao hàng cho người mua không phụ thuộc vào bất cứ điều gì xảy ra đối với giá trái phiếu trong thời gian 3 tháng và giá thị trường của nó tại thời điểm sau 3 tháng
Đặc điểm của hợp đồng kỳ hạn:
- Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi ro mất
giá tiền tệ (Hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoá nào đó (Hợp đồng kì hạn với dầu mỏ)
- Điều khoản hợp đồng do hai bên tự thỏa thuận Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (Spot price), giá bán của tài sản được giao vào ngày giao ngay (Spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư (Forward premium) nếu giá kì hạn cao hơn, hoặc khoản khấu trừ (Forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn
- Hợp đồng kỳ hạn không theo những chuẩn mực được tiêu chuẩn hóa của một thị trường tập trung Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi là hợp đồng tương lai (Futures contract) Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng
Các loại hợp đồng kỳ hạn:
- Hợp đồng kỳ hạn hàng hóa (Nông sản, kim loại, nhiên liệu)
- Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (Liên ngân hàng, tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương)
- Hợp đồng kỳ hạn chỉ số cổ phiếu
- Hợp đồng kỳ hạn ngoại hối
1.1.3.2 Hợp đồng tương lai
Khái niệm: Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán,
nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức
giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai (Trích dẫn theo luật chứng
khoán Việt Nam 2007)
Đặc điểm của hợp đồng tương lai:
Trang 168
- Hợp đồng tương lai là hợp đồng kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa về điều khoản
hợp đồng, kỳ hạn hợp đồng, giá trị, khối lượng của tài sản cơ sở do cơ quan có thẩm quyền đặt ra
- Hợp đồng tương lai được thỏa thuận và mua bán thông qua người môi giới, được giao dịch trên thị trường tập trung
- Khi xác lập trạng thái của hợp đồng tương lai, cả bên mua và bên bán phải ký quỹ vào tài khoản ký quỹ theo quy định của sàn giao dịch
- Hợp đồng tương lai được tính theo ngày theo giá thị trường (Marking to
market daily) Điều đó có nghĩa là trong kỳ hạn của hợp đồng tương lai, các khoản lãi/lỗ hàng ngày được cộng/trừ vào tài khoản ký quỹ của mỗi bên
- Nhà đầu tư có thể đóng vị thế của mình bất cứ lúc nào trong giao dịch hợp đồng tương lai
Các loại hợp đồng tương lai:
Hiện nay trên thế giới đó phát triển nhiều loại hình hợp đồng tương lai Một cách tổng quát có thể phân chia hợp đồng tương lai thành hai loại chủ yếu đó là:
- Hợp đồng tương lai về hàng hoá: Trên thị trường có nhiều loại hợp đồng
tương lai cho các sản phẩm hàng hoá “Thực” bao gồm hợp đồng tương lai của các loại nông sản (Lúa mì, ngô, đường, ca cao, cà phê…), kim loại (Vàng, bạc, nhôm,
thiếc…), năng lượng (Dầu thô, khí ga…)
- Hợp đồng tương lai về tài chính: Là loại hợp đồng tương lai dựa trên tài sản
cơ sở là các tài sản tài chính Hợp đồng tương lài về tài chính bao gồm các loại như: Hợp đồng tương lai về trái phiếu (Trái phiếu kho bạc ngắn hạn, trung hạn, các loại chứng chỉ ký thác), hợp đồng tương lai ngoại tệ, hợp đồng tương lai về lãi suất, hợp đồng tương lai các chứng khoán, hợp đồng tương lai các chỉ số chứng
khoán…
- Hợp đồng tương lai về ngoại tệ: Khi giao dịch quốc tế phát triển, giá trị tương
quan tiền tệ của một quốc gia so với một quốc gia khác trở thành một nhân tố quan trọng, ảnh hưởng tới khả năng thu lợi nhuận trong các hoạt động kinh doanh trong mọi lĩnh vực kinh tế Sự biến động tỷ giá hối đoái làm tăng rủi ro trong các giao dịch quốc tế Do vậy, hợp đồng tương lai ngoại tệ xuất hiện, được phát triển mở rộng từ hợp đồng tương lai hàng hóa Giới tài chính thế giới đã phát triển hợp đồng này để đối mặt, phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá hối đoái Hiện nay loại hợp
đồng này được giao dịch mạnh trên các SGD hợp đồng tương lai
- Hợp đồng tương lai lãi suất: Thành công của hợp đồng tương lai ngoại tệ đó tạo nên sự phát triển của hợp đồng tương lai lãi suất để rào chắn một yếu tố rủi ro khác của các tiền tệ đó là biến động lãi suất Sự biến động lãi suất chứa đựng rủi ro đối với hoạt động kinh doanh Những nhà đầu tư bắt buộc phải quan tâm đến mức lãi suất để thu lợi nhuận hay chi phí vay tiền đầu tư Trong khi đó luôn tồn tại
Trang 179
những nhà đầu cơ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để có thể có lợi nhuận lớn Hợp đồng tương lai lãi suất dựa trên công cụ cơ sở là trái phiếu Chính phủ Đây là hợp đồng giao dịch những công cụ nợ trong tương lai với những mức lãi suất được xác định trước
- Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu: Là loại hợp đồng được giao dịch từ sau những năm 1980 và rất phổ biến hiện nay Đây là loại hợp đồng rất thông dụng dùng để rào chắn rủi ro cho những người đầu tư cổ phiếu, quản lý các quỹ đầu tư
cổ phiếu hay quản lý các danh mục đầu tư cổ phiếu… Hiện tại, trên thế giới có khoảng vài chục loại chỉ số cổ phiếu được thiết lập cho giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số, và giá trị chỉ số được coi là giá trị biến thiên, sẽ được xác định trước tại thời điểm ký kết hợp đồng
Phân biệt hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai
Về cơ bản chúng ta có thể dựa vào mức độ chuẩn hoá của hợp đồng để phân thành hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai Về bản chất, hai loại hợp đồng này
là như nhau, theo đó chúng đều là một thoả thuận trong đó có một người mua và một người chấp thuận thực hiện một giao dịch tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật thì hai loại hợp đồng này có một số điểm khác nhau như sau:
- Tính chuẩn hoá: Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với hàng hoá bất
kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên mua và bán Tuy nhiên các hợp đồng tương lai đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng chuẩn đối với một loại hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước
- Hình thức giao dịch: Đối với hợp đồng kỳ hạn, các bên thường giao dịch trực
tiếp Đồng thời, đến thời hạn thực hiện hợp đồng thì hai bên giao nhận tiền và hàng hoá cho nhau Còn đối với hợp đồng tương lai, là loại được thiết kế theo chuẩn nên được giao dịch trên thị trường chứng khoán (Sở giao dịch hoặc thị trường OTC), thường là đến thời điểm thực hiện hợp đồng thì bên mua hoặc bên bán chỉ thanh toán hoặc được nhận phần chênh lệch lãi lỗ chứ không cần trao tiền và hàng hoá cụ thể như trường hợp hợp của đồng kỳ hạn
- Giảm thiểu rủi ro thanh toán: Giao dịch hợp đồng kỳ hạn gây ra nhiều rủi ro
cho các bên tham gia hợp đồng Rủi ro trực tiếp từ đối tác là một đặc tính của giao dịch hợp đồng kỳ hạn Trong trường hợp người mua hoặc người bán phá sản,
không thực hiện được hợp đồng, phía đối tác sẽ phải chịu thiệt hại mà không có bồi hoàn Nhiều trường hợp khác, do biến động bất lợi của thị trường, một bên tham gia có thể sẽ không thực hiện hợp đồng gây thiệt hại cho đối tác (Ví dụ, vào thời điểm giao hàng, giá thực tế lên rất cao so với giá hợp đồng đã ký kết, bên bán trong
Trang 18giao dịch Người bán thì bán cho công ty thanh toán bù trừ, và người mua thì mua
qua công ty thanh toán bù trừ Nếu nhà chế biến nông sản có phá sản thì người nông dân vẫn được trả tiền, và ngược lại Việc thực hiện các hợp đồng tương lai được đảm bảo bằng uy tín của những người chủ sở hữu Sở giao dịch và công ty
thanh toán bù trừ, thường là những hãng môi giới lớn nhất trên thế giới
- Điều chỉnh theo giá trị thị trường (Marking to the Market ): Hợp đồng kỳ hạn
được ký kết giữa hai bên đối tác trực tiếp với nhau nên không phải điều chỉnh giá trị cho thị trường hàng ngày Đối với hợp đồng tương lai, do đặc thù các bên tham gia giao dịch không biết nhau mà chỉ giao dịch thông qua Sở giao dịch hoặc thị trường OTC, công ty thanh toán bù trừ sẽ làm đối tác trung tâm Do vậy, để phòng ngừa rủi ro trong thanh toán, hợp đồng tương lai đòi hỏi các bên tham gia giao dịch phải thực hiện ký quỹ theo tỷ lệ quy định về ký quỹ ban đầu, ký quỹ duy trì và tiến hành điều chỉnh giá trị ký quỹ theo tỷ lệ đã quy định nhằm đảm bảo được việc thanh toán hợp đồng
Bảng 1.2: So sánh một số điểm khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp
đồng tương lai Các tiêu chuẩn Hợp đồng tương lai Hợp đồng kỳ hạn
2 Giá trị hợp đồng điều
chỉnh theo thị trường Điều chỉnh hàng ngày Không
3 Bán lại Giao dịch sôi động trên
thị trường chứng khoán Hạn chế
4 Các điều khoản hợp
Thực hiện theo quy ước của hai bên đối tác
5 Việc giao hàng Thường không phải giao
hàng (Thanh toán theo
Thường là phải giao hàng
Trang 1911
kết quả chênh lệch lỗ hoặc lãi)
6 Quy mô thị trường
Rộng lớn, đại chúng và người mua, người bán không biết nhau
Nhỏ bé, cá nhân và người tham gia hiểu biết lẫn nhau
(Nguồn: Do tác giả tổng hợp)
1.1.3.3 Hợp đồng quyền chọn
Khái niệm: Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp
đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng
chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá
được xác định trước (Trích dẫn theo luật chứng khoán 2007)
Một điểm đáng lưu ý của Hợp đồng quyền chọn là người nắm giữ hợp đồng có thể lựa chọn việc thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ, đây là điểm khác biệt căn bản của Hợp đồng quyền chọn với các hợp đồng tương lai hoặc hợp đồng kỳ hạn
Tài sản cơ sở của hợp đồng quyền chọn có thể là các chứng khoán, các chỉ số chứng khoán, các ngoại tệ, công cụ nợ, hàng hoá, hoặc thậm chí là các loại hợp đồng tương lai
Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn:
- Các điều khoản của hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, được giao dịch trên cả thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
- Chỉ quy định quyền giao hay nhận mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình, không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm
- Người mua có thể thực hiện quyền, có thể bán quyền cho người khác hoặc không thực hiện quyền Để thực hiện được quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả phí quyền, giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định trong hợp đồng là ngày đáo hạn Tương tự như vậy đối với người mua trong hợp đồng quyền chọn bán
- Tùy theo từng loại hợp đồng quyền chọn được ký kết mà hợp đồng quyền chọn có thể thực hiện bất kỳ ngày nào trước ngày đáo hạn hoặc phải đến ngày đáo hạn
Trang 20
12
Các loại hợp đồng quyền chọn cơ bản:
- Hợp đồng quyền chọn mua (Call option): Cho phép người nắm giữ có quyền mua tài sản cơ sở trong một khoảng thời gian hoặc vào một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá ấn định trước Mức giá ấn định sẽ mua hoặc bán tài sản tại một thời điểm trong tương lai được gọi là giá thực hiện (Exercise price hoặc strick price); ngày của hợp đồng gọi là ngày hết hạn (Expiration date), ngày thực hiện (Exercise date) hoặc ngày đáo hạn (Maturity date) Người sở hữu hợp đồng quyền chọn mua sẽ thực hiện hợp đồng khi mức giá thực hiện thấp hơn mức giá cổ phiếu trên thị trường tại thời điểm thực hiện hợp đồng Trong trường hợp mức giá thực hiện cao hơn mức giá cổ phiếu trên thị trường thì người sở hữu sẽ để hợp đồng hết hạn mà không thực hiện quyền
- Hợp đồng quyền chọn bán (Put option): Cho phép người nắm giữ có quyền bán tài sản cơ sở trong một khoảng thời gian hoặc vào một ngày xác định trong tương lai với một mức giá xác định, thường được mong đợi là cao hơn mức giá hiện tại Người sở hữu quyền chọn bán sẽ thực hiện hợp đồng khi giá thực hiện cao hơn mức giá cổ phiếu hiện tại trên thị trường và sẽ không thực hiện hợp đồng nếu xảy ra trường hợp ngược lại
Trong hợp đồng quyền chọn, nếu là hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ thì người nắm giữ có thể thực hiện quyền vào bất cứ lúc nào kể từ khi mua hợp đồng cho đến hết ngày hết hạn Còn nếu là hợp đồng quyền chọn Châu Âu chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện quyền vào ngày hết hạn Hầu hết các quyền chọn được giao dịch trên các Sở giao dịch là quyền chọn Mỹ
Có nhiều cách để phân loại hợp đồng quyền chọn, nếu phân loại dựa vào tài sản
cơ, các loại hợp đồng quyền chọn thường gặp bao gồm hợp đồng quyền chọn mua bán cổ phiếu, hợp đồng quyền chọn mua bán ngoại tệ, hợp đồng quyền chọn mua bán chỉ số chứng khoán, hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai
- Hợp đồng quyền chọn mua bán cổ phiếu (Stock Options): Như tên gọi đã chỉ
ra, hợp đồng này cho phép người sở hữu có quyền, không phải nghĩa vụ, mua bán một loại cổ phiếu nhất định với một mức giá định trước trong một khoảng thời gian hoặc vào một thời điểm trong tương lai
Tại Mỹ, theo quy định, mỗi hợp đồng cho phép người sở hữu có quyền mua hoặc bán 100 cổ phiếu với mức giá xác định trước Việc quy định như vậy tạo thuận lợi cho việc giao dịch hợp đồng quyền chọn bởi vì bản thân các cổ phiếu làm tài sản cơ sở được giao dịch trên các Sở giao dịch chứng khoán cũng có đơn vị lô chẵn là 100 cổ phiếu
- Hợp đồng quyền chọn mua bán chỉ số chứng khoán (Index Options): Quyền chọn về chỉ số chứng khoán là quyền được chọn mua hoăc bán một khối lượng tài sản tương đương với một bội số của một chỉ số chứng khoán Ví dụ: 100*SP100 ở
Trang 2113
mức giá thực hiện nhất định, giả sử giá này là 280$, giá trị hợp đồng là 100*280$
= 2800$ Nếu tại thời điểm thực hiện quyền, giá trị của chỉ số là 292 thì người phát hành quyền phải trả cho người nắm giữ quyền (292-280)*100 = 1200$
- Hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai (Future Options)
Đối với hợp đồng quyền chọn hợp đồng tương lai, tài sản cơ sở là một hợp đồng tương lai Hiện nay hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai khá phổ biến đối với hầu hết các loại tài sản có hợp đồng tương lai Khi một người sở hữu một hợp đồng quyền chọn mua hợp đồng tương lai thực hiện quyền, người này sẽ
sở hữu một hợp đồng tương lai cộng với một khoản tiền mặt bằng với khoản chênh lệch giữa giá của hợp đồng tương lai và giá thực hiện của hợp đồng quyền chọn Khi một người sở hữu một hợp đồng quyền chọn bán hợp đồng tương lai thực hiện quyền, người này sẽ bán hợp đồng tương lai và thu về khoản chênh lệch giữa giá thực hiện hợp đồng quyền chọn và giá của hợp đồng tương lai Trong cả hai trường hợp, nếu hợp đồng tương lai có giá trị bằng không sẽ bị tất toán ngay lập tức Khi
đó thu nhập từ hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai tương tự như thu nhập từ hợp đồng quyền chọn mua bán cổ phiếu với giá cổ phiếu được thay bằng giá của hợp đồng tương lai Hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai được thực hiện nhiều nhất là hợp đồng quyền chọn mua bán tương lai trái phiếu kho bạc Các hợp đồng về ngô, đậu, dầu thô, gia súc sống, vàng, đô la Châu Âu và một số loại tiền cũng khá phổ biến
Ví dụ, một người đầu tư mua một hợp đồng quyền chọn mua hợp đồng tương lai có các yếu tố sau: Giá thực hiện của hợp đồng quyền chọn là 90$, giá của hợp đồng quyền chọn là 3$ Trong trường hợp giá của hợp đồng tương lai trên thị
trường là 100$, người đầu tư sẽ thực hiện quyền mua hợp đồng tương lai với giá 90$ Nếu ngay sau đó, người đầu tư bán lại hợp đồng tương lai này với giá 100$ thì
sẽ thu được 10$ trên mỗi hợp đồng, trừ chi phí mua hợp đồng quyền chọn là 3$, lợi nhuận trên mỗi hợp đồng là 7$ Nếu người này mua 100 hợp đồng thì tổng lợi nhuận sẽ là 700$
1.1.3.4 Hợp đồng hoán đổi
Khái niệm: Hợp đồng hoán đổi hay còn gọi là hợp đồng SWAP, là một
công cụ tài chính phái sinh trong đó hai bên đối tác trao đổi một dòng tiền (Cash flow) này lấy một dòng tiền khác của bên kia Những dòng tiền này gọi là các nhánh của swap (Legs), các dòng tiền được tính toán dựa trên một con số ước tính nhất định
Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi:
Trang 2214
- Hợp đồng hoán đổi thực chất là một chuỗi các hợp đồng kỳ hạn, thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng Nếu ngày đáo hạn rơi vào ngày nghỉ thì hai bên sẽ thỏa thuận lại một ngày đáo hạn thích hợp
- Hợp đồng hoán đổi không được chuẩn hóa và luôn được giao dịch trên thị trường phi tập trung
- Hợp đồng hoán đổi khác hợp đồng kỳ hạn là các bên có thể chấm dứt hợp đồng trước thời hạn bằng cách thỏa thuận song phương với bên đối tác để hủy hợp đồng, hoặc bằng cách chuyển nhượng nó cho bên thứ ba với điều kiện có sự đồng ý của phía đối tác
Các loại hợp đồng kỳ hạn:
Hợp đồng hoán đổi được thiết kế riêng theo nhu cầu của hai bên đối tác, chính
và vậy các điều kiện của hợp đồng mang tính cứng nhắc và thiếu linh hoạt Hợp
đồng gồm có hai loại cơ bản là hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ:
- Hợp đồng swap lãi suất: là một dạng khá phổ biến trong các công cụ tài chính
phái sinh Trong hợp đồng này, một bên sẽ hoán đổi một dòng lãi suất của mình
lấy dòng lãi suất của đối phương Dòng lãi suất là gì? Đó là tập hợp các khoản lãi
suất trong tương lai của một khoản đầu tư Đối với dòng lãi suất cố định thì thu nhập từ khoản đầu tư là đều nhau trong những khoảng thời gian tương đương, còn
dòng lãi suất biến đổi thì không
Swap lãi suất thường là hình thức hoán đổi giữa lãi suất "cố định - biến đổi",
nhưng cũng có khi là "biến động - biến động" Về mặt lý thuyết thì loại thứ ba "cố định - cố định" cũng có thể thực hiện được, nhưng do toàn bộ dòng lãi suất có thể xác định được ngay thời điểm kí hợp đồng swap nên chẳng có lý do gì mà hai bên
lại tiến hành hoán đổi cho nhau nếu các khoản đầu tư có chung đơn vị tiền tệ
Ví dụ: A có một khoản gửi ngân hàng bằng USD, lãi suất 5%/năm, B sở hữu
một số trái phiếu có giá trị tương đương, trái tức 7% Vậy nếu tiến hành swap thì đơn giản là A sẽ phải bù cho B 2%, và chẳng bên nào được lợi lộc gì Swap lãi suất
"cố định - biến động" thường được sử dụng khi các công ty muốn thay thế rủi ro trước biến động lãi suất của mình bằng một lãi suất ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản trị chiến lược, và khi đó công ty sẽ dễ dàng xác định các nhân
tố ảnh hưởng hơn Ở chiều swap ngược lại, bên tham gia muốn đổi lãi suất ổn định của mình lấy lãi suất biến động, mà theo kỳ vọng của anh ta là có lợi hơn Ngoài ra swap lãi suất còn giúp các bên giảm chi phí sử dụng vốn Nếu A và B hoạt động trong điều kiện giống nhau thì có vẻ như SWAP chỉ là một trò chơi có tổng bằng 0 (Zero sum game) khi mà lợi ích bên này lại là thiệt hại của bên kia Tuy nhiên, khi
A và B hoạt động trong những môi trường khác nhau, tiếp cận với những nguồn
lực khác nhau, thì vẫn có một khoảng nào đó khiến cả hai cùng có lợi
Trang 2315
- Hợp đồng hoán đổi tiền tệ: Là hoán đổi có liên quan đến việc trao đổi vốn gốc
và thanh toán lãi suất cố định trên khoản vay theo một loại tiền tệ này với vốn gốc
và thanh toán lãi suất cố định trên khoản vay tương đương theo một loại tiền tệ khác Điều kiện tiên quyết của một hợp đồng hoán đổi tiền tệ giữa lãi suất thả nổi với lãi suất cố định là cả hai bên đều có lợi thế tương đối mà phía bên kia quan tâm, cả hai phải có sự lành mạnh và tương đối ngang bằng về tài chính Chi phí
giao dịch cho loại hợp đồng này tương đối cao
1.1.3.5 Các loại chứng khoán phái sinh khác
Quyền mua cổ phần (Rights)
Quyền mua cổ phần (Quyền mua trước) là một loại chứng khoán phái sinh
được hình thành từ việc công ty phát hành muốn huy động thêm vốn bằng một đợt phát hành cổ phiếu mới Quyền mua cổ phần chỉ dành cho cổ đông hiện hữu của công ty, những người hiện đang nắm giữ cổ phiếu của công ty phát hành Quyền mua cổ phần cho phép những cổ đông hiện hữu được mua một số cổ phiếu nhất định, với một mức giá xác định, trong một khoảng thời gian nhất định trong đợt phát hành mới của công ty Quyền mua cổ phần cũng có thể được chuyển nhượng cho các cổ đông hay các nhà đầu tư khác Thông thường, quyền mua trước có thời hạn là ngắn (2-3 tuần) và việc phát hành thường được quy định trong vốn điều lệ Quyền mua cổ phần được phát hành nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư Quyền mua cổ phần giúp cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông cũ không bị giảm nếu thực hiện quyền đồng thời đảm bảo tài sản của chủ sở hữu chứng khoán (Những cổ đông)
Đó là do khi phát hành thêm cổ phiếu, cổ phiếu trên thị trường của công ty phát hành thường có xu hướng giảm giá Người nắm giữ quyền này có thể dùng để mua
cổ phiếu mới hoặc bán quyền trên thị trường chứng khoán
Nếu cổ đông giữ để thực hiện quyền thì nó được ưu đãi mua chứng khoán với
giá thấp hơn mức giá hiện hành của cổ phiếu vào thời điểm quyền được phát hành
Để tránh cho các cổ đông cũ khỏi thiệt thì họ được mua cổ phần mới theo giá lý thuyết bằng phần chênh lệch giữa thị giá cổ phiếu trước và sau khi tăng vốn Phần chênh lệch giữa giá sau khi tăng vốn với giá được mua theo chứng quyền sẽ bù lỗ cho nhà đầu tư phần giảm giá trị chứng khoán trước khi tăng vốn và sau khi tăng
vốn
Các cổ đông hiện hữu không nhất thiết phải thực hiện quyền này, họ có thể
đem bán và giá của quyền mua cổ phiếu sẽ bù đắp vào phần thiệt hại do giá chứng khoán mà họ nắm giữ bị giảm Như vậy, tổng tài sản của họ sẽ được bảo toàn Giá của quyền mua cổ phần khi đem bán sẽ phản ánh giá trị của quyền mua cổ phần, nó
có thể cao hơn và có thể thấp hơn nhưng giá của nó thường nằm trong khoảng chênh lệch giữa giá thị trường của cổ phiếu sau khi đã phát hành quyền mua cổ
Trang 2416
phiếu với giá mà người nắm quyền mua cổ phần được mua (Là mức giá xác định
ghi trên quyền mua cổ phần)
Như vậy, quyền mua trước cổ phiếu không chỉ có chức năng bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà nó còn có khả năng làm tăng vốn của công ty phát hành Các công ty phát hành rất quan tâm tới chức năng này của quyền mua trước và các công ty này thường nghiên cứu kỹ tác dụng của nó để vận dụng vào trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu nhằm tăng vốn cho công ty, tài trợ cho những dự án đầu
tư
Chứng quyền hay chứng khế (Warrants)
Trong các loại chứng khoán phái sinh, không chỉ có quyền mua cổ phần là do
công ty phát hành ra để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư họ mà còn có thể phát hành ra chứng khế Chứng khế hay còn gọi là bảo chứng phiếu (Cam kết bán ) là một loại chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi mà người sở hữu nó có quyền được mua một số loại chứng khoán nhất định và trong
một thời hạn nhất định
Chứng khế thường được phát hành trong trường hợp tổ chức lại công ty, hoặc
khi công ty phát hành nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có điều kiện kiếm thuận lợi Để bù đắp cho những rủi ro cao của của trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đó, nhà đầu tư kỳ vọng có thể được nhận thêm phần chênh lệch do sự lên giá có thể xảy ra đối với cổ phiếu thường Chứng khế là công cụ nhằm đảm bảo thành công cho đợt huy động vốn của công ty trong thời điểm khó khăn, giúp công ty vượt qua được giai đoạn khó khăn, tránh cho công ty khỏi bị thua lỗ nặng nề hơn thậm chí là thoát khỏi nguy cơ phá sản Đổi lại, công ty (Chủ sở hữu hiện tại hay những cổ đông hiện tại) phải chấp nhận thiệt thòi trong tương lai khi mà công ty phải bán cổ phiếu thường cho nhà đầu tư nắm giữ chứng khế với giá rẻ hơn giá thị thị trường tại thời điểm đó và phải chấp nhận chia sẻ quyền kiểm soát công ty Công ty phát hành quyết định phát hành chứng khế khi mà họ phân tích thiệt hơn của vấn đề, nó đảm bảo sao cho những cổ đông cũ có lợi nhất Chứng khế còn đảm bảo quyền lợi cho những nhà
đầu tư mới của công ty
Tuy nhiên, những người sở hữu chứng khế không có tư cách cổ đông trong
công ty, không được nhận cổ tức và không có quyền biểu quyết cho đến khi
chuyển chứng khế ra thành cổ phiếu thường Tại thời điểm phát hành chứng khế, giá mua cổ phiếu ghi trong chứng khế bao giờ cũng cao hơn giá thị trường cổ phiếu
cơ sở, và giá đó có thể cố định có thể được tăng lên định kỳ, nhằm đảm bảo rằng quyền đó không được thực hiện ngay tránh gây khó khăn cho công ty Khác với quyền mua cổ phần, thời hạn chứng khế thường dài hơn rất nhiều thông thường là
từ 2 năm, 3 năm, 10 năm, 20 năm và có thể là vĩnh viễn Các chứng khế này sau
Trang 2517
một thời gian có thể tách ra khỏi chứng khoán cơ sở và được giao dịch riêng biệt
trên thị trường Giá của chứng khế tuỳ thuộc vào giá trị của chứng khế và cung cầu
trên thị trường
Giá trị của chứng khế = Giá trị nội tại + Giá trị thời gian
+ Giá trị nội tại = (Giá cổ phần – Giá thực hiện) x Số cổ phần được mua của chứng khế
+ Giá trị thời gian cũng có tác động tỷ lệ thuận tới giá trị của chứng khế và thời
gian càng dài, cơ hội cổ phiếu lên giá càng cao, nhà đầu cơ hy vọng tại thời điểm
trong tương lai họ sẽ mua được cổ phiếu với giá rẻ hơn giá thị trường tại thời điểm
đó Giá trị thời gian còn phụ thuộc vào sự đánh giá khả năng phát triển của công ty
phát hành Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như cổ tức mà công
ty trả cho cổ đông, các mức lãi suất trên thị trường và các điều kiện thị trường nói
chung Thông thường, các mức giá chứng khế sẽ có xu hướng tăng trong thị trường
lên và giảm trong thị trường xuống
Như đã trình bày ở trên, chứng khế có chức năng bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu
tư mua cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu của công ty Rủi ro của các chứng khoán đó
được bù đắp bởi thu nhập từ việc thực hiện chứng khế hoặc từ việc bán nó
Các chứng khế và quyền mua cổ phần sau khi tách khỏi chứng khoán gốc thì
nó có nhiều đặc tính giống như hợp đồng quyền chọn mua kiểu Mỹ, đó là được
mua chứng khoán với mức giá xác định và khối lượng nhất định tại một thời điểm
xác định trong tương lai Nhưng quyền mua cổ phần lại có thời hạn ngắn nên khả
năng giá chứng khoán tăng lại rất ít khi xảy ra , còn với chứng khế thì khả năng
này là cao hơn do thời hạn dài hơn dự công ty này có khả năng tăng trưởng không
cao Như vậy nhà đầu tư sẽ mua chứng khoán phái sinh này khi họ nhận định là giá
chứng khoán thời điểm tương lai sẽ cao hơn giá chứng khoán trong chứng khế
cộng với giá mua chứng khế Như vậy ngoài chức năng phòng ngừa hạn chế rủi ro,
nó còn có thêm chức năng để đầu cơ, nhưng chức năng bảo vệ nhà đầu tư vẫn là
chức năng chủ yếu
1.1.4 Vai trò của chứng khoán phái sinh
1.1.4.1 Quản lý rủi ro
Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi ro
của mình bằng cách chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó
là những nhà đầu cơ Và vậy, thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối
lại rủi ro giữa các nhà đầu tư, không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro
không phù hợp với bản thân mình Và cũng và thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều
vốn hơn cho thị trường tài chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển,
phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn Bên cạnh đó, thị
Trang 2618
trường các sản phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ Bởi người muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập hoàn toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi
mà một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi những thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được Và thế là họ gặp nhau và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác.Những nhà đầu cơ không phải là những tay cờ bạc Chỉ đơn giản là thay và giao dịch cổ phiếu, họ giao dịch các sản phẩm phái sinh và chính việcđầu tư vào công cụ tài chính phái sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn Bởi cần khẳng định chắc chắn rằng, thị trường phái sinh không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có cuả thị trường tài chính, chuyển những khoản rủi ro đó từ những người không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn sàng tiếp nhận nó, chính là những nhà đầu cơ Không có thêm bất kỳ một rủi ro nào được sinh ra trên thị trường này Và lợi ích từ thị trường không chỉ
bó hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà nó lan toả ra toàn xã hội
Công cụ bảo hiểm cho nhà đầu tư
Theo một số chuyên gia, thị trường chứng khoán phái sinh sẽ là một trong những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay Qua những kinh nghiệm và thực tiễn các nước trên thế giới, HOSE đó khẳng định rằng việc phổ biến kiến thức cho nhà đầu tư về thị trường chứng khoán phái sinh là rất cần thiết bởi tính chất phức tạp của thị trường này Nhận thức rõ về những lợi ích đi kèm theo những rủi ro có thể xảy ra là điều quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư về thị trường chứng khoán phái sinh Nhưng để có thể làm được điều này vai trò của các công ty chứng khoán, tổ chức tài chính là rất quan trọng và cần thiết trong việc tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận được với cả lý thuyết và thực tế Trên thực tế các hợp đồng mua bán tương lai, kỳ hạn và quyền chọn không quá
xa lạ với nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt trong các giao
dịch về gạo, cà phê, vàng…các hợp đồng này được sử dụng khá phổ biến Như
Huỳnh Anh Tuấn - Tổng giám đốc công ty chứng khoán SJC cho rằng các hợp
đồng mua bán tương lai, quyền chọn nếu được thực hiện sẽ giúp nhà đầu tư giảm thiểu được rủi ro trong thời điểm hiện nay Mặc khác, nhà đầu tư cũng chưa cần nguồn vốn lớn để thực hiện mà chỉ cần một khoản phí nhỏ cũng như ký quỹ nhỏ hơn trị giá hợp đồng Luật chứng khoán Việt Nam cũng có những quy định về các hình thức giao dịch trên Tuy nhiên để giao dịch diễn ra được trong thực tiễn thì
Trang 2719
điều quan trọng là phải thành lập được một sàn giao dịch cùng với trung tâm lưu
ký
Công cụ phòng ngừa rủi ro của ngân hàng hay doanh nghiệp
- Phòng ngừa rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối
Rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối là những rủi ro thường thấy trong hoạt động
của ngân hàng Hai loại rủi ro này có thể làm tăng chi phí vay nợ của ngân hàng (Trong trường hợp lãi suất tăng hoặc tỉ giá tăng) hoặc có thể làm giảm kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng (Trong trường hợp lãi suất hoặc tỉ giá giảm) Các công cụ phái sinh là những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa hai loại rủi ro trên Mặt khác, công cụ phái sinh có thể cho ngân hàng xác định được trước và chính xác chi phí vay nợ, từ đó có thể xác định được trước kết quả kinh doanh để lên kế
hoạch cho phù hợp
Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, mà chủ yếu là rủi ro kỳ hạn bất cân xứng hay rủi
ro định giá lại tài sản, ngân hàng có thể áp dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi Trong đó, phổ biến nhất là thỏa thuận kì hạn lãi suất (FRA_forward rate agreement) và hợp đồng hoán đổi lãi suất
(IRS _ interest rate swap) Thỏa thuận kỳ hạn lãi suất (FRA) là một hợp đồng kỳ
hạn mà theo đó các bên tham gia đồng ý thanh toán cho nhau bằng tiền mặt khoản chênh lệch lãi suất (Không có giao nhận khoản tiền gốc) của một khoản vay ngắn
hạn Hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS) là một thỏa thuận giữa hai bên, theo đó hai
bên sẽ thực hiện trao đổi các dòng tiền lãi cho nhau Thông thường một bên sẽ nhận lãi suất cố định và bên còn lại sẽ nhận lãi suất thả nổi tại những ngày xác định trước, gọi là những ngày giá trị giao dịch, dựa trên khung thời gian và khoản tiền danh nghĩa đó được xác định trước Hai loại hình hợp đồng phái sinh này có cách
sử dụng tương đối giống nhau, tuy nhiên FRA dùng trong ngắn hạn, còn IRS được dùng trong thời hạn dài Có thể nhận thấy, ở cả hai loại hình này, ngân hàng có thể phòng ngừa được rủi ro khi lãi suất lên đồng thời không phải chuyển giao tài sản gốc cho nhau Từ đó, tiết kiệm chi phí giao dịch và có thể tận dụng số tiền đó để quay vòng vốn Các ngân hàng thường kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh với nhau để phòng ngừa được rủi ro tỉ giá bất lợi cho mình và kiếm lời từ chênh lệch tỉ giá Hơn nữa, các công cụ phái sinh còn đảm bảo số lượng ngoại tệ bất thường cho ngân hàng, giúp ngân hàng giữ vững tính thanh khoản của mình Ngân hàng có thể
sử dụng các công cụ phái sinh như quyền chọn, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi tiền tệ
để tự phòng ngừa rủi ro tỉ giá Nhìn chung, các công cụ phái sinh mang lại cho ngân hàng nhiều sự lựa chọn hơn trong việc phòng ngừa rủi ro Nếu có thể kết hợp
sử dụng các hợp đồng phái sinh, ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỉ
giá tại một mức chi phí hợp lí
- Phòng ngừa rủi ro tín dụng
Trang 2820
Một trong những rủi ro mà ngân hàng phải quan tâm nhất đó là rủi ro tín dụng
Bất kì một khoản tín dụng nào khi được cấp, người cho vay đều hy vọng thu được một khoản lợi nhuận nhất định từ khoản tín dụng đó Tuy nhiên rủi ro hoàn toàn có thể xảy ra khi khoản tín dụng đó bị lỗ một phần hoặc hoàn toàn Để phòng ngừa rủi
ro này, ngân hàng có thể sử dụng hợp đồng phái sinh tín dụng được mua bán trên
thị trường phi tập trung
Công cụ phái sinh tín dụng là thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả các hợp
đồng quyền chọn và hoán đổi khác nhau nhằm chuyển giao rủi ro tín dụng của các khoản vay hoặc tài sản có khác từ một bên là người mua sự an toàn sang một bên
là người bán sự an toàn Người bán sự an toàn sẽ nhận được một khoản phí hoặc nhận được một khoản thu nhập theo lãi của khoản tín dụng và cam kết sẽ thanh toán cho người mua sự an toàn tùy theo độ tín nhiệm của một hoặc một số tài sản
tham chiếu
Hai công cụ được sử dụng nhiều để phòng ngừa rủi ro tín dụng là hoán đổi nợ
tín dụng và quyền tín dụng Trong đó, hoán đổi và nợ tín dụng là công cụ hoán đổi
mà trong đó một bên nhận được phí vào các khoảng thời gian được định trước cho việc cam kết thanh toán một khoản cụ thể nếu xảy ra sự kiện tín dụng bất lợi,
chẳng hạn như thứ hạng tín dụng của khách hàng vay vốn bị suy giảm Như vậy, mặc dù phải trả một khoản phí định kì nhưng ngân hàng lại có sự bảo đảm về chất lượng khách hàng của mình, hạn chế một phần rủi ro tín dụng, là một sự đảm bảo cho một giao dịch lớn hơn Mặt khác, ngân hàng cũng dễ dàng tính được chi phí
kinh doanh trong kỳ và sự cố định của hợp đồng dạng này Hợp đồng quyền tín
dụng là một công cụ bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong giá trị tài sản tín dụng, giúp bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của ngân
hàng giảm sút
1.1.4.2 Đầu tư kiếm lợi nhuận
Các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn… ngoài khả năng phòng chống rủi ro thì chúng còn có thể tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư Trong khi người rào chắn rủi ro muốn tránh những biến động giá của tài sản cơ sở thì ngược lại, với ý muốn đầu tư thì nhà đầu cơ lại mong muốn tham gia vào các vị
thế giao dịch trên thị trường, cho dù giá tài sản cơ sở sẽ tăng hay giảm
Đầu cơ bằng các công cụ phái sinh là tham gia vào một vị thế trong hợp đồng
phái sinh nhằm hưởng lợi trên sự biến đổi của tài sản cơ sở Các công cụ phái sinh nhằm phục vụ cho mục đích đầu cơ chủ yếu là hợp đồng tương lai và hợp đồng
quyền chọn
Đối với một đầu tư cụ thể, việc sử dụng quyền chọn sẽ nhân lên rất nhiều kết quả tài chính Kết quả tốt sẽ rất tốt và kết quả xấu sẽ trở nên rất xấu Những hợp
Trang 2921
đồng kỳ hạn và quyền chọn là những công cụ tương tự như nhau đối với những người đầu cơ trong trường hợp cả hai đều có thể cho những kết quả mang tính đòn bẩy Tuy nhiên, có một điểm khác nhau quan trọng giữa hai hình thức Với hợp đồng kỳ hạn, khoản lỗ tiềm năng của người đầu cơ cũng như khoản lãi tiềm năng rất lớn Còn đối với “vị thế trường” trong hợp đồng quyền chọn, người đầu cơ chỉ
mất tối đa là khoản chi phí để mua quyền (Giới hạn khoản lỗ)
Bên cạnh việc tham gia trực tiếp vào các vị thế của công cụ phái sinh để kiếm
lợi nhuận, nhà đầu tư có thể kiếm lời bằng việc kinh doanh chênh lệch giá Kinh doanh chênh lệch giá là việc kiếm lời khi đồng thời tham gia vào hai giao dịch tại hai hay cùng một thị trường Giao dịch chênh lệch giá đơn giản chỉ là đồng thời mua một hợp đồng và bán một hợp đồng khác để hưởng lợi nhuận do có sự chênh lệch giá Trong cùng một thị trường, nếu chênh lệch giữa giá một hợp đồng tương lai đến hạn và giá giao ngay của cùng một loại hàng hoá là đáng kể (Cao hơn chi phí), một nhà đầu tư có thể dễ dàng kiếm tiền bằng việc đồng thời mua và bán hai hợp đồng này Ví dụ, nếu giá hợp đồng cổ phiếu A đến hạn cao hơn 10$ so với giá giao ngay, nhà đầu cơ đơn giản bán cổ phiếu A trên thị trường hợp đồng tương lai, mua cổ phiếu A trên thị trường giao ngay, chuyển số cổ phiếu A mua trên thị
trường giao ngay sang thanh toán cho hợp đồng tương lai Kết quả là kiếm được một khoản lợi nhuận không rủi ro là 10$/ 1 cổ phiếu, trừ đi hoa hồng và phí giao dịch Giống như vậy, nếu giá hợp đồng tương lai thấp hơn 10$, một nhà đầu cơ có thể mua trên thị trường hợp đồng tương lai, tiến hành giao hàng, và rồi bán lại trên
thị trường giao ngay để kiếm lợi nhuận là 10$/ 1 cổ phiếu
Cũng như vậy, trong một thị trường thông thường, giá của hợp đồng tương lai
tháng càng xa luôn cao hơn giá của hợp đồng tháng gần ngày thoả thuận hơn, gọi
là khoản giá phụ trội, thể hiện khoản phí lưu giữ hàng trong kho – như phí lưu kho, lãi suất đối với khoản vốn đầu tư vào hàng hoá và khoản bảo hiểm lỗ Tuy nhiên, thỉnh thoảng thị trường bị biến động ngược chiều, giá của hợp đồng tháng kế tiếp thấp hơn giá hợp đồng tháng trước đó Điều này thường là hậu quả của sức ép mua trên thị trường giao ngay, làm cho giá tăng lên và khuyến khích những người nắm giữ hàng hoá trong kho bán ra hơn là tiếp tục giữ chúng Tình huống này được gọi
là “Ép bán” (Short squeeze) và có thể do hậu quả thiếu hàng tạm thời của thị
trường, hoặc có thể do một vài cá nhân hoặc một nhóm các nhà đầu tư thao túng mua vét hết hàng ở thị trường bằng việc mua hết hàng từ các nguồn cung cấp hàng, nhằm làm cho giá tăng lên một cách giả tạo và tạo sức ép lên những người phải mua hàng hoá Những tình huống này trên thị trường có thể cung cấp cơ hội cho
các nhà đầu tư tinh khôn kiếm được lợi nhuận với rủi ro thấp
1.2 Thị trường chứng khoán phái sinh
Trang 30mà đến ngày nay nó vẫn còn nguyên giá trị Đến năm 1848, Sở giao dịch hợp đồng tương lai có tổ chức và hiện đại nhất thế giới được thành lập ở phía bắc nước Mỹ,
đó là CBT (Chicago Board of Trade), tuy nhiên, Sở chủ yếu vẫn giao dịch các hợp đồng tương lai về các sản phẩm nông nghiệp như lúa mỳ, lúa mạch Sau CBT, một vài Sở giao dịch chứng khoán phái sinh khác cũng được thành lập tại Mỹ bao gồm: Chicago Mercantile Exchange và sau đó là NewYork Mercantile Exchange, Chicago Board Options Exchange Nhưng phải đến đầu những năm 70 của thế kỷ trước, thị trường chứng khoán phái sinh tài chính mới chính thức được mở ra và nó phát triển mạnh mẽ đến ngày nay Mặc dù vậy, thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch các hàng hoá là dầu mỏ và kim loại vẫn tiếp tục phát triển, nhưng ngày nay thị trường chứng khoán phái sinh tài chính đang ngày càng chiếm vị trí thống trị và phát triển rầm rộ Sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh tài chính của những năm đầu thế kỷ 20 đang là minh chứng xác thực cho điều đó Trải qua một chặng đường phát triển dài của thị trường chứng khoán phái sinh tài chính, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, thị trường chứng khoán phái sinh tài chính ngày nay đang áp dụng những thiết bị khoa học công nghệ hiện đại Nếu như trước kia việc giao dịch trên thị trường chính thức phải được thực hiện bằng phương thức bên bán và bên mua gặp nhau trực tiếp và diễn ra tại sàn thì ngày nay
đó được bổ sung thêm các hình thức khác như giao dịch bằng hệ thống giao dịch
Trang 3123
điện tử, điện thoại và internet Thế giới những năm đầu của thế kỷ 21, thị trường chứng khoán phái sinh được phát triển mạnh mẽ đầu tiên là ở London (Anh) và New York (Mỹ) Một số thị trường chứng khoán phái sinh điển hình như: Tokyo
(Nhật), Paris (Pháp), Frankfurt (Đức), Chicago (Mỹ), Amsterdam
Nếu xét đến quy mô của thị trường ngày nay thì thị trường giao dịch hợp đồng quyền chọn và tương lai của Mỹ chiếm gần 35% thị phần trên thế giới Tuy nhiên,
Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc mới được coi là Sở có quy mô giao dịch chứng khoán phái sinh lớn nhất thế giới, thứ 2 thế giới là Sở Eurex (Gồm Đức và Thụy Sỹ), tiếp đến là Sở giao dịch Chicago, London, Paris
Hiểu được lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh, vậy chúng ta hiểu như thế nào là thị trường chứng khoán phái sinh?
Thị trường chứng khoán phái sinh là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán phái sinh, nhưng thị trường chứng khoán phái sinh có đặc biệt hơn là ở chỗ khi ta xét về bản chất thì thị trường chứng khoán phái sinh không phải là nơi trao đổi, mua bán, nơi mà các khoản vốn được luân chuyển, phân bổ như thị trường cổ phiếu hay trái phiếu mà thị trường chứng khoán phái sinh được hiểu như là nơi mà người ta sử dụng để phòng ngừa các rủi ro trong mua bán trao đổi và kèm theo đó
là phí và lợi nhuận lớn thu được Các bên tham gia giao dịch nhiều khi họ sử dụng các công cụ phái sinh không phải với mục tiêu là lợi nhuận mà mục tiêu chính của
họ là để tránh sự biến động giá của chứng khoán cơ sở Hay nói cách khác, thị trường chứng khoán phái sinh là nơi tiến hành các hoạt động quản lý rủi ro hay tìm kiếm lợi nhuận Nói đến thị trường chứng khoán phái sinh, chúng ta không thể không biết đến các thuật ngữ như chứng khoán cơ sở (Underlyings), hợp đồng (Contracts), sản phẩm…
Trang 3224
Khác với thị trường chứng khoán vốn (Cổ phiếu) hay chứng khoán nợ (Trái phiếu), ở thị trường chứng khoán phái sinh, các chứng khoán giao dịch là các công
cụ phái sinh hay còn gọi là "chứng khoán điều kiện", chúng không xác nhận quyền
sở hữu hay quyền chủ nợ đối với tổ chức phát hành, mà chúng xác nhận các quyền
và nghĩa vụ của các bên cam kết Các công cụ phái sinh được sử dụng phổ biến như: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai về cổ phiếu, hợp đồng tương lai về lãi suất, hợp đồng hoán đổi, sản phẩm tổng hợp (Synthetic product - như quyền chọn đối với hợp đồng tương lai lãi suất, quyền chọn đối với hợp đồng hoán đổi )
Thị trường chứng khoán phái sinh cũng có thể được hiểu như là một nơi mà ở
đó các chứng khoán gốc hay còn được gọi là chứng khoán cơ sở được "bảo hiểm" thông qua các công cụ được gọi là công cụ phái sinh Với chức năng kinh tế đó, thị trường chứng khoán phái sinh giúp hoán chuyển các rủi ro từ bên có chứng khoán nhưng không muốn hay nói cách khác họ sợ rủi ro, sợ những biến động của thị trường có thể xảy ra mà gây bất lợi cho họ, sang bên khác bên mà họ sẵn sàng chấp nhận những rủi ro, và tất nhiên đi kèm đó là phí và lợi nhuận kỳ vọng cao Với ý nghĩa này thị trường chứng khoán phái sinh gần giống như một ngành công nghiệp bảo hiểm Ví dụ, một hợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu giống như một hợp đồng bảo hiểm giúp cho người mua tránh khỏi sự sụt giá cổ phiếu Và cũng giống như ngành bảo hiểm, thì sau giao dịch cả bên mua bảo hiểm và cả bên bán bảo hiểm đều có được kết quả tốt đẹp như ý muốn ban đầu của mình Tuy nhiên, người ta thường không thay thế chức năng bảo hiểm này của thị trường chứng khoán phái sinh để gọi là ngành bảo hiểm, mà người ta gọi đó là phòng ngừa rủi ro (Hedging) Thị trường chứng khoán phái sinh được chia thành hai dạng: Thị trường chứng khoán phái sinh OTC và thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tập trung (Hay
Trang 33Người muốn phòng ngừa rủi ro (Hedgers): Như đó trình bày ở phần trên, bản
chất của thị trường chứng khoán phái sinh là nơi để "đóng gói" rủi ro, chuyển rủi
ro từ bên có thể sẽ gặp rủi ro, gặp bất lợi, muốn phòng ngừa rủi ro sang bên mà họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để họ được hưởng phí và lợi nhuận kỳ vọng lớn Chúng
ta đó xem xét ví dụ về một công ty tham gia mua bán chứng khoán, với nguồn vay tín dụng của ngân hàng chiếm tỷ lệ cao, họ muốn phòng ngừa rủi ro về tỷ lệ lãi suất
có thể tăng cao gây bất lợi cho tình hình kinh doanh của họ bằng cách ký kết hợp đồng tương lai lãi suất trên Sở giao dịch chứng khoán phái sinh, và họ được gọi là những người muốn phòng ngừa rủi ro
Người kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrager): Kinh doanh chênh lệch giá là
việc kiếm lời khi đồng thời tham gia vào hai giao dịch tại hai hoặc cùng một thị trường Giao dịch chênh lệch giá chỉ đơn giản là đồng thời mua 1 hợp đồng và bán một hợp đồng khác để hưởng lợi nhuận do có sự chênh lệch giá Thông thường có
ba kiểu chênh lệch giá:
- Chênh lệch giá trong cùng một thị trường, nơi vị thế được tiến hành trên hai hợp đồng ở các tháng khác nhau của cùng một loại hàng hoá
- Chênh lệch giá giữa các hàng hoá khác nhau: đây là kiểu chênh lệch giá giữa mua một hợp đồng hàng hoá loại này và bán một hợp đồng hàng hoá loại khác
Trang 3426
- Chênh lệch có thể tồn tại giữa khi một loại hàng hoá được giao dịch trên những Sở Giao dịch khác nhau
Người đầu cơ (Speculators): Trong khi người muốn phòng ngừa rủi ro sử dụng
các công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán phái sinh thì các nhà đầu cơ lại muốn tham gia vào các vị thế trên thị trường với kỳ vọng sẽ kiếm được lợi nhuận cao trên thị trường, cho dù tài sản gốc là tăng hay giảm
1.2.2 Hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh
Thị trường chứng khóan phái sinh được hiểu như là sân chơi cho các nhà đầu
tư chuyên nghiệp và các nhà tạo lập thị trường Thực tế cho thấy, ở tất cả các nước khi mà thị trường chứng khoán phát triển đạt đến tầm nhất định thì thị trường chứng khoán phái sinh mới được ra đời và chính thức đi vào hoạt động, lý do là bởi tính chuyên nghiệp và mức độ phức tạp của thị trường Ở bất kỳ thị trường nào,
dù là thị trường vàng, bất động sản, đô la hay chứng khoán cũng luôn tồn tại dưới hai hình thức: đó là thị trường chính thức (Hay còn gọi là thị trường giao dịch tập trung, thị trường giao dịch tại Sở) và thị trường không chính thức (Hay còn gọi là thị trường OTC), và thị trường chứng khoán phái sinh cũng vậy Để tìm hiểu rõ hơn về hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh, chúng ta cùng đi tìm hiểu
về sự khác biệt về phương thức giao dịch, thành viên giao dịch, công cụ phái sinh,
các nhà tạo lập thị trường
Về phương thức giao dịch: Thị trường chứng khoán phái sinh OTC là thị
trường mà ở đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau, trao đổi và mua bán, nghĩa là các bên tham gia giao dịch không cần đến Sở hay phải thông qua bất kỳ một trung gian nào Bên mua và bên bán tự tìm đến nhau, tự do trao đổi, thỏa thuận
và đi đến quyết định mua bán cuối cùng Nhìn chung, các bên mua bán tự thỏa thuận và ký kết hợp đồng, không có điều khoản bắt buộc phải ký quỹ Tuy nhiên,
Trang 3527
ngày nay, các hoạt động giao dịch của thị trường chứng khoán phái sinh OTC ở một số quốc gia cũng không hoàn toàn mang tính chất nguyên thủy là “chợ đen”, nghĩa là cũng chịu sự quản lý của cơ quan của Nhà nước nhằm mục tiêu là giảm thiểu các rủi ro trong giao dịch, giúp thị trường trở nên minh bạch và công bằng hơn Cơ quan này tham gia thực hiện công tác thanh toán bù trừ (Ví dụ như thị trường chứng khoán phái sinh OTC của Singapore), hay tham gia điều hành quản
lý hệ thống quản lý ký quỹ của Trung tâm Lưu ký (Ví dụ như thị trường chứng
khoán phái sinh OTC của Hàn quốc)
Còn thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại Sở là thị trường mà các hoạt động mua bán công cụ phái sinh đều thông qua Sở Giao dịch (Trực tiếp đến Sở hoặc thông qua giao dịch trực tuyến) Sở đóng vai trò như là một tổ chức trung gian trong tất cả các hoạt động mua bán, yêu cầu 2 bên mua bán trước khi tiến hành hoạt động mua bán phải ký quỹ tại Sở như một điều kiện bảo đảm giữa 2 bên
Ở thị trường này, ký quỹ là một quy định bắt buộc đối với các bên sau khi hợp đồng được ký kết Cơ chế ký quỹ được duy trì ở hai mức, đó là mức ký quỹ ban đầu và mức ký quỹ duy trì Mức ký quỹ ban đầu là mức ký quỹ được quy định bắt buộc các bên phải thực hiện ký quỹ, tùy thuộc vào giá trị hợp đồng ký kết mà Sở yêu cầu mức ký quỹ ban đầu các bên phải thực hiện là bao nhiêu Mức ký quỹ duy trì là mức ký quỹ tối thiểu mà các bên cần phải có trước những biến động của giá trên thị trường Nếu giá thị trường biến động bất lợi cho bên mua hay bên bán, mà sau khi thực hiện bù trừ, mức ký quỹ của họ bị giảm xuống thấp hơn mức ký quỹ duy trì, thì lập tức Sở sẽ yêu cầu họ phải thực hiện lệnh ký quỹ bổ sung Cũng cần lưu ý là ký quỹ ở đây có thể là tiền, hoặc cũng có thể là các chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung, tuỳ thuộc vào quy định pháp luật của mỗi quốc gia
Trang 3628
Về hàng hóa giao dịch: Ở thị trường chứng khoán phái sinh không chính thức,
các công cụ phái sinh thường được sử dụng như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng cam kết về tỷ lệ lãi suất kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn Các điều khoản ghi trong hợp đồng không phải tuân thủ theo chuẩn mực nào cả và cũng không bị chi phối hay giám sát của điều luật nào khác, mà ngược lại rất linh hoạt, dựa vào nhu cầu cà thỏa thuận của chính người tham gia ký kết hợp đồng Đây là điểm khác biệt cơ bản so với thị trường chứng khoán tập trung Thị trường chứng khoán phái sinh không chính thức ngày nay đang ngày càng phát triển lớn mạnh
Còn ở thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại Sở, công cụ phái sinh được giao dịch phổ biến trên thị trường là hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai Hợp đồng giao dịch tại Sở với các điều khoản ghi trong đó được chuẩn hóa về chất lượng, về thời gian, địa điểm, phương thức, quy mô hợp đồng… và chịu sự chi phối của các quy định tại Sở, hệ thống pháp luật
Về thành viên giao dịch: Ở thị trường chứng khoán phái sinh OTC các thành
viên giao dịch chính là những nhà đầu tư trực tiếp tham gia thực hiện giao dịch, họ không phải qua bất kỳ trung gian nào Còn ở thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại Sở thì lại khác, thành viên giao dịch trên thị trường thường gồm có hai loại chính: Thứ nhất, là thành viên giao dịch với tư cách là chính chủ (Là các nhà tạo lập thị trường và tự doanh) Thứ hai là thành viên giao dịch với tư cách là đại diện cho khách hàng (Cá nhân hoặc các định chế trong và ngoài nước) Ở thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại Sở, các nhà tạo lập thị trường đóng vai trò rất quan trọng, gần như đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của thị trường Các nhà tạo lập thị trường có thể là cá nhân hoặc tổ chức thực hiện đăng ký với Sở tham gia thị trường với tư cách là nhà tạo lập thị trường Và với tư
Trang 371.2.3 Điều kiện xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh
1.2.3.1 Điều kiện về môi trường kinh tế, thị trường tài chính và hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật
Trang 3830
thanh toán và giao dịch hoàn toàn thủ công, mất nhiều thời gian thực hiện như vậy nên đó phát sinh rất nhiều rủi ro như rủi ro về thanh toán, rủi ro về mất mát, rủi ro đối tác…
Trải qua quá trình phát triển đầy thăng trầm, Thị trường chứng khoán phái sinh không còn mang tính tự phát và tự do như trước nữa, nó đó trở thành một thể chế tài chính bậc cao được tổ chức hết sức chặt chẽ Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế đã dẫn đến yêu cầu về một mô hình thị trường chứng khoán phái sinh hiện đại có khả năng xử lý an toàn một khối lượng giao dịch khổng lồ trong khi vẫn đảm bảo được thời gian thanh toán nhanh chóng Để tổ chức một thị trường chứng khoán phái sinh như vậy đòi hỏi phải có một hệ thống luật pháp đồng bộ, phù hợp
và cần thiết để đảm bảo các mục tiêu cơ bản sau:
- Bảo vệ người đầu tư: Về mặt nguyên tắc, việc điều hành và giám sát thị
trường chứng khoán phải đảm bảo bảo vệ cho tất cả hệ thống thị trường, bảo vệ mọi đối tượng tham gia thị trường, từ người phát hành, người kinh doanh trung gian, người cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và người đầu tư… Nhưng người đầu tư là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong số các đối tượng tham gia thị trường, họ là một bộ phận quan trọng nhất và cũng nhạy cảm nhất của thị trường, dễ bị xâm phạm lợi ích nhất, dễ bị thiệt hại nhất và cần phải được chú trọng bảo vệ hàng đầu Chính và vậy, tất cả các nước đều đặt mục tiêu bảo vệ người đầu tư lên hàng đầu Các nhà đầu tư cần phải được bảo vệ không bị xâm phạm bởi các hoạt động gian lận, lừa đảo, thao túng giá, nội gián, tung tin đồn sai sự thật, phong tỏa thông tin, thiếu trung thực, công bằng… Yêu cầu công bố thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời và công bằng là một trong những yếu tố quan trọng để bảo vệ người đầu tư trên thị trường
Trang 3931
- Đảm bảo thị trường công bằng, ổn định và hiệu quả: Tính ổn định của thị
trường được đảm bảo trên cơ sở đảm bảo tính tin cậy, công bằng, công khai và hiệu quả của thị trường Với mục tiêu “ổn định” thị trường, nhà nước phải tạo một thị trường có kỷ luật, trật tự, an toàn, không đổ bể, ít rủi ro thì nhà nước cần phải xác định cho phép những đối tượng nào được tham gia thị trường, tiêu chuẩn tham gia thị trường, xác định được phải quản lý cái gì và giám sát cái gì để đảm bảo sự
an toàn, ngăn chặn những hành vi lạm dụng, phá hoại thị trường, khuyến khích các thành viên tham gia thị trường phải có thái độ xây dựng thị trường
- Đảm bảo sự phát triển của thị trường: Tạo môi trường, điều kiện để thị
trường phát triển toàn diện, có thể cạnh tranh, thích ứng với mọi thay đổi thực tiễn Với chức năng “Phát triển”, nhà nước phải tạo động lực thúc đẩy thị trường, các đối tượng tham gia thị trường Nếu vai trò “Duy trì ổn định” tập trung vào việc giám sát thị trường, thì vai trò “Phát triển” cần tập trung vào việc phát triển hàng hóa, các loại hình công cụ cho thị trường, phương tiện thị trường, chất lượng dịch
vụ thị trường…
- Giảm rủi ro hệ thống: Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài
chính, là nơi giao lưu các nguồn vốn của toàn xã hội, gắn bó hữu cơ trong sự phát triển đồng bộ của hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia và các lĩnh vực khác trong xã hội Chính và vậy, rủi ro của nó ảnh hưởng, tác động đến toàn hệ thống tài chính tiền tệ và kinh tế - xã hội Có thể chỉ cần tác động tâm lý tiêu cực của một vài người đầu tư sẽ dẫn đến sụt giá chứng khoán không cứu vãn nổi, hoặc ngược lại, dẫn đến nhiều hệ quả xấu Có thể chỉ do một công ty chứng khoán gặp rủi ro thanh toán sẽ dẫn đến ảnh hưởng hàng loạt và lây lan toàn bộ thị trường Hơn nữa, thị trường chứng khoán là một hệ thống mở, có mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp đến toàn bộ hệ thống thị trường tài chính và nền kinh tế - xã hội nói chung, thậm chí mang tính toàn cầu, có thể coi nó
Trang 40Môi trường kinh tế và sự phát triển của hệ thống thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán phái sinh là một bộ phận quan trọng, không thể thiếu của một nền kinh tế phát triển, là một thị trường tài chính bậc cao trong hệ thống thị trường tài chính Một nền kinh tế “khỏe” hay “yếu” đều ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán nói chung và thị trường chứng khoán phái sinh nói riêng Kinh nghiệm các nước cho thấy, thị trường chứng khoán phái sinh ra đời, hình thành và phát triển khi và chỉ khi mà nền kinh tế, thị trường tài chính của quốc gia
đó có bề dầy phát triển và đã đạt đến trình độ phát triển nhất định Bởi sự phức tạp cũng như những đòi hỏi ở trình độ cao trong cấu trúc của thị trường, bao gồm một
hệ thống luật pháp đầy đủ và đồng bộ, cơ sở hạ tầng với những phần mềm, hệ thống thiết bị tối tân, hiện đại, với các nhà tạo lập thị trường đủ tiềm năng, năng lực cũng như kinh nghiệm
Khi nói đến môi trường kinh tế của một quốc gia nào đó là người ta đề cập đến tình hình thu nhập quốc dân của quốc gia đó, hay tốc độ tăng trưởng kinh tế, chu
kỳ tăng trưởng kinh tế, tình hình lạm phát, việc làm, vai trò của Chính phủ trong