Đồng thời, thông qua hoạt động giám sát, sẽ góp phần nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc xây dựng, tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhâ
Trang 1Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM Ở HUYỆN HÀM YÊN HIỆN NAY 31
2.1 Khái quát huyện Hàm Yên và Tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc huyện 312.2 Thực trạng hoạt động giám sát xã hội Mặt trận tổ quốc huyện Hàm Yên hiện nay 412.3 Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chức năng giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Huyện 67
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHỨC NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM HUYỆN HÀM YÊN 71
3.1 Các quan điểm nhằm nâng cao hiệu quả chức năng giám sát xã hội Mặt trận Tổ quốc huyện Hàm Yên 713.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo thực hiện chức năng giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Hàm Yên hiện nay 76
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNXH Chủ nghĩa xã hội
HĐND Hội đồng nhân dân
MTTQVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
TTND Thanh tra nhân dân
Trang 3
cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước, tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước Có thể nói Vấn đề giám sát và phản biện xã hội là trách nhiệm vô cùng to lớn của Mặt trận Tổ quốc với dân, với Đảng Đồng thời, thông qua hoạt động giám sát,
sẽ góp phần nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc xây dựng, tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…
Trong thời gian qua, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) đã đạt được một số thành tựu nhất định, như: Tổng hợp ý kiến, kiến nghị của hội viên, đoàn viên, thành viên và nhân dân để kiến nghị với các cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết những yếu kém trong xây dựng và thực thi pháp luật, những sai sót trong quản
Trang 4lý, điều hành, thực thi nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền, gây phiền hà vàthiệt hại cho dân; thực hiện giám sát thông qua Ban Thanh tra nhân dân cấp xã,
từ đó phát hiện ra những sai sót, yếu kém và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền cơ sở khắc phục những sai sót, yếu kém đó
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động giám sát của MTTQVN cũng có những hạn chế nhất định, chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận còn thấp, chưa đáp ứng mong đợi và những đòi hỏi của nhân dân Hoạt động giám sát của Mặt trận trong thực tế còn hình thức, hiệu quảpháp lý chưa cao, chủ yếu mới thể hiện qua các phát hiện, nêu ý kiến nhẹ nhàng tại các kỳ họp, phiên họp của các cơ quan, tổ chức thuộc đối tượng giám sát, chưa có phương thức giám sát đúng nghĩa, chưa được quan tâm thực hiện
thường xuyên, liên tục Đặc biệt chức năng giám sát của MTTQ cấp huyện còn nhiều thiếu sót, dẫn tới nhiều sai lầm Trong quá trình hội nhập ở nước ta hiện nay, hơn bao giờ hết cần phải chú trong nâng cao chức năng giám sát của
MTTQ ở các cơ sở Chính vì thế mà en xin chọn đề tài: “Thực hiện chức năng
giám sát xã hôi mặt trận tổ quốc Việt Nam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang” làm đề tài khóa luận tôt nghiệp, với mong muốn góp một phần nhỏ bé
của mình vào vào việc nâng cao chất lượng hoạt động giám sát xã hội MTTQ cấp huyện nói riêng và của MTTQVN nói chung, để mặt trận thực sự là tổ chức đại diện cho quyền lợi của nhân dân lao động
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, đã có khá nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu
về các đề tài liên quan đến việc thực hiện chức năng giám sát xã hội mặt trận tổ quốc thuộc các chuyên nghành như chính trị học, luật học, triết học và dưới nhiều góc độ khác nhau giúp các nhà chính trị, nhà quản lý có cách tiếp cận cụ thể để nâng cao chức năng giám sát xã hôi mặt trận tổ quốc việt nam trong hoạt động thực tiễn Trong thời gian vừa qua, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Trang 5Nguyễn Hải Long (2006), “giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước ở
Việt Nam”, luận văn thạc sỹ Luật, học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh
Nguyễn Thọ Ánh (2010), “Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã
hội của mặt trận tổ quốc Việt Nam”, luận án tiến sĩ chính trị học, học viện chính
trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả khẳng định giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN là nhiệm vụ cấp bách trong quá trình xây dựng Nhà Nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta; tác giả trình bày về vị trí, vai trò của MTTQVN trong hệ thống chính trị, hoạt động giám sát và phản biện xã hội MTTQVN; thực trang, những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN
Nguyễn Thị Phương (2013), “nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của mặt
trận tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới”, Tạp chí mặt trấn số 121+122,
tr.57-61 Nội dung tác giả hướng tới việc nghiên cứu xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ MTTQVN, tìm ra những giải pháp khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức trong hệ thống chính trị và hành chính hóa các tổ chức quần chúng, góp phần đổi mới hệ thống chính trị của đất nước trong giai đoạn mới
Nguyễn Thị Thủy (2013), “các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát
và phản biện xã hội của mặt trận đạt hiệu quả”, Tạp chí mặt trận số 121+122,
tr.62-65 Bài viết đề cập việc hướng việc triển khai giám sát và phản biện xã hội cần đảm bảo các điều kiện như: nâng cao nhận thức vị trí, vai trò của MTTQ trong giám sát và phản biện, xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao chất lượng và đổi mới tổ chức của MTTQ các cấp
Nguyễn Thanh Bình (2014), “Mặt trận tổ quốc Việt Nam với công tác
giám sát và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí
Mặt trận số 123, tr.41-45 Nếu nên vai trò giám sát của Mặt trận đối việc giải
Trang 6quyết khiếu nại tố cáo quy định còn chung chung và tác giải chỉ ra những
nguyên nhân chính hạn chế vài trò giám sát xã hội của Mặt trận đối lĩnh vực này
Hà Ngọc Thảnh (2014), “Phát huy trách nhiệm của mặt trận tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhận dân trong giám sát hoạt động của các đại biểu dân cử”, Tạp chí mặt trận số 129+130, tr.62-66 Bài viết nêu trách nhiệm MTTQVN
và đoàn thanh tra nhân dân trong giám sát hoạt động các đại biểu dân cử thể hiện một số vấn đề chủ yếu như giám sát đại biểu dân cử theo nhiệm vụ chính trị, chức danh, lời hứa trước cử trị, bảo đảm và quyền lợi chính đáng của nhân dân từ vấn đề nêu trên bài viết đưa ra yêu cầu đối MTTQVN và các đoàn thanhtra nhân dân
Đỗ Phương (2014), “Lại bàn về giám sát và phản biện” Tạp chí số 133, tr.4-7 bài viết đề cập vị trí và vai trò giám sát trong xã hội hiện nay còn nhiều hạn chế, để phát huy vai trò giám sát và phản biện cần những thay đổi cơ chế và
tổ chức quản lý nêu không giám sát và phản biện xã hội chỉ là cụm từ sử dung trong tổ chức MTTQVN mà thôi
Trần Ngọc Nhẫn (2014), “Vai trò mặt trận tổ quốc Việt Nam trong xây
dựng chính sách, pháp luật và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật”
Tạp chí mặt trận số 129+130, tr.21-24 Bài viết nêu tầm quan trọng vai trò giám sát Mặt trận trong hệ thống chính trị, nhưng đối việc xây dựng chính sách, phát luật thì quy định văn bản hạn chế, nếu có chỉ mang tính hình thức Hiện nay, có một số quy định mới triển khai chậm, chưa hướng dẫn cụ thề dẫn khó khăn thực hiện vì vậy Quốc hội nghiên cứu sớm có quy định về cơ chế cụ thể đóng góp ý kiến các đoàn thể chính trị - xã hôi trong quá trình xây dung chính sách pháp luật và thực hiện chức năng giám sát Mặt trận
Qua các công trình nghiên cứu, các bài đăng trên các tạp chí nêu trên đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tương đối về việc thực hiên hoạt động giám sát xã hôi mặt trận tổ quốc Việt Nam, đồng thời đống góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn đối với hoạt đông giam sát và phản biện của mặt trận, tuy
Trang 7nhiên đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát xã hôi của mặt trận tổ quốc huyện Hàm yên, tỉnh Tuyên Quang Chính vì vậy, tôi chon
đề tài “ Thực hiện chức năng giám sát xã hôi mặt trận tổ quốc Việt Nam tại
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” là đề tài khóa luận tốt nghiệp, với mong
muốn đưa đưa đến một cái nhìn khái quát, toàn diên về thực trạng cũng như góp phần đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả thực hiện chức năng giám sát mặt trân tổ quốc huyên Hàm yên,tỉnh Tuyên Quang nói riêng và của mặt trân tổ quốc Việt Nam nói chung
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá đúng thực trạng hoạt động giám sát xã hội của mặt trận tổ quốc cấp cơ sở trên địa bàn huyên Hàm Yên, từ thực trạng đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mặt trận tổ quốc huyện trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động giám sát mặt trận tổ quốc Việt Nam
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng và những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát mặt trận tổ quốc cấp huyên Hàm Yên (giai đoạn 2009 – 2014) Làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế của hoạt động giám sát xã hôi Mặt trận tổ quốc huyện
- Từ đó đưa ra quan điểm và các giải pháp thích hợp để phát huy, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của mặt trận tổ quốc huyện Hàm Yên trong thực tiễn hiện nay
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tương nghiên cứu của khóa luận về việc thực hiện hoạt động giám sát
xã hội mặt trận tổ quốc Việt Nam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: khóa luận vận dụng những nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin
- Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phương pháp logic – lịch sử, phương pháp sánh, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp tra cứu tài liệu, phương pháp thu thập và xử lý thông tin…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
- Khóa luận cung cấp cơ sở lý luận về hoạt động giám sát xã hôi của MTTQ góp phần viêc nghiên cứu, đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với công tácmăt trận nói chung và hoạt động giám sát xã hội của mặt trận nói riêng, từ cơ sở
Trang 9đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát xã hội của mặt trận trên địabàn huyện Hàm Yên
- Khóa luận góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của MTTQ đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay, đặc biệt là vai trò giám sát xã hôi của MTTQ
- Khóa luận có thể dung làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy, học tập lý luận cho cán bộ của MTTQ và cấp đoàn thể, các giải pháp
có thể áp dụng trong thực tiễn hoạt động giám sát MTTQ nói chung và ở cấp cơ
sở huyện nói riêng
7 Kêt Cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương 7 tiết
Trang 10Chương 1 CHỨC NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Vị trí, vai trò của mặt trận tổ quốc trong hệ thống chính trị
1.1.1 Vị trí của mặt trận tổ quốc trong hệ thống chính trị
Mặt trân Dân tộc thống nhất Việt Nam do đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, được thành lập ngày 18/11/1930 Trải qua các thời kỳ cách mạng với những tên gọi khác nhau, MTTQ Việt Nam
đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc và cùng đảng, nhà nước hợp thành những trụ cột cơbản trong hệ thống chính trị nước ta
Trong thực tiễn lịch sử cách mạng, ngày từ khi đảng Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) trong nội dung chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng đảng cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã vạch ra sự cần thiết cần xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân…phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu chung: giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân
Nhận thưc tầm quan trọng chiến lược đó, ngày 18/11/1930, Ban thường
vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ thị thành lập Hội phản đế Đồng Minh – hình thức đầu tiên của Mặt trân dân tộc thống nhất, một hình thức liên minh chính trị của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các lực lực lượng
yêu nước khác nhằm “ Đoàn kết lực lượng cách mạng phản đế lại, để đánh đổ
đế quốc chủ nghĩa, mưu việc hoàn toàn độc lập cho xứ Đông Dương và bênh vực cho phong trào giải phóng ở các thuộc địa và bán thuộc địa [15, tr.10]
Trang 11Và từ thời gian đó đến nay trong lịch sử cách mạng Việt Nam chưa bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận Khi cách mạng chưa giành được chính quyền thì Mặt trận là liên minh chính trị của công nông với các lực lượng tiến bộ trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, vận động đoàn kết nhân dân chống thực dân pháp và phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân, trong những giai đoạn lịch sử Mặt trận còn thực hiện chức năng và nhiệm vụ củachính quyền ở vùng giải phóng Sau khi Đảng giành được chính quyền, MTTQ trở thành thành viên của hệ thống chính trị , Mặt trận cùng với Đảng, Nhà nước
là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đặc biệt hiện naytrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa nhận thức về vị trí MTTQVN ngày càng được hoàn thiện thông qua chủ trương, đường lối của Đảng, mà còn thể hiện trong hiến pháp, trong các luật đặc biệt là luật MTTQVN và sự thừa nhận của các tầng lớp nhân dân
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng ngày càng tiếp tục khảng định vịtrí quan trong của Mặt trận trong hệ thống chính trị cụ thể:
Chỉ thị 17 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa V, ngày 18/4/1983 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác MTTQVN trong giai đoạn mới ghi rõ:
“Măt trận Tổ quốc Việt nam là tổ chức chính trị Xã hội rộng lớn vừa có liên hiệp rộng rãi, vừa có tính quần chúng sâu sắc Mặt trận đại diện chung cho quyền làm chủ của nhân dân lao động, là sợi dây nối liền các tằng lớp xã hội rộng rãi với Đảng, là chỗ dựa vững chắc cho Nhà nước”
Nghị quyết 07 của Bộ chính trị khóa VII về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày 18/11/1993:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liện minh chính trị, là tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đờn thể nhân dân và cá nhân tiểu biểu trong giai cấp và tầng lớp
xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân,
Đảng cộng sản Việt Nam vừa là thành viện vừa là người lãnh đạo Mặt trận”
Trang 12Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của đảng cũng chỉ rõ:
“Mặt trận tổ quốc Việt Nam, một tổ chức liên minh chính trị, liên minh tự nguyện của các đoàn thể chính trị - xã hội và các cá nhân tiểu biểu trong các giaicấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo Mặt trận và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi phối hợp thống nhất hành động của các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tham gia với Đảng và Nhà nước thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ, chăm no bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân, bảo vệ Đảng và chính quyền thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, góp phần tăng cường mối liện hệ mật thiết giữa nhân dân với đảng và nhà nước ”
Đại hội lần thứ XI của Đảng: “ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt đông, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kếtnhân dân xây dựng cơ sở chính tri của chính quyền nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững manh;tổ chức các phòng trào thi đua yêunước, vận động các tầng lớp nhân dân, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh
tế ,văn hóa, xã hội, quốc phong, an ninh, xã hôi.”
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011): “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng
và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ
giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước”.“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên
minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội,
Trang 13các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương
dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.” [16]
Tại điều 9 Hiến pháp 1992 đã quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ
chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nướcngoài” [17]
Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"[18] Điều đó khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua ngày 12 tháng 6 năm
1999, trong đó đã khẳng định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của
hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, nơi hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động của các
Trang 14thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh", (Khoản 2, Điều 1).[19]
Như vậy, vị trí của MTTQVN do chính nhân dân, chính lịch sử xác định
và thừa nhân, cụ thể việc pháp luật khẳng định MTTQVN “là một bộ phân của
hệ thống chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” có nghĩa là
pháp luật đã xã định địa vị pháp lý và chính trị của Mặt trận là một thành tố cấu thành thể chế chính trị nước ta MTTQVN với tư cách là thành viên của hệ thống chính trị có chức năng, nhiệm vụ riêng và tồn tại, hoạt động trong mối hệ với các thành viên khác của hệ thống chính trị Bên cạch đó địa vị này còn do yêu cầu khách quan sự nghiệp cách mạng đòi hỏi có tổ chức rộng rãi để đoàn kếttất cả lực lượng tiến bộ của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam để xây dựng bảo vệ tổ quốc
Địa vị pháp lý MTTQ còn do đặc điểm, cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam quy định, hệ thống đó không tổ chức vận hành theo hình thức đa nguyên, đa đảng mà Đảng cộng sản Việt Nam là người duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, vì vậy trong hệ thống chính trị nước ta không có sự kiềm chế, đối trọng giữa các lực lượng chính trị đối lập Do đó để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng luôn đúng đắn, bộ máy cơ quan nhà nước luôn trong sạch, thể hiện ý chí
và nguyên vọng nhân dân, thể hiện đúng bản chất nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Để thực hiện đúng ban chất đó cần thiết phải có sự giam sát và phản biện từ phía nhân dân, và tổ chức đại diện cho ý chí
và nguyện vọng của tầng lớp nhân dân chính là MTTQ, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận sẽ tao ra yếu tố kiềm chế, nhằm giới hạn quyền lực, tránh xu hướng lạm dụng quyền lực, vi phạm dân chủ trong bộ máy hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước ta
Trang 15Vì vậy, nhìn từ các góc độ khác nhau cả về pháp lý, cả về lịch sử và hoạt động thực tiễn đều khẳng định MTTQVN là một thiết chế quan trọng, một chủ thể không thể thiếu trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.1.2 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện nay Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyềnlực thuộc về nhân dân Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận Thắng lợi huy hoàng của Cách mạng Tháng Tám 1945 gắn liền với
sự nghiệp của Mặt trận Việt Minh Thành tích của Mặt trận Việt Minh chính là
sự kế tục sự nghiệp cách mạng đã được chuẩn bị từ trước của Hội Phản đế đồng minh (1930-1936) và của Mặt trân Dân chủ Đông Dương (1936-1939).Tiếp theoMặt trận Việt Minh là Mặt trận Liên Việt đã góp phần đưa cuộc tháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi Kế tục Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam ra đời đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nướcnhà ở miền Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
và liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam đoàn kết nhândân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang: giải phóng miền Nam bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước
Từ khi đất nước thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Với vai trò là tổ chức tập hợp, đoàn kết rộng rãi các lực lượng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các
Trang 16giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được khẳng định vị trí ngay từ trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta Sau mỗi lần bổ sung, sửa đổi Hiếp pháp, vị trí, vai tròcủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục được khẳng định và xác định rõ hơn.
Hiến pháp năm 1992 đã xác định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở
chính trị của chính quyền nhân dân "[17] điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ
quốcViệt nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể thành viên có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đaị đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc "[17] Đó là củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự
nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới
Hiến pháp bổ sung, sửa đổi năm 2013 xác định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước
ngoài"[18]
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hiến pháp sửa đổi 2013 đã hoàn thiện một bước cơ bản quy định về MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, làm nổi bật và phù hợp vị trí, vai trò của các tổ chức này trong xã hội nước ta, tạo cơ sở pháp lý phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân trong đời sống chính trị của đất nước trong thời kỳ mới Đặc biệt Luật Mặt trận tổ quốc Việt
Trang 17Nam quy định rõ vai trò của Mặt trận: “ là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, pháthuy quyền làm chủ của dân,nơi hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, góp phần dữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”[19]
Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, vai trò cơ sở chính của Mặt trận thể hiện ở chỗ:
- Mặt trận là nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền
- Mặt trận là nền tảng chính trị, là sức mạnh có tổ chức của toàn dân Nhà nước phải dựa vào Mặt trận để phát huy sức mạnh của mình thông việc phát huy sức mạnh có tổ chức của nhân dân
- Mặt trận cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân tham gia xây dựng và phản biện các chủ trương, chính sách pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước, các cuộc vận động xã hội, thực hiện tốt cac chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
Ngoài ra, với đặc điểm của hệ thống chính trị của nước ta, để tránh nguy
cơ độc đoán, quan liêu xa dân… đòi hỏi phải phát huy vai trò của MTTQ trong
hệ thống chính và đời sống xã hội thông qua việc tham chính và tham nghị, giámsát và phản biện xã hội đối với hoạt động cơ quan Nhà nước và mỗi cán bộ đảngviên trong hệ thống đó
Trang 181.2 Giám sát xã hôi và chức năng giám sát xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
1.2.1 Khái niệm giám sát và hoạt động giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1.2.1.1 Khái niệm giám sát
Khái niệm “giám sát” hiện nay được dung rất phổ biến trong các khoa
học như chính trị học, luật học, hành chính học… và trong nhiều văn bản nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước cũng như trong hành xử của đời sống chính trị thực tiễn Tuy nhiên khái niệm giám sát và nội hàm của
nó được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau
Trong Từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh chủ biên thi “giám sát là xen
xét và đàn hạch” [20]
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thi “Giám sát là theo dõi
và kiểm tra có thực hiện đúng những điều quy định không” [21, tr.374]
Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên hiểu “giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực hiên nhiệm vụ” [22, tr.728]
Từ điển Quản lý xã hội ghi “giám sát là kiểm tra; theo dõi nhằm mục đích
kiểm tra việc chấp hành luận, nghị quyết, quyết định quản lý…” [23, tr.76]
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc các đối tượng chịu sự giám sát đi theođúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã đạt được xác định
từ trước, đảm bảo luật pháp được tuân thủ nghiêm chỉnh.” [24, Tr.174]
Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng
đã nêu rõ: “giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật,
Trang 19đường lối quan điểm của đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi và nghĩa
vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy, ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [25, tr.184]
Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ “giám sát” co ý nghĩa khác nhau nhưng chúng đều có một số đặc điểm sau:
“Giám sát” luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi;
ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra
và đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định Đồng thời “giám sát” luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tưc là phải trả lời được câu hỏi: giám sát ai? Giám sát việc gì? Để có những tác động nhằm điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng yêu cầu, quy định của chủ thể quyền lực
Giám sát mang tính chủ động (có mục đích, nội dung, quy chuẩn…) thường xuyên liên tục
Như vậy có thể quan niệm: “giám sát là quá trình theo dõi, quan sát,
phân tích nhận định về hành vi của đối tượng bị giám sát xem có vi phạm những chuẩn mực của chủ thể quyền lực hay không để có những tác động điều chỉnh tương đối thực hiện đúng các yêu cầu chuẩn mực mà chủ thể quyền lực đặt ra”
Trong đời sống chính trị cần phân biệt biệt khái niệm “giám sát”và khái niệm “thanh tra” Khái niệm “thanh tra” được diễn đạt trọng Nghị quyết số 164-
CP ngày 31/8/1970 của hội đồng chính phủ về tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống thanh tra Nhà nước như sau:
Thanh tra là một trong công tác quan trọng của công tác quản lý, nó có mục đích giúp cơ quan lãnh đạo vừa kiểm tra sự đúng đắn của bản thân sự lãnh đạo của mình và kiểm tra sựu chấp hành của cơ quan quyền lực thuộc thẩm quyền nhầm tìm ra những biền pháp chỉ đạo, cách quản lý tốt nhất, đảm bảo cho
Trang 20những chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước được thực thiđầy đủ có hiệu lực.
Như vậy, để phân biêt thanh tra và giám sát trước hết ta nhận diện một số vấn đề sau: Thanh tra là công cụ hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của hệ thống
cơ quan quản lý hành chính, là công cụ kiểm tra của hệ thống hành pháp, còn giám sát là hoạt động của hệ thống quyền lực lập pháp Điểm khác biệt nữa là đối tượng của thanh tra là cơ quan, tổ chức chấp hành, thực hiện quyền lực hành pháp (thuộc quyền quản lý của cơ quan hành chính) và chủ thể giám sát không
có quyền áp dụng chế tài cụ thể, trực tiếp để xử lý sai phạm còn chủ thể thanh tra có quyền đưa ra các chế tài cần thiết đối với đối tuwongjvi phạm như đình chỉ hoạt động, chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra
Hoạt động giám sát được thực hiện bằng hai loại chủ thể Đó là hoạt động
giám sát của cơ quan Nhà nước và hoạt động giám sát của các chủ thể xã hội
(ngoài nhà nước) Hoạt động giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước gọi là
giám sát xã hội Giám sát xã hội khác với giám sát Nhà nước như sau: chủ thể giám sát xã hội gồm các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí,
công dân Đảng cầm quyền không được coi là chủ thể giám sát xã hội và đảng cầm quyền là chủ thể xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy và trực tiếp lãnh đạo nhà
nước Đối tượng giám sát xã hội là cơ quan quyền lực, giám sát xã hội không
mang tính quyền lực Nhà nước (không thực hiện quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm trực tiếp đối với các đối tượng vi phạm nhưng lại có thể gây áp lực lên chủ thể quyền lực để điểu chỉnh quyết định chính sách).Bản chất giám sát xã hội là hình thức giám sát có sự tham gia rộng rãi của toàn bộ xã hội mà nòng cốt là một số
tổ chức của nhân dân, do nhân dân lập lên và ủy nhiệm Phương thức giám sát
xã hội được thực hiện trước tiên, thông qua các tổ chức chính trị - xã hội rông
lớn của nhân dân ( Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hôi nghề nghiệp…) bằng hình thức giám sát gián tiếp hoặc trực tiếp của mỗi công dân Trái lại, giám sát xã hội là sự bổ xung quan trọng, khách quan cho những hình thức giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và hệ thống
Trang 21chính trị, bộ máy nhà nước mà toàn bộ xã hội có được sự đối trọng, cân bằng cần thiết để nó được tổ chức và vận hành theo hướng khoa học và hiệu quả hơn.
Từ những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa: Giám sát xã hội là hình
thức giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước gồm các tổ chức chính trị - xã hội, công luận và công dân đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân
1.2.1.2 Hoạt động giám sát xã hội của Mặt trân Tổ quốc Việt Nam
Hoạt đông giám sát của Mặt trận Tổ quốc đối với chính quyền lần đầu tiên được đề cập trong Nghị quyết của Đại hội đại biểu Thanh niên cứu quốc toàn xứ Bắc kỳ tháng 11- 1945 “Mặt trận Việt Minh, Thanh niên cứu quốc hội
có nhiệm vụ ủng hộ Chính phủ và Bộ Thanh niên Sự ủng hộ đó phải thiết thực (bằng việc làm không phải bằng lời nói suông), sáng suốt ( thấy cái hay cái dở)
và tích cực ( giám sát và đề nghị)” tuy nhiên quyền giám sát Mặt trận chính thức
ghi nhân tại điều 9 Hiến pháp năm 1992 “ Mặt trận giám sát hoạt động cơ qua
nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước” nhân dân có quyền
giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên( thông qua Mặt trận và các đoàn thể để thực hiện)
Sau Hiến pháp năm 1992, các văn bản pháp luật ngày càng quy định cụ thể hơn về chức năng giám sát Mặt trận, trong đó có luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nhà nước dần chuyền hóa quyền giám sát của Mặt trận trân nhiều lĩnh vực như: giám sát việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, thi hànhluật đất đai, thi hành luật thuế, thi hành luật nghĩa vụ quân sự, giám sát tố tụng hình sự, dân sự…Như vậy, xét về quyền giám sát Mặt trận trong việc thi hành chính sách pháp luật của cơ quan nhà nước là rất rộng theo thống kê đến tháng 10/2009, đã có 54 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền giám sát củaMặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Đó là sự thể hiện đường lối, chính sách của Đảng về thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Trong thực tế, quyền giám sát của Mặt trận đã đi vào
Trang 22cuộc sông và đạt được một số kết quả và kinh nghiệm nhất đinh, nhưng song bên cạnh đó gặp không ít những khó khăn và nhiều vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện đòi hỏi Mặt trận phải hướng giải quyết, các biên pháp phù hợp để đạt hiệu quả hơn nữa.
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hoạt động giám
sát xã hội, là việc quan sát, phát hiện, xem xét, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước và cán bộ, công chức đảng viên trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, các chương trình, đề án, dự án và quy chế quy định có hiệu lực của cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên.
Khác với giám sát của Nhà nước, giám sát của Mặt trận và đoàn thể
không mang tính quyền lực của Nhà nước, với cơ chế là “theo dõi, phát hiện,
kiến nghị” cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết chứ không chực tiếp áp
dụng chế tài đình chỉ, bãi bỏ…
Mục đích hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cùng với
công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra Nhà Nước nhằm góp phần xây dựng Đảng,xây dựng và củng cố chính quyền, làm cho tổ chức của Đảng và Nhà nước ngày càng trong sạch vững mạnh, hoạt động ngày càng có hiệu quả để thực thi quyền lực của nhân dân
1.2.2 Nội dung, hình thức và nguyên tắc giám sát xã hội Mặt trân Tổ quốc Việt Nam
1.2.2.1 Đối tượng và chủ thể giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
a) Đối tượng hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Theo điều 9 Hiến pháp năm 1992 của nước ta vào khoản 1 điều 12 của luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam quy định đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên bao gồm:
Trang 23- Giám sát hoạt động cơ quan Nhà nước
Nội dung giam sát cơ quan nhà nước là rất rộng, do luật Mặt trận chưa quy định cụ thể phạm vi giám sát đến đâu, nhất là giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, thì giám sát những cơ quan nào? Những tổ chức thành viên nào
có quyền giám sát? Từ thực tiễn và điều kiện Ủy ban Măt trận nôi dung giám sát
chủ yếu tập chung vào: giám sát việc thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước,
tập trung vào những pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, liên quan đến các tầng lớp xã hội do mặt trận trực tiếp vận động, liên quan đến tổ chức và hoạt đông của ủy ban Mặt trận và các tổ chức thành viện
Giám sát văn bản quy phạm của pháp luật của hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và kiến nghị xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật (Điều 9, khoản 4, luật ban hành văn bản quy phạp pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân năm 2014)
Tùy vào từng đặc điểm của từng địa phương và chương trình công tác Mặt trận hằng năm mà xây dựng kế hoạch giám sát việc thực hiện pháp luật, quyphạm của chính quyền địa phương như: giám sát thực hiện luật đất đai, luật thuế, luật nghĩa vụ quân sự, luật bảo vệ môi trường, các chính sách đối người có công, chính sách xã hội, nghị quyết của hội đồng nhân dân…
- Giám sát cán bộ, công chức Nhà nước (trong đó có đảng viên).
Phạm vi của nôi dung giám sát cán bộ, công chức nhà nước bao gồm: nghĩa vụ của cán bộ, công chức nhà nước, đạo đức, văn hóa, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức, những việc cán bộ, công chức không được làm (các nôi dung trên quy định trong luật cán bộ, công chức, các văn bản hướng dẫn của Đảng, Chính phủ, luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm, chốnglãng phí và các văn bản luật có liên quan)
Hình thức, cơ chế giám sát cán bộ, công chức, đảng viên, ở khu dân cư được cụ thể hóa ở nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam ( số 05, ngày 21-04-2006) ban hành bằng hình thức
Trang 24quy chế, trong đó, quy định rõ mục đích giám sát, nguyên tắc giám sát và đối tượng bị giám sát, nội dụng giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khi trả lời kiến nghị giám sát.
Mặt trận tổ quốc giám sát cán bộ, công chức còn được quy định trong
pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 với hình thức lấy
phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu, đó là
Chủ tịch Hôi đồng nhân dân, phó Chủ tịch hội đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND), Phó chủ tịch UBND do Ban thường trực ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã chủ trì tổ chức lấy phiếu tín nhiệm Giám sát cán bộ, công chức nhà nước theo quy định của Luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm,chống lãng phí
- Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử
Nội dung giám sát bao gồm: giám sát tiêu chuẩn đại biệu và việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu dân cử, tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản pháp luật
cụ thể hóa hình thức giám sát của Mặt trận đối với đại biểu dân cử Do vậy Mặt trận tổ quốc nột số tỉnh phối hợp vơi thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp tổchức hoạt đông nhân xét theo trách nhiệm và tiêu chuẩn người đại biểu Cách làm này nhằm góp ý kiến với người đại biểu nhằm khắc phục những điểm yếu, thiếu sót trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn người đại biểu nhân dân Hình thức thứ hai hiện đang thực hiện là giám sát chức danh chủ chốt cảu Hội đồng nhân dân với hình thức bot phiếu tín nhiệm ( theo quy định điều 26 pháp lệnh thực hiện dan chủ nhân dân ở xã, phường, thi trấn)
Như vậy, đối tượng của hoạt động giám sát của Mặt trận rất rộng so với đối tượng giám sát của quốc hội, Hội đồng nhân dân, rộng lớn hơn đối tượng kiểm sát của viện kiểm sát đã bao gồm toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước ( Quốc hôi và cơ quan Quốc hội, Chính phủ và cơ quan thuộc chính phủ, Viện kiểm soát nhân dân và tòa án nhân dân, Hôi đồng nhân dân và Ủy ban nhândân các cấp, các cơ quan thuộc ủy ban nhân dân), đối tương giám sát của Mặt
Trang 25trận tổ quốc Việt Nam bao gồm hoạt động tư cách, phẩm chất của đại biểu quốc hội, Đại biểu của hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ, viên chức nhà nước
Nhưng vậy, đối tượng giám sát của Mặt trận là rất rộng, bao gồm toàn bộ bộ máy Nhà nước và các thành viên trong bộ máy đó, các cơ quan nhà nước có chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra đều chiu sự giám sát của Mặt trân tổ quốc Việt Nam
b) Chủ thể giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt nam
Chủ thể giám sát xã hội là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở, bao gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
1.2.2.2 Nội dung và hình thức hoạt động giám sát Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
a) Nôi dung hoạt động giám sát Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Xuất phát từ vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của Mặt trận tổ quốc trong
hệ thống chính trị, hoạt động giám sát của Mặt trận tập trung chủ yếu vào các nội dung sau: giám sát việc xây dựng, ban hành, thi hành pháp luật và bảo vệ pháp luật của cơ quan Nhà nước ( lập pháp, hành pháp, tư pháp), chủ yếu tập chung vào những pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân,của các giai cấp, tầng lớp xã hội, các đối tượng chuyên biệt do Mặt trận trực tiếpvận động, các pháp luật liên quan đến tổ chức hoạt động của Ủy ban Mặt trận
và các tổ chức thành viên
* Đối cơ quan lập pháp:
Giám sát quá trình lập pháp (từ giai đoàn sáng kiến pháp luật, giai đoạn soạn thảo, giai đoạn thẩm định và giai đoạn thông qua các văn bản nghị quyết, pháp lệnh…)
- Giám sát tính hợp hiến của văn bản luật
Trang 26- Giám sát việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội
- Giám sát hoạt động của đại biểu Quốc hội…
* Đối với cơ quan hành pháp:
- Giám sát quy trình lập quy
- Giám sát quá trình quản lý của chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ
- Giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật của chính phủ và các
cơ quan thộc chính phủ
* Đối với cơ quan tư pháp
- Giám sát quá trình tố tụng
- Giám sát quá trình xét xử
- Giám sát việc thi hành án
- Tham gia và giám sát việc tuyển chọn thẩm phán, giới thiệu hội thẩm nhân dân, công tác đặc xá
b) Hình thức hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Theo các văn bản pháp luật hiện hành và nghi định 50/CP, ngày
16-08-2001 của Chính phủ (quy định chi tiết một số điều của Luật MTTQVN) thì cơ chế hoạt động giám sát của Ủy ban MTTQVN theo ba hình thức thực hiện sau
Thứ nhất, vận động nhân dân giám sát
Hình thức này chủ yếu tập chung vào việc chỉ đạo tổ chức và hoạt động của ban thanh tra nhân dân với một số cơ chế sau:
Cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm tra, thanh tra ở địa phương có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét, tiếp thu kiên nghị của của Ủy ban MTTQVN cung câp, của ban thanh tra nhân dân (TTND) và ý kiến của tầnglớp nhân dân thông qua MTTQVN
Trang 27Khi cần thiết, cơ quan nhà nước có trách nhiệm mời ban đại diện ban TTND tham gia giám sát, thanh tra, kiểm tra ở xã, phường, thị trấn Ban TTND
có trách nhiệm cung cấp thông tin, cử người tham gia khi yêu cầu giám sát, kiểmtra, thanh tra của cơ quan nhà nước
Khi ban TTND thực hiện quyền giám sát, kiểm tra theo quy định của phápluật thì chủ tịch UBND cấp xã nơi được giám sát, kiểm tra có trách nhiệm cung cấp thông tin, trả lời kiến nghị theo quy định tại điều 15 Nghị định của chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật MTTQVN UBND cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp với MTTQVN cung cấp tạo điều kiện để Ủy ban MTTQVN cấp xã chỉ đạo tổ chức, hoạt động của ban TTND
Cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp với MTTQVN cung câp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và bảo vệ công dân khi họ thực hiện quyền giám sát của mình
Thứ hai, tham gia giám sát của hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp khi thực hiện nhiệm vụ giám sát có trách nhiệm mời ban đại diện của ban thường trực ủy ban MTTQVN cùng cấp tham gia, xây dựng kế hoạch giám sát của HĐND; mời đại diện ban thường trực
ủy ban MTTQVN cung cấp tham gia hoạt động giám sát; cung cấp thông tin có liên quan đến công tác giám sát của HĐND cho Ủy ban MTTQVN cùng cấp; tạođiều kiện để ban thường trực Ủy ban MTTQVN đưa kiến nghị liên quan đến nội dung giám sát; trực tiếp nhận những thông tin liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND do ban thường trực ủy ban MTTQVN cùng cấp cung cấp
Thứ ba, tự mình giám sát
Trong trường hợp Ủy ban MTTQ tổ chức hoạt động giám sát thì người đứng đầu cơ quan nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận cung cấp thông tin và giải trình những vấn đề liên quan theo yêu cầu của Ủy ban MTTQVN khi tiến hành hoạt động giám sát; cử đại diện tham gia giám sát hoạt động giám sát của
MTTQVN khi Ủy ban MTTQVN đề nghị; xem xét giải quyết kiến nghị của
Trang 28MTTQ về việc biểu dương, khen thưởng người tốt, xem xét, giải quyết, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật và thông báo kết quả cho Ủy ban MTTQVN.
Công tác MTTQ được thực hiện ở cả cấp hành chính, riêng ở cơ sở có thêm vai trò của Ban công tác Mặt trận, của ban TTND (Mặt trận tổ chức, hướngdẫn và chỉ đạo hoạt đông), cấp cơ sở có nội dung giám sát quan trọng là giám sátviệc thực hiện pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 theochỉ thị 30 bộ chính trị
1.2.2.3 Nguyên tắc, cơ chế phối hợp thực hiện chức năng giám sát xã hội của MTTQVN
a) Nguyên tắc giam sát xã hội
Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW,
Về việc ban hành Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; và Quyết định số 218-QĐ/TW, ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
Trong đó, giám sát của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội là việc theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Giám sát là để trả lời câu hỏi việc thực thi chủ trương, chính sách, pháp luật như thế nào, tác dụng đối với kinh tế - xã hội thế nào, quyền lợi của nhân dân có được bảo đảm không? Để đảm bảo các điều trên cần thực hiện theoQuyết định số 217-QĐ/TW về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội quy định trong điều 3, luật MTTQVN về nguyên tắc giám sát như sau:
Trang 29- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều
lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Điều lệ các đoàn thể chính trị - xã hội.
- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
chính trị - xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát và phản biện xã hội.
- Bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan và mang tính xây dựng.
- Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của thành viên, đoàn viên, hội viên, lợi ích quốc gia, dân tộc [26]
b) Cơ chế giám sát
Theo quy định của văn bản pháp luật hiện hành, thì cơ chế giám sát của
MTTQ là: Theo dõi – phát hiện – kiến nghị.
Nghị định của Chính phủ số 50/2001/NĐ – Cp ngày 16 tháng 8 năm 2001 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật MTTQVN Tại Điều 13 về hoạt độnggiám sát đã quy định “Khi Ban thanh tra nhân dân thực hiện quyền giám sát kiểm tra theo quy định của pháp luật thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi được giám sát, kiểm tra có trách nhiệm cung cấp thông tin, trả lời kiến nghị theo quy
định”… “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp Ủy ban MTTQVN cấp
xã chỉ đạo tổ chức, hoạt động của ban thanh tra nhân dân”
Cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp Ủy ban MTTQVN cung cấp hướng dẫn, giúp đỡ động viên và bảo vệ công dân khi họ thực hiện quyền giám sát của mình: Điểm 3, Điều 13 quy định: “Hội đồng nhân dân các cấp khi thực hiên nhiệm vụ giám sát có tránh nhiệm: Mời đại diện ban thường trực Ủy ban MTTQVN cùng cấp tham gia xây dung kế hoạch giám sát của Hội đồng nhân dân, tham gia hoạt động giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến công tác giám sát; tạo điều kiện để đại diện ủy ban thường trực ủy ban MTTQ đưa kiến
Trang 30nghị liên quan đến nội dung giám sát và tiếp nhận những thông tin liện quan đếngiám sát của Hội đồng nhân dân, do ban thường trực Ủy ban MTTQ cùng cấp cung cấp”…Điểm 4 của Điều 13 cũng chỉ rõ người đứng đầu cơ quan nhà nước
có trách nhiệm: tiếp, cung cấp thông tin, giải trình theo yêu cầu của Ủy ban MTTQ; cử đại diện tham gia hoạt động giám sát của MTTQ khi có đề nghị của Mặt trận; xem xét kiến nghị của MTTQ về việc biểu dương khen thưởng người tốt việc tốt, xử ký kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật và thông báo kếtquả xử lý Ủy ban MTTQ biết
c) Mối quan hệ giữa giám sát xã hôi và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Giám sát và phản biện xã hội là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQ và các tổ chức đoàn thể Trong đó, giám sát đã được quy định trong Hiến pháp 1992, Hiến pháp (sửa đổi,
bổ sung) 2013 và trong một số văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước Còn phản biện xã hội là chức năng mới, vừa được xác định trong Văn kiện Đại hội X, XI của Đảng
Giám sát và phản biện xã hội là một trong những biện pháp kiểm soát việcthực thi quyền thực thi quyền lực và thực hành dân chủ Với vị trí pháp lý là một
bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của đất nước, hoạt động giám sát, phản
biện xã hội của MTTQ là sự giám sát, phản biện “bên trong” của hệ thống chính
trị nhất nguyên, không có đảng đối lập; nhưng mặt khác, với tư cách là tổ chức nhân dân, hoạt động giám sát và phản biện của Mặt trận đối Đảng và Nhà nước
là sự giám sát và phản biện từ “bên ngoài” Nhưng mục tiêu chung giám sát và phản biện xã hội là làm cho “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước điều vì lọi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân” [27]; là phương thức thực hiện quyền làm chủ thật sự của người dân và
phát huy các sáng kiến đổi mới và sáng tạo của xã hôi
Trang 31Hơn nữa, trong điều kiện Đảng cầm quyền, vai trò đại diện quần chung nhân dân trong kiểm tra, giám sát,phản biện xã hội của Mặt trận, từ việc hình thành đường lối chính sách đến quá trình tổ chức thực hiện đường lối chính sách
và công tác cán bộ rất quan trọng Thực tế, giám sát và phản biện xã hội của Mặttrận không chỉ hỗ trợ công tác giám sát, kiểm tra của Nhà nước, mà còn mang tính độc lập cao, thậm chí còn phản biện lại cả công tác giám sát, kiểm tra của
cơ quan Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay Do đó nghị quyết Hôi nghị Trung ương 4 (khóa XI) đề ra nhiệm vụ
“Trong năm 2012 ban hành quy chế giám sát (trực tiếp và gián tiếp) của nhân
đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, chính quyền các cấp; trong đó cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội” [28]
Để tránh tha hóa, biến dạng quyền lực nhà nước và thực hiện quyền làm chủ của mình, nhân dân phải có quyền sử dụng các cơ quan khác nhau trong hệ thống chính trị để giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó có việc thông qua chức năng giám sát của MTTQ, là một kênh quan trọng Sự khác nhaugiữa giám sát mang tính quyền lực Nhà nước và giám sát mang tính quyền lực nhân dân của MTTQ thể hiện ở tất cả các khâu của quá trình giám sát; chủ thể, đối tượng giám sát, nội dung hính thưc, cơ chế và hiệu quả quản lý của giám sát
Các hình thức giám sát mạng tính quyền lực nhà nước và giám sát mang tính nhân dân đều tất yếu và cần thiết, song mỗi loại hình giám sát có ưu và nhược điểm hạn chế riêng, có những yêu cầu cụ thể riêng, không thể đồng nhất, không thể lẫn lộn Hình thức giám sát của MTTQVN khác với hình thức giám sát của các tổ chức và cơ quan khác Nó được thực hiện bằng việc MTTQ vận động nhân dân giám sát theo trách nhiệm quyền hạn của mình; tham gia với các
cơ quan quyền lực nhà nước (Ủy ban thường vụ quốc hội, các ủy ban, Hội đồng của quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) thực hiện sự giám sát.MTTQ tự mình thực hiện quyền giám sát một cách độc lập, trong đó, vân động nhân dân giám sát và tự mình thực hiện quyền giám sát là hình thức quan trọng
Trang 32Giám sát và phản biện xã hội là nhiệm vụ quan trọng và nhạy cảm, cần nghiên cứu thận trọng và tổ chức triển khai có hiệu quả Vì vậy cần nghiêm cứu
rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, quy trình, thủ tục, phương thức, hình thức thực hiện phản biện xã hội; quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giám sát, phảnbiện xã hội; giá trị và hiệu quả pháp lý; điều kiện thực hiện giám sát và phản biện xã hội…
Hoạt đông giám sát và phản biện xã hội luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau Có thể nói, giám sát là tiền đề của phản biện, là điều kiện cần thiết để đẩy mạnh chất lượng và hiệu quả của hoạt động phản biện xã hội lên tầng cao hơn Trong giám sát có đánh giá, thẩm định, tức là phản biện Ngược lại, phản biện làhoạt động liên quan đến giám sát, hỗ trợ giám sát
Giám sát và phản biện xã hội là việc MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đã làm nhiều năm nay Song với Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013
và các Quyết định 217-QÐ/TW và 218-QÐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chínhtrị, trách nhiệm và quyền hạn của MTTQ Việt Nam trong giám sát, phản biện xãhội đã được pháp luật hóa ở mức cao nhất, cơ chế thực hiện giám sát và phản biện xã hội được cụ thể hóa, đòi hỏi đóng góp của MTTQ Việt Nam phải cao hơn, hiệu quả hơn Vì vậy, MTTQ Việt Nam phải tự vươn lên về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam 84 năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo của Ðảng, sự phối hợp, tạo điều kiện của Nhà nước, sự phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng, tham gia của các tầng lớp nhân dân, MTTQ Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình, triển khai có hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Ðảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thựchiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 33Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM Ở HUYỆN HÀM YÊN HIỆN NAY
2.1 Khái quát huyện Hàm Yên và Tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc huyện
2.1.1 Vài nét về đặc điểm điều kiện tình hình kinh tế - xã hội của huyện Hàm Yên.
Hàm Yên là huyện miềm núi phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, nằm ở vĩ độ
220 04’ Bắc và 1050 02’ kinh Đông; phía Bắc giáp huyện Bắc Quang ( tỉnh Hà Giang), phía Nam giáp huyện Yên Sơn, phía Đông giáp huyện Chiêm Hóa, phía Tây giáp huyện Yên Bình, Lục Yên ( tỉnh Yên Bái) trung tâm huyện lỵ cách thành phố Tuyên Quang 42Km về phía Bắc, tổng diện tích tự nhiên là 90.0054,6
ha, huyện gồm 17 xã, 01 thị trấn với 28.012 hộ, gồm 12 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm đa số với 45,2%, dân tộc tày chiếm 22,6% là dân tộc Dao, Cao Lan, Mông, Hoa…; toàn huyện có 03 tôn giáo chính: Phật giáo, Công giáo và Tin Lành
Hàm Yên xưa là huyện Sóc Sùng, đời Minh là huyện Văn Yên, sau nhập vào huyện Khoáng Đời Lê sơ gọi là huyện Sùng Yên sau đổi là Phúc Yên NămMinh Mạng thứ 3 (1822) kị húy chữ Phúc, đổi là Hàm Yên Năm Duy Tân thứ 7(1913) chia huyện Hàm Yên thành 2 huyện Hàm Yên và Yên Sơn Tháng 12 năm 1975 trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên, Hàm Yên là huyện lị của tỉnh Hà Tuyên Năm 1991, khi tách trở lại thành Tuyên Quang và Hà Giang, Hàm Yên là huyện lị của tỉnh Tuyên Quang
Địa hình huyện Hàm Yên khá phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi cao và
hệ thống sông ngòi, thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Đông Nam Nhìn tổng thể, huyện nằm giữa 2 dãy núi lớn Dãy Trạm Chu chạy
từ Tự Do ( thuộc xã Yên Thuận) tới Bình xa, theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,
Trang 34từ Yên Hương tới Hùng Đức, có đỉnh cao nhất là núi Phấn (651m) và nhiều đỉnhcao hơn 500m Cả hai dãy núi này đề có hướng dốc xuôi xuống phía sông Lô, tạo cho Hàm yên có thể như một thung lũng lòng chảo lớn mà đáy của nó là lưu vực sông Lô với những cánh đồng lớn và các soi bãi phù sa dọc hai bên bờ, có
độ cao trung bình so với mặt nước biển là 46,7m
Núi đồi Hàm yên chủ yếu là đồi núi đất (91,36% diện tích), có thảm thực vật phong phú và nhiều loại gỗ quý hiếm như: Đinh, Lim, Nghiến, Lát và các loài thú quý như hươu, nai, hổ, báo, gấu, nhím, tắc kè… núi đá chiếm khoảng 8,64% diện tích núi đồi, phân bố chủ yếu ở các xã: Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Phù Lưu, Thái Sơn, Thái Hòa Đặc biệt, với vị trí thuận lợi cho khai thác, vân chuyển, với diện tích lớn và chất lượng tốt, rừng Hàm Yên là vùng nguyên liệu giấy truyền thống của tỉnh Tuyên Quang
Diên tích đất nông nghiệp của huyên không lớn (khoảng 13.880ha, chiếm 15% tổng diện tích, trong đó chỉ có 3.325ha là lúa nước); bình quân là 1052m2
một người, các cách đồng phần lớn nhỏ hẹp, phân tán dọc các sườn đồi Hàm yên có một số cách đồng rộng từ 30 đến 70ha nằm ở các xã Thái Hòa, Nhân Mục, Yên Hương, Bình Xa, Minh Hương Huyện có hơn 61.039ha đồi đất,thích hợn cho các cây công nghiệp (sả, chè), cấy ăn quả ( cam, quý, dứa…), cây lương thực (ngô, sắn…)
Hệ thống sông, ngòi của huyện khá dầy, tổng chiều dài là 455km sông Lôchảy qua địa phận huyện với chiều dài 68,8km từ Hòa Đông (xã Yên Thuận) tớ Chợ Tổng ( xã Đức Ninh) chia huyện thành 2 phân tả ngạn và hữu hạn, có giá trịlớn về giao thông vận tải; là nguồn nước sinh hoạt của nhân dân ven sông, trên đất huyện Hàm yên còn có 6 con suối lớn, cả 6 con suối này đều bắt nguồn từ núi Phấn hoặc núi Trạm Chu và cùng đổ ra sông Lô Do độ dốc, khúc
khửu,nhiều thác ghềnh, thường có lũ lớn vào mùa mưa… nên sông , suối ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp cũng như trở ngại lớn trong việc mở mang giao thông, xây dựng cầu cống…bên cạnh đó về khí hậu ở Hàm Yên hình
Trang 35thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng tháng 4 đến tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 nămtrước đến tháng 3 năm sau,nhiệt độ trung bình hàng năm 22,490, độ ẩm là
87,07%, lượng mưa bình quân là 162,40 mm Điều kiện tự nhiên của huyện Hàm Yên đã mang lại cho huyện những lợi thế lớn về nghề rừng, chăn nuôi và trồng trọt, trong quá trình xây dựng quê hương với các thế mạnh trên đã từng bước khai thác, phát huy cơ cấu kinh tế, lâm nghiệp của huyện
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX nhiệm
kỳ 2010 – 2015, trong thời gian qua Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã đoàn kết năng động, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh các phong trào thi đua; đề ra các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả việc thực hiện toàn diện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh, xâydựng đảng và hệ thống chính trị Trong điều kiện suy thoái kinh tế, thắt chặt đầu
tư công, Đảng bộ huyện đã ban hành và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đồng bộ các chương trình, kế hoạch, giải pháp phát triển kinh tế, tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện phát triển sản xuất trong đó kinh tế huyện tiếp tục tăng
trưởng thu nhập bình quân hàng năm đạt 14,41% cụ thể thu nhập bình quân đầu người đạt 23,370 triệu đồng/người/năm, tương đương 1,100USD (mục tiêu nghi quyết 18 triệu đồng/người/năm) cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần
tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, thủy sản đời sống nhân dân từng bước được nâng lên trong đó nông nghiệp và thủy sản chiếm 37,96% ( mục tiêu nghi quyết 37,3%); công nghiệp – xây dựng chiếm 29,9% ( mục tiêu nghi quyết (31,9 %); các nghành dịch vụ chiếm 34,3% (mục tiêu nghi quyết 30,08%), thực hiện các giải pháp giảm nghèo bên vững; các chương trình mục tiêu và huy động nguồn nhân lực hỗ trợ nâng cao đời sống chocác hộ nghèo, nhất là các xã đặc biệt khó khăn, hoàn thành tốt kế hoạch giảm nghèo hàng năm ( giai đoạn 2011 – 2015 có 7.710 hộ thoát nghèo, giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 38,06% xuống còn lại 11,45% năm 2015
Lĩnh vực văn hóa, thông tin tiếp tục phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước Chất lượng hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền được
Trang 36nâng cao, đặc biệt lễ hội truyền thống như: Động Tiên, chợ Quê, Hội chọi trâu
đã thu hút nhiều du khác đến thăm quan
Tình hình an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện cơ bản ổn định và giữ vững; chủ động nắm chắc tình hình, tập trung giải quyết ngay
từ cơ sở không để xảy ra tình huống bị động, bất ngờ tạo nhiều “điểm nóng” Chủ động xây dựng và triển khai đồng bộ các kế hoạch bảo vệ đảm bảo an ninh trật tự trong các ngày lễ tết và các sự kiên chính trị của địa phương; nắm chắc tình hình hoạt động và thực hiện các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của tổ chức bất hợp pháp lợi dụng dân tộc, tôn giáo Đấu tranh với các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, nâng cao chất lượng điều tra, phá án Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế -
xã hội của huyện
Hoạt đông cua MTTQVN huyện và các đoàn thể chính trị - xã hội đã có nhiều cố gắng, tích cực trong đổi mới nội dung, hình thức hoạt động, phát triển thành viên, tăng cường việc mở rộng tập hợp các tổ chức quần chúng nhân dân hoạt động theo ngành, nghề, giới, lĩnh vực có nhiều đóng góp thiết thực cho xã hội Không ngừng khơi dậy truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các tầng lớp nhân dân ở cộng đồng dân cư; giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân theo phong
cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm của nhân dân”,
đồng thời nâng cao nhận thức, phát huy truyền thống vẻ vang của MTTQVN biểu tượng khối đoàn kết toàn dân tộc qua các thời kỳ cách mạng
Cho đến nay, Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam huyên Hàm Yên đã trải qua 18
kỳ đại hội Đại hội lần thứ XVIII Mặt trận Tổ quốc huyện đã đề ra phương châm
và nhiệm vụ chung là:
Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên các cấp, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương, hướng mạnh mẽ về các khu dân cư để triển
Trang 37khai cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và cuộc vận động “ngày vì người nghèo” Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, huy động sức mạnh khối đoàn kết toàn dân để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững vàng, đi đôi với phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân Không ngường xây dựng và củng cố tổ chức, đổi mới hơn nữa phương thức hoạt động của Mặt trận các cấp.
Như vậy, chức năng giám sát xã hội đã được nêu rõ trong nội dung nhiệm
vụ của Đại hội Mặt trận Tổ quốc huyện Điều đó cho thấy đây là một trong những nội dung quan trọng trong thực hiện của Mặt trận
Đây là tiền đề thuận lợi để nhân dân tin tưởng thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện đặt ra thông qua sự lãnh đạo của Đảng bộ và tham gia tích cực các phong trào của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội trong huyện
2.1.2 Tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc huyện Hàm Yên
Mặt trận Tổ quốc huyện Hàm Yên trong những năm qua có bước phát triển mạnh cả về nội dung và hình thức hoạt động, đặc biệt về cơ cấu tổ chức bộ máy, cán bộ Trong nhiệm kỳ 2009 – 2014 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện đã
kết nạp 02 tổ chức làm thành viên mới (Hội Luật gia, Hội Đông y) vào tổ chức
thành viên của Mặt trận huyện, nâng tổng số thành viên lên 12 thành viên
(Đảng, Hôi liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Liên đoàn lao động, Hội cựu chiến
binh, Đoàn thanh niên, Hội người cao tuổi, Hội cưu thanh niên xung phong, Hội luật gia, Hội đông y, Hội chữ thập đỏ, Hội cựu giáo chức); Ủy ban MTTQVN
huyện có 53 ủy viên, Ban Thường trực gồm 4 ủy viên ( 01 Chủ tịch, 02 Phó chủ tịch, 01 Ủy viên thường trực)
MTTQVN cấp xã, thị trấn gồm 631 Ủy viên, Chủ tịch MTTQVN cấp xã, thị trấn gồm 18 đồng chí, 03 xã (Phù Lưu, Bình xa, thị trấn) có 2 phó Chủ tịch
Trang 38Mặt trận, toàn huyện có 321 Ban công tác Mặt trận khu dân cư Để nâng cao chất lượng hoạt động và nghiệp vụ công tác Mặt trận trong phong trào thi đua,
là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là chỗ dựa tin cậy để nhân dân phản ánh tâm
tư nguyện vọng của mình, Ban thường trực Ủy ban MTTQ huyện đã phối hợp với trung tâm Bồi dưỡng chính trị, phòng văn hóa huyện mở 18 lớp tập huấn chocác đối tượng là Ban thường trực ủy ban MTTQ các xã, thị trấn, trưởng ban công tác Mặt trận ở các khu dân cư, Ban thanh tra các xã, thị trấn có 1.794 học viên tham gia Hàng năm Ban thường trực và cán bộ chuyên trách Ủy ban
MTTQ huyện, Chủ tịch Ủy ban MTTQ, Trưởng ban thanh tra nhân dân các xã, thị trấn tham gia đầy đủ các lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ do Ban thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh tổ chức Như vậy, thông qua các buổi tập huấn, trao đổikinh nghiệm giúp cán bộ Mặt trận các cấp trong huyện rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, để từ đó trong quá trình thực hiên triển khai các chương trình, động viên sức mạnh khối đoàn kết toàn dân để thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện cơ sở đạt hiệu quả cao
Dưới ngọn cờ đại đoàn kết, MTTQVN huyên Hàm Yên đã phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy trí tuệ và sức mạnh to lớn của các giai cấp và tầng lớp nhân dân trong huyện thực hiện các nhiêm chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, giữa vững an ninh, quốc phòng địa phương:
Giai cấp công nhân, đội ngũ công chức, viên chức và người lao động,
nòng cốt là tổ chức công đoàn với 3.280 đoàn viên với 116 công đoàn cơ sở, đây
là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong khối liên minh công, nông và đội ngũ tri thức, là lực lượng phát triển nhanh về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí vượt qua khó khăn thử thách, hăng say lao động sản xuất, có niềm tin tưởng mãnh liệt vào con đường cách mạng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Tích cực rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, chuyên môn nghiệp vụ, là lực lượng tiên tiến làm
Trang 39chủ khoa học kỹ thuật, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Giai cấp nông dân Thông qua đường lối của Đảng các chính sách của
Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn mà trực tiếp đây là Hội Nông dân trong những năm gần đây đạt được một số kết quả rõ rệt, thu hút lực lượng đông đảo 15.464 hội viên với 18 cơ sở trực thuộc, luôn tin tưởng sự lãnh đạo củaĐảng, thành viên hội cần cù và sáng tạo trong lao động, tích cực áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi
để tạo thành hàng hóa Kinh tế hộ gia đình phát huy hiệu quả, đã xuất hiện ngày càng nhiều điển hình kinh tế giỏi, nhất là chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây trồng rừng số hộ khá giàu tăng, số hộ nghèo giảm (năm 2015 toàn huyện có 65 trang trại, nhiều trang trại đã có thu nhập từ trên
700 triệu đồng đến 01 tỉ đồng/năm) Truyền thống đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống được phát huy ở mỗi khu dân cư Đồng thời trong những năm gần đây hội tích cực tham gia cùng cơ quan địa phương và nhân dân tham chương trình xây dựng nông thôn mới với 18 tiêu chí trong đó thực hiện bê tông hóa thay cho các con đường lầy lội trước đây với sự tham gia
hỗ trợ của nhà nước và công sức của nhân dân cùng làm đã bê tông hóa trên 375km đường bê tông nông thôn trên toàn huyện
Hội liên hiệp phụ nữ có tổng 13.868 hội viên với 19 cơ sở trực thuộc,
trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò trọng yếu, là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh của cả dân
tộc Phát huy truyền thống “Anh hung, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong sự
nghiệp cách mạng Ngày nay, trong thời kỳ hôi nhập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam nói chung, Hội phụ nữ huyện nói riêng là lực lượng lao động đông đảo nhất trong các lực lượng lao động, đảm nhiệm phần lớn công việc sản xuất và đời sống ở địa phương, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình Trong những năm gần đây, các thành viên hội tích cực tham gia công việc sản xuất kinh doanh để đảm bảo đời sống gia đình và làm nghĩa vụ với nhà
Trang 40nước, lại phải vươn tới những tiến bộ mới để đạt hiệu quả cao Điều này cho thấy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình hiện nay rất quan, trọng những đóng góp của lao động nữ đã góp phần phát triển kinh tế toàn diện huyện.Trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ huyện tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động
xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia hoạt động kinh tế, xã hội; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội…
Ngày nay, càng có nhiều người được giao trong trách trong quản lý các cơ
quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, xứng đáng với danh hiệu “giỏi việc nước,
đảm việc nhà”
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh với 5.439 đoàn viên với 35 là lực
lượng tiên phong trong việc thực hiện các phong trào cách mạng, tiếp cận nhữngthành tựu khoa hoc hiện đại và làm chủ công nghệ mới trong ứng dụng thực tiễn Với sức trẻ đoàn viên thanh niên không chỉ tích cực học tập, rèn luyện đạo đức, trao rồi tri thưc mà nhiều đoàn viên còn là tấm gương điểm hình phát triển kinh tế địa phương Bên cạnh đó đoàn thanh niên huy đông, động viên các đoàn viên tham gia thực hiện xuất sắc các nội dung của phong trào thanh niên xung kích trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc cấp trên đề ra, đồng thời tạo điều kiện cho thanh niên phát huy tài năng với tinh thần trách nhiệm cao trong các phong trào phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp tích cực cho tập thể và cộng đồng cơ sở đoàn Hiện nay, đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đang tham mưu xây dựng kế hoạch và giải pháp tích cực để thu hút, tập hợp thanh niên trong tình hình mới
Hội cựu chiến binh có 4.184 hội viên với 22 cơ sở trực thuộc, hội tiếp tục
phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của lực lượng cựu chiến binh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không ngừng phát huy bản chất truyền thống “bộ