Tính cấp thiết của đề tài Nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ trong tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều nói riêng từ góc độ văn hoá là một hướng tiếp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Thu Yến
(ghi rõ họ tên, chức danh khoa học, học vị)
Phản biện 1: PGS TS Lê Giang
Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Thành Thi
Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh
Phản biện 3: TS Nguyễn Ngọc Quận
Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại: vào hồi……giờ…ngày….tháng…năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh
- Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ trong tác phẩm văn học cổ điển
Việt Nam nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều nói riêng từ
góc độ văn hoá là một hướng tiếp cận có tính chất liên ngành Thôngqua hệ thống ngữ liệu có hàm lượng văn hóa, một số nhà nghiên cứu
đã đi sâu, khám phá nội dung, tư tưởng thẩm mỹ và phong cách vănhoá của Nguyễn Du trong hành trình sáng tạo và những đóng góp cụthể của ông cho văn học nước nhà Từ những ý nghĩa và tính chất cấp
thiết ấy, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài luận án Ngôn ngữ nghệ thuật
Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá như một sự thể nghiệm, biện giải
mối quan hệ ngôn ngữ và văn hoá thông qua các mối quan hệ biệnchứng giữa chúng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Từ góc nhìn lịch sử phát sinh, tuỳ theo từng mục đích và tính chấtkhác nhau của các chuyên luận, tiểu luận nghiên cứu, vấn đề ngôn
ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều được xem xét từ nhiều góc độ với nhiều khái niệm khác nhau Trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập 3) của nhóm tác giả Đại học Sư phạm, Lê Trí Viễn đã cho rằng “Tác
giả Truyện Kiều cũng tiếp tục truyền thống vay mượn văn học Trung Quốc đã có từ lâu Hoặc lấy ngay những thành ngữ chữ hán, hoặc thu gọn những điển cố trong văn học Trung Quốc thành những thành ngữ bằng tiếng Việt Nam, hoặc chuyển hình ảnh trong thơ Trung Quốc sang thơ Việt Nam” Nguyễn Lộc trên Tạp chí Văn học số 11
năm 1965 với bài viết Ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều và tiếp
Trang 4tục trong công trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII hết thế
kỷ XIX) đã khảo sát nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du ở các
phương diện như từ Hán Việt, điển cố, thi liệu
Tiếp tục những kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lộc, Đào
Thản khẳng định: Ngôn ngữ Truyện Kiều nói chung không có vay
mượn xa lạ và cầu kì như Cung oán ngâm khúc, không có cái đài các quá ư lộng lẫy nhưng bề bộn rườm rà của Hoa tiên hay đẽo gọt vụng về của Sơ kính tân trang Quả thật ngôn ngữ Truyện Kiều gần với thôn
ca hơn cả
Về vấn đề ngôn ngữ Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy, những
khái quát về giá trị ngôn ngữ của tác phẩm này đã có những đánh giá
cụ thể bằng nhãn quan thẩm mỹ mang tính định lượng, bằng những số
liệu thống kê khá cụ thể và chi tiết, cụ thể có: Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh, Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, Tìm hiểu từ
ngữ Truyện Kiều của Lê Xuân Lít, Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều của Nguyễn Thuý Hồng, Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa của Lê Nguyên Cẩn
2.2 Nghiên cứu ngôn ngữ văn nghệ thuật Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá
Mai Quốc Liên trong bài viết Dòng bác học và dòng bình dân
trong ngôn ngữ Truyện Kiều (1966) đã cho rằng: “Nguyễn Du là một nhà thơ vô song đã đóng góp rất nhiều vào ngôn ngữ văn học dân tộc công lao của ông trong việc kế thừa một cách sáng tạo ngôn ngữ dân gian và trong việc sử dụng tài tình ngôn ngữ văn học Trung Quốc Thành tựu tuyệt vời của ông trong việc làm phong phú, làm trong sáng ngôn ngữ văn học thế kỷ XIX đã có ảnh hưởng sâu xa và lâu dài đến sự phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc ta” Sau Mai
Quốc Liên, Lê Đình Kỵ cũng khảo sát Sắc thái bác học, sắc thái bình
Trang 5dân và tính thống nhất của ngôn ngữ Truyện Kiều, ông cũng thống
nhất quan điểm “làm thế nào kết hợp giữa hai thành phần đó trong cùng
một tác phẩm mà không có sự phân ly, chắp nối Hoàn cảnh mỹ học cụ thể lúc bấy giờ cho phép sự thống nhất hai thành phần ấy trong một sự kết hợp biện chứng, hữu cơ”.
Về ngôn ngữ bình dân, nhất là lớp từ ngữ dân tộc qua ca dao, tụcngữ, lối nói khẩu ngữ, từ địa phương đã được các tác giả Hoàng Hữu
Yên trong Cái hay, cái đẹp của tiếng Việt trong Truyện Kiều, Phạm Đan Quế trong Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương
Truyện Kiều, Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều đã có những kết
luận cơ bản
Qua một số hướng tiếp cận văn hoá đã đề cập trên, chúng tôi chorằng việc khảo sát hệ thống ngữ liệu mang hàm nghĩa văn hoá trong
ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm nói chung và Truyện Kiều nói riêng
là một vấn đề hấp dẫn và cần có sự đầu tư thỏa đáng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn chúng tôi là hệ thốngngữ liệu bác học và bình dân mang hàm nghĩa văn hoá trong ngôn
ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Trang 63.3 Văn bản khảo sát, đối chiếu và thống kê
Văn bản Truyện Kiều được khảo sát trong luận văn của chúng tôi
là bản Truyện Thuý Kiều (1925, tái bản 1953) do Bùi Kỷ và Trần
Trọng Kim hiệu khảo
4 Mục tiêu nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê
cụ thể các thành phần từ ngữ về quy mô, số lượng, tỷ lệ của các thành
phần ngữ liệu bác học, bình dân trong Truyện Kiều, so sánh giữa
Truyện Kiều với một số truyện thơ Nôm khác.
5 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tiếp cận văn hóa đối
với tác phẩm văn học, Phương pháp thống kê, phân loại và so sánh; Phương pháp phân tích miêu tả; Phương pháp phân tích logic; Phương pháp tổng hợp, khái quát hoá
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ cơ bản của luận văn là tiến hành phác hoạ một cáchchân thực bức tranh văn hoá, quan niệm văn hoá, một thế giới trữ
tình của Nguyễn Du và Truyện Kiều của ông
7 Những đóng góp của luận án
Việc tìm hiểu các tầng nghĩa bề nổi, lớp trầm tích văn hoá ẩn dấubên trong hệ thống ngôn ngữ thể loại truyện Nôm là một hướng giải
mã văn hoá khá mới mẻ, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu
và giảng dạy truyện thơ Nôm trong nhà trường cũng như trong giớihọc thuật
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận án được chia thành 03 chương
Trang 7Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NHÌN TỪ QUAN NIỆM THẨM MỸ TRUNG ĐẠI
1 1 Ngôn ngữ với văn chương và văn hóa
1.1.1 Ngôn ngữ và văn chương từ góc nhìn văn hóa
Trong dòng chảy văn hoá của một dân tộc, với những chức năng cơbản của mình, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện, là công cụ tư duy,giao tiếp, lưu trữ… mà nó còn là chất liệu cơ bản để xây dựng nên thếgiới nghệ thuật thấm đẫm những sắc màu văn hoá của cả một dân tộc,một thời đại hay một cá nhân văn hoá cụ thể - nhà văn Bên cạnh đó,với tư cách là mạch ngầm văn hoá, ngôn ngữ còn là một trong nhữngyếu tố cấu thành văn hoá, có sức lan toả và làm sáng tỏ những tính chấttrội bật của một nền văn hoá trong đời sống xã hội của một dân tộc
1.1.2 Sự tác động của ngôn ngữ đối với văn hoá
Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ trong việc phản ánh, thểhiện và phát triển những giá trị, những yếu tính cốt lõi của văn hoá
Nó là thước đo nhân bản của xã hội và con người Ngôn ngữ - mộthiện hữu vật chất căn bản – sẽ giúp cho văn hoá và các giá trị căn bảncủa nó sẽ khúc xạ, ngấm sâu và dần hình thành chiều sâu văn hoá,phong cách văn hoá của từng cá nhân trong quá trình tồn tại củamình
1.1.3 Ngôn ngữ với vấn đề bảo tồn, xây dựng và phát triển văn hóaVới tư cách là chất liệu lịch sử, ngôn ngữ đóng vai trò cốt tuỷtrong sáng tạo văn chương, nghệ thuật Với tư cách là một công cụgiao tiếp và tư duy, ngôn ngữ đã thể hiện chức năng cơ bản trong sựphát triển văn hoá tinh thần của con người
Trang 8Sự biến đổi, phát triển ngôn ngữ luôn luôn song hành với biến đổi
và phát triển văn hoá Muốn nghiên cứu sâu về văn hoá, khảo sát hàmnghĩa của văn hoá trong tập quán giao tiếp và văn chương nghệ thuậtcủa một dân tộc phải nghiên cứu ngôn ngữ và tất nhiên muốn đi sâuvào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hoá
1.2 Hàm nghĩa văn hóa của ngữ liệu trong truyện Nôm bác học
1.2.1 Khái niệm Ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm
bác học
Trong phạm vi hạn hẹp của tư liệu hiện có, theo cách hiểu của
chúng tôi, ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ tác phẩm văn học cổ
điển Việt Nam là hệ thống từ ngữ có nguồn gốc từ văn hoá bác học, bình dân, có sự biểu hiện sinh động về ngữ nghĩa, góp phần hình thành, phản ánh thế giới nghệ thuật của tác phẩm và đặc trưng tư tưởng, tư duy văn hoá - nghệ thuật của nhà nghệ sỹ Trong nghiên cứu tác phẩm
văn học thời trung đại, việc sử dụng hàm nghĩa văn hoá của từ ngữ
như một khái niệm công cụ đã mang lại cho người đọc những phươngthức tiếp cận mới và góp phần gợi mở những ý nghĩa, biểu tượng vănhoá đặc của văn học cổ điển
1.2.2 Hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật
truyện Nôm bác học
Trong lịch sử văn học Việt Nam, ngữ liệu văn hoá là lớp từ ngữ
có tính văn hoá cao trong các tác phẩm văn học cổ điển, là những hệthống mã khoá nghệ thuật cần có sự phân tích, biện giải Nó bao gồmmột hệ thống những từ, ngữ, kiểu diễn ngôn, tứ thơ, đặc điểm ước lệ,lối nói uyển ngữ từ cú mỹ lệ của thơ ca cổ điển Trung Quốc Bêncạnh đó, nó còn là hệ thống những từ ngữ được thoát thai từ văn hoá,
Trang 9văn học dân gian Việt Nam, từ vốn kinh nghiệm dân gian qua thànhngữ, tục ngữ hay hệ thống hư từ, từ láy trong tiếng Việt Lớp từ ngữnày đã thể hiện một trình độ tiếp thu văn hoá, chiều sâu của kinhnghiệm sống mà nhà thơ muốn gửi gắm vào trong thi phẩm của mình.
1.2.3 Giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm vănchương cổ điển Việt Nam nhìn từ góc độ văn hoá
Khảo sát hệ thống ngôn ngữ tác phẩm văn học cổ điển Việt Namnhất là truyện thơ Nôm bác học, hệ thống thi văn liệu, điển cố, thànhngữ Hán Việt, từ ngữ xã hội, thuật ngữ luôn là những nội dung quantrong Nó không chỉ là những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn mà còn lànhững rào cản nghệ thuật đối với người đọc Khi tiếp cận văn hoá vớinhững ngữ liệu này, người đọc sẽ giải thích được tính hợp lý vốn có
để những ngữ liệu này có thể tồn tại được, tức là người đọc có thểphân tích và nêu bật nét nghĩa hư chỉ của ngữ liệu
Có thể nói, tham chiếu từ góc độ văn hoá, chúng ta dễ dàng nhận thấyngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương cổ điển ViệtNam không chỉ là một công cụ giao tiếp đặc thù của nhà văn đối vớibạn đọc mà nó đã trở thành một hình thức giao tiếp văn hoá đặc thù
1.3 Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm – Tấm gương phản chiếu văn hóa
1.3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm, một hình thức giao tiếp đặc thù của văn học cổ điển Việt Nam
Trong quá trình hành chức của nó, hệ thống ngữ liệu đã đóng vaitrò to lớn và góp phần hình thành tính văn hoá, khả năng đa nghĩa củangôn ngữ truyện Nôm Đồng thời, cách thức liên tưởng và sử dụngngữ liệu cũng tạo nên tính chất phức điệu, những tình điệu thẩm mỹ cổ
Trang 10điển mang tính ngữ cảnh của thể loại truyện Nôm, xu hướng cao nhã,cảm thức văn hoá của tác giả, xã hội và thời đại.
Bản thân nó có thể tạo nên một tiềm năng văn hoá mà mỗi độc giả
khi tiếp nhận sẽ tự tái tạo những mô thức riêng, tuỳ thuộc vào “tầm
đón nhận” và chiều sâu văn hoá của mỗi cá nhân.
1.3.2 Một số đặc trưng cơ bản của từ ngữ mang hàm nghĩa văn hóa trong truyện Nôm
Về phương diện nội dung, ý nghĩa khái quát cao và đậm nét tượng trưng của lớp từ ngữ Hán Việt đã tạo nên tính hàm súc, cô đọng, tiết giản Đặc tính này đã hỗ trợ đắc lực cho các tác giả tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm theo thi pháp văn học cổ trung đại
Xét ở phương diện nghệ thuật, các ngữ liệu văn hoá trong ngôn từ
nghệ thuật đã phát huy được tính năng động vốn có của nó: tính thẩm
mỹ và đăng đối Tính khách quan của các thi liệu văn hoá thích hợp
với việc nhấn mạnh các sắc thái mơ hồ, trang trọng và nó “không
thích hợp với việc cụ thể hoá đối tượng phản ánh nhưng nó lại vô cùng thích hợp khi ta muốn vĩnh viễn hoá sự việc, đẩy lùi nó về thế giới ý niệm Nó cấp cho ngôn ngữ cái vẻ dứt khoát, đanh thép của những chân lý vĩnh viễn ”
1.4 Quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và Truyện
Kiều
1.4.1 Cơ sở hình thành quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du
Về cơ sở hình thành quan niệm thẩm mỹ Nguyễn Du, chúng ta có
thể hình dung qua mấy căn cứ sau: Thứ nhất, Nguyễn Du đã sinh
Trang 11trưởng trong một giai đoạn lịch sử khủng hoảng của chế độ phong
kiến Việt Nam và bi kịch lịch sử dân tộc Thứ hai, Nguyễn Du sinh ra
ở phường Bích Câu trong thành Thăng Long, một địa đàng nghệthuật thời bấy giờ Bên cạnh những ảnh hưởng của quê hương xứNghệ giàu truyền thống thi ca, sự tác động của một văn phái lừng lẫy
ở mảnh đất Hồng Lĩnh cũng là điều đáng nói Thứ ba, từ mạch nguồn
văn hoá gia đình, phẩm chất tài hoa của người cha và tư chất nghệ sĩcủa người mẹ đã ảnh hưởng không ít đến tư tưởng thẩm mỹ của ông
Thứ tư, Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi đề tự Truyện Kiều đã viết: “Đôi mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ đến ngàn đời” Người xưa đã chết vì kẻ tri âm nên đã thốt lên những lời tri kỷ
ấy vậy Mộng Liên Đường quả là người thấu hiểu tâm sự của Nguyễn
Du và phong cách triết nhân của thi nhân
1.4.2 Sự thể hiện quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều
Một là, quan niệm thẩm mỹ của ông được bộc lộ rõ nét qua cái
nhìn về cuộc đời và con người Nguyễn Du đã tạo nên những cơ sởtriết học, mỹ học để triển khai tư tưởng nhân sinh của mình theo
hướng kết hợp Nho, Phật và Lão trên nền tảng tâm thế Việt: lấy sự
cảm thương, đồng điệu làm điểm tựa cho những nhận định về nhân thế Hai là, Nguyễn Du đã xem thiên nhiên như một cõi thiêng, một
chốn đi về của tâm hồn Ba là, quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du
được thể hiện qua sự minh triết của con người thanh cao, u uẩn.Nguyễn Du đã tuân thủ nguyên lý minh triết của Phật giáo và sắc thái
duy tình của người Việt Bốn là, nhà thơ còn quan tâm đến bản chất,
chức năng của văn chương
Trang 12Chương 2 HỆ THỐNG NGỮ LIỆU VĂN HÓA TRONG NGÔN
NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN KIỀU
2.1 Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hóa Hán, bác học và văn hoá Việt, bình dân đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
2.1.1.Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Hán, văn hoá bác học đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật
Truyện Kiều
Dấu ấn thẩm mỹ của hệ thống ngữ liệu (là những dẫn chứng, dẫnliệu ngôn ngữ, nó có thể được trích dẫn, khai thác phục vụ cho quátrình nghiên cứu về nội dung, nghệ thuật của một tác phẩm) có nguồngốc từ văn hoá bác học, văn hoá Trung Hoa đã ảnh hưởng trực tiếp đếnngôn ngữ nghệ thuật truyện thơ Nôm bác học Nguyễn Đức Tồn trong
Đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy gọi đó các ngữ
liệu ấy là “những hiện tượng văn hoá đặc tồn” hay “các đơn vị đặc
văn hoá”
Khảo sát hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật
Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy, các dạng thức ngữ liệu văn hoá
được các tác giả sử dụng khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên, xét
từ phương diện nguồn gốc, các ngữ liệu văn hoá được sử dụng trongngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm bao gồm ngữ liệu nguyên dạng(ngữ liệu Hán Việt) và ngữ liệu được chuyển dịch (ngữ liệu bán HánViệt, thuần Việt)
2.1.2 Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Việt, văn hoá bình dân đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật
Truyện Kiều
Trang 13Trong ngôn ngữ Truyện Kiều, ngoài hệ thống từ cổ, từ địaphương, từ láy thì lớp từ ngữ có phong cách khẩu ngữ quần chúngcũng được xem là những ngữ liệu thuần Việt đặc chất văn hoá bìnhdân So với lớp từ ngữ Hán Việt, lớp từ ngữ này vô cùng sinh động,nhiều dáng vẻ và luôn được bổ sung không ngữ qua các thế hệ, thờiđại văn hoá
Theo chúng tôi, sắc thái bình dân trong ngôn ngữ Truyện Kiều là
những nét, yếu tố thẩm mỹ được gợi lên thông qua hệ thống những thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hệ thống từ ngữ thuần Việt, hoặc có yếu
tố Hán Việt với một lối diễn đạt bình dị, đơn giản đậm chất khẩu ngữ trong sinh hoạt của người Việt Nó được Nguyễn Du sử dụng,
chuyển dẫn và khái quát một cách thần tình, đích đáng và nhuần
nhuyễn trong hệ thống ngôn ngữ Truyện Kiều
2.1.3 Đặc trưng thẩm mỹ của hệ thống ngữ liệu văn hóa trong ngôn ngữ
nghệ thuật Truyện Kiều
2.1.3.1 Đặc trưng thẩm mỹ của các ngữ liệu văn hoá Hán, bác học trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Trong Truyện Kiều, cách sử dụng và bố trí ngữ liệu văn hoá của
Nguyễn Du vừa hấp dẫn, vừa chuẩn mực đồng thời còn thể hiện cátính sáng tạo của nhà thơ Thông qua các ngữ liệu đã được chuyểndịch, chuyển dẫn một cách khéo léo, người tiếp nhận có thể tìm thấyđược vẻ đẹp về thế giới hình tượng phong phú, sinh động được diễnđạt bằng nghệ thuật ẩn dụ, biểu trưng, uyển ngữ của văn cách trung
cổ Bên cạnh tính điển phạm, tập cổ, đăng đối , hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn Truyện Kiều nói riêng đã thể hiện tính trang nhã,
uyên bác phù hợp với tính chất bác học trong quan niệm xưa
Trang 142.1.3.2 Đặc trưng thẩm mỹ của các ngữ liệu văn hoá Việt, bình dân trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Với hệ thống từ ngữ bình dân, tác giả dường như lách nhẹ, đi sâuvào chân tơ kẽ tóc của những phẩm cách, ngoại hình của các nhân vật
phản diện Trong ngôn ngữ Truyện Kiều, chúng tôi thống kê được
332 thành ngữ được sử dụng nguyên mẫu và 113 thành ngữ tách xen
và được vận dụng một cách sáng tạo Truyện Kiều đánh dấu một
bước phát triển mới về chất, có ý nghĩa đặc biệt trong việc học tậpthơ ca dân gian và ngôn ngữ quần chúng của nhà thơ Nguyễn Du vậndụng khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ; trong đó thành ngữ được vậndụng nhiều nhất
Lớp từ vựng khẩu ngữ của quần chúng đã đi vào thơ Nguyễn Dumột cách chan hoà, dung dị và nhẹ nhàng, giữ một vị trí đặc biệt quantrọng Với 1.736 lượt xuất hiện như vây, hệ thống hư từ không chỉ thểhiện sự linh hoạt trong việc thể hiện cách sử dụng hư từ mà còn gópphần làm đa dạng hoá các lớp từ trong ngôn ngữ tác phẩm, thể hiệntính dân dã, khẩu ngữ
2.2 Hệ thống ngữ liệu văn hóa bác học và bình dân trong ngôn
ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
2.2.1 Khảo sát và nhận xét về hệ thống ngữ liệu văn hóa bác học
Khảo sát trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều, từ quan điểm và
nội hàm khái niệm ngữ liệu văn hoá đã được thống nhất, trong tổng
số 972 từ ngữ Hán Việt thống kê được, chúng tôi đã thống kê được
626 ngữ liệu văn hoá nguyên dạng chiếm khoảng 67,3% từ ngữ Hán
Việt xuất hiện trong Truyện Kiều và 169 ngữ liệu chuyển dịch, mô
phỏng, chiếm tỷ lệ 39,5 % so với số lượng 440 từ ngữ Việt được