1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những thay đổi trong tư duy, quan điểm, hành động của đảng ta tác động đến việc VN hội nhập kinh tế với ASEAN giai đoạn 1986 2006

24 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 175,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới trong hành động:...11 V- 20 năm nhìn lại quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của Việt Nam và những triển vọng cho chúng ta trong thời kì toàn cầu hóa...15 1... Từ giữan

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAOKhoa Chính trị quốc tế và Ngoại giao

-*** -TIỂU LUẬN Môn: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trần Hoàng Linh Chi - CT40E

Trần Thị Minh Trang - CT40E

Hà Nội – tháng 6/2015

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

I-Bối cảnh 4

1.Bối cảnh quốc tế 4

2.Bối cảnh trong nước 5

II- Đổi mới tư duy trong quá trình hội nhập kinh tế 6

1.Tư duy hội nhập kinh tế giai đoạn sau khi giải phóng dân tộc (1975) đến trước 1986 6

2.Tư duy hội nhập kinh tế từ Đại hội VI 1986 6

III- Các văn kiện của Đảng liên qua n tới đổi mới tư duy về phát triển kinh tế9 1.Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa VI (1986) 9

2 Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa VII (1991) 9

3 Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa VIII (1996) 10

4 Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa IX (2001) 10

5 Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa X (2006) 11

IV Đổi mới trong hành động: 11

V- 20 năm nhìn lại quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của Việt Nam và những triển vọng cho chúng ta trong thời kì toàn cầu hóa 15

1 20 năm nhìn lại 15

2 Triển vọng 17

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Đại hội Đảng VI năm 1986 mang một ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánhdấu bước chuyển mình của đất nước, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế Từnhận thức về những hạn chế trong quá khứ, Đảng ta đã mạnh dạn nhìn nhậnnhững khuyết điểm trong công tác chỉ đạo và những thiếu sót, chủ quantrong các chính sách ban hành, thẳng thắn nhận sai và sửa sai Từ giữanhững năm 1990, Việt Nam bắt đầu đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tếcủa mình như là một phần của chính sách “Đổi mới” và chủ trương mở rộngquan hệ hợp tác với tất cả các đối tác, trong đó phải kể đến sự mở rộng hợptác kinh tế với ASEAN

Việc thay đổi tư duy, quan điểm, hành động trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế đã mang lại sự thay đổi lớn lao cho nền kinh tế đất nước.Việc chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế kinh

tế thị trường nhiều thành phần là một sự lựa chọn đúng đắn, không phải do

ý muốn chủ quan của ai đó, càng không phải là sự chuyển hướng đi sang tưbản chủ nghĩa mà nó phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với tất yếulịch sử, mở ra một con đường mới, một cơ hội phát triển và hội nhập quốc

tế của nước ta dù còn nhiều khó khăn và thách thức

Nhận thấy được sự quan trọng trong quyết định đổi mới của Đảng,nhóm lớp CT40E đã quyết định chọn đề tài “Những đổi mới trong tư duy,quan điểm, hành động trong hội nhập kinh tế với ASEAN giai đoạn 1986-2006” làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ hơn những thay đổi bêntrong và thực tế của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này, đồng thời cũnglàm rõ hoạt động hội nhập kinh tế Việt Nam – ASEAN

Tiểu luận này sẽ đi sâu vào phân tích những đổi mới trong tư duy vềkinh tế sau năm 1986 dẫn đến những đổi mới trong quan điểm chỉ đạo củaĐảng, đồng thời thể hiện rõ qua những hành động cụ thể khi Việt Nam chủđộng và tích cực hơn trong quá trình tham gia vào ASEAN Quá trình đổimới và hội nhập kinh tế đã đem lại nhiều cơ hội, triển vọng song cũng cónhiều nguy cơ, thách thức phải vượt qua nhất là vấn đề chủ quyền trong hộinhập Qua những điểm đổi mới này, ta có thể đánh giá những gì đã làmđược và chưa làm được trong quá trình hội nhập, đồng thời nhìn lại chặngđường 20 năm đổi mới của nền kinh tế Việt Nam và những triển vọng trongtương lai của nền kinh tế năng động của khu vực Đông Nam Á

Trang 4

Trong quá trình tiến hành thực hiện tiểu luận, nhóm còn gặp nhiềukhó khăn về khả năng tiếp cận và phân tích vấn đề, việc tiến hành tìm hiểutài liệu tham khảo đề hoàn thành nghiên cứu nhưng với sự nỗ lực, quyết tâmcủa nhóm và sự giúp đỡ của thầy Nguyễn Hoàng Như Thanh, hy vọng bàitiểu luận về đổi mới kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế với ASEANsau năm 1986 sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinhviên nghiên cứu về vấn đề này Một lần nữa nhóm nghiên cứu xin chânthành cám ơn.

Nhóm nghiên cứu lớp CT40E

Trang 5

1.Việt Nam thay đổi tư duy trong quá trình hội nhập kinh tế với ASEAN

giai đoạn 1986 - 2006 1.1.Bối cảnh

Ở các nước TBCN, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ diễn ra vàphát triển như vũ bão đã tác động mạnh mẽ đến chiến lược phát triển của tất

cả các quốc gia, làm thay đổi tư duy trong việc đánh giá sức mạnh tổng hợpcủa đất nước, trong đó nước nào cũng thấy rõ nhân tố kinh tế là nhân tốđóng vai trò quan trọng và nổi trội nhất.Cách mạng khoa học – công nghệkhiến cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, thúc đẩy quá trình toàn cầuhóa, khu vực hóa kinh tế, buộc các nước phải đề ra chiến lược phát triển,điều chỉnh cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp, đổi mới chính sách theo hướng

mở cửa, giảm dần và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạođiều kiện cho việc lưu thông buôn bán hàng hóa, luân chuyển vốn, lao động

và kỹ thuật trên phạm vi toàn cầu, mở rộng hợp tác kinh tế trên toàn thếgiới Đặc biệt còn phải kể đến sự thay bậc đổi ngôi của các ngành kinh tế.Ngành công nghiệp nặng không phải lúc nào cũng là ưu tiên hàng đầu màcòn có sự ra đời và chiếm lĩnh vị thế của các ngành mới: điện tử, tin học,vật liệu mới, công nghệ sinh học, du hành vũ trụ,…Ngoài ra còn có xu thếrút ngắn con đường phát triển với sự nổi lên của nhứng nước công nghiệpmới nổi

Trang 6

Bên cạnh đó, hầu hết các nước cũng tích cực tham gia vào các cơ cấu

tổ chức kinh tế, thương mại và tài chính – tiền tệ toàn cầu, thích ứng với

“luật chơi chung” của thế giới Điển hình như việc tham gia Hiệp địnhchung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và Tổ chức Thương mại thếgiới (WTO)

Việc hợp tác liên kết khu vực ngày càng phát triển đã dẫn đến sự rađời của hàng loạt các tổ chức hợp tác kinh tế, thương mại Trong số đó cóthể kể đến: Liên minh châu Âu (EU); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN); Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)…

Có thể thấy, hợp tác liên kết quốc tế đã trở thành xu thế chung, dỡ bỏđược nhiều rào cản thương mại, nhờ đó hoạt động sản xuất và trao đổithương mại giữa các nước ngày càng được thúc đẩy mạnh theo hướng nhấtthể hóa Nói cách khác, tất cả các nước đều nỗ lực tìm cách hội nhập vào xuthế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế để tồn tại Đây thực chất là quá trình

“vừa hợp tác vừa đấu tranh” trong quan hệ quốc tế Hội nhập quốc tế, trướchết về kinh tế là xu thế tất yếu, và là nhu cầu cấp bách trong bối cảnh quốc

tế trước năm 1986

1.1.2 Bối cảnh trong nước

Sau năm 1975, với thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước, Việt Nam – một nước công nghiệp lạc hậu đã quyết định tiến lênCNXH mà bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN Không thể phủ nhận đây làmột hướng đi mới, song chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn và thử thách.Trong giai đoạn 1976-1985, trải qua hai lần kế hoạch Nhà nước 5 năm,Đảng và Nhà nước ta vừa tìm tòi, vừa thử nghiệm con đường đi lên CNXH

và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nhiều lĩnh vực đời sống xãhội như: tiếp quản và ổn định vùng giải phóng, hàn gắn vết thương chiếntranh, khôi phục kinh tế, cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế ở cả hai miền Nam-Bắc, chuyển từ kinh tế chủ yếu được xây dựng, hoạt động phục vụ chiếntranh sang hòa bình xây dựng Cơ sở vật chất, kĩ thuật của CNXH được xâydựng và bắt đầu phát huy tác dụng đối với nền kinh tế An ninh chính trịđược đảm bảo, độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững

Song cách mạng cũng gặp không ít những khó khăn và yếu kém.Điển hình từ giữa những năm 80, Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảngkinh tế - xã hội, lạm phát tăng cao…Không những thiếu những chuyên gia

về quản lý kinh tế mà ta còn phải chịu sức ép do bị cắt giảm các nguồn viện

Trang 7

trợ từ Mỹ, các vụ bạo loạn, kích động, quấy phá cách mạng nổi lên, nhất là

ở khu vực biên giới Tây Nam và phía Bắc Nhu cầu chi ngân sách đột ngộttăng vọt do phải chi cho các chính sách xã hội và xây dựng, đặc biệt trongthời gian này Việt Nam còn phải chi viện cả sức người và sức của giúp nhândân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Ponpôt Kết quả là bội chi ngânsách không ngừng gia tăng, đỉnh điểm tăng đến 30%/năm Nền kinh tế củaViệt Nam lúc đó tồn tại hai hệ thống giá, hai hệ thống phân phối và phânphối lại Ngân hàng thiếu tiền mặt trầm trọng trong khi lạm phát tiếp tục giatăng Ngoài ra, trong lĩnh vực phân phối lưu thông, nước ta đã phải công bốlệnh đổi tiền lần thứ tư với tỷ lệ: một đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nammới bằng mười đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũ để điều chỉnh sứcmua và thu nhập do một số cá nhân làm ăn bất chính gây ảnh hưởng đếnnền kinh tế quốc gia Song do không lường trước được những hậu quả cóthể xảy ra, đã khiến lượng tiền xuất ra nhiều hơn trước, phần lớn số tiềnphát ra bị “tài chính hóa” Nhìn chung, nền kinh tế nước ta lúc đó gắn liềnvới bức tranh khủng hoảng trầm trọng: thiếu tiền trong Ngân hàng, lạm phátphi mã; vật tư, hàng hóa chủ yếu vẫn tuột khỏi tay Nhà nước, ….Nhân dânngày càng mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhànước

Nguyên nhân là do Đảng đã vấp phải những sai lầm rất nghiêm trọng

cả về đối nội (bao gồm cả kinh tế) và đối ngoại, với nhiều hậu quả lâu dài,

mà chủ yếu là do sự chủ quan, duy ý chí, không hiểu thế giới và không hiểu

chính bản thân nước ta: tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH…

Vậy là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã không còn phù hợp vớiđiều kiện nước ta lúc bấy giờ Để thoát khỏi khủng hoảng và thúc đẩy sựnghiệp cách mạng chủ nghĩa xã hội, yêu cầu cấp thiết đối với Đảng và nhànước ta là phải đổi mới Và Đại hội VI của Đảng (1986) đã mở ra bướcngoạt trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta

1.2 Đổi mới tư duy trong quá trình hội nhập kinh tế với ASEAN

Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhân tố quốc tế - thời đại, đặcbiệt là vấn đề quan hệ vs các nước láng giềng và khu vực, có những ảnhhưởng nhất định đến tiến trình phát triển cách mạng Việt nam

Tiến sĩ Vũ Dương Huân trong bài viết “ Về vấn đề đổi mới tư duy đốingoại của Việt Nam” đã đưa ra một định nghĩa như sau: “Đổi mới tư duyđối ngoại là đổi mới nhận thức, quan niệm, cách tiếp cận, cách đánh giá về

Trang 8

tình hình thế giới và quan hệ Quốc tế, trước hết là các vấn đề thời đại nhưnội dung, tính chất, đặc điểm, vấn đề chiến tranh và hòa bình, các lực lượngCách mạng, chủ nghĩa tư bản và hiện đại và các xu thế phát triển của thếgiới hiện nay.

1.2.1 Tư duy hội nhập kinh tế giai đoạn sau khi giải phóng dân tộc (1975) đến trước 1986

Sau sự kiện Việt Nam giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước,Hoa Kỳ đã ngay lập tức triển khai lệnh cấm vận đối với nước ta Tuy nhiênsau đó không phải là không có cơ hội cho Việt Nam trong việc cải thiệnquan hệ hợp tác kinh tế quốc tế Hoa Kỳ đã đề xuất gỡ bỏ lệnh cấm vận vớiViệt Nam với các điều khoản trao trả hài cốt binh sĩ Mỹ và không đặt vấn

đề bồi thường chiến tranh Thậm chí vào ngày 4 tháng 5 năm 1977, Hoa Kỳcòn đồng ý cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc Bên cạnh đó, các nướcTây Âu và một số quốc gia tại Đông Nam Á cũng bày tỏ mong muốn giúp

đỡ, tạo dựng mối quan hệ hữu nghị với Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta đãkhông tranh thủ bối cảnh quốc tế khá thuận lợi này Trong giai đoạn sau khithống nhất đất nước đến trước 1986, Việt Nam chủ yếu quan hệ với cácnước trong khối Xã hội chủ nghĩa, tham gia vào hội đồng tương trợ kinh tếSEV (1978) Một khó khăn lớn với chúng ta lúc bấy giờ là việc cắt giảmviện trợ từ phía các nước Xã hội chủ nghĩa và việc Trung Quốc cắt viện trợhoàn toàn đối với Việt Nam Trong giai đoạn này, Việt Nam chịu ảnhhưởng bởi tư duy Chiến tranh lạnh và 2 cuộc đấu tranh ác liệt trong suốt 30năm qua Vì thế mà ta không nhìn thấy được những cơ hội để hội nhập khuvực, thế giới đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Tư duy của ta trong giai đoạnnày không thật sự tỉnh táo, từ đó không có được những chính sách thức thời

để phát triển đất nước thông qua phát triển kinh tế

1.2.2 Tư duy hội nhập kinh tế quốc tế từ Đại hội VI 1986

Đứng trước một bối cảnh thế giới mới, một hoàn cảnh mà đất nướcđang rất cần những bước đi đúng đắn để cải thiện nền kinh tế đang tụt hậu,Việt Nam đã có những đổi mới về tư duy trong hội nhập kinh tế quốc tế Đó

là công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ kinh tế - xã hội đến chính trị và

cả trong tư duy đối ngoại

Trong hoạt động đối ngoại, Đảng ta xác định nội dung cơ bản củachính sách đối ngoại là lấy kinh tế đối ngoại làm ưu tiên hàng đầu Kinh tếđối ngoại có vai trò to lớn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước như góp phần tạo vốn; thúc đẩy quá trình đổi mới kỹ thuật – công

Trang 9

nghệ theo hướng hiện đại hóa; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tạo điều kiện khai thác tốt lợi thế sosánh của đất nước, thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế - xã hội Theo

báo cáo Chính trị Đại hội VI: “Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong

chặng đường đầu tiên cũng như sự nghiệp phát triển khoa học – kĩ thuật và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của nước ta tiến nhanh hay chậm, điều

đó phục thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật 1987, tr 81)

Đầu tiên, đổi mới tư duy trong hội nhập kinh tế xuất phát từ việc tađổi mới tư duy về quan hệ quốc tế: Xuất phát điểm từ lợi ích dân tộc, tanhìn nhận thế giới tùy thuộc lẫn nhau chuyển từ đối đầu sang đối thoại, tatham gia tích cực vào phân công lao động, hòa bình cùng tồn tại Lúc nàylợi ích quốc gia, dân tộc là định hướng cho tư duy về quan hệ quốc tế

Tiếp theo, đổi mới trong tư duy đánh giá tình hình quốc tế cũng tácđộng đến tư duy trong quá trình hội nhập kinh tế: Trong thời điểm này(1986) ta nhìn nhận thế giới đang trong giai đoạn hòa bình, mâu thuẫn tuyvẫn tồn tại nhưng biểu hiện tùy từng hoàn cảnh, phát triển kinh tế là xu thếchung của toàn thế giới Trong quá trình phát triển kinh tế toàn cầu, hợp tác– đấu tranh luôn là hai mặt biện chứng, thống nhất

Đặc biệt phải kể đến đổi mới tư duy trong việc xác định mối quan hệgiữa các phạm trù, trong đó đổi mới quan điểm về cặp phạm trù an ninh vàphát triển tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới việc đổi mới tư duy trong hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực Trước đây khi nói đến an ninh – phát triển,chúng ta chỉ nghĩ đến sức mạnh quân sự, sức mạnh chuyên chính vô sản.Trong bối cảnh các nước tuy độc lập nhưng vẫn phụ thuộc vào nhau để pháttriển, cùng với đó là sự phát triển không ngừng của công nghệ, khoa học kĩthuật Đó chính là lí do giải thích tại sao nền an ninh của mỗi quốc gia phảidựa vào sự phát triển kinh tế Nền kinh tế có mạnh thì mới đảm bảo đượcđộc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia Vì vậy Đảng ta quyết định đổi mới tưduy trong quá trình hội nhập kinh tế, đưa kinh tế Việt Nam phát triển theo

xu hướng hòa nhập toàn cầu, hợp tác kinh tế khu vực và thế giới Đảng đãkhẳng định vai trò quan trọng của sức mạnh kinh tế thông qua nghị quyết 13

Bộ Chính trị tháng 5/1988: “Với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng

vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta càng

Trang 10

có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 13/BCT, ngày 20/5/1988)

1.2.3 Đổi mới tư duy cụ thể trong hội nhập kinh tế với ASEAN 1.2.3.1 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN

Đầu tiên chúng ta phải hiểu rõ hơn về hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á – ASEAN

Từ sau năm 1945, các quốc gia Đông Nam Á lần lượt giành được độclập, từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào các nước đế quốc bằng những conđường khác nhau Đến giữa năm 1960, tình hình thế giới chuyển biến đadạng, các trào lưu hợp tác khu vực ngày càng xuất hiện nhiều hơn Vì mụctiêu phấn đấu chung, một số quốc gia Đông Nam Á đã hình thành nhữngliên kết: Hiệp hội Đông Nam Á (ASA), MAPHILINDO… Nhưng các tổchức này đều có những mâu thuẫn, tranh chấp nên không thể tồn tại đượclâu dài Trong bối cảnh đó, ngày 08/8/1967 Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (Association of Southeast Asian Nations) gọi tắt là ASEAN Hiệphội ra đời gồm có 5 quốc gia thành viên: Indonesia, Malaysia, Singapor,Philippin, Thái Lan Mục tiêu của hiệp hội là thúc đẩy sự phát triển kinh tế,

xã hội, văn hóa thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng nhằmtạo cơ sở cho một cộng đồng thịnh vượng và hòa bình ở Đông Nam Á

1.2.3.2 Đổi mới tư duy cụ thể trong hội nhập kinh tế với ASEAN

Những nhận định về tình hình, xu thế phát triển trong khu vực lànhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến sự thay đổi tư duy trong hội nhập kinh tếgiữa Việt Nam và ASEAN Từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng

đã nêu ra những nhận định mang tính đổi mới này: “Châu Á – Thái BìnhDương là một trung tâm đấu tranh gay gắt giữa cách mạng và phản cáchmạng, đồng thời ở khu vực này, quan hệ giữa các nước có chế độ chính trịkhác nhau cùng ở trong xu thế chung là đấu tranh trong hình thái cùng tồntại hòa bình”(Đảng cộng sản Việt Nam, Văn hiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.37)

Rõ ràng sự phát triển của Việt Nam phụ thuộc một phần quan trọngvào việc mở rộng hợp tác với bên ngoài, đặc biệt là hợp tác với các nướctrong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó phải kể đến tổ chức cácquốc gia Đông Nam Á ASEAN Xuất phát từ nhận thức đó, Nghị quyết Hội

Trang 11

nghị lần thứ VI BCH TW khóa VI đã chủ trương “mở rộng và đa dạng hóaquan hệ với các nước, phát triển quan hệ với các nước Châu Á – Thái BìnhDương” (”(Đảng cộng sản Việt Nam, Văn hiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989, tr.40) Như vậy lúc này, Đảng đãđịnh hướng rõ hội nhập kinh tế với các nước, nhóm nước trong khu vực làmột nhu cầu bức thiết hàng đầu.

Đối với trở ngại trong quan hệ Việt Nam – ASEAN, Nghị quyết đạihội VI và các hội nghị trung ương, Bộ Chính Trị khóa VI đã thể hiện quyếttâm giải quyết “vấn đề Campuchia” Đây là một bước đổi mới tư duy quantọng nhằm giải tỏa trở ngại, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với khuvực, thế giới, đặc biệt với ASEAN

Theo giáo sư Vũ Dương Ninh, những năm cuối cùng của Thế kỷ XX,trong khu vực cũng đang tồn tại những mâu thuẫn và nhiều nhân tố có thểgây mất ổn định Ta nhận thức tầm quan trọng của khu vực Châu Á – TháiBình Dương với việc xây dựng, phát triển nền kinh tế Việt Nam, chủ trươngcủa Đảng là: “Cần coi trọng Châu Á – Thái Bình Dương cũng như ĐôngNam Á trong quan hệ đối ngoại của mình” Như vậy, nhân tố ASEAN ngàymột được đề cao trong chính sách đối ngoại hợp tác kinh tế của Việt Nam

Tóm lại, Đại Hội VI thể hiện chuyển biến tư duy, nhận thức về đốingoại kinh tế trong quan hệ với đối ngoại chính trị, khẳng định kinh tế đốingoại có vai trò quan trọng hàng đầu

Trang 12

2 Các văn kiện của Đảng liên qua n tới đổi mới tư duy về phát triển kinh

tế 2.1 Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa VI (1986)

Từ bối cảnh thực tiễn, nhận thức về đổi mới tư duy trong hợp tác kinh

tế khu vực và quốc tế, Đảng đã cụ thể hóa những quan điểm, nhận thức đóthông qua Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa VI

" Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu Tham gia ngày càng rộng rãi vào sự phân công lao động quốc tế, trước hết và chủ yếu là phát triển quan hệ phân công, hợp tác toàn diện với Liên Xô, với Lào và Campuchia, với các nước khác trong Hội đồng tương trợ kinh tế Chủ động cùng các nước anh

em xây dựng và thực hiện chương trình của Hội đồng tương trợ kinh tế giúp

đỡ Việt Nam, chương trình tổng hợp tiến bộ khoa học - kỹ thuật đến năm

2000 của Hội đồng tương trợ kinh tế Tích cực phát triển quan hệ kinh tế và khoa học, kỹ thuật với các nước khác, với các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi Thực hiện nghiêm túc các cam kết của nước ta trong quan hệ kinh tế với nước ngoài " - Nghị

quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam

(18/12/1986) (Trích)

2.2 Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa VII (1991)

Giai đoạn 1992 - 1995 là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối vớithắng lợi của công cuộc đổi mới, tạo thế và lực cho sự phát triển."Quán triệt

Nghị quyết VII của Đảng, chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhằm phát huy cao độ các tiềm năng về lao động và trí tuệ, ruộng đất

và tài nguyên, vốn và tài sản trong mỗi gia đình, mỗi tập thể và trong toàn

XH, động viên mọi người ra sức cần kiệm với ý chí tự lực tự cường rất cao

để xây dựng đất nước, đồng thời tích cực mở rộng kinh tế đối ngoại, thu hút vốn và công nghệ từ bên ngoài, tạo chỗ đứng trên thị trường quốc tế, không chủ quan mất cảnh giác hoặc bi quan, dao động, không ỷ lại trông chờ nhưng cũng không co mình lại." - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 4/12/1991 về nhiệm vụ và giải pháp

ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trong những năm 1992 - 1995

2.3 Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc khóa VIII (1996)

Ngày đăng: 18/06/2015, 17:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w