1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn rèn kỹ năng học và khai thác kiến thức địa lý trên bản đồ ở trường thpt

18 363 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 4,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn luyện kĩ năng học v khai thác bản đồ không những giúp cho học sinhà lĩnh hội đợc kiến thức Địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ lâu bền mà còn là một phơng tiện đặc biệt

Trang 1

Mục lục

Trang

A Đặt vấn đề 2

I Cơ sở lý luận 2

II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 3

1.Thực trạng 3

2 Kết quả quả thực trạng trên 3

3 Phơng pháp tiến hành 4

B Giải quyết vấn đề 4

I Các giải pháp thực hiện 4

II Biện pháp tổ chức thực hiện 1 Rèn luyện kĩ năng nhận biết, chỉ và đọc các đối tợng Địa lí trên bản đồ 5

2 Rèn luyện kĩ năng mô tả các đối tợng Địa lí trên bản đồ 10

III Kết quả, hiệu quả của biện pháp trên 19

C.Kết luận 20

I Kế hoạch cụ thể 20

II Đề xuất 20

Trang 2

A Đặt vấn đề

I Cơ sở lý luận.

Địa lý là ngành khoa học có phạm trù rộng lớn và mang tính ứng dụng Học tập và giảng dạy và nghiên cứu Địa lí đòi hỏi có những kĩ năng nhất định Trong số các kĩ năng Địa lí, có những kĩ năng cơ bản đợc vận dụng phổ biến trong học tập và nghiên cứu Địa lí Những kĩ năng này đợc trang bị và rèn luyện ngay trong quá trình học tập Địa lí ở nhà Trờng phổ thông nhằm giúp ngời học dễ dàng tiếp thu kiến thức, hiểu biết sâu sắc, nâng cao trình độ t duy, khả năng thực hành Địa lí và phục vụ cho các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi đối với những lớp cuối cấp

Tuy nhiên việc rèn luyện kĩ năng Địa lí trong quá trình giảng dạy trong nhà trờng không phải là sự tóm tắt nội dung tri thức của khoa học Địa lí Ngoài những tri thức Địa lí mà môn học này còn bao gồm nhiều trí thức khác giúp việc học tập, nâng cao hiểu biết thêm về những kiến thức tự nhiên, KT - XH và những

kĩ năng về bản đồ mà không một môn học nào đề cập tới

Rèn luyện kĩ năng học v khai thác bản đồ không những giúp cho học sinhà lĩnh hội đợc kiến thức Địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ lâu bền mà còn là một phơng tiện đặc biệt quan trọng để phát triển năng lực t duy nói chung và năng lực t duy Địa lí nói riêng Trong khi tập sử dụng bản đồ, học sinh phải luôn luôn quan sát, tởng tợng, phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, xác lập các mối liên hệ Địa lí t duy của các em luôn luôn hoạt động và phát triển

Vậy rèn luyện kĩ năng học và khai thác bản đồ cho học sinh không phải ngày một, ngày hai mà cả một quá trình lâu dài, phức tạp, liên tục từ lớp này qua lớp khác, đòi hỏi nhiều công sức và sự phố hợp chặt chẽ giữa các lớp nhằm đạt

đ-ợc mục tiêu cuối cùng là biết sử dụng bản đồ nh là một nguồn cung cấp kiến thức mới ở Trờng phổ thông

Cơng vị là một giáo viên giảng dạy ở Trờng phổ thông bản thân tôi cũng rất băn khoăn về việc rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh đặc biệt phù hợp với

đối tợng học sinh cũng nh phù hợp với phát triển về KT - XH thế giới bùng nổ về công nghệ thông tin.Thực vậy, với khuôn khổ đề tài này tôi không có tham vọng

đề cập tới tất cả các kĩ năng bản đồ của tất cả các loại bản đồ trong dạy học Địa lí

ở Trờng phổ thông

Bản thân là giáo dạy bộ môn Địa lí tôi đã mạnh dạn nêu một số kinh nghiệm về kĩ năng bản đồ trong giảng dạy bộ môn Địa lí ở Trờng Nguyễn Thị Lợi để nhằm giúp học sinh khai thác kiến thức Địa lí có hiệu quả với đề tài:

“Rèn luyện kĩ năng học và khai thác kiến thức Địa lí trên bản đồ ở Tr-ờng THPT“.

II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

1 Thực trạng.

2

Trang 3

Trong quá trình giảng dạy bộ môn Địa lí trong nhà Trờng THPT, tôi nhận thấy rằng việc khai thác kiến thức từ bản đồ, kĩ năng đọc, mô tả các đối tợng Địa

lí trên bản đồ của học sinh còn rất nhiều hạn chế số lợng học sinh có kĩ năng khai thác kiến thức từ bản đồ không nhiều Đa số học sinh còn xem nhẹ việc học Địa

lí từ bản đồ và việc khai thác kiến thức từ bản đồ là không cần thiết, các em chỉ cần nhớ máy móc những kiến thức thầy cô giảng bằng kênh chữ và cứ nh thế các

em sẽ nhớ kiến thức không sâu, một thời gian không lâu sẽ quên ngay Đây là một thực tế không thể phủ nhận đợc

Từ thực tế nh hiện nay tôi đã cố gắng tìm ra phơng pháp giảng dạy học sinh phù hợp để học sinh có thể nắm kiến thức ghi nhớ lâu hơn và việc khai thác kiến thức từ bản đồ trở thành kĩ năng, kĩ xảo trong mỗi học sinh

2 Kết quả của thực trạng trên.

Là một giáo viên giảng dạy bộ Địa lí tôi đã cố gắng su tầm các tài liệu, các loại bản đồ nhằm mục đích soạn thảo giáo án điện tử, sử dụng bản đồ treo tờng lập át lát Địa lí để bài học thêm sinh động, học sinh có thể khắc sâu kiến thức hơn Tuy nhiên tôi đã không ngừng học hỏi từ các đồng nghiệp và áp dụng một

số biện pháp nhằm cải thiện và khắc phục phơng pháp dạy học truyền thống từ

tr-ớc nhằm nâng cao chất lợng học tập, đồng thời đó cũng là cách đổi mới phơng pháp trong việc dạy và học môn này

Qua thực tế tôi nhận thấy kết quả thu đợc tơng đối khả quan kể cả giáo viên và học sinh đều nhận thấy rằng việc rèn luyện kĩ năng học và khai thác kiến thức từ bản đồ cho học sinh là rất cần thiết Từ đó học sinh có thể nhận biết, đọc

và mô tả khai thác tri thức từ bản đồ một cách dễ dàng Từ thực tế nh vậy tôi xin

đợc rút ra một vài kinh nghiệm nhỏ

Do điều kiện, thời gian, nhiệm vụ chuyên môn và khuôn khổ đề tài tôi áp dụng, tổng hợp thành kinh nghiệm trên cơ sở giảng dạy bộ môn Địa lí ở Trờng THPT Nguyễn Thị Lợi Để từ đó rèn luyện cho các em những kĩ năng học và khai thác kiến thức trên bản đồ để học sinh chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức

3 Phơng pháp tiến hành.

Quá trình giảng dạy các bớc nh sau:

Bớc 1: Phát hiện những hạn chế của học sinh khi học bộ môn Địa lí

Bớc 2: áp dụng biện pháp cụ thể và sử dụng những hình ảnh minh họa để kích thích những học sinh nhằm khắc phục những hạn chế của học sinh

Bớc 3: Tổng hợp, đúc rút thành kinh nghiệm, biện pháp cụ thể

B Giải quyết vấn đề

I Các giải pháp thực hiện.

Việc rèn luyện kĩ năng học và khai thác kiến thức Địa lí trên bản đồ giúp cho học sinh lĩnh hội đợc kiến thức Địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ lâu bền Chẳng hạn khi học về vị trí Địa lí của một châu lục, nếu chỉ nghe một cách thụ động mà giáo viên mô tả thì khó mà lĩnh hội và ghi nhớ đợc, nhng nếu tự mình đợc xác định trên bản đồ các điểm cực Bắc, cực Nam, cực

Trang 4

Đông, cực Tây, tìm xem có những đại dơng, những biển những vịnh nào bao quanh, những châu lục nào tiếp cận…thì học sinh sẽ hiểu đợc ngay và nhớ đợc lâu hơn vì đã qua một quá trình suy nghĩ, tìm tòi, đối chiếu phân tích, so sánh Cách học tập tích cực chủ động nh vậy, năm nay qua năm khác ở nhà Trờng phổ thông, chẳng những phơng pháp học tập nghiên cứu Địa lí Những kiến thức về Địa lí

đại cơng lĩnh hội gắn với bản đồ dần dần sẽ hình thành nên trong kí ức của các

em một cái “nền” vững chắc trên đó sẽ đợc bồi bổ thêm những kiến thức mới mà các em tiếp thu đợc trong học tập và trong cả đời sống

Rèn luyện kĩ năng bản đồ phải qua nhiều bớc, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp lên cao Cụ thể là qua 5 bớc sau đay:

- Rèn luyện kĩ năng nhận biết, chỉ và đọc trên các đối tợng, Địa lí trên bản

đồ

- Rèn luyện kĩ năng xác định vị trí Địa lí, mô tả từng yếu tố thành phần của

tự nhiện, KT – XH, chính trị đợc biểu hiện trên bản đồ

- Rèn luyện kĩ năng xác định phơng hớng, đo đạc bản đồ

- Rèn luyện kĩ năng xác định các mối liên hệ Địa lí trên bản đồ

- Rèn luyên kĩ năng mô tả tổng hợp Địa lí một khu vực

II Biện pháp tổ chức thực hiện.

Tuỳ theo đặc thù từng bài học, từng phần trong bài học cụ thể mà giáo viên

có thể chọn bản đồ phù hợp với nội dung bài học để nhằm khai thác sử dụng

đúng mục đích đạt hiệu quả cao Ngoài ra giáo viên cần phải có kiến thức về lĩnh vực tin học một cách thành thạo để thao tác soạn giáo án điện tử một cách dễ dàng hơn và sử dụng tối đa các bản đồ đã có trong nhà trờng nhằm nâng cao kĩ năng bản đồ cho học sinh

Sau đây tôi xin mạnh dạn đa ra một số kĩ năng bản đồ trong dạy học địa lí

ở trờng THPT Nguyễn Thị Lợi

1 Rèn luyện kĩ năng nhận biết chỉ đọc các đối tợng Địa lí trên bản đồ.

Các đối tợng Địa lí đợc biểu hiện trên bàn đồ thuộc nhiều loại: tự nhiên, KT-XH có những đối tợng biến đổi rất chậm không đáng kể (các đối tợng Địa lí

tự nhiên) bên cạnh đó có các đối tợng Địa lí biến động rõ ràng, nhanh chóng (đối tợng Địa lí KT - XH) chính vì thế mà rèn luyện cho học sinh kĩ năng, xác định trên cái “nên tự nhiên đó các đối tợng Địa lí thộc những loại khác nhau”

Kĩ năng nhận biết và đọc các đối tợng Địa lí trên bản đồ đơn giản, nhng rất cơ bản Chính trên cơ sở nắm chắc kĩ năng này mà học sinh sẽ rèn luyện các kĩ năng khác một cách thuận lợi hơn

Vậy cách thức tiến hành mà trớc hết giáo viên cần phải phát âm rõ ràng, rành mạch địa danh vừa chỉ trên bản đồ, học sinh theo dõi trên bản đồ treo tờng,

đối chiếu với lợc đồ và SGK hoặc bản đồ trong át lát để tìm ra đối tợng, sau đó giáo viên tiếp tục viết rõ ràng và bằng chữ to địa danh lên bảng vào một góc riêng rồi phát âm lại một cách thong thả và chỉ định một vài nhắc lại, sau đó học sinh

4

Trang 5

ghi vào vở Địa lí Qua đó học sinh vừa nghe, vừa nhận, vừa phát âm, vừa viết, các giác quan đều hoạt động nên địa danh dễ đợc

Ghi vào trí nhớ Nh vậy chúng ta mới chỉ đạt yêu cầu là làm cho hoạc sinh

đọc đúng và ghi nhớ địa danh

Bớc tiếp theo và cũng rất khó khăn là học sinh chỉ xem bản đồ và làm thế nào để nhận biết và tìm ra đối tợng địa lí cần phải chỉ Để giúp cho học sinh nhận biết và tìm ra đợc dễ dàng các đối tợng địa lý trên bản đồ thì giáo viên cho học sinh nắm đợc điểm hình thù hoặc kích thớc của đối tợng vằ đặt câu hỏi:

Giống cái ghì? Chẳng hạn, bán đảo Xcăngđinavi có hình thù nh một con

hổ, bán đảo Apenin cùng với đảo xixin giống nh một chiếc ủng, bán đảo Camsatka nh chiếc đuôi của con cáo, Grơnlen là đảo lớn nhất thế giới và có băng quanh năm, Việt Nam có hình chữ S Liên Bang Nga là lãnh thổ lớn nhất thế giới…

Trang 7

Tuy nhiên không phải là tất cả các đối tợng địa lí đều có những đặc điểm

dễ nhận thấy nh vậy Vì thế biện pháp trên cũng rất hạn chế

Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy khi tách riêng một đối tợng địa lí và vẽ lên bảng hoặc trên giấy, chẳng hạn một con sông, một hòn đảo, một cái hồ, thì học sinh rất khó nhận ra Sở dĩ nh vậy là vì khi tri giác một đối tợng địa lí trên bản đồ, ngời ta luôn luôn gắn nó với các đối tợng khác ở xung quanh, nó luôn đợc tri giác trong mối quan hệ với các đối tợng khác, trong “môi trờng riêng” của nó Tách

nó ra và biểu hiện nó một cách riêng lẻ thì nó sẽ trở nên khó nhận ra

Ví dụ: Khi quan sát sông Vônga trên bản đồ, hình ảnh của nó luuon luôn gắn với toàn bộ hệ thống các sông nhánh của nó, với đồng bằng Nga nơi nó chảy qua, với biển Catxpi nơi của sông v.v… Nếu tách riêng sông Vônga ra nvà vẽ lên bảng hoặc trên giấy chắc chắn nhiều ngời sẽ không nhận ra

Từ thực tiễn trên đây, có thể đi đến kết luận là để có thể dễ dàng nhận biết

và tìm ra một đối tợng địa lí trên bản đồ thi học sinh không phải chỉ biết dựa vào

đặc điểm hình thù, kích thớc của nó mà còn phải dựa vào toàn bộ khung cảnh xung quanh, nhận rõ vị trí của nó trong khung cảnh đó Chẳng hạn, muốn nhận biết dải Pirênê trên bản đồ châu âu Học sinh phải gắn nó với lãnh thổ nớc Pháp

và bán đảo Ibêrich, với Đại Tây Dơng (vịnh Gatxconhơ) và Địa Trung Hải, phải xác định vị trí của nó là nằm ở ranh giới giữa bán đảo Ibêrich và lãnh thổ nớc Pháp, trải qua từ bờ vịnh Gatxcônhơ tới ven Địa Trung Hải Hoặc giả, muốn nhận

ra bán đảo Xcăngđinavi, học sinh không chỉ lu ý đến đặc điểm hình thù (trông tựa một con hổ), mà cả vị trí của nó ở bắc châu âu, giữa các biển Na uy, Bắc Hải, Bantich và Baren

Nói tóm lại, khi chỉ và đọc một đối tợng địa lý trên bản đồ, nếu học sinh biết nhận xét đặc điểm hình thù, kích thớc cũng khác ở xung quanh thì không những các em sẽ ghi nhớ nó trên bản đồ, khắc sâu nó vào trí óc, mà con nhớ đ ợc những đối tợng địa lí khác có liên quan, tự làm giàu thêm vốn hiểu biết bản đồ của mình

Điều này hết sức quan trọng, vì rằng càng ghi nhớ đợc nhiều đối tợng địa

lý trên bản đồ thì học sinh càng có nhiều điểm tựa để nhanh chóng tìm ra đợc những đối tợng mà các em cần, nhng cha biết Thật vậy, mỗi khi phải tìm chỉ một

đối tợng địa lí trên bản đồ thì bao giờ học sinh cũng phải dựa vào những đối tợng

mà các em đã biết Chẳng hạn, khi đọc trong SGK, học sinh đợc biết eo Gibranta trên bản đồ, các em phải dựa vào những cái đã biết tức là bản dồ châu âu đại tây dơng, địa trung hải, các em sẽ tìm xem địa trung hải thông với đại tây dơng ở

điểm nào, và nh vậy là các em sẽ tìm ra ngay eo Gibranta Trong trờng hợp các

em cha biết đại tây dơng và địa trung hải nằm ở đâu thì cac em chỉ còn một chỗ dựa ít ỏi, đó là bản đồ châu âu Trớc hết phải xác định xem địa trung hải và đại tay dơng năm ở đâu đã rồi đó mới tiếp tục tìm ra eo Gibranta Đơng nhiên là trong trờng hợp này các em mất nhiều thời gian hơn

Trang 8

Nh vây, có thể nói càng tích luỹ đợc nhiều điểm tựa thị học sinh càng dễ tìm ra đối tợng cần tìm trên bản đồ, tức là càng đọc bản đồ thành thạo hơn Việc hớng dẫn học sinh cách nhận biết, tìm ra và ghi nhớ các đối tợng địa lí trên bản

đồ nh trình bày ở trên giúp các em luuon luôn củng cố đợc cái cũ, nắm vững cái mới và không ngừng mở rộng vốn hiểu biết bản đồ của minh

Từ những điều đã nói trên đây có thể rút ra quy trình rèn luyện kĩ năng nhận biết, chỉ và đọc các đối tợng địa lí trên nh sau:

- Giáo viên đọc rõ ràng, rành mạch, chính sác địa danh và chỉ đối tợng trên bản đồ treo tờng

- Cho học sinh đối chiếu tìm trên bản đồ trông SGK hoặc atlat

- Giáo viên viết thật rõ ràng địa danh lên bảng đen ở một góc riêng

- Yêu cầu một số học sinh phát âm lại rõ ràng, to tát địa danh, và khi cần, cho phát âm tập thể

- yêu cầu học sinh ghi chép chính xác địa danh vào sổ tay địa lí

- Hớng dẫn học sinh ghi chép đặc điểm hình thù hoặc kích thớc của đối t-ợng địa lí đợc biểu hiện trên bản đồ

- Hớng dẫn học sinh nhận xét mối quan hệ vị trí của đối tợng với những vật khác ở xung quanh (dùng làm điểm tựa) để sau này dễ nhận ra và tìm đợc đối t-ợng trên bản đồ

- Hớng dẫn cách chỉ đối tợng địa lí trên bản đồ

Ví dụ : Xác định một số quốc gia trên bản đồ Châu Âu

8

Trang 9

2 Rèn luyện kĩ năng mô tả các đối tợng địa lí trên bản đồ

a Rèn luyện kĩ năng mô tả địa hình trên bản đồ

Nh chúng ta đã biết địa hình là một tác nhân phi địa đới nó có thể hạn chế, cản trở, vô hiệu hoá thậm trí phá huỷ quy luật địa đới, tạo ra một kiểu khí hậu riêng, khí hậu địa phơng Những sơn nguyên giữa núi nh ơ Tây Nam á(Sơn nguyên YRan, Sơn nguyên anatôli…) Trên hệ coocđie (sơn nguyên cô oôrađô, côlômbia, bồn địa lớn) hoặc trên hệ anđet đều là những thảo nguyên khô hoặc hoang mạc, nửa hoang mạc dù chúng ở những vĩ độ khác nhau; dải Himalaya đồ

sộ cũng là một bức trờng thành tạo ra hai kiểu khí hậu khác hẳn nhau ở hai bên

s-ờn phía nam (ẩm ớt) và phía bắc (khô hạn); thậm trí, địa hìng còn tạo ra quy luật

địa đới riêng cho mình; tính địa đới theo chiều cao; chẳng hạn, vùng núi anđet ở

địa phận pêru nằm ở nhiệt đới, nhng lại có đủ các đới tự nhiên nh khi ta đi từ xích

đạo đến địa cực: Từ rừng nhịêt đới đến rừng lá kim, đông cỏ khô, đồng cỏ ôn đới

và cuối cùng là đới băng tuyết vĩnh viễn Những ví dụ trên đây cho ta thấy rõ ý nghĩ của kĩ năng mô tả địa hình trên bản đồ, nó giúp cho việc nghiên cứu và cắt nghĩa các đặc điểm khí hậu, tự nhiên của mỗi địa phơng, mỗi vùng

Dựa trên bản đồ địa lí tự nhiên, học sinh tập phận tích xem có những dạng

địa hình nào phân bố ra sao chiếm u thế, chỗ cao nhất và chỗ thấp nhất là bao nhiêu mét

Khi mô tả một vùng núi, học sinh phải xem xét vùng núi đó thuộc loại trẻ hay già, cao hay thấp hoặc trung bình, nằm ở phần nào của lãnh thổ, tiếp cận với những dạng địa hình nào, với những vịnh, biển, đại dơng nào,bao gồm những mạch nào chính, chạy theo hớng nào, chiều dài và chiều rộng là bao nhiêu km, độ cao trung bình và đỉnh cao nhất là bao nhiêu mét, dốc về hớng nào và thoai thoải

về hớng nào, bị cắt sẻ nhiều hay ít bởi các thung lủng sông, gây trở ngại lớn hay nhỏ đối với giao thông vận tải, có ảnh hởng gì đến khí hậu của địa phơng

Ví dụ:

Trang 10

Mô tả một bình nguyên hay cao nguyên, học sinh cần phân tích xem bình nguyên hay cao nguyên đó nằm ở phần nào của lãnh thổ, hình dạng, kích thớc, tiếp cận với nhũng dạng địa hình nào, nằm sâu trong đất liền hay ở ven biển, ở độ cao trung bình bao nhiêu, chỗ thấp nhất và chỗ cao nhất, dốc theo hớng nào, độ dốc lớn hay nhỏ, bị sông ngòi cắt xẽ nhiều hay ít, có nhuãng hệ thống hoặc sông nào lớn chảy qua

Việc rèn luyện kĩ năng có thể theo các bớc nh sau:

- Giáo viên mô tả mẫu địa hình của một châu lục, vừa mô tả, vừa hớng dẫn học sinh cách thức, trình tự mô tả

- Cho học sinh ghi dàn ý mô tả vào sổ tay địa lý, khuyến khích học sinh học thuộc dàn ý đó

- Cho học sinh tập mô tả địa hình châu lục, bắt đầu bằng một châu lục có

địa hình đơn giản

- Cho học sinh tập mô tả từng dạng địa hình theo dàn ý đã ghi trong sổ tay

địa lý

- Cho học sinh tập mô tả địa hình của một nớc nào đó

b Rèn luyện kĩ năng mô tả khí hậu trên bản đồ

Khí hậu là một yếu tố hình thành hết sức quan trọng của tự nhiên, nó chi phối những nét đặc trng của tự nhiên ở từng nơi Chế độ nớc của sông ngòi, đặc

điểm thổ nhỡng, thực vật, động vật đều phụ thuộc vào khí hậu Sinh hoạt và các hoạt động sản xuất của con ngời cũng chịu ảnh hởng rõ rệt của khí hậu

Kĩ năng mô tả khí hậu trên bản đồ cho phép phân tích, phát hiện đợc đặc

điểm khí hậu của mỗi địa phơng và từ đấy tìm ra những nét chung về tự nhiên của nơi đó

Để mô tả khí hậu của bất kỳ một lãnh thổ nào(một châu lục, một khu vực của một nớc), đều phải đề cập đến 3 yếu tố: nhiệt độ trung bình tháng 7 (tức là tháng nóng nhất ở bán cầu bắc, và tháng lạnh nhất ở bán cầu Nam), chữ số màu

đen chỉ nhiệt độ trung bình tháng 1 (tháng lạnh nhất ở bán cầu Bắc, tháng nóng nhất ở bán cầu nam) Những nơi có cùng nhiệt độ đợc nối với nhau bằng những

đờng cong gọi là đờng thẳng nhiệt Thờng ngời ta dùng các đờng đẳng nhiệt trung bình tháng 7, màu đỏ và các đờng đẳng nhiệt trung bình tháng 1, màu đen,

đôi khi cũng dùng đờng đẳng nhiệt trung bình năm Để biểu hiện lợng ma và phân bố ma trên bản đồ, ngời ta dùng màu sắc khác nhau để khoanh vùng, chẳng hạn vùng tô màu vàng nhạt có lợng ma trung bình năm dới 300mm, vùng tô màu vàng thẫm có lợng ma trung bình năm từ 300 – 500mm…Các gió thịnh hành trong năm đợc biểu hiện trên bản đồ bằng những mũi tên, thờng mũi tên màu đỏ chỉ gió thịnh hành tháng 7 (tức là vào mùa hạ ở bán cầu Bắc, mùa hạ ở bán cầu Nam) bản đồ khí hậu thờng có bản đồ kèm theo chỉ diễn biến củae nhiệt độ và l-ợng ma qua các tháng trong năm ở một số địa điểm tiêu biểu, dựa vào đấy có thể phân tích cụ thể hơn đặc điểm và sự phân hoá khí hậu trên lãnh thổ

10

Ngày đăng: 18/06/2015, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w