1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Quy chế pháp lý bảo vệ quyền lợi khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm

28 371 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 202 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy vấn đề tham gia bảo hiểm ngày càng được quan tâm nhiều hơn bên cạnhnhững đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước và vấn đề chăm sóc, bảo vệkhách hàng khi tham gia hợp đồng

Trang 1

Luật KDBH : Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

và hạn chế tổn thất mà còn là một công cụ tín dụng, với quỹ bảo hiểm do các thànhviên tham gia đóng góp, cơ quan, công ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổnthất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm để họ khôi phục đời sông,sản xuất kinh doanh, bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế vớinước ngoài, giúp các cơ quan bảo hiểm của Việt Nam có cơ hội để trao đổi nghiệp vụ

và nâng cao trình độ với các cơ quan và tổ chức nước ngoài, trao đổi kinh nghiệm,phát triển các loại hình bảo hiểm có thể áp dụng vào thực tiễn ở Việt Nam Đó lànhững bằng chứng không thể phủ nhận vai trò to lớn cũng như một tương lai pháttriển của kinh doanh bảo hiểm trong thực tế

Vì vậy vấn đề tham gia bảo hiểm ngày càng được quan tâm nhiều hơn bên cạnhnhững đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước và vấn đề chăm sóc, bảo vệkhách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm còn bộc lộ một số vấn đề đáng quan tâm.Kiến thức trong lĩnh vực này còn khá mới mẻ đối với mọi người thể hiện qua sự khóhiểu của các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm, trong khi đó, sự hiểu biết củangười dân về hợp đồng bảo hiểm còn hạn chế, có những khách hàng muốn tham giahợp đồng bảo hiểm nhưng chưa hiểu rõ tất cả các khoản trong hợp đồng dẫn đếnnhững khó khăn nhất định Thêm vào đó, môi trường pháp lý điều chỉnh về lĩnh vựcnày còn chưa hoàn thiện Đó là lý do nhóm chọn đề tài:"Quy chế pháp lý bảo vệquyền lợi khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm"

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi bài báo cáo này, nhóm tập trung nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm

và việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm trên cơ sởxem xét các quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Luật sửa đổi bổsung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, Bộ luật dân sự năm 2005,

và các văn bản có liên quan Trên cơ sở đó thấy được ưu điểm, nhược điểm của cácquy định để đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảohiểm

Trang 3

3 Mục đích nghiên cứu

Trước hết, nghiên cứu này nhằm làm rõ các quy định của pháp luật về hợp đồngbảo hiểm, tính phức tạp và khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm, thông qua đó bảo vệquyền lợi của khách hàng khi họ tham gia hợp đồng bảo hiểm, xem xét tính chính xác,đúng đắn và hiệu quả của các qu định đó trên cơ sở khoa học và thực tế Từ đó, nhómnhận những điểm chưa phù hợp, những thiếu sót và cuối cùng đưa ra những kiến nghịgiải pháp đối với những vấn đề đang tồn tại Mục đích cuối cùng và lớn nhất của việcnghiên cứu này là đóng góp một phần nhỏ trong việc xâydựng và hoàn thiện khungpháp lý hiệu quả và khả thi hơn để các khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm sẽđược bảo vệ quyền lợi một cách tốt nhất

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để hoàn thành tốt bài báo cáo này, nhóm đã sử dụng những phương pháp nghiên cứusau:

-Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở;

-Phương pháp liệt kê;

-Phương pháp phân tích luật viết;

-Phương pháp phân tích, tổng hợp;

-Phương pháp so sánh;

5 Kết cấu của bài báo cáo

Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài báo cáogồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề chung về hợp đồng bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi kháchhàng trong hợp đồng bảo hiểm

Chương II: Quy chế pháp lý về hợp đồng bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi khách hàngtrong hợp đồng bảo hiểm

Chương III: Những tồn tại trong vấn đề bảo vệ quyền lợi khách hàng trong hợp đồngbảo hiểm và một số giải pháp đề xuất

Trang 4

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ BẢO

VỆ QUYỀN LỢI KHÁCH HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm

1.1.1 Thế giới

Đầu tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên người ta đã tìm cách giảmnhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng của mình ra làm nhiềuchuyến hàng Đây là cách phân tán rủi ro, tổn thất và có thể coi đó là hình thức nguyênkhai của bảo hiểm Sau đó để đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vaymạo hiểm” đã xuất hiện theo đó trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng hoá trongquá trình vận chuyển, người vay sẽ được miễn không phải trả khoản tiền vay cả vốn lẫnlãi Ngược lại họ sẽ phải trả một lãi suất rất cao khi hàng hoá đến bến an toàn, như vậy cóthể hiểu lãi suất cao này là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm Song số vụ tổn thất xảy rangày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm vàthay thế nó là hình thức bảo hiểm ra đời

Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng bảo hiểmhàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽbồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệthại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí Hợp đồng bảo hiểm cổ xưanhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren Sau

đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ, ngành hàng hải nóichung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh

Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bản pháp luậtđầu tiên trong ngành bảo hiểm Sau đó là sắc lệnh của Philippe de Bourgogne năm 1458,những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558.Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hànghoá

Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII cùng với sự ra đời của phương thức sảnxuất TBCN thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngày càng đi sâu vào nhiềulĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội Mở đường cho sự phát triển này là luật 1601 củaAnh thời Nữ hoàng Elisabeth, sau đó là Chỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên soạn vàVua Louis XIV ban hành , đó là những đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo hiểm hànghải

Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hoả hoạn, đánh dấu bằng vụcháy thảm khốc ở Luân Đôn nước Anh ngày 2/9/1666 hủy diệt 13.000 căn nhà trong đó

có hơn 100 nhà thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớn không thể cứu trợ được

Trang 5

Sau đó những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hoảhoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm hoả hoạn như : " Fire Office"(năm 1667), "Friendly Society" (năm 1684), "Hand and Hand" (năm 1696), "Lom BardHouse" (năm 1704) Lúc đó Công ty bảo hiểm Lloyds đã ra đời nhưng chỉ hoạt độngtrong lĩnh vực hàng hải Mãi tới thế kỷ XX mới chuyển sang hoạt động cả lĩnh vực nộiđịa và tái bảo hiểm.

1.1.2 Việt Nam

Không có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác ngành bảo hiểm xuất hiệntại Việt Nam từ bao giờ mà chỉ phỏng đoán vào năm 1880 có các Hội bảo hiểm ngoạiquốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy sĩ, Hoa kỳ đã để ý đến Đông Dương Các Hộibảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi các Công ty thương mại lớn, ngoài việcbuôn bán, các Công ty này mở thêm một Trụ sở để làm đại diện bảo hiểm Vào năm

1926, Chi nhánh đầu tiên là của Công ty Franco- Asietique Đến năm 1929 mới có Công

ty Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạtđộng về bảo hiểm xe ô tô Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mở rộngdưới những hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều Công ty bảo hiểm trongnước và ngoại quốc

Ở miền Nam, năm 2926 có chi nhánh đầu tiên của công ty Franco Asietique Đếnnăm 1929, công ty Việt Nam bảo Hiểm công ty ra đời đặt trụ sở tại Sài Gòn, nhưng chỉhoạt đồng về bảo hiểm ô tô Từ năm 1952 về sau hoạt động bảo hiểm mới được mở rộngvới nhiều hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều công ty bảo hiểm trong nướclẫn nước ngoài Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam đã tồn tại 57công ty bảo hiểm dưới nhiều hình thức pháp lý: công ty cổ phần, công ty tương hỗ vàcông ty bảo hiểm nước ngoài Sau năm 1975, một số công ty bảo hiểm ở miền Nam đãđược quốc hữu hóa và sáp nhập vào công ty Bảo hiểm Việt Nam

Ở Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt)mới chính thức đi vào hoạt động Bảo Việt là đơn vị trực thuộc Bộ tài chính, có chứcnăng giúp Bộ tài chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm nhà nước và trực tiếp tiếnhành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước Trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ tiến hànhcác nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu viễndương và chỉ mới dừng lại ở khâu nghiên cứu kỷ thuật nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ

Trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở nghiên cứu hoạtđộng bão hiểm ở các nước phát triển trên thế giới, Nghị định số 100/CP của Chính phủnagy2 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm được ban hành đã đánh dấu một bước ngoặclớn trong sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam, tạo điều kiện mở

Trang 6

rộng nhiều loại hình kinh doanh bảo hiểm với nhiều tổ chức trong và ngoài quốc doanh

để nâng cao chất lượng hoạt động bảo hiểm

Ngày 3/5/1999, Ban tổ chức cán bộ Chính phủ đã có quyết định phê duyệt Điều lệcủa hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và lấy ngày 3/5 hàng năm làm ngày hội truyền thốngcủa những người làm bảo hiểm ở Việt nam

Hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm đang ngày càng hoàn thiện Ngày09/12/2000, Luật kinh bảo hiểm được Quốc hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Namthông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa X và có hiệu lực từ ngày 1/4/2001, đặt nền móng pháp

lý cơ bản cho sự phát triển thị trường abo3 hiểm Việt Nam Xuất phát từ những đòi hỏikhách quan và tạo cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn để vướng mắc mà ngành bảohiểm đang gặp phải, nhằm phát triển thĩ tường bào hiểm ổn định và bền vững lâu dài.Vừa qua, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốchội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 24/11/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày01/7/2011 đã đáp ứng được những những đòi hỏi trên

1.2 Khái quát về hợp đồng bảo hiểm

1.2.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm

Trên góc độ pháp lý, hợp đồng bảo hiểm được hiểu là một cam kết pháp lý được thểhiện bằng văn bản giữa hai bên: Bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Trong đó bên bảohiểm cam kết sẽ bồi thường cho bên mua bảo hiểm trong trường hợp họ phải gánh chịunhững tổn thất tài chính do các rủi ro hoặc sự kiện được bên bảo hiểm chấp nhận gây ratrong thời gian hiệu lực của hợp đồng, trên cơ sở bên mua bảo hiểm trả cho bên bảo hiểmmột số tiền nhất định (gọi là phí bảo hiểm)

Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: '' Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm"

Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 " Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm"

Tại khoản 10, điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm nói rõ “sự kiện bảo hiểm là sự kiệnkhách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thìdoanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểmcho người thụ hưởng hoặc bồi thường chongười được bảo hiểm.”

1.2.2 Chủ thể

Trước hết là các bên trong hợp đồng bảo hiểm: bên bảo hiểm (doanh nghiệp bảohiểm) và bên được bảo hiểm (gồm có: người mua bảo hiểm, người được bảo hiềm vàngười thụ hưởng)

Trang 7

Liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm còn có thể có trung gianbao hiểm như: đại lý bảo hiểm hoặc môi giới bảo hiểm.

- Người bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm): Là tổ chức hoặc cá nhân có đầy đủ tưcách pháp nhân được Nhà nước cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đượcthu phí bảo hiểm để lập ra quỹ bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi thường hay chi trả chobên được bảo hiểm theo thảo thuận của hợp đồng bảo hiểm

- Người tham gia bảo hiểm: Là tổ chức hoặc cá nhân ký kết hợp đồng bảo hiểm vớicông ty bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm

- Người được bảo hiểm: Là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tínhmạng hoặc tình trạng sức khỏe… được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm

- Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm: Là tổ chức, cá nhân được người tham giabảo hiểm chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm sẽ nhận bồi thường hoặc tiền trả bảo hiểm

1.2.3 Khách thể

Hợp đồng bảo hiểm được ký kết để được bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro– sự kiện bảo hiểm Tuy nhiên, lý do giao kết hợp đồng bảo hiểm của các chủ thể khôngphải nhằm loại bỏ rủi ro mà là nhu cầu bảo đảm về mặt vật chất, tài chính của các lợi íchkinh tế liên quan Vì vậy khách thể của hợp đồng bảo hiểm là lợi ích kinh tế mà bênđược bảo hiểm được bảo vệ bởi hợp đổng bảo hiểm

1.2.4 Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm là tài sản, những lợi ích có liên quan tới tài sản, trách nhiệm dân

sự hoặc tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động, tuổi thọ con người Nói chung đây lànhững đối tượng có thể gặp rủi ro và tổn thất nên cần có sự bảo đảm bằng các loại hìnhbảo hiểm tương ứng Đối tượng bảo hiểm được xác định cho từng loại nghiệp vụ bảohiểm và cụ thể hơn trong từng hợp đồng bảo hiểm bằng điều khoản về đối tượng bảohiểm Việc xác định rõ đối tượng bảo hiểm sẽ quyết định việc vận dung các nguyên tắc,biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ thích hợp trong soạn thảo, thỏa thuận, quản lý và thực hiệnhợp đồng bảo hiểm

1.2.5 Những đặc trưng pháp lý riêng biệt của hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng song vụ mở

Hợp đồng có bồi thường

Hợp đồng may rủi

Hợp đồng tùy thuộc

1.2.6 Phân loại hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm con người

Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Trang 8

1.3 Khái quát về khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm

1.3.1 Thuật ngữ khách hàng

Có thể thấy, khách hàng là yếu tố quan trọng không thể thiếu được, có vai tròquyết định cho sự tồn tại và phát triển của thị trường Nếu không có khách hàng đồngnghĩa với việc không có thị trường Có rất nhiều khái niệm về khách hàng, nhưng có thểhiểu một cách khái quát rằng khách hàng dùng để chỉ người mua hàng hóa, dịch vụ để sửdụng cho bản thân hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh Hoặc theo nhận địnhcủa ông Omid Kordestani – Phó giàm đốc bán hảng và phát triển kinh doanh toàn cầucủa tập đoàn Google thì: “Khách hàng là người tác động đến cách thức tiếp thị, phát triểnsản phẩm, thay đổi lộ trình tung sản phẩm ra thị trường và định giá sản phẩm” Thật vậykhách hàng là một trong ahi yếu tố quan trọng hình thành nên quá trình trao đổi mua bánbán trên thị trường, nhân tố còn lại là người bán

1.3.2 Khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm

Ở thị trường bảo hiểm cũng không ngoại lệ, tham gia vào thị trường bảo hiểm cóngười người mua bảo hiểm, tức khách hàng, doanh nghiệp bảo hiểm và các tổ chức trunggian Và nếu hiểu theo nghĩa rộng thì khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm lá các cánhân và tổ chức trong xã hội, bao gồm cả khách hàng hiện tại và khách hàng tương lai.Hiểu theo nghĩa rộng thì khách hàng trong hoạt động bảo hiểm là người chuyển rủi ro chobên kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở mua bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm cho bên kinhdoanh bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường tiền chokhách hàng đã mua bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

Theo khoản 6 điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm là tổ chức cánhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm

1.3.3 Quy chế pháp lý bảo vệ quyền lợi khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm

Quy chế pháp lý bảo vệ quyền lợi khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm là tổng thểnhững quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể khi tham gia hợpđồng bảo hiểm Thông qua các quy định này mà các nhà làm luật thể hiện ý chí bảo vệquyền lợi khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm Cụ thể là trong các giai đoạn giao kết,thực hiện và chấm dứt hợp đồng bảo hiểm, pháp luật đã có những quy định giúp bảo vệquyền lợi khách hàng một cách tối ưu nhất

1.3.4 Mục đích của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm

Việc tham gia bảo hiểm là cách để khách hàng được chia sẻ rủi ro khi gặp chuyệnkhông may Tuy nhiên trên thực tế đã có nhiều trường hợp người tham gia bảo hiểmkhông được hưởng quyền lợi chính đáng và phải tự mình bỏ tiền túi ra để bù tổ thất.Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên là do một số doanh nghiệp bảo hiểm chậm trễ hoặcphớt lờ việt bồi thường, chi trả cho khách hàng với nhiều lý do khác nhau Thực tế thấy

Trang 9

rằng, khi giải quyết bồi thường hoặc chi trả cho khách hàng, không ít công ty bảo hiểmtìm mọi cách để kéo dài thời gian bằng việc yêu cầu người mua bảo hiểm phải cung cấpnhiều loại giấy tờ và chứng nhận khác nhau Việc tự mình đến các cơ quan chức năng thuthập hồ sơ, giấy tờ đã khiến khách hàng tốn nhiều thời gian, công sức và gây ra nhiều bứcxúc Trong khi đó, theo hợp đồng bảo hiểm thì công ty bảo hiểm có nghĩa vụ giúp đỡkhách hàng hoàn thành hồ sơ bồi thường.

Mặt khác, nhiều nười mua bảo hiểm không hiểu đầy đủ các quy tắc trong hợp đồngbảo hiểm Trong khi đó, một số nhân viên bán bảo hiểm có trình độ yếu kém đã khônggiải thích rõ ràng cho khách hàng về những nội dung xung quanh hợp đồng bảo hiểm àmchỉ muốn sớm ký được hợp đồng Từ đâu có thể thấy sự thiếu trách nhiệm của nhân viênbán bảo hiểm và của cả doanh nghiệp bảo hiểm, dẫn đến hệ quả là quyền lợi khách hàngkhông được đảm bảo Chính vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi khách hàng khi tham gia hợpđồng bảo hiểm là một vấn đề hết sức cần thiết, đồng thời tạo nên một sự yên tâm nhấtđịnh cho khách hàng khi họ tham gia hợp đồng bảo hiểm

Trang 10

CHƯƠNG II QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI KHÁCH HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

2.1 Bảo vệ quyền lợi khách hàng trong xác lập hợp đồng bảo hiểm

2.1.1 Nguyên tắc xác lập hợp đồng bảo hiểm

Xác lập hợp đồng bảo hiểm là quá trình thể hiện, thống nhất và thực hiện ý muốngiao kết hợp đồng bảo hiểm bằng các hành vi pháp luật của bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm

Việc xác lập hợp đồng bảo hiểm phải tuân theo những nguyên tắc chỉ đạo vàchuẫn mực hóa các hành vi lập hợp đồng của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảohiểm Với đặc thù của lĩnh vực bảo hiểm, xác lập hợp đồng bảo hiểm phải đảm bảo cácnguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc công bằng đôi bên đều có lợi

Nguyên tắc này đòi hỏi bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải có sự hiểubiết đúng đắng và công bằng, sử dụng quyền lợi và thi hành nghĩa vụ một cách chínhđáng đồng thời phải quan tâm tới quyền lợi của người khác và lợi ích chung của xã hộitrong việc xác lập hợp đồng bảo hiểm

- Nguyên tắc bàn bạc thống nhất

Nguyên tắc bàn bạc thống nhất là ý nghĩa nổi bật của hợp đồng bảo hiểm Nguyên tắcnày đòi hỏi các nên của hợp đồng bảo hiểm cụ thể là người tham gia bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm phải tỏ rõ ý chí của mỗi bên khi xác lập hợp đồng bảo hiểm và phải đạtđược sự thống nhất về ý muốn đó

- Nguyên tắc tự nguyện

Nguyên tăc tự nguyện là sự thể hiện ý muốn cũng như sự đòi hỏi giữa hai bên tronghợp đồng bảo hiểm đều có vai trò ngang nhau Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trìnhxác lập hợp đồng bảo hiểm bên này không được dựa vào ưu thế kinh tế của mình hoặc ýmuốn riêng biệt của mình để áp đặt cho bên kia, bắt ép bên kia xac lập hợp đồng bảohiểm Bất cứ tổ chức hay cá nhân nào khác đều không được can thiệp một cách bất hợppháp vào việc xác lập hợp đồng này

- Nguyên tắc không làm hại lợi ích chung của xã hội

Lợi ích chung của xã hội là lợi ích cộng đồng, lợi ích căn bản của mọi người trong xãhội mà các đạo luật khác đã quy định, hai bên trong hợp đồng bảo hiểm phải cùng nhaubảo vệ lợi ích này Hoạt động xác lập hợp đồng bảo hiểm cũng không được làm hạinguyên tắc lợi ích chung của xã hội

Các nguyên tắc trên cho thấy phần nào mục đích của việc xác lập hợp đồng bảohiểm hướng đến là bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia Trong đó, bên mua bảo hiểm

Trang 11

luôn được quan tâm bảo vệ nhiều hơn Từ đó thông qua các quy định tại Luật Kinhdoanh bảo hiểm năm 2000, các nhà làm luật đã cân nhắc đến các vấn đề có thể gây bấtlợi cho bên mua bảo hiểm và từ đó đưa ra các quy định nhằm bảo vệ và giúp người muabảo hiểm tránh khỏi các rủi ro cũng như các thiệt hại trong quá trình họ xác lập hợp đồngbảo hiểm

2.1.2 Cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi khách hàng trong quá trình xác lập hợp đồng bảo hiểm

2.1.2.1 Quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm

Trên cơ sở quán triệt những nguyên tắc cơ bản trên, việc xác lập hợp đồng bảohiểm được khởi đầu bằng đề nghị giao kêt hợp đồng bảo hiểm Đầu tiên, khi có ý địnhmua bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm,

và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 18 : “Bên muabảo hiểm có quyền : Lựa chon doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại việt nam để mua

bảo hiểm” Bên mua bảo hiểm có quyền lựa chọn mua bảo hiểm ở bất kỳ doanh nghiệp

bảo hiểm nào miễn là doanh nghiệp đó đang tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểmtrên lãnh thổ Việt Nam.Việc này thể hiện quyền tự do giao kết hợp đồng của bên mua, từ

đó họ có thể lựa chon các doanh nghiệp uy tín, đảm bảo tài chính và thực hiện bồithường hoặc chi trả nhanh chóng cho mình Quyền này đồng thời thúc đẩy sự cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp bảo hiểm với nhau trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm: mứcphí thấp hơn, thủ tục bồi thường hoặc chi trả nhanh chóng, hợp tình, hợp lý hơn, kịp thờikhắc phục được những tổn thất về tài chính đối với bên tham gia bảo hiểm khi sự kiệnbảo hiểm xảy ra Điều kiện này giúp cho hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam càng phát triển

và hoàn thiện hơn

2.1.2.2 Trách nhiệm cung cấp thông tin

Về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm “Khi giao kết hợpđồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liênquan đến hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện,điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm ” (khoản 1, Điều 19 Luật KDBH) Việccung cấp thông tin phải đảm bảo về tính chính xác, trung thực của thông tin Bên cạnh

đo, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bảo mật về thông tin do bên mua cung cấp.Việc cung cấp thông tin đầy đủ chính xác là một trong những điều kiện để đảm bàoquyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm Tránh tình trạngthông tin khách hàng và cả doanh nghiệp bảo hiểm bị sai sót, gây hiểm lầm cho đốiphương dẫn đến những hậu quả không đáng có

2.1.2.3 Giải thích hợp đồng

Bên mua bảo bảo hiểm sau khi nghiên cứu các điều khoản, các quy tắc bảo hiểm,loại bảo hiểm thích hợp với nhu cầu bảo hiểm của mình họ sẽ điền các thông tin cần thiết

Trang 12

vào giấy yêu cầu bảo hiểm theo mẫu in sẵn do doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp khi chàobán bảo hiểm và gửi cho doanh nghiệp bảo hiểm Do đó, về nguyên tắc người mua bảohiểm không được đàm phán, thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung điều khoản của hợpđồng bảo hiểm Một số ý kiến cho rằng việc doanh nghiệp bảo hiểm soạn sẵn cac thôngtin, cac điều khoản trên hợp đồng mẫu là không đảm bảo được quyền lợi của bên muabảo hiểm Vì trong các nguyên tắc cơ bản khi xác lập hợp đồng là phải có sự bàn bạcthống nhất ý chí giữa các bên Nếu chỉ có một bên doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành soạnthảo các điều khoản trong hợp đồng thì quyền lợi của bên mua bảo hiểm có phải đã bịxâm phạm Xuất phát từ sự “yếu thế” nói trên của người mua bảo hiểm, tính phức tạp vàkhó hiểu của các điều khoản bảo hiểm, và để tránh việc các doanh nghiệp bảo hiểm tìmcách “chèn ép” khách hàng, dồn họ vào tình thế khó lựa chọn cũng như hạn chế vi phạmnguyên tắc “tự do thỏa thuận” trong giao dịch, các nhà làm luật đã đưa ra quy định vềnghĩa vụ giải thích hợp đồng bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người muabảo hiểm như sau

Tại điểm a, khoản 2 điều 17, Luật KDBH quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệpbảo hiểm là “Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm;quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm” Doanh nghiệp bảo hiểm phải đàm bảo thựchiện nghĩa vụ nên tương ứng với quyền mà bên mua bảo hiểm được hưởng, đó là quyền

“Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm” (điểm

b, khoản 1, điều 18,Luật KDBH)

Điều 21, Luật kinh doanh bảo hiểm ghi nhận “trong trường hợp hợp đồng bảo

hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợicho người mua bảo hiểm”

Như vậy, theo các quy định trên thì nghĩa vụ giải thích hợp đồng bảo hiểm trướchết thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm (thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại lý) và việcgiải thích này phải theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm nếu điều khoản không rõràng Khi có tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng liên quan đến nhữngquy định của điều khoản hợp đồng, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cónghĩa vụ làm sáng tỏ ý nghĩa và nội dung của hợp đồng bảo hiểm đó và thường sẽ ưu tiêngiải thích theo hướng có lợi hơn cho người mua bảo hiểm và/hoặc người được hưởngquyền lợi bảo hiểm

Về vấn đề này, tại khoản 2 Điều 407 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định

“Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợpđồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó” Đây là quy định hợp lý bởi

lẽ doanh nghiệp bảo hiểm là bên soạn thảo hợp đồng, do đó về nguyên tắc họ có quyềnđồng thời có nghĩa vụ diễn đạt các điều khoản của hợp đồng một cách rõ ràng, mạch lạc

Trang 13

còn người tham gia bảo hiểm hay người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là bên phải chấpnhận hoặc bác bỏ toàn bộ các điều khoản đó (không tham gia bảo hiểm) mà không được

“mặc cả” bất cứ điều gì Cho nên, khi xảy ra bất kỳ mâu thuẫn hoặc tranh chấp gì về sựkhông rõ nghĩa về các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm thì bên chịu thiệt tất nhiênphải là doanh nghiệp bảo hiểm Vì ngay từ đầu ưu thế đã thuộc về họ nhưng họ khôngvẫn dụng hết ưu thế của mình mà còn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khach hàng

2.1.2.4 Cấp bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm

Sau khi đồng ý với các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng, thì bên mua bảohiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm Lúc này, doanhnghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ “Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm,đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm” (điểm b, khoản 2, điều 17, LuậtKDBH) Tương ứng với nghĩa vụ này, bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệpbảo hiểm “cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm” cho mình theo quy định tạiđiểm b, khoản 1, điều 18 Đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứngthiết thực nhất để các bên xác định quyền và nghĩa vụ khi tham gia hợp đồng bảo hiểm.Đồng thời đây cũng là điều kiện để làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm được quy định tạiĐiều 15, Luật KDBH

2.2 Bảo vệ quyền lợi khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm

2.2.1 Về phần hợp đồng

2.2.1.1 Các nội dung trong hợp đồng bảo hiểm

Tất cả các hợp đồng bảo hiểm phải chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản tốithiểu được Điều 13 Luật KDBH quy định như sau:

“1 Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:

a) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảohiểm hoặc người thụ hưởng;

b) Đối tượng bảo hiểm;

c) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản; d)Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

e) Thời hạn bảo hiểm;

g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

h) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

i) Các quy định giải quyết tranh chấp;

k) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng

2 Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm cóthể có các nội dung khác do các bên thoả thuận.”

Trang 14

Việc quy định hợp đồng bảo hiểm tối thiểu phải chứa đựng 10 nội dung nói trênnhằm đảm bảo quyền và lợi ích của khách hàng, làm cơ sở thi hành quyền và nghĩa vụcủa doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng Mặt khác giúp các cơ quan quản lý nha nhànước nắm rõ các thông tin của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nếu có xãy ra cáctranh chấp phat sinh liên quan đến quyền lợi của khách hàng mà bản thân người kháchhàng không đủ cơ sở để làm sao giành lại quyền lợi của mình , khi đó cơ quan nhà nước

có thẩm quyền sẽ có nhiều cơ sở hơn để bảo vệ quyền và lợi ít hợp pháp của các bên, đặcbiêt là người mua bảo hiểm

Đồng thời nếu có đủ các thông tin này thì người mua bảo hiểm sẽ yên tâm hơn đối

số tiền bỏ ra Các doanh nhiệp bảo hiểm cũng đảm bảo rằng với người mua đây là doanhnghiệp thành lập hợp pháp đáng tin cậy

2.2.1.2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm

Hình thức Hợp đồng bảo hiểm phải thể hiện bằng văn bản do trong những đặcđiểm của bảo hiểm là một cam kết dân sự trong đó DNBH đưa ra cam kết bồi thườngtheo những điều kiện và cách thức nhất định cho những rủi ro tổn thất được bảo hiểm

Điều 14 Luật KDBH quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm,điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.”

Thường thì hợp đồng bảo hiểm là mẫu soạn sẵn của doanh nghiệp bao hiểm đểđiền những nội dung và được người tham gia bảo hiểm chấp nhận ghi vào giấy yêu cầubảo hiểm Theo Bộ Luật Dân sự những hợp đồng soạn sẵn nếu có điều kiện từ ngữ nàokhông được đề cập đến hoặc có cách hiểu không rõ ràng thì được giải thích sao cho có lợicho người tham gia bảo hiểm Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của bên mua bảo hiểm là

bộ phận không tách rời của hợp đồng bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảohiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm Ngay cả khi các giao dịchđược thực hiện bằng “thương mại điện tử”, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn buộc phải soạnthảo, theo dõi và lưu trữ một khối lượng lớn các tài liệu liên quan đến hợp đồng bảohiểm Hợp đồng bảo hiểm được cấu thành từ nhiều bộ phận, tuỳ thuộc vào từng nghiệp

vụ bảo hiểm (thậm chí là từng dịch vụ bảo hiểm), các tài liệu của hợp đồng bảo hiểm cónhiều loại dưới các tên gọi khác nhau, như là: giấy yêu cầu bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm,đơn bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bổ sung, phụ lục hợp đồng, giấy chứngnhận bảo hiểm

2.2.2 Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm là vấn đề quan trọng của hợp đồng bảohiểm, nó ràng buộc trách nhiệm phải bồi thường của DNBH nếu rủi ro tổn thất được bảohiểm xảy ra, đồng thời ràng buộc trách nhiệm phải đóng đủ phí của người tham gia bảo

Ngày đăng: 18/06/2015, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w