Ký sinh trùng học là khoa học không chỉ nghiên cứu vật ký sinh và vật chủ của chúng, mà còn nghiên cứu mối quan hệ thích nghi của một cơ thể này sống trên hoặc trong cơ thể khác, giống n
Trang 1CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1 KHÁI NIỆM KÝ SINH VÀ VẬT KÝ SINH
Ký sinh - Parasitos là một trong những phương thức sinh tồn của sinh vật, là hiệntượng phổ biến trong thiên nhiên, bao gồm những động vật, thực vật sống nhờ cơ thể khác(gọi là vật ký sinh), sử dụng cơ thể đó (gọi là vật chủ) như là môi trường sống và nguồn thức
ăn, thường xuyên liên hệ với môi trường ngoài thông qua vật chủ của mình Như vậy, kháiniệm về ký sinh trước hết là khái niệm về sinh thái học Đó là mối quan hệ qua lại giữahai quần thể thuộc hai loài khác nhau
Vậy ký sinh trùng học là gì? Ký sinh trùng học là khoa học không chỉ nghiên cứu vật ký sinh và vật chủ của chúng, mà còn nghiên cứu mối quan hệ thích nghi của một
cơ thể này sống trên hoặc trong cơ thể khác, giống như trong sinh thái học nghiên cứu mối quan hệ giữa động vật sống tự do với môi trường sống của chúng Nhưng, sinh thái học đại cương chủ yếu nghiên cứu một mặt là ảnh hưởng của môi trường đối với
cơ thể sống, còn ký sinh trùng học đại cương nghiên cứu đồng thời hai mặt: ảnh hưởng của cơ thể đối với môi trường, ảnh hưởng của môi trường đối với cơ thể và mối quan
hệ qua lại ổn định của chúng Do vậy, các phương pháp nghiên cứu thông thường của sinh thái học đối với môi trường không đủ để nghiên cứu các hiện tượng của sự ký sinh, mà phải sử dụng hàng loạt các phương pháp đặc biệt như là phương pháp miễn dịch để nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường (cơ thể vật chủ) lên vật ký sinh; hay là các biến đổi về sinh lý của vật ký sinh do sự tác động của môi trường (vật chất lên vật
ký sinh, hoặc những biến đổi bệnh lý đòi hỏi phải có những phương pháp nghiên cứu đặc trưng không phải những phương pháp nghiên cứu về sinh thái học
Như vậy, ký sinh trùng học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật ký sinh và vậtchủ, rút ra các quy luật cơ bản trong quá trình thích nghi của cơ thể vật ký sinh và vật chủ,tạo cơ sở để đề xuất các biện pháp đấu tranh với các bệnh ký sinh trùng, nhằm nâng caosức khoẻ con người và phát triển vật nuôi, cây trồng
Như vậy, ký sinh trùng học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật ký sinh và vậtchủ, rút ra các quy luật cơ bản trong quá trình thích nghi của cơ thể vật ký sinh và vậtchủ, tạo cơ sở để đề xuất các biện pháp đấu tranh với các bệnh ký sinh trùng, nhằmnâng cao sức khoẻ con người và phát triển vật nuôi, cây trồng
Trong ký sinh trùng học có thể chia ra ký sinh trùng học động vật và ký sinh trùng họcthực vật
- Ký sinh trùng học thực vật là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở thực vật và cácbệnh do chúng gây ra ở thực vật
- Ký sinh trùng học động vật là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở người, động vật và
Trang 2các bệnh do chúng gây ra ở động vật và người Bao gồm ký sinh trùng y học và thú yhọc
Ký sinh trùng y học là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở người và các bệnh dochúng gây ra ở người
Ký sinh trùng thú y học là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở vật nuôi và các bệnh dochúng gây ra ở vật nuôi
Đối tượng nghiên cứu của ký sinh trùng y học và thú y học gồm 3 nhóm chính: nguyênsinh động vật (khoa học về đơn bào), giun sán (khoa học về giun sán) và chân khớp(khoa học về tiết túc) gây hại cho người và động vật
2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CƯU KÝ SINH TRÙNG HỌC Ở VIỆT NAM
Những nghiên cứu về ký sinh trùng ở Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn: * Giaiđoạn từ năm 1955 trở về trước:
Các nghiên cứu thuộc giai đoạn này rất tản mạn, lẻ tẻ mang tính ngẫu nhiên Phần lớncác nghiên cứu do tác giả nước ngoài tiến hành Mẫu nghiên cứu chủ yếu do các bác sỹthú y thu thập ở lò mổ của các thành phố lớn; hoặc do các bác sỹ thu thập ở các phònggiải phẫu của bệnh viện; hoặc các tác giả tự thu thập trong khi nghiên cứu các động vậtsống tự do
Những vật ký sinh đầu tiên được tìm thấy ở động vật nuôi Việt Nam - theo ý kiến của Railliet A (1924) là do Bourger (1886) và Cattoin (1888) Cả hai tác giả này đều ngẫu nhiên úm thấy hai loài sán lá: Fasciola gigantica và Gastrothylax crumenifer ở gia súc tại Bắc Bộ Sau đó, Evans và Rennie (1908) tìm thấy F gigantica ở gia súc tại Trung Bộ
Năm 1892, Giam A và Billet A đã xuất bản công trình "Về một vài loài sán lá ký sinh
ở gia súc tại Bắc Bộ" Các tác giả đã tìm thấy ở bò và trâu của tỉnh Cao Bằng loài sánlá: F hepatica và hai loài mới: Homalogaster poirieri (sau này được đặt lại tên là H.paloniae Poirier, 1882) và Distoma coelomaticum (sau này được đặt lại tên làEurytrema coelomaticum) ở tuyến tuỵ của gia súc
Trong các công trình của Railliet A và Gomy (1897), Railliet A và Marotel G (1898)
đã thông báo về các lem sán lá F hepatica, E pancreaticum tìm thấy ở gia súc tại Nam
Bộ và Bắc Bộ
Năm 1905, Gai de L tìm thấy hai loài sán lá gan: Opisthorchis felineus và Clonorchissinensis ở người Barrois và Nọc (1908) tìm thấy loài sán lá Fascilopsis buski ở người(Nam Bộ)
Trang 3giun sán ở heo do Bauche thu thập ở lò mổ của thành phố Huế trong 2 năm liên tục Năm 1911- 1913 , Brau và Bruyant tìm thấy loài sán lá Gastrodiscoides hominis ở heo
và người tại Nam Bộ
Năm 1912, Bauche J và Bemard N thông báo về loài giun tròn Oxyspirura mansoni kýsinh ở mắt gà nuôi tại Huế
Năm 1924, Railliet A công bố công trình “Giun sán ở động vật và ngườitại Đông Dương" Tác giả đã thông báo về 40 loài sán lá, trong đó có một số loài mớiđối với khoa học Cùng năm, Bemard N., Badlet J và Pons R (1924) thông báo về 3 loàisán lá ở người và heo tại Nam Bộ
Năm 1925, Houdemer E xuất bản công trình “Kết quả nghiên cứu khu hệgiun sán ở động vật nhà và động vật hoang tại Bắc Bộ” Trong mẫu vật thuđược từ 1306 động vật có xương sống đã tìm thấy 32 loài giun sán Cùng năm, Schwartz
đã mô tả loài giun tròn Ascaridia anseris ở ngỗng tại Bắc Bộ
Năm 1927 - 1928, Joyeux C và Houdemer E đã thông báo về số liệu các loài sándây, sán lá ở chim và thú các nước khu vực Đông Dương, trong đó chủ yếu là các loài kýsinh ở chim
Trong những năm 1930, xuất hiện một số công trình về giun sán ở người và động vật ở Bắc Bộ, như công trình của Sautet J (1936), Sandroud (1933), Houdemer E (19341, Neveu Lemaer (1934), Hsu (1935 - 1936), Galliard H (1936), Galliard H., Phan Huy Quát và Đặng Văn Ngữ (1936), Trương Tuấn Ngọc (1937), Galliard H (1938), Houdemer E (1938), Chow V (1939) Công trình tổng hợp tương đối đầy đủ nhất những hiểu biết về giun sán ở người, gia súc, gia cầm Việt Nam trong mấy chục năm Pháp thuộc là do Houdemer E (1938) biên tập Trong những năm 1940, Galliard
H và Đặng Văn Ngữ đã công bố 4 công trình về sán lá ở người và động vật nuôi tại ViệtNam Năm 1950, Joyeux C., Baer J và Gang J đã công bố một số loài sán dây ở chim bồcâu vùng chợ Lớn Nam Bộ
Về đơn bào và côn trùng ký sinh, có các công trình của Blanchard (1886, 1898),Carougean (1902), Bủn (1902), Leger M (1902, 1903, 19091, Yersin (1904), Bo din(1905), Brau, Sang Se min và Muốn Bondel (1906), Levenran (191 11, Leger, M &Mathis C (1902, 1903, 1911), Mathis C (1914), Schein (1908, 1921), Lagrangei(1924), Larrousse F (1925), Bergeon P (1928), Borel M (1928), Houdemer E (1923, 1927,1938), Jacolot & Evanno (1931), Toumanoff C & Hoàng Tích Trí (1939), Toumanoff
C (1944), Toumanoff C và Trương Tuấn Ngọc (1951) Các công trình này đã đề cập đếncác loài đơn bào ký sinh thuộc họ Trypanosomatidae tìm thấy ở gia súc, gia cầm, chimthú hoang, bò sát, ếch nhái, cá và cả ở người, cũng như các loài côn trùng ngoại ký sinh: ve -bét, muỗi, ruồi, mồng
* Giai đoạn từ 1955 đến nay
Trang 4Sau khi được giải phóng (1954), miền Bắc Việt Nam bắt đầu một giai đoạn phát triểnmới trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học
Đây là thời kỳ đào tạo đội ngũ cán bộ ở mọi lĩnh vực, trong đó có khoa học ký sinhtrùng Công tác điều tra cơ bản về ký sinh trùng và các bệnh ký sinh trùng ở người, vậtnuôi, cây trồng được tiến hành có hệ thống, liên tục với những kỹ thuật, phương pháp,trang thiết bị đầy đủ hơn
Năm 1975, phạm vi điều tra cơ bản về ký sinh trùng có điều kiện mở rộng trên toànlãnh thổ Việt Nam
Những năm đầu của giai đoạn này là thời kỳ triển khai các nghiên cứu hợp tác quốc
tế chủ yếu do các chuyên gia Liên Xô (cũ) và các nước bạn sang để giúp đỡ, bồi dưỡng độingũ cán bộ trong nước, đồng thời Nhà nước ta cũng gửi một số cán bộ đi đào tạo ở nướcngoài
Cuối năm 1960 - 1961, đoàn điều tra của Viện sinh học thổ nhưỡng ở Viễn Đông (Liên
Xô cũ) đã tiến hành điều tra trên 6.000 động vật có xương sống ở Hải Phòng, trong đó có
327 gia cầm và 619 chim hoang Đã tìm thấy 115 loài sán lá, 54 loài sán dây ở chim nhà
và chim hoang, trong số đó có 33 loài mới đối với khoa học (Oschmarin P G.(1964 - 1971); Oschmarin P G.; Mamaev I U., Lebexev B I., 1970; Oschmarin P G vàDemchin N I., 1972)
Cuối năm 1961, đầu năm 1962, đoàn điều tra hợp tác Việt - Xô do Giáo sưSpasski A A., Sudarikov V: E., Đặng Văn Ngữ, Đào Văn Tiến và nhiều cán bộ từ các cơquan khác nhau tham gia Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu tại một số vùngtrung du, đồng bằng, ven biển miền Bắc, đã mổ 623 cá thể động vật và tìm thấy 1 59 loàigiun sán khác nhau
Từ kết quả nghiên cứu trên, các công trình của Ryjikov K M., Hohlova I G.(1964 - 1968), So nin M D (1966), Parukhin A M (1964 - 1968), Spasski A A.,Jurpalova N M (1969), Sudarikov V E., Pavlov A V., Nguyễn Thị Lê (1971) về sán lá,sán dây, giun tròn ký sinh ở gia cầm và chim hoang đã được công bố
Năm 1962, Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái đã xuất bản công trình “Ký sinhtrùng y học” đề cập đến các bệnh ký sinh trùng ở người
Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh xuất bản các tập sách về ký sinh trùng thú y Tác giả đãcông phu tổng kết các tài liệu đã công bố từ trước và bổ sung thêm một số loài giun sán kýsinh ở gia súc, gia cầm
Nghiên cứu ký sinh trùng ở người và động vật các tỉnh phía Nam có các công trìnhnghiên cứu của Lê Văn Hoà (1964, 1965)
Trang 5Năm 1962, đoàn điều tra động vật - ký sinh trùng được thành lập do Uỷ ban khoa học nhànước (nay là Bộ khoa học, công nghệ) chủ trì, gồm nhiều cơ quan và các trường đại họctham gia Đoàn đã tiến hành điều tra ở tất cả các tỉnh miền Bắc Từ kết quả trên, NguyễnThị Lê (1968), Phan Thế Việt (1969), Nguyễn Thị Kỳ (1980) đã bảo vệ thành công luận ánphó tiến sỹ sinh học và đã công bố nhiều loài giun sán ký sinh ở chim và thú Viết Nam
Vào những năm sau có các công trình của Hoàng Quang Nghị, Lê Đức Hạnh (1965), Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Xuân Dụ (1966), Drozdz và Malczewski (1967); Bùi Lập, Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Đoàn Tuân (1969); Phan Địch Lân (1964, 1974, 1983 ); Phan Địch Lân và cộng sự (1964, 1972 );Grochovskaia và Nguyễn Xuân Hoè (1969); Đào Văn Tiến, Đặng Văn Ngữ, Phan Thế Việt (1970) ; Nguyễn Kim Bằng (1970); Nguyễn Thị Lê (1971 , 1977, 1979, 1980,
1983, 1985, 1988, 1990, 1991, 1995, 1996); Hà Ký (1968, 1976 ); Matskasi (1973);Phạm Văn Khuê (1970, 1971, 1973 ); Phạm Sỹ Lăng (1973, 1975 ); Nguyễn Thị Lê,Nguyễn Quý Tuấn (1976); Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực (1976); Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ, Nguyễn Văn Chí (1977); Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978); Phan Thế Việt, Phan Lục (1978); Phan Thế Việt (1966, 1973, 1977, 1978,
1981, 1983, 1984 ); Nguyễn Thị Kỳ (1977, 1980, 1994); Nguyễn Thị Lê và cộng sự(1987, 1990, 1996); Hà Duy Ngọ (1985, 1990 ); Nguyễn Văn Châu (19971; Nguyễn ThuVân (1997); Phạm Văn Lực, Nguyễn Văn Đức, Bùi Quang Tề, Lương Tố Thế, Lê NgọcMỹ đã công bố về khu hệ, sinh học, sinh thái của ký sinh trùng ở các nhóm động vật ViệtNam
Từ năm 1990 đến nay, đã có những công trình nghiên cứu về giun sán ký sinh ở heo một số tỉnh phía Nam và biện pháp phòng ngừa của Lương Văn Huấn (1990 -1994); những công trình nghiên cứu về bệnh sán lá gan và bệnh tiên mao trùng của Lương Tố Thu và cs (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học của các bệnh ký sinh trùng chính ở trâu, bò, heo Việt Nam và biện pháp phòng trừ của Nguyên Đăng Khai (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về bệnh giun phổi heo của Nguyễn Đức Tân (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về sự liên quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc (KCTG) với tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò (KCCC)
để đánh giá tình hình dịch tễ bệnh của Nguyễn Trọng Kim (1993 - 1997); công trình nghiên cứu một số đặc tính sinh học của Trypanosoma evansi (Steel, -1885) và bệnh học do Trypanosoma evansi gây nên của Nguyễn Quốc Doanh (1993 - 1998); công trình nghiên cứu về dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở tỉnh Bắc Thái (cũ) của Lê Hải Đường (1994 - 1998); công trình nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng Eimeria, một
số đặc điểm của bệnh cầu trùng gà ở TP Hồ Chí Minh và thử nghiệm thuốc phòng trị của Hoàng Thạch (1994 - 1999); công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, dịch tễ biện pháp phòng trừ sán lá ruột heo ở vùng đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Văn Thọ (1994 - 2005); những công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan về bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt
Trang 6Nam, về bệnh cầu trùng gà ở Thái Nguyên (1995 - 2002); công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh sán lá dạ cỏ ở trâu, bò và biện pháp phòng trị của Trần Ngọc Thắng (1997 - 2004) ; công trình nghiên cứu về tình trạng nhiễm giun sán đường tiêu hoá ngựa ở Thái Nguyên, Bắc Kim và biện pháp phòng trị của Hoàng Văn Dũng (1995 - 2001); công trình nghiên cứu về bệnh cầu trùng gia cầm và giải pháp phòng trị cầu trùng cho gà, bồ câu của Bạch Mạnh Điều (1997 - 2004); công trình nghiên cứu vềkháng nguyên bề mặt Trypanosoma evansi phân lập từ trâu, bò phía Bắc Việt Nam vàtinh chế kháng nguyên dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp củaVương Thị Lan Phương (1999 - 2004); công trình nghiên cứu tình hình nhiễm Varoaiacobsoni ở hai loài ong Apis cerana, Apis mellifera và biện pháp phòng trị củaNgô Nhật Thắng (2001 - 2005); công trình nghiên cứu về bệnh tiên mao trùng do T.evansi ở trâu, bò tại các tỉnh miền Trung của Phan Văn Chinh (2000 - 2006); nhữngcông trình nghiên cứu về bệnh cầu trùng heo ở tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị củaNguyễn Thị Kim Lan và Lê Minh (2006 - 2008)
Trang 7Chương 2 MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ BỆNH GIUN SÁN Ở GIA SÚC
Bài 1 BỆNH SÁN LÁ GAN Ở TRÂU, BÒ, DÊ
(Fasciolosis)
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò, dê do hai loài sán lá ký sinh ở ống dẫn mật và gan gây ra(Fasciola hepatica và Fasciota gigantica) Ngoài trâu, bò, dê, hai loài sán này còngây bệnh cho các động vật nhai lại khác, đôi khi thấy cả ở người
F hepatica và F giantica là hai loài sán lá phổ biến ở các vùng thuộc châu Á vàChâu Phi Theo Stemphenson (1947) và Urquhat (1956), tác hại của sán lá gan đối với giasúc nhai lại rất lớn, biểu hiện rõ nhất là gây thiếu máu, viêm và xơ gan khi gia súc bị nhiễmsán lá gan ở mức độ nặng
1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA SÁN LÁ FASCIOLA
1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học Theo Skrjabin và cs (1977), Nguyễn Thị Lê và cs (1996), sán lá gan ký sinh và gâybệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau: NgànhPlathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937 Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Fasciotidae Railliet, 1895 Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus, 1758 Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
Loài Fasciota gigantica (Cobbold, 1885)
1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh.Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá: Sán không có hệ
hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh
Trang 8dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán Tử cung sánchứa đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
- F gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, "vai"không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang
F gigantica (nghĩa là sán lá "khổng lồ") dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u lồihình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có "vai" như loài khác củagiống Fasctota Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đấu cuối của thân tù Giácbụng tròn lồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh.Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ Kích thước trứng: 0,125
Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F gigantica, kích thước 0,13 0,145 x 0,07 - 0,09 mm
Trang 9-1.3 Chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola
Chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola đã được Leukart (1882) nghiên cứu ở Đức vàThomas (1882) nghiên cứu ở Anh
Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước , nhiệt độ 15 - 300C, pH : 5 - 7,7, có ánh sáng
thích hợp sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước Nếuthiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 thángtrong vỏ, Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển đượctrong nước Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập
cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Những Miracidium không gặp vậtchủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các tếbào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi Trong 1 ốc có thể có 1
- 2 ấu trùng Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu) Mộtbào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản Có hai hệ:Redia thế hệ 1 và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung gian Ở nhiệt
độ 160C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sản sinh Redia I và dừng phát triển Ở nhiệt độ phù hợp(20 - 300C), Sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh
ra 12 - 20 Cercaria
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh
Theo Ginyecisz - Kaija (1960), trong cơ thể Cercaria còn có những hạt Glycogencung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận độngkhông ngừng của đuôi Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu Theo một số tác giả, đuôi làmnhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi trường nước Lizz (1922) cho biết, nhờ sựhoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén(Adolescaria)
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50 - 80ngày Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự do trongnước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài và 0,23 mm chiều rộng Sau vài giờ bơitrong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khíkhô rất nhanh Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria
Trang 10Hình 45 Các dạng ấu trùng của sán Fasciola
1a Mao ấu nở ra từ trứng sán;
1b Bào ấu 2a Lôi ấu non;
2b Lôi ấu già có vĩ ấu non 3a Lôi ấu mẹ phóng ra nhiều lôi ấu con 3b Vĩ ấu ấu trùng sán là gan chui khỏi ốc 4a Vĩ ấu rụng đuôi tạo thành kén
4b Kén sán lá gan
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết Adolescaria thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh Nếu trâu, bò, dê thiết phải Adolescaria, vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnhmạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng, đếngan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật
Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật
Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan trưởngthành Theo Skerman (1966), thời gian hoàn thành vòng đời là 92 - 117 ngày Fasciolatrưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của súc vật nhai lại 3 - 5 năm, có khi tới 11năm
Theo Phan Địch Lân (2004), khoa học thú y nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 - 300C), có ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae viridis), có vật chủ cuối cùng (trâu, bò,dê,
cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức thời gian sau:
Trang 11Hình 46 Vòng đời phát triển của sán Fasciola
1 Trứng nở thành Miracidium trong nước
2 Miracidium vào ốc - vật chủ trung gian
3 Cercaria rời khỏi ốc
4 Adolescaria bám trên cây cỏ thuỷ sinh
5 Súc vật nhai lại nuốt Adolescaria
6 Sán lá gan trưởng thành ký sinh ống dẫn mật
- Ở ngoài thiên nhiên: trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium) trongkhoảng 14 - 16 ngày
- Ở trong ốc vật chủ trung gian:
Mao ấu (Miracidium) phát triển thành bào ấu (Sporocyst) cần 7 ngày
Bào ấu (Sporocyst) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày
Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria) non cần 7 - 14 ngày, thành vĩ ấu trưởngthành cần 13 - 14 ngày
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria) sau 2 giờ
- Ở trâu, bò: khi trâu bò, bê nghé thiết phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài Điềukiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và gây bệnh của sán lá gan(kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên) Ở những vùng có mầm bệnh tồn tại, cứ trung bình 3tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong cơ thể trâu, bò, nghĩa là trong trâu bò lạitạo ra một đời sán mới Con vật trong khi đã có sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thân